Thông minh và Năng khiếu
THÔNG MINH
Câu hỏi của Liễu Hương
HỎI: Kính thưa Thầy! Kinh nhân quả dạy mang dầu, nến thắp sáng điện Phật (Tam Bảo) kiếp sau sanh ra làm người được thông minh, lời dạy ấy có đúng không? Xin Thầy dạy bảo.
ĐÁP: Người thông minh không phải do cúng dường đèn dầu, nến thắp sáng điện Phật mà người ấy phải chịu khó học tập những điều mình chưa biết. Hiện giờ chúng ta thấy có người học tối (lâu nhớ, lâu thuộc bài), có người nhớ lâu, học mau thuộc ta cho họ thông minh, sự thật tiền kiếp họ đã gieo nhân học tập nên thời nay ta nói họ thông minh, chứ họ đã học sẵn rồi.
Muốn thông minh ở kiếp sau thì kiếp này phải chăm học tập, theo luật nhân quả học tập là gieo nhân thông minh, chứ không phải cúng dường đèn đuốc mà thông minh; đó là lối lừa đảo không thực tế của kinh sách phát triển, chúng ta không nên tin như vậy, tin như vậy chỉ có người vô minh mới tin, chúng ta tin cái gì thì cái đó phải cụ thể và thực tế rõ ràng.
Đời nay cố gắng chăm học tập đời sau thông minh, đó là lẽ đương nhiên không ai nói ta lừa đảo được.
Bây giờ ta u tối phải cố gắng học “có công mài sắt có ngày nên kim”. Còn những người thông minh kiếp trước họ đã học rồi, bây giờ nhớ trở lại, chứ không có thông minh gì cả. Đức Phật dạy: “cây ngả về hướng nào thì bóng ngả về hướng ấy”. Đúng vậy, khi ta làm một điều gì thì hậu quả của điều đó sẽ đến với ta tốt hay xấu là do việc của ta làm ác hay thiện.
Còn đốt đèn đuốc làm sáng bàn thờ Phật mà được thông minh thì không đúng.
Chúng tôi xin nêu lên một điều để quý vị được rõ. Hàng ngày quý vị đều đốt cây hương vỏ cây tượng trưng cho năm cây hương giải thoát: “giới hương, định hương, tuệ hương, tri kiến hương và giải thoát tri kiến hương” nhưng quý vị có thấy tâm mình giải thoát chưa? Có hết tham, sân, si chưa?
Tượng trưng là một lẽ và giải thoát là một lẽ, cho nên thắp đèn, đuốc, nến cho sáng thì có ai đốt đèn mà thông minh chưa?
Nếu đốt đèn mà siêng năng chăm học thì thông minh là lẽ đúng, nếu đốt đèn để sáng bàn thờ Phật, không học mà thông minh, đó là lối lừa đảo của kinh sách phát triển để các chùa khỏi tốn tiền mua dầu thắp bàn thờ Phật vì có mấy đứa học sinh tối dạ mua dầu đèn thắp sáng. Nhưng chúng cũng phải học chúi đầu chúi mũi mới có thuộc bài, chứ đâu có thắp đèn mà khỏi học bài bao giờ hay chư Phật học bài giùm cho. Đó là một lối lừa đảo gian xảo của kinh sách phát triển.
Kinh sách phát triển nói về nhân quả có rất nhiều điều vô lý thế mà người Phật tử vẫn tin, tin trong mù quáng vô minh. Tin mà không chịu suy nghĩ. Thắp đèn sáng cúng dường chư Phật là thông minh, học một biết mười, điều này không bao giờ có. Nếu việc làm này có được thì thế gian này không còn người u tối, đần độn, dốt nát và ngu si. Phải không quý vị?
Chỉ cần mua dầu thắp đèn sáng cúng dường chư Phật là thông minh sáng suốt thì ai mà làm không được. Trong cuộc đời này có ai muốn mình không thông minh; có ai muốn minh u tối, dốt nát, ngu si, đần độn; có ai muốn mình thua kém mọi người. Phải không quý vị?
