ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
TỔNG HỢP CÁC BÀI PHÁP

A A A

Chân lý sống của loài người

Chánh kiến


image_pdfimage_print

CHÂN LÝ SỐNG CỦA LOÀI NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ TÔN GIÁO VÀ TRIẾT HỌC

—o0o—

TRIẾT HỌC, TÔN GIÁO VÀ CHÂN LÝ

Muốn sống được ĐỨC TỪ TÂM, trước hết chúng ta phải hiểu và phân biệt cho rõ ràng về tôn giáo, triết học và chân lý của loài người.

Trước khi học đạo đức thương mình thì các bạn cần nên hiểu biết về chân lý sống của con người. Nói đến chân lý thì xin các bạn đừng hiểu lầm chân lý là triết lý, là tôn giáo, là khoa học, v.v..

Chân lý là một điều đã được xác định bản chất sự sống của loài người một cách cụ thể và thực tế, không cần phải thêm bớt, dù bất cứ ở thời nào, nó cũng hợp thời chứ không có lỗi thời. Những điều nói ra đúng như thật mới được gọi là chân lý, còn chưa đúng như thật thì không được gọi là chân lý. Loài người điên đảo vì những nỗi thống khổ của kiếp người, nên có nhiều nhà trí thức hiểu biết phát minh và đưa ra nhiều triết thuyết như: triết thuyết này, triết thuyết kia; tôn giáo này, tôn giáo kia. Mục đích đưa ra là để mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Nhưng họ không ngờ cho nên đã lầm lạc một chút, vì những triết thuyết và những tôn giáo của họ là tưởng tri, chứ không phải liễu tri. Họ tưởng rằng những triết thuyết và tôn giáo của họ sẽ đưa con người đi đến một cuộc sống hạnh phúc, an vui, nhưng nào ngờ nó đi ngược lại. Đi ngược lại, nên triết thuyết và tôn giáo thường hay sửa đổi và thêm bớt.

Khi đã đưa ra bao nhiêu triết thuyết, bao nhiêu tôn giáo thì loài người bị phân chia ra nhiều ý thức hệ, ra nhiều phe nhóm, ra nhiều tôn giáo, v.v.. Từ đó con người chấp chặt trên phe nhóm của mình, chấp chặt trên ý thức hệ tư tưởng triết lý về đời sống và về tôn giáo của mình. Từ sự chấp chặt đó, họ lại giày xéo, chà đạp lên nhau và đôi khi còn giết hại lẫn nhau. Giày xéo, chà đạp, giết hại lẫn nhau bằng ngôn ngữ, bằng mưu mô thủ đoạn xảo trá, bằng vũ lực để bảo vệ ý thức hệ; để bảo vệ tôn giáo; để bảo vệ quyền lợi phục vụ giai cấp của họ, v.v.. như trên chúng tôi đã nói [1].

Từ đó đạo đức nhân bản – nhân quả đã bị đánh mất. Ý thức hệ tôn giáo tranh chấp này càng ngày càng gay gắt hơn. Do đó họ lấy bản thân của họ để làm lá chắn, làm vật hy sinh cho ý thức hệ triết học và tôn giáo của họ, để luôn luôn chống đối lại ý thức hệ và tôn giáo của người khác. Trường hợp xảy ra ở bên nước Pháp ngày 14 tháng 7 năm… Thiên Chúa và Tin Lành. Ở nước Việt Nam cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963. Trước cảnh phân chia tranh chấp, đấu tranh tôn giáo và các hệ tư tưởng triết học, khiến cho con người đã khổ đau lại còn khổ đau hơn, nên có một số người muốn hòa giải những sự tranh chấp ấy. Họ dung hợp những điểm tương đồng và bỏ lờ qua những điểm sai khác của các triết học và tôn giáo để hòa đồng lại các hệ tư tưởng triết học và các tư tưởng tôn giáo thành một khối. Lấy mục đích đỉnh cao của mọi tôn giáo và triết học cho rằng: Chỗ cuối cùng đều giống như nhau không khác.

Việc làm này cũng chẳng đi đến đâu lại sinh ra một tôn giáo mới “Hòa Đồng Tôn Giáo”. Với một cái tên… nghe rất kêu. Nhưng sự hoà đồng tôn giáo, sự thống nhất các hệ phái cũng chẳng giải quyết những nỗi khổ đau của con người. Đó cũng chỉ là cách hòa giải làm giảm bớt sự căng thẳng chống đối giữa các tôn giáo và giữa các hệ phái, để thực hiện những giấc mơ an ủi tinh thần trong thế giới siêu hình, chứ kỳ thực con người vẫn khổ và khổ mãi mãi.

Trên cuộc đời này lịch sử loài người về tôn giáo và triết học đã chứng minh cho chúng ta biết những cuộc đấu tranh đẫm máu tôn giáo và tư tưởng triết học rất là thảm khốc mà con người phải gánh chịu. Thật là đau lòng. Phải không hỡi các bạn?

Nhìn chung, về tôn giáo hay về triết học thì chưa có một tôn giáo nào hay một triết học nào là hoàn hảo, đúng đắn để đưa sự sống của con người và muôn loài thoát khổ.

Tham vọng của con người quá to lớn, lợi dụng tư tưởng tôn giáo này hay triết học kia rồi chắp vá manh mún để chia chẻ ra nhiều tôn giáo, ra nhiều hệ phái, ra nhiều ý thức hệ triết học, triết lý khác nhau để thỏa mãn danh lợi cá nhân bản thân họ. Nhưng nào ngờ với việc làm này thì tai họa sẽ giáng xuống đầu của loài người và muôn loài vạn vật. Bởi vì, con người hiện giờ chỉ còn biết ý thức hệ và tôn giáo của mình là trên hết như trên chúng tôi đã nói. Nên cuộc chiến tranh hận thù hủy diệt loài người cũng sẽ xuất phát từ nơi những tư tưởng hận thù ấy.

Từ những ý tốt để phục vụ sự an lành hạnh phúc cho loài người, nhưng ngược lại là đem sự đau khổ cho loài người nhiều hơn. Cho nên, các nhà tôn giáo, các nhà triết học phải sáng suốt nhận định cho đúng đắn, đừng vì danh, vì lợi mà thành lập tôn giáo này, tôn giáo nọ, hệ phái này, hệ phái nọ, triết học này, triết học nọ, mà gây chia rẽ, làm đau thương cho loài người.

Tôn giáo và triết học chưa hẳn là chân lý của loài người. Xin các bạn hãy nghiên cứu lịch sử về tôn giáo và triết học của loài người thì các bạn sẽ hiểu rõ hơn.

Vì lợi ích cho loài người, chúng ta là những nhà tôn giáo, là những nhà triết học, mỗi lần chúng ta muốn đưa ra một giáo pháp, một giáo điều, một triết lý nào đó thì chúng ta cần phải có đầy đủ kinh nghiệm và thấu suốt về bản chất đời sống của con người có áp dụng vào đời sống của họ được hay không? Nếu được thì giáo pháp, giáo điều và triết lý ấy sẽ không bị phản ứng ngược lại, không bị sống trong ảo tưởng, trừu tượng, mơ hồ hoặc không bị trở thành mê tín, dị đoan, v.v.. Do đó, nó đem lại sự an vui hạnh phúc cho loài người thật sự, thì giáo pháp, giáo điều và triết lý đó là chân lý, còn nếu chưa áp dụng được như vậy thì giáo lý, giáo điều và triết lý đó không phải là chân lý. Cho nên, chúng ta cần phải cân nhắc kỹ lưỡng rồi mới đưa ra. Nếu đưa ra thiếu sự cân nhắc kỹ lưỡng là tai hại rất lớn và làm cho loài người khổ đau nhiều hơn.

