Tỉnh thức và tĩnh giác
Chơn Như, ngày 19 tháng 5 năm 1998
TỈNH THỨC VÀ TĨNH GIÁC
Liễu Tâm vấn đạo
HỎI: Danh từ tỉnh thức và tĩnh giác, xin Thầy dạy cho chúng con biết?
ĐÁP:
Tỉnh thức mới có ý tứ được các thân hành niệm; tĩnh giác trong đó tỉnh thức và giác ngộ được chánh niệm.
Người mới tỉnh thức còn tham, sân, si.
Người tỉnh ngộ là hết tham, sân, si.
Tỉnh thức chánh niệm chỉ mới gom tâm vào tất cả hành động ngoại của thân.
Tĩnh giác chánh niệm là tỉnh thức ba hành động thân, khẩu và ý nên ngộ được lý chánh pháp giải thoát của Phật.
Nên phải hiểu tỉnh thức chỉ là mới bắt đầu tu tập.
Tĩnh giác phải hiểu là đã có phần ly dục ly ác pháp khắc phục được tham ưu ở đời, tuy chưa hoàn toàn đoạn dứt lậu hoặc nhưng tâm hồn người này có thanh thản, an lạc hơn nhiều.
TỈNH GIÁC
Câu hỏi của Từ Tuệ
HỎI: Kính thưa Thầy! Cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo như con hiểu là để quay vào kiểm soát thân tâm, để khỏi bị đời lôi cuốn. Tất cả để bảo tồn năng lượng, năng lực tự chủ, để tới lúc đủ lực vút lên khỏi ngục tù xác thân?
ĐÁP: Đúng vậy, con đã hiểu được phần thứ nhất về định lực, còn phần thứ hai, thứ ba và thứ tư để Thầy sẽ giảng rõ cho con hiểu thêm:
– Thứ hai là hạnh lực “Cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo”, đó là giữ gìn hành động thân, hành động lời nói và hành động suy nghĩ, làm cho oai nghi, tế hạnh của con nhẹ nhàng, êm dịu, ôn tồn, nhã nhặn, những hành động đó không thể vô tình, vô ý được. Vì vậy khiến cho các con không làm khổ mình, không làm khổ người khác nữa.
– Phần thứ ba là phần tỉnh thức. Khi có cẩn thận, kín đáo, dè dặt, kỹ lưỡng thì phải có sức tỉnh thức rất cao, nếu không tỉnh giác thì cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo chỉ là danh từ suông.
Như con đã biết, về vấn đề tu tập hàng đầu của đạo Phật là tu tập tỉnh giác, có tỉnh giác mới phát hiện được ác pháp và lòng tham đắm của mình, nếu không tỉnh giác mà nói tu theo đạo Phật thì chỉ hoài công vô ích. Cho nên, sự tu tập tỉnh thức là một vấn đề quan trọng của đạo Phật.
– Phần thứ tư là phần chánh niệm, khi có cẩn thận, dè dặt, kỹ lưỡng, kín đáo thì tâm luôn luôn ở trong chánh niệm, không có tà niệm xen vào, tức là không có niệm ác.
Tuy những danh từ đơn giản nhưng hiểu ra để tu tập, trau dồi thân tâm là một công trình tu tập, mà còn phải biết các pháp hành đúng như pháp của Phật thì mới có kết quả tốt đẹp.
Cho nên, người nào có tánh cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo thì ngoài đời làm ăn cũng dễ thành công, trong đạo tu hành cũng dễ thành tựu viên mãn.
Vì có cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo thì sự tu hành dễ tỉnh thức, các chướng ngại pháp ít xâm chiếm thân tâm. Người cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo mỗi tâm niệm thiện hay ác khởi lên, người ấy dễ nhận thấy được một cách dễ dàng.
Người không có tánh cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo, tánh tình thường thô lỗ, cộc cằn, hung dữ thì tu hành rất khó khăn và đôi khi sự tu hành chẳng đi đến đâu cả, chỉ mang tiếng tu hành, chứ chẳng có ích lợi gì cho mình, cho người.
Tánh cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo rất quan trọng cho cả cuộc sống đời, lẫn cuộc sống đạo.
Người tu tập tỉnh thức, tức là tu tập Thân Hành Niệm, tu tập Thân Hành Niệm, tức là tập luyện tánh cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo, chứ không phải sự tập trung tâm vào bước đi hoặc mọi hành động của thân, để cho tâm không khởi niệm vọng tưởng, đó là một sự tu tập sai lầm của các cư sĩ và tu sĩ, họ đã từng tu tập như vậy đã bao thế kỷ nay, mà chẳng có ai đạt được ích lợi gì cho bản thân của mình và cho người khác.
Còn tu tập rèn luyện tánh cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo thì ngay trong sự kỹ lưỡng, dè dặt, cẩn thận, kín đáo đó trên mỗi hành động thiện hay ác của họ, liền có sự giải thoát, khiến cho thân tâm được an lạc, thanh thản và vô sự. Vì sự cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo (tỉnh giác) trong thiện pháp (chánh niệm) nên thường ngăn chặn và diệt trừ các ác pháp (tà niệm).