Nếu kết quả chỉ cần mua dầu thắp đèn sáng cúng dường chư Phật là thông minh sáng suốt thì chùa sẽ thắp đèn sáng ngày đêm quanh năm suốt tháng, nhưng hiện giờ đến chùa nơi điện thờ Phật chỉ có một ngọn đèn leo lét mờ mờ ảo ảo, như vậy chứng tỏ lời dạy này không có hiệu quả, chỉ là một trò lừa đảo.
(Trích sách Đường về xứ Phật – Tập 7, NXB Tôn Giáo – 2011, trang 149-152)
Chơn Như, ngày 30 tháng 11 năm 2004
THÔNG MINH
Tịnh Đức vấn đạo
HỎI: Kính thưa Thầy! Nếu nghiệp đi luân hồi thì những người học rộng, có kiến thức sâu từ kiếp này sau khi chết, tái sanh kiếp khác, những kiến thức đó có mất đi hay không?
ĐÁP: Những kiến thức học rộng hiểu nhiều, đó là huân nghiệp thông minh. Người nào muốn thông minh thì đời nay cố gắng học tập, đời sau sẽ thông minh (học một biết mười).
Người thông minh không phải là Thánh nhân, không phải là người ở cõi nào đến đây mà chính người ấy đời trước đã cố gắng học tập.
Nghiệp là do hành động nhân quả tạo thành, cho nên hành động học tập cũng huân tập tạo thành nghiệp, nhưng nghiệp ấy là nghiệp thông minh.
Người tạo nghiệp thông minh sau khi chết sẽ sinh lên làm người thông minh. Người không chịu siêng năng học hành nên đời này không thông minh, đời sau cũng không thông minh.
Ở đời, người ta hay có những hành động làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh, đó là nghiệp ác. Do huân tập nghiệp ác, sau khi chết sinh ra làm người sẽ chịu nhiều khổ đau, gặp tai nạn giao thông, bệnh tật, đói khát, lũ lụt, hạn hán, thiên tai, hỏa hoạn, động đất, giặc cướp, chiến tranh, v.v.. Còn những hành động không làm khổ mình, khổ người, khổ chúng sanh, đó là nghiệp thiện. Người tạo nghiệp thiện khi chết sẽ sinh ra làm người gặp nhiều may mắn phước báo, đời sống không có phiền não, khổ đau, không có tai nạn giao thông, không có bệnh tật, không có đói khổ, không gặp lũ lụt, hạn hán, thiên tai, hỏa hoạn, động đất, giặc cướp, chiến tranh, v.v..
Vì thế, Đức Phật dạy con người sống hằng ngày phải ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp, đó là tạo nghiệp thiện, nghiệp thiện không phải chờ đến kiếp sau mà hưởng, chỉ ngay trong kiếp sống hiện tại là đã hưởng được phước báo liền. Đó là một bằng chứng hiển nhiên khi bị người khác chửi mà mình không chửi lại họ, tâm vẫn vui vẻ, chính sự kiện xảy ra như vậy mà ngăn ác diệt ác pháp, đó là phước báo.
Cho nên Đạo Phật xây dựng cho con người có một cuộc sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh là vậy.
Đạo Phật lấy thiện dẹp ác là tu, chứ có tu cái gì đâu?
Hằng ngày sống tu tạo thiện nghiệp đó chính là tu. Phải không các bạn?
Tu mà niệm Phật, ngồi thiền, cúng tế, cầu nguyện, cầu an, cầu siêu, v.v.. là không phải Đạo Phật, đó là những tôn giáo mê tín.
Tóm lại, muốn trở thành người thông minh thì phải cố gắng học tập, phải siêng năng thức khuya dậy sớm để học tập. Cũng như để được thoát khỏi kiếp khổ đau của con người thì phải siêng năng thức khuya dậy sớm chuyên cần ngăn ác diệt ác pháp trong tâm thì sẽ được sống giải thoát, an vui, hạnh phúc.