Các nhà làm tôn giáo và các triết gia đừng lấy con người làm thí nghiệm cho giáo lý, giáo điều và triết lý của mình. Con người vốn sinh ra quá khổ đau mà lại bị nhồi nhét thêm những loại tư tưởng tôn giáo, triết lý mơ hồ ảo giác, khiến cho nền đạo đức của con người bị mất đi. Vì thế, cuộc sống của con người càng khổ thêm thì rất tội cho họ. Biến đời sống của họ trở thành một đời sống mơ mộng, trừu tượng, ảo tưởng, sống không thực tế, sống mất tự chủ, sống chỉ nhờ vào tha lực của thần quyền ảo giác, rất uổng phí một đời người mà chẳng có lợi ích gì thiết thực cả. Khổ đau lại càng chồng chất khổ đau hơn.

Triết lý và tôn giáo chỉ là những phương thuốc mới chế tạo, mới đem ra thí nghiệm, nó chưa phải là một thứ thuốc đặc trị bệnh khổ đau của loài người. Vì thế, loài người uống nhầm thuốc thí nghiệm này đã không hết bệnh mà lại bệnh nhiều hơn (bệnh ảo tưởng, bệnh mê tín). Còn chân lý mới thật sự là một phương thuốc thần dược trị bệnh của nhân loại. Cho nên, muốn trị bệnh loài người thì phải biết rõ bệnh và thuốc trị của loài người. Loài người thường hay bệnh gì? Và thuốc gì để trị?

Tóm lại những giáo lý của các tôn giáo là những triết lý, nó chưa phải là chân lý. Do đó, nó chưa phải là một loại thuốc đặc trị bệnh khổ của con người. Vì thế, con người khi muốn ra khỏi sự đau khổ của kiếp người thì không nên vội tin chúng, cần phải quan tâm nghiên cứu tường tận các tôn giáo và triết học. Chúng không phải là chân lý của con người, có nghĩa chúng chưa phải là sự thật và cũng chưa đáp ứng được những nhu cầu tinh thần bình an và hạnh phúc cho loài người. Vì thế, muốn dùng thuốc triết học và tôn giáo thì phải cân nhắc kỹ lưỡng, đừng để “tiền mất tật mang”.

—o0o—

BỐN SỰ THẬT CỦA CON NGƯỜI

Để thực hiện “Đức Từ Tâm”, chúng ta hãy xem xét cho tận cùng và xác định thực chất, thiết thực, đúng đắn kiếp sống của con người trên chân lý nào? Nhờ thấu rõ chân lý chúng ta mới xây dựng nền tảng đạo đức nhân bản – nhân quả trên đó. Có được như vậy mới đem lại cho con người một cuộc sống an vui và hạnh phúc chân thật.

Trong cuộc sống của con người có bốn chân lý, tức là có bốn sự thật. Vậy bốn sự thật của loài người như thế nào? Bốn sự thật của loài người gồm có:

1- CHÂN LÝ THỨ NHẤT

Chân lý thứ nhất, “Khổ”: Gồm tất cả các loại khổ, gọi chung là khổ. Làm người không ai là không khổ, không khổ điều này thì khổ điều khác. Nhưng không ngoài bốn sự đau khổ chính: sanh, già, bệnh, chết. Đó là một sự thật của đời người.

Đã sinh ra làm người thì không ai thoát ra khỏi bốn sự đau khổ này, ngoại trừ những bậc tu chứng theo đúng lộ trình Phật Giáo “Bát Chánh Đạo”, còn nếu tu tập không đúng lộ trình này thì cũng chỉ hoài công vô ích mà thôi. Khổ đau vẫn hoàn khổ đau.

2- CHÂN LÝ THỨ HAI

Chân lý thứ hai, “Nguyên nhân”: Nơi tập hợp sinh ra những sự đau khổ, đó là “lòng ham muốn của con người”. Lòng ham muốn của con người là một sự thật. Làm người không ai mà không có lòng ham muốn, đến như loài cỏ cây còn có sự ham muốn (ham muốn sống).

3- CHÂN LÝ THỨ BA

Chân lý thứ ba, “Cuộc sống với tâm thanh thản, an lạc, vô sự”: Đó là trạng thái của một con người hết khổ đau. Cuộc sống với tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự là một sự thật. Bởi vì con người ai cũng nhận ra được những trạng thái này của tâm, khi các ác pháp không tác động vào được nó.

4- CHÂN LÝ THỨ TƯ

Chân lý thứ tư, “Tám phương cách”: Tám phương cách rèn luyện đạo đức không làm khổ mình, khổ người. Tám phương cách gồm có:

1/ Cách nhìn vào một sự việc, khiến tâm mình và tâm người khác không khổ đau.

2/ Cách suy nghĩ vào một sự việc khiến tâm mình và tâm người khác không khổ đau, phiền não.

3/ Cách dùng lời diễn tả một sự việc không làm khổ mình, khổ người.

4/ Cách chọn lấy hành động và nghề nghiệp sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh.

5/ Cách thức nuôi mạng sống của mình không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh.

6/ Hằng ngày phải siêng năng thực hiện năm phương cách này thì cuộc sống sẽ được an vui hạnh phúc.

7/ Thường đẩy lui các chướng ngại pháp trên mọi cảm thọ nơi thân, tâm của mình để đem lại sự thanh bình, an vui cho cuộc sống.

8/ Thân tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ.

Tám phương cách này áp dụng vào đời sống của con người thì mọi người ai cũng làm được và cũng được sự an ổn hạnh phúc như nhau, không có khó khăn, không có mệt nhọc. Còn nếu có khó khăn, có mệt nhọc là do lòng còn ham muốn ảo ảnh vật chất thế gian chưa từ bỏ. Cùng một sự việc, một hoàn cảnh trong cuộc sống của con người, có hai cách nhìn:

1/ Nhìn theo lối thông thường thì mọi người ai cũng biết, đó là cái nhìn mang đến sự khổ đau cho mình, cho người và cho tất cả chúng sinh.

2/ Nhìn theo tám phương cách sống như thật trên đây. Đó là cái nhìn mang đến sự an vui hạnh phúc cho mình cho người và cho tất cả chúng sinh.

Tám cách nhìn trên đây là một sự thật của con người, chứ không phải là triết lý, giáo điều, kinh tạng, chú thuật, v.v.. Tám cách nhìn trên đây là tám cách nhìn thuộc về đạo đức làm người, không làm khổ mình, khổ người, khổ chúng sinh.

Trên đây là bốn sự thật đã xác định cụ thể về cuộc sống của con người, để con người biết cách khắc phục mình bằng đạo đức nhân quả; để con người vượt ra khỏi mọi sự khổ đau của kiếp làm người; để mọi người sống một đời sống đạo đức không làm khổ mình, khổ người và tất cả chúng sinh; để mọi người mang lại cho nhau một tình thương yêu rộng lớn vô bờ bến.

—o0o—

Ý NGHĨA CỦA MỖI CHÂN LÝ

Vậy mỗi chân lý mang theo ý nghĩa đối với kiếp sống của loài người như thế nào?