NĂNG KHIẾU
HỎI: Kính thưa Thầy, qua gương hạnh đáng kính của cô Út Diệu Quang, theo con nhận xét sự tu tập rèn luyện thân tâm không phải tầm thường. Một người tu đạt kết quả như vậy, họ có sẵn một cái tài hay một năng khiếu, một trí thông minh… nên con đường tu mau kết quả, có phải vậy không thưa Thầy?
ĐÁP: Sự tu tập nào có được nhanh chóng, đều phải nhờ nhiều đời huân tu chớ không phải có sẵn tài trí và năng khiếu. Tài trí và năng khiếu là do sự huân tập nhiều đời mà có. Nếu đời này con không trau dồi, tu tập rèn luyện tài trí và năng khiếu thì đời sau con cũng chẳng có.
Tu tập và xả tâm càng gặp khó khăn, đừng nên chán nản mà phải quyết tâm khắc phục cho được, xả bỏ cho được, quyết thực hiện cho bằng được thì người đó sẽ trong một đời này thành tựu viên mãn. Chỉ có “quyết tâm” là làm nên việc lớn, đời cũng như đạo.
Trí thông minh và năng khiếu không phải người có người không mà tất cả mọi người ai cũng có, nhưng chỉ vì chúng ta không huân tập nên không có mà thôi.
Ví dụ: Trong một lớp học có 60 học sinh, nhưng học sinh giỏi thì có năm ba đứa, chúng học rất nhanh và mau thuộc bài, môn học nào chúng cũng xuất sắc. Thật sự số học sinh này rất ít, nghĩa là học sinh giỏi tất cả các bộ môn.
Còn số học sinh giỏi từng môn thì nhiều, kẻ giỏi Toán, người giỏi Văn, người giỏi Sinh ngữ, v.v.. đó là vì chúng đã có học tập trong đời trước, nên đời này chúng học lại môn đó, tức là ôn lại, nên học rất nhanh, làm bài rất giỏi.
Còn những người đời trước không học, đời nay học nên học lâu thuộc bài, nhiều khi học mãi mà không thuộc.
Lịch sử Việt Nam có nhắc lại ông Lê Quý Đôn, khi ông bố sai mua một cuốn lịch xem ngày, ông đem tiền ra mua giấy và đến cửa hàng bán lịch ông xin cho mượn xem, xem xong ông trả lại cho hàng sách, về nhà ông chép lại cho bố một cuốn lịch mà không sai một chữ nào.
Bên Trung Hoa, đời Tam Quốc, bên Tây Thục sai một người đi sứ qua Bắc Ngụy, tức là Tào Tháo. Tào Tháo viết một cuốn sách lấy tên là Tào Mạnh Đức Kinh đem khoe với vị sứ giả. Vị sứ giả bảo bên nước tôi trẻ con đều thuộc làu kinh sách này. Tào Tháo không tin mới bảo ông hãy đọc cho Tào Tháo nghe một đoạn, ông bảo Tào Tháo: xin ngài đưa cho tôi xem có đúng không, rồi tôi sẽ đọc cho ngài nghe. Tào Tháo đưa cho ông đọc, ông đọc xong trả lại cho Tào Tháo, ông cả cười nói: “Tôi nói đâu có sai, đúng là trẻ con của nước tôi từng đã đọc sách này”, ông bắt đầu đọc cho Tào Tháo nghe không sai sót một chữ nào, Tào Tháo tán thán và không bắt tội ông được.
Trí thông minh như vậy quá tuyệt vời, đọc qua là thuộc làu thế mà trí thông minh đó dùng vào việc gì? Chỉ đi ra làm quan mà không giải quyết sự khổ đau của dân tộc. Trong thời làm quan các vị này cũng chẳng làm được những gì lợi ích cho dân, cho nước nhiều, mà chính sự thông minh đó cũng chẳng giải quyết được gì cho đời sống của các ông cả, các ông ấy cũng chỉ khổ đau vì danh, vì lợi như bao nhiêu người khác.