1- CHÂN LÝ THỨ NHẤT “KHỔ”

Khổ là chân lý thứ nhất của loài người. Sống trên đời này không ai là không khổ. Đó là một sự thật chắc chắn không thể có ai nói khác được. Vậy trạng thái khổ như thế nào?

Trạng thái khổ đau của con người gồm có bốn khổ gốc: sanh [2], già, bệnh, chết.

Sanh khổ

Sanh nghĩa là gì? Sanh là cuộc sống của chúng ta, nhưng nói đến cuộc sống thì cần phải nói đến những vật chất như: thực phẩm, y phục, nhà ở, đồ đạc, tiền bạc, đất đai, ruộng vườn, v.v.. Những vật này để phục vụ cho đời sống. Những vật chất này làm ra phải do sức lao động bằng chân tay hoặc bằng trí óc. Do sức lao động bằng trí óc hay tay chân làm ra vật chất thì phải chịu nhiều vất vả, cực khổ, nhọc nhằn, gian nan, v.v.. Vả lại đời sống còn cần phải xã giao và giao tiếp với mọi người, mọi vật, nên có lắm điều sinh ra nghịch ý, trái lòng, bất toại nguyện, v.v.. Đó gọi là sanh, sanh là một sự khổ như thật, không thể có ai chối cãi và phủ nhận đời sống con người là không khổ. Do mọi người đều chấp nhận nó là sự thật nên nó là chân lý.

Già khổ

Già khổ là như thế nào? Già khổ là cơ thể suy yếu, đi đứng không vững vàng, tay chân run rẩy, thường mệt nhọc, khó thở, tâm trí lẫn lộn hay quên, muốn làm việc gì cũng làm không được, ngồi một mình thì cô đơn buồn khổ, v.v.. Đó là già khổ như thật, không ai chối cãi và phủ nhận được.

Già khổ là một sự thật hiển nhiên mà mọi người đều phải chấp nhận. Do mọi người đều chấp nhận nó là sự thật, nên nó được gọi là chân lý của con người.

Bệnh khổ

Bệnh khổ là gì? Bệnh khổ là cơ thể bệnh tật đau nhức khó chịu như: đau bụng, nhức đầu, ngứa ngáy, mệt mỏi, bất an, nóng, lạnh, tê, chóng mặt, v.v.. Đó là bệnh khổ như thật, không ai chối cãi và phủ nhận được.

Bệnh khổ là một sự thật hiển nhiên mà mọi người đều phải chấp nhận. Do mọi người đều chấp nhận nó là sự thật, nên nó được gọi là chân lý của con người.

Chết khổ

Chết khổ là gì? Chết khổ là sự dừng hơi thở, nhưng trước khi dừng hơi thở thì con người phải thọ lấy những sự khổ đau tận cùng của thân và tâm: Tâm thì lo âu cho những người thân: anh, chị em, con, cháu…, lo lắng những việc làm chưa xong còn lở vở…, nuối tiếc lúc phân ly hay rất sợ hãi trước cái chết… Còn về cơ thể bị bệnh đau nhức, bất an, trăn qua, trở lại, vật vã người, mệt nhọc khó thở, v.v.. cho đến khi kiệt sức mới chịu dừng hơi thở, dừng hơi thở tức là chết… Đó là chết khổ như thật, không ai chối cãi và phủ nhận được.

Chết khổ là một sự thật hiển nhiên mà mọi người đều phải chấp nhận. Do mọi người đều chấp nhận nó là sự thật, nên nó được gọi là chân lý của con người.

Bây giờ quý bạn đã hiểu sanh, già, bệnh, chết là một sự khổ như thật. Vì thế, nó thuộc về chân lý khổ. Khi đã xác định kiếp làm người là phải chịu khổ như vậy, có nghĩa là làm con người thì không ai ra khỏi qui luật này. Ngoại trừ những người nào đã tự xây dựng cho mình một nền đạo đức nhân bản – nhân quả trên thân tâm của họ thì qui luật ấy không còn tác động vào thân tâm họ được.

2- CHÂN LÝ THỨ HAI: “NGUYÊN NHÂN SANH KHỔ”

Nói đến những hiện tượng đau khổ sanh, già, bệnh, chết thì không còn ai mà không biết, nhưng nói đến nguyên nhân sinh ra khổ đau thì ít ai biết đến. Vậy nguyên nhân nào sinh ra sanh, già, bệnh, chết?

Nguyên nhân sinh ra sanh, già, bệnh, chết, chính là “lòng ham muốn” của con người. Khi sinh ra đời không có người nào là không có lòng ham muốn, ham muốn nhiều hay ham muốn ít, nhưng mọi người khéo che đậy, chứ tâm ham muốn thì người nào cũng giống như người nào, không có khác nhau.

Lòng ham muốn là chân lý thứ hai, nơi sinh ra muôn thứ khổ đau hay nói cách khác là nguyên nhân tập hợp mọi sự khổ đau của kiếp làm người. Chân lý này đúng như thật, nhưng mấy ai đã lưu ý đến nó. Đời sống đau khổ của con người không còn có một nguyên nhân nào khác hơn nữa, ngoài nguyên nhân này. Cho nên, làm con người thì không ai là không có lòng ham muốn. Vạn vật sinh tồn trên quả đất này đều có một nguyên nhân ham muốn này mà thôi (ham muốn sống). Ham muốn sống là một chân lý như thật, không còn có ai chối cãi được.

3- CHÂN LÝ THỨ BA: “TÁM PHƯƠNG CÁCH”

Đó là tám phương cách để sống đạo đức nhân bản – nhân quả. Đau khổ của con người là một loại bệnh nghiệp do hành động nhân quả của mỗi con người tạo ra cho chính mình. Bệnh do chính mình tạo ra cho mình, chứ không ai ban tai họa, giáng bệnh.

Vậy có phương thuốc nào trị hết bệnh nghiệp khổ đau của con người chăng?

Bệnh nghiệp nhân quả do chính từ hành động của mình mà có, nên con người cũng có một phương thuốc bằng hành động của chính mình đối trị và chuyển hóa bệnh nhân quả rất là thần hiệu. Nhờ đó mà con người hoàn toàn hết bệnh, hay nói cách khác là làm chủ mọi sự khổ đau của kiếp người.

Đó là phương thuốc có tám vị hợp lại thành một toa thuốc “Đạo Đức Nhân Bản – Nhân Quả, không làm khổ mình, khổ người”.

Trên cuộc đời này kẻ nào sống không làm khổ mình, khổ người là kẻ đã làm chủ được bốn chỗ đau khổ: sanh, già, bệnh, chết. Cho nên phương thuốc đạo đức này, nếu ai chịu uống thuốc thì bệnh khổ sẽ chấm dứt. Còn ai không chịu uống thuốc này thì không có một vị thầy thuốc nào cứu mình được, dù là thần y, thánh dược cũng chỉ vô phương cứu chữa. Bởi vì, bệnh do nghiệp nhân quả ác thì chỉ có phương thuốc tám vị nhân quả thiện, tức là đạo đức nhân bản – nhân quả mới cứu được bệnh nhân. Nếu bệnh nhân không chịu uống thuốc này thì không có ông Trời, ông Thánh nào cứu được. Bệnh nhân quả ác là do chính mình tạo ra như trên chúng tôi đã nói, thì phải do chính mình uống thuốc nhân quả thiện mới trị được.