Làm được như Thầy (tức là làm chủ tham, sân, si), không để tâm mình phiền não khổ đau, giận hờn, thương ghét, ấy là tài năng và trí tuệ. Thông minh cũng như năng khiếu đó mới chính là tài năng, trí tuệ, thông minh của Đạo Phật; còn ngược lại tài năng, trí tuệ, thông minh và năng khiếu mà tự làm khổ mình, khổ người, đó là tài năng trí tuệ của phàm phu, của người thường trong thế gian.
Bởi vậy người có tài năng, trí tuệ, thông minh của Đạo Phật là sống thanh thản, an lạc không làm khổ mình, khổ người (chỉ có những bậc Thánh Alahán mà thôi). Người có được trí tuệ như vậy không phải từ trên trời rơi xuống, mà do công huân tu tập của chúng ta nhiều ngày và nhiều đời. Cũng như bây giờ con thấy cô Út Diệu Quang có được tri kiến như vậy cũng chính là đời trước cũng phải huân tu rất nhiều, huân tu mà còn phải có ước nguyện, khi mình cố gắng xả tâm được thì mình làm nghịch hạnh để vừa xả tâm mình, vừa hướng dẫn mọi người cùng được giải thoát khỏi kiếp đời trầm luân khổ đau.
Như các con đã biết, cô Diệu Quang chẳng học kinh sách Phật, chẳng chịu ảnh hưởng của một tôn giáo nào, cô chỉ có công giúp Thầy tu trong thất bằng cách làm kinh tế, mua gạo và thực phẩm để mẹ Thầy nấu cơm cúng dường Thầy ăn và tu hành.
Mục đích của Thầy tu là tìm sự giải thoát, khi nào giải thoát được thì mới dạy người tu, còn đang tu thì nhất định không dạy ai hết, cho nên cô Diệu Quang chỉ biết trợ giúp cho Thầy tu, chứ không có tu hành gì cả.
Đến khi Thầy tu xong, về trình sự tu hành của mình cho Hòa thượng Thanh Từ, thì cũng năm đó Phật tử tìm về kiếm Thầy hỏi pháp do Hòa Thượng Thanh Từ báo cho Phật tử biết chính là Thầy đã tu chứng quả “A-La-Hán”. Vị cư sĩ tìm về đây đầu tiên là ông Chánh Giải ở Châu Đốc. Khi gặp Thầy ông xin Thầy cho phép đảnh lễ vì Hòa thượng đã cho ông biết Thầy đã chứng quả A-La-Hán.
Từ đó, cô Út Diệu Quang trở thành một người phục vụ cho tu sĩ cũng như Phật tử thì còn đâu có thì giờ mà tu tập.
Lúc nào rảnh rỗi hoặc nửa đêm cô mới có thì giờ ngồi tập dừng cái ý, thời gian ấy không lâu, chỉ độ 30 phút là cao.
Hoàn cảnh tu sĩ và Phật tử là một trở ngại rất lớn cho sự sống yên tĩnh tu hành của cô. Cô bị mọi người khen thì ít mà chê thì nhiều, nhất là tâm phàm phu của thiên hạ, họ dựa theo tâm lý phàm phu của thế tục mà suy diễn về cô Diệu Quang thì những sự suy nghĩ đó sẽ đem lại ác pháp cho người, chứ cô Diệu Quang như thế nào thì cô tự biết, đó là nhân quả của cô, chứ Thầy không ý kiến gì hết. Thầy chỉ thấy đó là duyên phước chúng sanh chưa đủ phước và là luật nhân quả đời trước. Từ những sự việc đó xảy ra tự cô phải đương đầu với nội tâm của mình, tâm như biển sóng dồn dập, cô như chiếc thuyền nan trên mặt biển.
Cô vừa chiến đấu với nội tâm để xả những u hoài khổ đau của mình vừa phản công những đối tượng bên ngoài (Phật tử và tu sĩ).