Phương thuốc đạo đức nhân bản – nhân quả không làm khổ mình, khổ người là chân lý thứ ba của đời người. Nó xác định và hóa giải sự khổ đau của kiếp người, giúp cho con người có một đời sống thanh thản, an vui và hạnh phúc như thật. Những hành động đạo đức cao quý tuyệt vời này, mà trên đời không thể lấy gì so sánh được. Chính vì nó không làm khổ mình, khổ người, luôn đem lại sự an vui và hạnh phúc chân thật cho mình, cho mọi người, nên nó mới thật sự là chân lý cao quý và cao thượng. Đó là một chân lý như thật, không còn ai phủ nhận được.

Nếu có người bảo rằng: còn có một phương thuốc đặc trị khác trị được bệnh nghiệp khổ này thì chúng tôi căn cứ vào thời gian lịch sử của loài người mà xác định rằng: không có phương thuốc nào khác ngoài phương thuốc tám vị đạo đức nhân bản – nhân quả.

Tại sao chúng tôi dám xác định như vậy?

Từ khi con người có mặt trên hành tinh này phát minh ra nhiều triết thuyết và ra nhiều tôn giáo. Trong mỗi tôn giáo có giáo điều và giáo lý, nhưng không giải cứu được bốn bệnh khổ này. Nghĩa là con người vẫn phải chịu qui luật nhân quả sanh, già, bệnh, chết.

Có bao nhiêu tôn giáo đã dạy con người tu tập có thần thông phép thuật, có luyện thuốc trường sinh bất tử, nhưng cuối cùng đến ngày nay con người vẫn chưa thoát ra khỏi qui luật sinh, tử luân hồi…

Trên hành tinh này có một người thoát khỏi bốn chỗ khổ đau. Đó là Thích Ca Mâu Ni, Ngài biết dùng loại thuốc đặc trị nhân bản – nhân quả này. Vì thế, loại thuốc này trở thành chân lý như thật của loài người, mà không còn ai dám phủ nhận.

4- CHÂN LÝ THỨ TƯ: “MỘT TRẠNG THÁI THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ CỦA TÂM”

Đó là một trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự của tâm. Một người biết sống trong đạo đức không làm khổ mình, khổ người, tức là biết cách sống đúng như chân lý thứ ba, thì người ấy thân tâm thường có trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự. Luôn luôn lúc nào tâm hồn cũng bất động trước mọi chướng ngại pháp. Đó là chân lý thứ tư của con người.

Chân lý thứ tư đã xác định rõ ràng một cuộc sống đầy đủ một trạng thái thân tâm trong sáng, hồn nhiên, thanh thản, an lạc, thoải mái và dễ chịu rất là hạnh phúc. Một trạng thái sống như vậy, là con người không ai mà không nhận ra được nó. Cho nên, nó là một chân lý như thật, không thể nào có ai nói khác được.

Trên đây là bốn chân lý thật sự của kiếp người. Nó không phải là triết lý mà cũng không phải là tôn giáo. Cho nên, khi con người có mặt thì chân lý ấy cũng có mặt trên hành tinh này và đến bây giờ chân lý ấy cũng không thay đổi. Dù sau này con người có sống đến vô lượng thế kỷ thì chân lý ấy cũng vẫn như vậy. Mặc dù con người có nâng cao trình độ kiến thức khoa học và công nghệ có phát triển cùng tột đến đâu, thì chân lý ấy cũng không lỗi thời. Tại sao vậy?

Vì nó là chân lý của con người, con người còn là chân lý còn, con người mất là chân lý mất. Vì thế, không ai còn có thể thêm bớt một điều gì được cả vào trong chân lý đó. Chính không thêm bớt được vào thì mới thực là chân lý, còn thêm bớt được vào thì không thể gọi là chân lý. Cho nên, tôn giáo và triết lý, thường người sau phát triển thêm thắt rất nhiều, nhưng chính sự phát triển thêm thắt đó đã xác định cho chúng ta biết rằng tôn giáo và triết lý không phải là chân lý.

Vì con người duy chỉ có bốn chân lý sự thật này, mới xác định đúng là con người. Ngoài ra thì không còn có một chân lý nào khác nữa để xác định về con người đúng đắn cả. Triết lý và tôn giáo không phải là chân lý nên nó có rất nhiều lý thuyết trừu tượng, ảo tưởng. Và vì thế nó luôn luôn phải sửa đổi cho hợp thời. Nếu không sửa đổi thì nó lỗi thời, không theo kịp sự tiến hoá của thời đại con người. Nhất là con người đang phát triển mạnh về khoa học và công nghệ tiên tiến.

Tóm lại, bài này xác định chân lý của con người không phải là triết lý và tôn giáo. Có nhiều người đã hiểu sai lầm triết lý và tôn giáo là chân lý của con người. Xin các bạn nên lưu ý và suy xét kỹ lại vấn đề này: Chân lý là một sự liễu tri thật sự bản chất của con người, nó không bao giờ có sự thay đổi và không ai thay đổi được nó, nó luôn luôn hợp thời với bất cứ thời điểm nào. Còn ai dám cả gan thay đổi bốn chân lý này thì người ấy biến nó trở thành triết lý, chứ không còn là chân lý nữa.

Triết lý là tưởng tri trừu tượng của con người, nó đang áp dụng và thăm dò con người, nên nó thường thay đổi để đáp ứng kịp thời. Cho nên, chúng tôi xác định nó không phải là chân lý của con người.

Tôn giáo cũng vậy và còn hơn thế nữa, vừa tưởng tri trừu tượng, vừa ảo tưởng mê tín khiến cho con người sống trong điên đảo tưởng, điên đảo tình, điên đảo kiến, điên đảo tâm, v.v.. Làm mất hết sức tự lực, luôn dựa vào Thần Thánh và thế giới ảo tưởng siêu hình. Tưởng khi theo tôn giáo đó, là sau này có chết đi, linh hồn cũng sẽ được tiếp độ vào các cõi đó.

Thường triết học và tôn giáo chạy theo đuôi con người, có nghĩa là hoàn cảnh sự sống của con người xảy ra khắc nghiệt như thế nào, thì những con người trong hoàn cảnh đó sản xuất ra triết học và tôn giáo để đáp ứng giải quyết sự khổ đau trong lúc đó, để đem lại cho mọi người sống được bình an. Nhưng khi hoàn cảnh hay thời đại đó qua rồi thì nó lỗi thời, không còn áp dụng vào con người được nữa. Cho nên, nó thường phải chỉnh sửa cho phù hợp với thời đại của con người. Vì vậy, nó không phải là chân lý.

—o0o—

XÁC ĐỊNH SỰ THẬT CỦA ĐẠO ĐỨC

Trên đây là chúng tôi đã xác định về chân lý của loài người, để các bạn thấu rõ triết lý và tôn giáo không phải là chân lý.

Chân lý thứ nhất, “Đời người là khổ, khổ vì sanh, già, bệnh, chết”. Chân lý này được đưa ra và đã được xác định thực tế, cụ thể, rõ ràng để mọi người biết rằng: một sự thật hiển nhiên khổ đau của kiếp người, không còn ai có thể chối cãi được nữa.

Vì thế, nó không còn là một triết học dò dẫm mà là một sự thật của loài người, ngoài bốn nỗi khổ gốc này thì không còn có cái khổ nào khác nữa.

Tất cả mọi trạng thái khổ, mà xảy ra trên thân tâm của con người thì cũng đều do từ bốn gốc khổ này sinh ra mà thôi. Làm người thì không ai thoát ra khỏi bốn sự đau khổ đau này, nên nó mới được gọi là chân lý thứ nhất của loài người.

Chân lý thứ hai là nguyên nhân sinh ra bốn sự đau khổ trên, đó là “Lòng ham muốn của con người”. Do lòng ham muốn của con người mà con người phải gánh chịu vô vàn sự khổ đau. Ham muốn nhiều thì sự khổ đau nhiều, ham muốn ít thì sự khổ đau ít. Nhiều hay ít là do lòng ham muốn mà ra.

Chân lý này được đưa ra và đã được xác định thực tế, cụ thể, rõ ràng trong đời sống của con người để mọi người biết rằng: Một sự thật hiển nhiên là nguyên nhân sinh ra đau khổ của con người.

Ở đây chúng ta được xem nó là một triết lý mang tính chất chân thật của con người mà không ai có thể chối bỏ và bắt bẻ được, nên nó là chân lý như thật của con người.

Chân lý thứ ba là “trạng thái thân tâm thanh thản, an lạc và vô sự, bất động trước mọi pháp”.

Đạo đức nhân bản – nhân quả không làm khổ mình, khổ người, được xây dựng làm nền tảng trên chân lý sống của kiếp người. Vì chỉ có chân lý mới nói lên được sự thật của loài người. Lấy sự thật của con người mà gieo trồng đạo đức trên đó thì đạo đức sẽ đem lại hạnh phúc an vui cho loài người thiết thực rõ ràng và cụ thể hơn bất cứ một tôn giáo hay một triết lý nào.

Còn nếu chúng ta lấy tư tưởng triết lý tôn giáo mà gieo trên chân lý con người thì do đó biến con người mất hết ý chí tự lực, tự cường, chỉ còn biết dựa lưng vào thần quyền, trở thành người mê tín lạc hậu, thường sợ hãi trước những biến cố. Còn lấy triết học gieo trồng trên chân lý của con người thì triết học đó sẽ đưa con người đi vào cuộc sống ảo giác, ảo tưởng trừu tượng. Nhưng cuối cùng cũng chỉ là một cuộc thí nghiệm tư tưởng con người mà thôi. Người nào ngu si tin tưởng theo triết lý bằng thứ ngôn ngữ lý luận, bỏ cả cuộc đời, phí công sức, phí tiền của, v.v.. mà chẳng ích lợi gì cho mọi người mà ngay chính bản thân người ấy cũng chẳng hưởng được gì.

Trong một thời gian trải dài lịch sử của loài người, đã chứng minh cho chúng ta thấy những triết lý và những tư tưởng tôn giáo là những thứ hư tưởng không thật. Khi chúng ta nếm vào thì chẳng thấy có mùi vị ích lợi gì thiết thực trong thực tế của cuộc sống, chỉ toàn là mùi vị sống trong ảo tưởng và mê tín quá rõ ràng.

Bởi vì, bốn chân lý này được phối hợp lại chặt chẽ đúng cách, biến thành một cuộc sống cao thượng, đẹp đẽ, tuyệt vời của kiếp con người. Đó chính là đạo đức nhân bản – nhân quả của loài người.

Vì thế, chúng ta biết triết lý chỉ là ảo tưởng của loài người mà thôi. Triết lý đưa ra phương cách sống thiếu thực tế, khiến loài người đến với nó thì gặp sự khổ đau, sự xung đột và có thể giết hại lẫn nhau như trên chúng tôi đã nói. Ngược lại chân lý của loài người được xây dựng trên nền tảng đạo đức nhân bản – nhân quả khiến loài người thương yêu đùm bọc lẫn nhau, sống không làm khổ mình, khổ người.

Tôn giáo cũng vậy chỉ là một sự mê tín, ảo giác, huyền bí của con người tạo ra. Tôn giáo đưa ra những giáo điều và phương pháp tu tập để đạt những năng lực phi thường, siêu việt (thần thông phép thuật), và hội nhập vào bản thể vạn hữu hay về với các cõi Thần, Thánh, Tiên, Phật, Niết Bàn, v.v.. Những điều trên đây khiến cho con người ham mê, do ham mê nên phí công, phí sức, phí tiền của, nhưng cuối cùng chẳng làm ích lợi thiết thực gì cho mình, cho người, mà còn làm hao phí của cải tài sản và công sức của mọi người một cách nhảm nhí vô ích. Xin các bạn nên lưu ý những điều chúng tôi nói trên đây, nếu đúng thì các bạn nên buông bỏ nó xuống và thực hiện đạo đức làm người cho trọn vẹn, còn không đúng như ý bạn thì chẳng có sao hết, bạn cứ theo ý bạn an vui hạnh phúc thì bạn nhờ, khổ đau hay hao tốn tiền của nhảm nhí thì bạn chịu, còn chúng tôi chỉ biết nói một sự thật để ai có đủ duyên thì tránh được một sự sống ảo giác này.

Chân lý thứ tư là hành động sống hằng ngày không làm khổ mình, khổ người, nó là đạo đức làm người, một thứ đạo đức nhân bản tuyệt vời “bằng tám phương cách”. Để chúng ta tự chỉnh sửa mình trở thành một con người xứng đáng là một con người biết thương mình, thương người. Tám phương cách sống này gồm có:

1/ Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây phải siêng năng tập luyện thấy các thiện pháp, không nên thấy các ác pháp, dù bất cứ pháp nào cũng phải tư duy đúng lý nhân quả thiện ác để ngăn diệt ác pháp và luôn luôn sống trong thiện pháp. Còn thấy đúng sai phải trái thì không thương mình, thương người. Không thương mình, thương người thì mọi sự khổ đau sẽ đến thăm viếng và như vậy thì sống thiếu đạo đức làm người.

2/ Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây phải siêng năng suy tư các thiện pháp, không được suy tư các ác pháp. Phải suy tư đúng nhân quả thiện ác, chứ không được suy tư đúng sai phải trái. Khi suy tư đúng sai phải trái thì chính mình không thương mình, thương người. Không thương mình, thương người thì khổ đau sẽ đến ngay liền tức khắc. Và như vậy là sống không đạo đức với mình, với người.

3/ Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây khi nói ra là phải nói những lời thiện, không được nói những lời hung ác, không được nói xấu người, không được nói thêm bớt, không được nói chuyện có, nói không; chuyện không, nói có. Nói được như vậy tức là sống đúng đạo đức nhân bản – nhân quả thì hạnh phúc sẽ đến ngay liền. Còn nói ngược lại là không thương mình, thương người thì khổ đau sẽ đến ngay liền tức khắc. Và như vậy là sống không đạo đức với mình, với người.

4/ Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây phải siêng năng làm các điều thiện, không được làm các điều ác. Làm các điều thiện là không làm khổ mình, khổ người và như vậy là sống đúng đạo đức thương mình, thương người. Còn làm ngược lại là không thương mình, thương người thì khổ đau sẽ đến ngay liền tức khắc. Và như vậy là sống không đạo đức với mình, với người.

5/ Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây phải siêng năng nuôi mạng sống bằng những thực phẩm thiện, không nên nuôi mạng sống bằng những thực phẩm ác. Có nghĩa là hằng ngày không nên ăn thịt chúng sinh vì ăn thịt chúng sinh là đem sự đau khổ vào thân, cho nên thân bệnh đau hay tai nạn này tai nạn khác, đều do nuôi mạng sống trong sự khổ đau của loài vật. Và nuôi mạng sống như vậy là nuôi mạng sống trong sự phi đạo đức làm người; nuôi mạng sống như vậy là biến mình thành một ác thú chứ không phải là một con người thật người. Ăn thịt chúng sinh là biến thân mình trở thành một nghĩa địa nơi chôn xác các loài.