Phiền não tức Bồ Đề, nhờ các đối tượng ấy, cô đã tìm ra phương pháp xả tâm để cứu mình thoát khổ. Đối với những người đã làm cô khổ, nhưng có điều là cô không oán hận những người đó, cô xem đó như bình thường, không có gì cả và khi những người đó hữu sự, có tai nạn thì cô sẵn sàng khuyên lơn và giúp đỡ. Cô nói nặng nhẹ người khác bởi vì cô đang còn trên đường tu tập xả tâm, nhưng lòng yêu thương đối với con người không xa lìa, lúc nào cũng thương yêu mọi người, sẵn sàng giúp đỡ, nhưng sẵn sàng nói nặng vì hạt giống tham, sân, si vẫn còn để xem người ấy xả tâm thật sự hay không. Nếu xả tâm thật sự thì người ấy sẽ chiến thắng được mình. Vả lại cô cũng đang còn trên đường tu tập xả tâm, vẫn còn tham, sân, si, mạn, nghi… nên các con hãy lấy cô làm đối tượng nghịch cảnh để buông xả tâm mình, đừng oán giận cô.
Khi cô cố gắng để xả được tâm mình không còn khổ đau, thù hận, xem mọi việc như không, nghĩa là mọi việc không làm cô bận tâm, cũng từ đó tri kiến của cô phát triển như các con hiện giờ đã thấy. Cô đối đáp giải quyết theo bản năng tự nhiên của đời trước đã huân tu chứ không phải trong đời này và trong kinh sách.
Các con đừng hiểu rằng đời trước là một đời kế đây, đời trước ở đây là một đời mà nhiều đời và cũng có thể đồng thời với Đức Phật, cô là người đã học và tu trong những thời đó, kiếp này cô được làm người, nó đã sống lại trong quá khứ xa xưa kia. Vì thế, các con nên nhớ những gì mà các con tu đúng pháp dù muôn đời nó vẫn không mất, nó sẽ làm sống lại nơi tâm hồn của các con mà các con sẽ gọi nó là tài năng, năng khiếu hay là trí thông minh. Nhưng nếu các con tu sai, nó vẫn sống lại và đưa các con vào biển khổ bằng ảo tưởng như đồng cốt, những người này họ đâu có tu hành trong đời này, nhưng đời trước họ đã tu theo tà đạo, đời này năng khiếu đó nó sống lại, cho nên họ trở thành là những loại đồng cốt, ông lên, bà xuống, bóng chàng, v.v..
Những người ở đời này tu Thiền Đông Độ, Thiền xuất hồn, Thiền Yoga và tất cả các loại Thiền tưởng, kiếp sau họ trở thành những thầy cúng, phù thủy, đồng, cốt, thầy bói, thầy bùa, thầy ngải, v.v.. Nói chung kiếp này tu sai chánh pháp, kiếp sau làm những điều mê tín, tiếp tục lừa đảo người khác, đó là năng khiếu tà giáo ngoại đạo. Khi chúng ta huân tu thì nó không bao giờ mất, nó sẽ sống lại trong khi chúng ta sanh lên làm người. Còn chúng ta tu đúng theo chánh pháp của Phật thì luôn luôn lúc nào cũng xả tâm ly dục ly ác pháp, tuy rằng cuộc sống có nhiều sóng gió ba đào nhưng chúng ta không bị lạc vào hoang đảo cũng vì nhờ đức hạnh và giới luật, nó là ngọn hải đăng đưa tàu vào bến an toàn.
Cuộc đời tu hành của Thầy cũng vậy, khi mất cả hy vọng trên đường tu tập, chới với giữa biển pháp của Đại thừa, bước đường cùng, chỉ còn chết mà thôi, trong khi mất hết cả niềm hy vọng thì năng khiếu trỗi dậy để cứu mình, nên trong tiềm thức của Thầy nhớ đến lời của Hòa thượng Minh Châu. Trong khi sắp chết đuối một chiếc phao đã hiện ra và đã cứu Thầy.
Thầy đã tìm được lối thoát mà xưa kia Thầy đã từng tu học giáo pháp này, nên đọc tới đâu Thầy nhận ra pháp hành tới đó và thực hành có kết quả ngay liền, nghĩa là Thầy tu lại theo lời dạy của Đức Phật đã dạy trong kinh Nguyên thủy pháp “Như Lý Tác Ý” mà hơn nửa đời người theo Đạo Phật tu hành chẳng có một vị Thầy nào dạy tu tập điểm này với pháp môn này. Thầy đã nhận ra bí quyết thành công của pháp môn này là “Độc cư”.