Nhiều khi chúng ta không dám nhìn một sự thật đang sống quanh ta. Bây giờ chúng ta hãy tập nhìn một sự thật ở trên đời này. Nghe nói đến một ngôi mộ là ai cũng biết nơi đó là nơi chôn xác người chết. Phải không hỡi các bạn?

Thưa các quý bạn! Có ai dám sống, ăn, ở ngủ nghỉ và đi đâu cũng đều mang theo một ngôi mộ chôn xác chết bên mình chăng? Chắc các bạn sẽ bảo rằng: – Không! Không bao giờ có điều này.

Điều này là một sự thật hiển nhiên các bạn ạ! Nhưng các bạn không chịu nhận thấy mà thôi. Chúng tôi xin chỉ cho các bạn thấy: “Chính cơ thể của các bạn là mồ chôn xác muôn loài vật”. Có đúng không hỡi các bạn? Và các bạn là những người đang mang chiếc mồ đó bên mình, đang ăn, ở và ngủ nghỉ trên đó.

6/ Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây phải siêng năng ngăn ác diệt ác pháp. Có nghĩa là luôn luôn lúc nào cũng phải sống đúng đạo đức nhân bản – nhân quả để đem lại cho mình, cho người một niềm vui chân thật. Còn làm ngược lại là không thương mình, thương người thì khổ đau sẽ đến ngay liền tức khắc. Và như vậy là sống không đạo đức với mình, với người.

7/ Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây phải siêng năng đẩy lui các chướng ngại trên thân và tâm. Nghĩa là trên các cảm thọ của cơ thể như: đau nhức, ngứa, v.v.. phải tìm mọi cách làm cho nó không còn đau khổ nữa. Còn tâm của bạn cũng vậy, khi tâm phiền não, tức giận, buồn khổ phải tìm mọi cách làm cho nó không còn đau khổ nữa. Người có đẩy lui được các chướng ngại pháp trên thân, tâm của mình như vậy là người biết thương mình, thương người. Còn làm ngược lại là không thương mình, thương người thì khổ đau sẽ đến ngay liền tức khắc. Và như vậy là sống không đạo đức với mình, với người.

8/ Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây phải siêng năng xa lìa lòng ham muốn và tất cả các pháp ác. Có nghĩa là tâm phải bình tĩnh sáng suốt làm chủ trên mọi hành động nghiệp lực nhân quả của mình để mọi ác pháp không tác động vào được. Nhờ sống được như vậy là sống trọn vẹn đạo đức thương mình. Thương mình mà không bị ác pháp lừa dối.

Trên đây là tám cách thức thực hành nếp sống đạo đức nhân bản – nhân quả không làm khổ mình, khổ người, để thương mình như thật mà không bị ác pháp che đậy làm cho mình cứ nghĩ thương mình mà làm hại mình không biết.

___

[1] Trải qua một thời gian dài lịch sử của loài người, đã chứng minh những điều chúng tôi nói trên đây là một sự thật về tôn giáo và triết học, chứ không phải chúng tôi có ý chỉ trích tôn giáo và triết học, xin quý các bạn hiểu cho. Đó là một sự thật hiển nhiên mà không thể phủ nhận được.

[2] Sanh là cuộc sống, đời sống, chứ không có nghĩa sanh đẻ.

(Trích sách Đạo đức làm người – Tập 2, NXB Tôn Giáo – 2011, trang 40-72)


Chơn Như, mùa an cư 2005

TRIẾT HỌC VÀ CHÂN LÍ

HỎI: Con thưa Thầy, vị thầy của con là thầy giáo nghiên cứu về triết học Mác – Lê nin và các trường phái triết học, nhưng mà đến lúc thầy nghiên cứu về Phật giáo thì thầy đọc sách không có hiểu. Con là học trò của thầy, con muốn thầy hiểu về chánh pháp của Phật, con đưa sách của Thầy cho thầy con đọc được không?

ĐÁP: Được chứ! Bởi vì Thầy muốn nghiên cứu về Phật giáo, nhưng mà thầy bây giờ thầy không có biết, cho nên con hãy đưa những sách nào để thầy nghiên cứu thầy biết Phật giáo, chứ gì?

Thí dụ như bây giờ, cái cuốn “Những Lời Gốc Phật Dạy – Tập 4” con đưa thì ông này ông nhận ra được cái triết lí của Phật giáo liền, cái chân lí của Phật giáo.

Trong cái triết lí thì nó có cái chân lí, mà trong cái triết lí mà nó thực hiện không đúng của loài người thì nó là triết lí, không thể nào là chân lí được. Mà trái lại triết lí của đạo Phật là chân lí của loài người, cho nên nói đâu nó đúng đó, nó không sai, cho nên nó thành ra cái chân lí, gọi là Bốn chân lí, Bốn sự thật là chân lí của đạo Phật.

Cho nên bây giờ cái cuốn này con đưa về ông thầy con ông đọc, trời đất ơi, Phật giáo như thế này. Chứ con đưa một đống kinh Đại thừa, ông nghiên cứu, ông không biết gì đâu.

– Ngày xưa thầy có nghiên cứu bên Đại thừa, thầy có nghiên cứu nhiều năm, đọc đi đọc lại về triết học Phật giáo mà thầy vẫn không có hiểu. Con muốn giúp thầy, thầy cũng chưa lớn tuổi thưa Thầy, liệu có được không?

– Được chứ con, Thầy nói thực sự những người muốn nghiên cứu về triết học này, triết học kia, người ta có cái tâm tìm hiểu và cái tâm muốn biết được những tư tưởng của con người trên hành tinh. Mấy người mà nghiên cứu, nhất là mấy nhà trí thức họ đều có tâm muốn biết triết học này, muốn biết triết học kia, muốn biết tư tưởng của loài người từ xưa đến giờ như thế nào, có hợp có đúng hay không.

Nhiều khi, nếu không có người hướng dẫn thì cái biết của họ nó mờ mịt lắm. Cho nên vì vậy mà trong lời của Phật dạy, muốn tìm hiểu thì cần phải có một người tu chứng, tức là chứng đạt được cái chân lí đó thì người đó sẽ dạy cho chúng ta biết được chân lí, làm cho chúng ta ngộ được chân lí, làm cho chúng ta biết cách để hộ trì và bảo vệ chân lí đó để mà chứng đạt được chân lí. Chỉ có người tu chứng là người đó sẽ hướng dẫn cho mình nghiên cứu, còn mình cứ lấy kinh sách mà mình nghiên cứu là mình bị lạc lầm hết, lạc đường hết, không có làm sao mà mình hiểu được. Bởi vì danh từ không thể nào trả lời cho mình được cái nghĩa của nó sát thực.

Mình đọc rồi tự mình nói, cái kiến thức của mình mình sẽ hiểu, nhưng mình lầm, cái danh từ đó mình lầm. Con đọc cuốn sách này, con sẽ biết có những danh từ mà người xưa đến giờ, toàn là các nhà học giả, đều là giải thích lầm. Chỉ có Thầy vạch ra được là tại vì Thầy là người tu Thầy mới hiểu, Thầy là người chứng Thầy mới hiểu. Nếu mà không chứng thì Thầy cũng hiểu cỡ họ mà thôi.

Các con cứ thấy những từ ở trong đó nó đơn giản lắm, nhưng mà người chứng người ta mới vạch ra được, còn người không chứng thì người ta hiểu nghĩa như vậy đó.