Pháp Như Lý Tác Ý và Độc Cư là năng khiếu của Thầy trỗi dậy. Xưa, Đức Phật cũng vậy, khi con đường tu tập tận cùng, Ngài như sắp chết thì năng khiếu Ngài trỗi dậy. Ngài nhớ lại đạo lộ Tứ Thánh Định, Ngài liền bỏ sạch các pháp môn của ngoại đạo, Ngài không tu khổ hạnh nữa, tiếp tục sống đúng đời sống Phạm hạnh. Khi cơ thể Ngài bình phục, 49 ngày dưới cội Bồ Đề do đạo lộ Tứ Thánh Định, Ngài đã viên mãn con đường tu giải thoát, thỏa mãn được ước vọng của Ngài làm chủ sanh, già, bệnh, chết.
Bởi vậy, muốn có năng khiếu và trí thông minh thì phải tu tập pháp “Hướng Tâm” và “Độc Cư” con ạ!
Quyết định phải tu cho bằng được phải không con? Dù cho xương có tan, thịt có nát nhất định chúng ta phải thành công thì đó là con đã huân tập một tài năng, một tri kiến, một năng khiếu.
Hiện giờ, cô Diệu Quang có trắc nghiệm bằng một phương pháp nào mà có tận cùng sự khổ đau thì nhất định tâm con cũng như cục đất phải không con? Có như vậy mới thấy tâm được giải thoát thanh thản, an lạc và vô sự, đó là kết quả của tâm bất động.
(Trích sách Đường về xứ Phật – Tập 1, NXB Tôn Giáo – 2011, trang 268-278)
TỤNG KINH ĐỊA TẠNG,
SANH TỬ ĐỀU ĐƯỢC NHƯ Ý
HỎI: Kính thưa Thầy, trong Kinh Địa Tạng có nói, khi sanh nở không được sát hại để tìm vật bổ dưỡng cho sản mẫu ăn và biết trai giới chí thành trì tụng kinh này hoặc niệm danh hiệu Ngài Địa Tạng một muôn biến, v.v.. Đại khái là khi sanh cũng như lúc tử… đều được lợi ích như ý…
Như vậy, chúng con thành tâm trai giới và trì tụng kinh Địa Tạng cùng niệm danh hiệu của Ngài một muôn biến để cầu cho con của chúng con đặng thông minh được không? Và như vậy thì sự tương ưng nhân quả sẽ giải thích như thế nào? Và kinh Địa Tạng có phải là kinh Phật không? Chúng con cúi xin Thầy khai thị.
ĐÁP: Kinh Địa Tạng là một loại kinh mê tín của Đại Thừa, những điều trong kinh này dạy đều là ảo tưởng, không thực như: “Muốn sinh con dễ nuôi, kiếp sau không sinh làm thân gái, không sinh vào hàng bần tiện, tướng hảo xinh đẹp … hoặc đem chén nước trong để trước tượng một ngày một đêm bưng lấy uống một phen ngủ dậy đặng thông minh, v.v… Rồi kinh ấy dạy không được sát hại, … Phải chí thành cúng dường trì tụng kinh Địa Tạng cùng tán thán công đức… và niệm danh hiệu Ngài Địa Tạng một muôn biến, v.v…” (Trong kinh Địa Tạng đầy rẫy những đoạn dạy như thế…). Với những việc làm như vậy, thì các bạn thấy có liên can gì đến đời sống, tướng hảo và sự thông minh của đứa bé không?
Ví dụ: Cha mẹ đứa bé này đều u tối, kém thông minh, đần độn trí nhớ, học trước quên sau … thì khi sinh đứa con, đứa con này do gen của cha mẹ kết hợp thành thai nhi. Như vậy đứa bé này có thông minh không các bạn?