Cho nên vì vậy, con biết con thương thầy con, ông muốn tìm hiểu mà giờ ông đâu có biết sách nào đâu. Ông đâu phải là đệ tử của Phật hoặc ông xuất gia ông tu đâu, nhưng mà Thầy nói thật sự bây giờ ông có xuất gia ông tu đi nữa, ông cũng không biết cách nghiên cứu. Phải đi tìm được một người, mấy con là những người may mắn lắm đó, gặp Thầy, Thầy mới vạch ra, chứ nếu cỡ mà mấy con không gặp Thầy mấy con cũng chẳng biết đường đâu mà Phật giáo đúng hay sai nữa. Mấy con cũng sẽ lạc lầm trên con đường nghiên cứu về tôn giáo và cái chân lí nào đúng, chân lí nào sai.

Bây giờ mấy con nghe “chân lí” thì mấy con nghe những danh từ đó, và cái triết học đó người ta nói cái chân lí, mấy con cũng tin là chân lí, nhưng không biết làm sao mà cái này không phải chân lí thì mấy con chưa biết, luận như thế nào để nói nó là không phải.

Cũng như bây giờ người ta đưa triết học Mác – Lê nin lên người ta nói, đây là chân lí thì mấy con cũng phải tin nữa. Đây là vật chất rõ ràng, người ta nói quá cụ thể mà, mấy con làm sao biết? Nhưng mà bên trong đó nó có những phần người ta không giải thích được. Các con hiểu chưa?

Cho nên, trừ ra có những người tu xong rồi, người ta chứng rồi, không có gì dấu người ta được hết, không có triết học nào giấu được hết. À, bây giờ nói cái đó đúng, Thầy vạch ra cái thấy sai liền. Cái triết học nào mà nói cái triết học này đúng, nhưng mà Thầy không vạch thôi, mà Thầy vạch ra thì người ta sẽ thấy cái triết học đó còn sai.

Con thấy kinh Thủ Lăng Nghiêm từ lâu tới giờ người ta nói đúng chứ gì? Người ta nói tánh thấy, tánh nghe, nhưng mà Thầy vạch ra thì người ta thấy kinh Thủ Lăng Nghiêm sai, có phải không? Ai cũng thấy là đúng rồi, nhưng mà tới chừng Thầy vạch ra thì người ta thấy rõ ràng là kinh này còn sai, chứ chưa đúng.

Bởi vậy Thầy nói, trên đời chỉ có người mà người ta đã thực hiện được sự giải thoát của người ta, người ta có đủ cái trí tuệ đó, bằng cách người ta phải có Tam Minh. Không có Tam Minh thì không thể nào hiểu được hết. Bởi vì có Tam Minh như thế nào?

Là tại vì người ta muốn biết sau thời gian và không gian xa như vậy, người ta muốn biết là biết, còn mấy con muốn biết cái không gian mênh mông như thế này, vô cực như thế này, mấy con làm sao đủ khả năng mà biết ở trong không gian vô cùng, vô tận này. Mấy con làm sao biết? Làm sao mấy con xác định được. Còn thời gian từ quá khứ, cho đến tương lai về sau, hàng triệu triệu năm về sau mấy con làm sao biết, nhưng mà người ta có đủ khả năng đó người ta biết được hàng triệu triệu năm về tương lai và hàng triệu triệu năm về quá khứ.

Người ta có trí như vậy. Cho nên vì vậy nhà triết học đưa ra cái triết học đó, ông ta cũng là người thông minh, nhưng mà ông thông minh ông cũng còn ở trong cái tưởng của ông thôi, chứ làm sao ông biết được, ông đâu có đủ Tam Minh mà ông nói cho đúng, cho nên chỉ có đức Phật nói đúng, là tại vì đức Phật có Tam Minh.

Nếu đức Phật không có chứng Tam Minh, đức Phật chưa đem ra được chân lí Khổ – Tập – Diệt – Đạo này, cho nên Thầy xác định là trước đức Phật chưa có đức Phật. Có đức Phật sao không nói Tứ Diệu Đế? Đợi cho đức Phật Thích Ca giảng bài pháp đầu tiên nói Tứ Diệu Đế, tức là nói Bốn sự thật, tức là Chân lí, thì các con thấy, ai nói cái này? – Chỉ duy nhất có đức Phật Thích Ca mà thôi. Có ông Phật nào nói đâu, vậy mà nói có 7 đời đức Phật quá khứ. Rồi tương lai có ông Phật nào nói cái chân lí nào khác đây? Ông Phật Di Lặc có nói cái chân lí khác không? Hay là cũng nhẫm lại của ông Phật Thích Ca. Dám gọi là Giáo chủ đương lai hạ sanh Di Lặc, người ta dựng lên một cái rất là sai lệch, không đúng.

Con người chỉ còn có một chân lí này thôi chứ không còn chân lí nào khác hết. Bốn sự thật này của con người, trừ ra chúng ta không làm con người nữa thì nó không phải là chân lí của chúng ta, có vậy thôi. Cho nên, Thầy nói chân lí này là của loài người, còn cái khác của xứ khác, ở đâu đem về đó chứ ở đây không có những thứ đó.

– Dạ thưa Thầy, cho con hỏi bên đạo Phật giáo Hòa Hảo thưa Thầy, có Đức thầy Tây An gì đó thưa Thầy, người ta nói có Đức Phật, Bồ tát chuyển kiếp lên thầy Tây An thưa Thầy?

– Đức Phật nào mà chuyển kiếp đây. Mấy người tưởng ra, chứ mấy người biết sao? Bây giờ mấy người biết ông Phật nào chuyển kiếp lên thành ông thầy Tây An đây, mấy người chỉ đi, mấy người đến gặp đi rồi mấy người về nói, hay là ông đó ông đặt điều ông nói rồi con cũng bắt chước rồi người khác cũng bắt chước, bao nhiêu người mù mà nối đuôi nhau mà nói cái chuyện mơ hồ vậy. Con thấy trong cuốn này nó có nói chưa? Có phải không?

– Dạ thưa Thầy, chỉ duy nhất có đức Phật Thích Ca chứ không có ai nữa phải không?

– Không có ai, không có người nào hết, bởi vì ông đó là người nói Bốn Sự thật của con người rồi, chứ không còn người khác nói được nữa.

– Dạ thưa Thầy, có đoạn kinh nói, mỗi lần hình thành quả Đất thì lại có 4 vị Phật hoặc có 2 hoặc 1 vị Phật ra đời. Người ta nói trên quả Đất này có 4 vị Phật ra đời.

– Bốn vị Phật ra đời, nhưng Thầy thấy có một ông, tại vì ông đó ông nói Bốn Chân lí thì 4 vị Phật kia chắc chưa biết chân lí thì làm sao gọi là Phật.

Cái người mà nói ra cái sự thật của con người thì người đó mới gọi là Phật. Mà trên hành tinh này nếu nói có 4 vị Phật, mà họ đã nói rồi thì ông Phật Thích Ca cần gì phải nói, thì như vậy thì vị Phật nào là vị Phật nói trước? Bây giờ tìm ra coi thử xem, mà bây giờ trên hành tinh của chúng ta thì chúng ta biết có lịch sử rõ ràng thì chỉ có ông Phật Thích Ca thôi, không có ai hết. Mà tại sao dám nói ông Phật Thích Ca là chuyển pháp luân lần đầu tiên nói Tứ Diệu Đế. Con nghe bài Tứ Diệu Đế là chuyển pháp luân lần đầu tiên, nghĩa là từ khi tu chứng mới nói pháp lần đầu tiên cái bài pháp đó, đem cái sự thật ra nói.

Thầy nói đúng là ông Phật Thích Ca mới dám nói cái điều này, đập thiên hạ tan nát hết. Tứ diệu đế là bốn sự thật của con người rồi. Mà năm anh em Kiều Trần Như không phải là những tay thường đâu, năm người này cũng là những người học giả kiến thức sâu rộng lắm, cũng bỏ cuộc đời đi tu, vừa là ủng hộ Phật mà cũng là vừa theo dõi từng chút chứ không phải không đâu. Nhưng mà khi đức Phật thuyết giảng Tứ Diệu Đế rồi thì năm anh em Kiều Trần Như này không còn mở cửa miệng nào mà nói sai được. Chứ mà nếu nói sai họ dập liền chứ đừng nói chuyện, họ không thua đức Phật đâu. Có phải không? Chống liền đó! Nói sự thật đàng hoàng không chối cãi được. Còn bây giờ mình giải thích như thế nào?

Nói Khổ đế, nói “Biệt ly khổ”, nói cái nhánh nhóc chứ nói cái gì đâu. Một đứa bé mới sanh ra nó có biệt ly đâu mà nó khổ, nó có biết khổ chỗ đó không? Nói vậy thì có chân lí không? Có phải không, mấy con nghe ở trong đó nói biệt ly khổ chứ gì !? Rồi “Oán tằng hội khổ”, con nít mới sanh ra nó oán ai mà nó khổ, mấy người nói cái chuyện… Có không? Mình ở đời mình sống với nhau, mình giận hờn, mình tức giận, mình oán thù với nhau mới có khổ đấy chứ, còn con nít mới sanh ra làm sao nó khổ?

Cho nên, Khổng Tử cũng lầm, bởi nói: “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”, con người mới sinh ra là thiện chứ gì? Thiện ở đâu mà khát sữa mà la khóc um sùm mà thiện!? Phải không? Thiện thì nằm yên đó chứ, tới giờ người ta cho ăn cho uống mà tại sao đòi dữ vậy, thiện ở chỗ nào đâu? Cho nên, Khổng Tử vẫn còn lầm, không đúng. Mà ai cũng coi ông Khổng Tử là Thánh chứ gì? Nhưng mà vẫn sai chứ đâu phải đúng.

Là con người mà làm sao không sai? Nhưng mà đến Bốn chân lí của đạo Phật, dám nói sai không? Mà Thầy giải thích ai dám nói sai không? Còn các thầy Đại Thừa giải thích nào là biệt ly khổ, oán tằng hội khổ,… Thầy nói sai! Tui tới giờ tui có oán thù ai đâu mà nói khổ, tui có khổ đó đâu mà nói chân lí đó của tui, có phải không mấy con? Như vậy sai!

Nhưng mà Thầy nói: “Tham sân si là khổ”, thì bây giờ Thầy có gì đi nữa Thầy cũng biết Thầy còn tham chứ chưa hết. Mà ai cũng có tham sân si hết, đừng nói là không người nào nói tui không có tham sân si. Trừ ra một người tu hết tham sân si nó mới hết, chứ hễ nó là con người thì người nào cũng có. Đó là chân lí rồi, không có còn chối cãi được, dù là một đứa bé nhỏ để Thầy xác định chỉ cho có tham sân si, rồi tới ông già gần chết Thầy cũng chỉ cho chỗ tham sân si. Phải không? Mấy con thấy đó là chân lí rồi, thành ra không ai chối cãi được! Không có người nào nói cái này sai được.

Cũng như nói có tánh thấy, tánh biết, tánh nghe là cái chân lí rồi, Phật tánh rồi. Thầy nói ngủ sao nó không biết? Thành ra Thầy lật ra cái rồi thành ra người ta chán ngán, ơ trời đất ơi không lẽ Phật sao nó còn ngu vậy, ngủ mà nó không biết, ăn trộm vô lấy đồ không biết gì hết, Phật cũng ngủ theo à?

Các con thấy, cái luận của người xưa thì người ta luận một chiều, nhưng mình không đủ cái trí tuệ để mình vén mở cái sai của họ ra, cho nên mình thấy đúng.

Người ta coi trọng kinh Thủ lăng Nghiêm ghê gớm lắm, người ta còn huyền thoại cái quý báu đó nữa, thậm chí nhà vua không có cho lưu hành cái quý báu này ra. Cho nên ông sư này muốn đem kinh này ra thì ông phải xẻ bắp đùi nhét cuốn kinh trong đó, ông vá lại, ông đi qua nước đó, ông mới được bộ kinh. Trời ơi, ông dám hy sinh cái kiểu này làm sao vật quý báu này mà không quý. Con nghe câu chuyện kinh Thủ Lăng Nghiêm chưa? Trời đất ơi, nó huyền thoại câu chuyện ghê gớm, mà nói Phật tánh, Phật này kia,… trời ơi nghe đúng lắm. Lý luận như thế này, mấy con thấy nó lý luận người ta không chê được.

Ông Phật bảo ông Anan đánh tiếng chuông, hỏi ông có nghe không? – Có nghe. Khi không đánh, hỏi ông có nghe không? – Không có nghe.

Ông Phật mới nói, ông điên đảo sao? Khi không đánh thì cái nghe cũng vẫn nghe chứ? Còn tiếng chuông nó có kêu hay không kêu là do đánh nó có thôi chứ còn cái nghe ông luôn luôn chứ.

Trời ơi nghe như vậy là thường hằng quá rồi. Hay quá, hay quá! Thế là Phật tánh nó phải thường hằng chứ? Nó bất biến chứ? Nhưng mà không ngờ Thầy vạch ra, khi ngủ mê thì không biết nó đâu mất, chừng đó nó đổ vỡ ông liền. Chớ phải mà không có kẽ hở đó thì chắc chắn là làm sao Thầy vạch ra được?

Đó thì mấy con thấy, Thầy nói cái triết học nào đi chăng nữa cũng là triết học. Cái triết học Tánh không để chỉ cho tánh thấy, tánh biết, tánh nghe chứ không có gì, nhưng mà Thầy vạch ra một cái là đổ vỡ hết kinh sách đó hết.

– Thưa Thầy, con có thắc mắc, đọc sách của Thầy con thấy câu chuyện Mục Liên Thanh Đề cứu mẹ thưa Thầy, Thầy nói như vậy là không có. Thầy nói luôn là Quan Âm Thị Kính cũng không có. Hai vấn đề đó là giả hết thưa Thầy?

– Lẽ đương nhiên là cái sự tranh luận ở trên mạng về Mục Liên Thanh Đề cũng nhiều lắm mấy con, nhưng mà vẫn bị đập thôi. Tại vì sai!

– Thưa Thầy, dựng chuyện lên hết thưa Thầy?

– Dựng chuyện lên hết!

– …

– Lâu lâu các con về gặp Thầy nói chuyện, vậy mà làm các con có minh lắm đấy, không phải vô minh đâu nha, Thầy không bao giờ nói chuyện không ích lợi đâu.

(Trích Pháp âm chuyển ngữ: Mùa An Cư, 071 – (MuaAnCu2005-A), phút thứ 0:00 – 15:19)


Chia sẻ trang này

(Số lượt xem bài: 164)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.