Cứ dựa theo lời dạy trong kinh này, không sát hại, ngày đêm chí thành cung kính cúng dường và trì tụng kinh Địa Tạng,… chúng tôi tin chắc rằng những việc làm này là không tương ưng với sự thông minh, nên đứa bé này vẫn u tối. Vì gen của cha và mẹ là gen không thông minh. Cho nên, việc trai giới và tụng kinh là việc làm không tưởng đối với đời sống và sự thông minh của đứa bé.
Ngược lại hai vợ chồng người này là nhà bác học, có kiến thức sâu rộng, có đạo đức, có nhiều phát minh giúp ích cho nhân loại … thì chắc chắn đứa con của họ phải thông minh, vì gen của hai người này là gen thông minh. Cho nên, họ đâu cần tụng kinh cầu khẩn mà con họ vẫn thông minh. Có đúng như vậy không các bạn?
Nếu làm cha mẹ muốn cho con mình được thông minh thì cha mẹ phải siêng năng học tập, cha mẹ siêng năng học tập tức là huân tập sự thông minh. Do huân tập sự thông minh như vậy nên mới thi đỗ bằng cấp cao học, tiến sĩ và trở thành những nhà bác học.
Do sự huân tập, học tập như vậy nên cha mẹ đã tạo ra những gen thông minh. Tạo ra những gen thông minh có sự tương ưng với chủng tử thông minh của đứa con, vì thế khi sinh con ra đời, đứa con phải thông minh.
Hành động học tập của cha mẹ, sinh con ra thông minh là đúng. Đó là tạo nhân thông minh tương ưng với các nhân quả thông minh của đứa con mình, có đúng như vậy không các bạn?
Còn hành động không sát hại và tụng kinh Địa Tạng cầu xin, … các bạn xét với việc làm này có tương ưng với sự thông minh không?
Như vậy, lời dạy trong kinh này phi lý, lừa đảo người nhẹ dạ dễ tin.
Vì thế, kinh Địa Tạng dạy những điều đầy ắp những ảo tưởng gây mê tín, lạc hậu biến tư tưởng con người tiêu cực, cầu xin tha lực, thường tựa lưng vào thế giới siêu hình, do đó sức tự lực của con người lần lần đã tiêu tan hết sạch.
Thưa các bạn! Khi chúng ta đọc kinh sách, dù kinh sách nào, dạy một điều gì thì chúng ta cũng đều phải lưu ý: bất cứ một việc làm nào cũng phải có sự tương ưng với kết quả mục đích của nó, nếu nó không tương ưng với mục đích kết quả của nó thì đó là kinh ấy dạy sai.
Muốn cho con mình thông minh thì cha mẹ phải thông minh. Cha mẹ muốn thông minh thì cha mẹ phải siêng năng học tập. Đó là quy luật nhân quả rất tự nhiên, không thể có một điều nào khác hơn ngoài quy luật này. Ngoài quy luật nhân quả là ảo tưởng, không tưởng.
Vì thế, chúng tôi khẳng định kinh Địa Tạng là kinh ảo tưởng của tà giáo ngoại đạo chứ không phải là kinh Phật.
Đây các bạn lắng nghe Đức Phật xác định: “Như vậy, này Vàsettha, lời nói của những Bà La Môn tinh thông ba tập kinh Vệ Đà người đầu không thấy, người giữa không thấy, người cuối cùng cũng không thấy “Phạm Thiên”. Giống như lời nói mù quáng, lời nói của những Bà La Môn tinh thông ba tập kinh Vệ Đà như vậy là lời đáng chê cười, là lời nói suông, là lời nói không tưởng, là lời nói trống rỗng…”.
Qua lời dạy trên đây chúng ta xét về kinh Địa Tạng, thì kinh Địa Tạng không đáng cho chúng ta tin cậy, vì kinh Địa Tạng là lời nói suông, là lời nói không tưởng, là lời nói trống rỗng…
(Trích sách Người Phật tử cần biết – Tập 1, NXB Tôn Giáo – 2012, trang 160-163)