(Trích sách Đường về xứ Phật – Tập 3, NXB Tôn Giáo – 2011, trang 143-146)
Tâm thư ngày 22-11-2007
TRẢ LỜI THIỆN TÂM
Kính gửi: Thiện Tâm. Thầy sẽ trả lời tất cả những câu hỏi của con:
HỎI 1: Xin Thầy chỉ dạy cho chúng con rõ, Tĩnh Giác và Cảnh Giác có điểm giống và khác nhau như thế nào? Hay khác nhau hoàn toàn?
ĐÁP: Danh từ TĨNH GIÁC và CẢNH GIÁC có nhiều điểm khác nhau như sau:
1- TĨNH GIÁC là một pháp môn tu tập của Phật giáo nguyên thủy, để giúp con người chủ động thực hiện đức hiếu sinh và các đức hạnh khác. Còn CẢNH GIÁC không phải là một pháp môn tu tập, chỉ là một sự đề phòng.
2- TĨNH GIÁC là tâm bình tĩnh trước các ác pháp và các cảm thọ, luôn luôn sáng suốt quan sát từng các đối tượng (sáu trần) tiếp xúc sáu căn (mắt thấy, tai nghe…), để giúp cho người tu hành không dính mắc, nên nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng một cách dễ dàng, để tâm được an lạc, thanh thản và vô sự. Còn CẢNH GIÁC là nỗi lo lắng, luôn luôn nghi ngờ người này người kia.
3- TĨNH GIÁC là tâm AN VUI, còn CẢNH GIÁC là tâm lo sợ NGHI NGỜ.
4- TĨNH GIÁC là tâm sáng suốt, chủ động biết rõ từng hành động thân, miệng, ý của mình trước khi làm, nghĩ và nói những cái gì. Còn CẢNH GIÁC chỉ là đề phòng những đối tượng hại mình, chứ không lưu ý từng hành động thân, miệng, ý.
5- TĨNH GIÁC là thiện pháp không làm khổ mình, khổ người. Còn CẢNH GIÁC làm khổ mình, nên lúc nào cũng dè dặt lo ngại.
6- TĨNH GIÁC là pháp xuất thế gian, còn CẢNH GIÁC là pháp thế gian.
7- TĨNH GIÁC là thiện pháp, mà thiện pháp là chuyển ác pháp, nên người tu tập tĩnh giác ít xảy ra tai nạn. Còn người CẢNH GIÁC chỉ là một đức cẩn thận, đề phòng, bảo vệ cá nhân mình mà thôi, cho nên cảnh giác chỉ là nghi ngờ dò xét, chứ không phải tĩnh giác. Cho nên tĩnh giác và cảnh giác hoàn toàn khác xa.
HỎI 2: Ví dụ: Trong các câu chuyện của bài học hôm nay, “Người dược sĩ bị sát hại bởi hai tên cướp hung hãn”, bác Hóa do thiếu Cảnh Giác nên mới chở hai tên cướp, nhưng lúc ấy bác Hóa có Tĩnh Giác. Do vậy, không thể nói bác Hóa thiếu Tĩnh Giác được!
ĐÁP: Câu ví dụ trên đây hiểu sai nghĩa của hai từ TĨNH GIÁC và CẢNH GIÁC: “Bác Hóa do thiếu Cảnh Giác nên mới chở hai tên cướp, nhưng lúc ấy bác Hóa có Tĩnh Giác. Do vậy, không thể nói bác Hóa thiếu Tĩnh Giác được!”. Con nên nhớ, trong CẢNH GIÁC có TỈNH THỨC chứ không có TĨNH GIÁC. Nói như trên đó là con đã hiểu sai. Nếu có Tĩnh Giác thì bác Hóa không bị chết. Vì bài học này là bài thông tin trên báo nên dùng từ Cảnh Giác. Nhưng trong Cảnh Giác không có Tĩnh Giác như trên đã nói, nó chỉ có Tỉnh Thức. Nếu có Tĩnh Giác thì không cần Cảnh Giác. Vì trong Tĩnh Giác Chánh Niệm thì không ai lừa gạt nó được, bởi nó thường quan sát kỹ các đối tượng. Quan sát kỹ các đối tượng không phải là CẢNH GIÁC, mà là bản chất của TĨNH GIÁC.
(Trích sách Những bức tâm thư – Tập 1, TVCN – 2013, trang 155-157)
Tâm thư ngày 05-01-2008
TRẢ LỜI KIM QUANG (BÀI 8)
Kính gửi: Kim Quang
Để trả lời những câu hỏi của con:
1- CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC là lối hành văn của người Trung Hoa còn lối hành văn của người Việt Nam thì dùng đảo ngược lại TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM.
2- Theo pháp hành văn của người Việt Nam thì TĨNH GIÁC trước rồi sau mới CHÁNH NIỆM. Cho nên khi đọc CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC là biết người ta dùng theo Hán văn, còn khi đọc TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM thì người ta biết dùng theo Việt văn. Cụm từ này chỉ có một nghĩa chứ không có hai nghĩa.
3- Trong TĨNH GIÁC đã có nghĩa CẨN THẬN, cho nên dùng TĨNH GIÁC thì không dùng CẨN THẬN.
4- Dùng từ CẨN THẬN thì không đi đôi với CHÁNH NIỆM được, vì CẨN THẬN có TÀ có CHÁNH, nếu muốn dùng với từ CHÁNH NIỆM thì phải thêm từ “TRONG”. CẨN THẬN TRONG CHÁNH NIỆM
5- Từ CẨN THẬN nó mang theo hai tính chất chánh và tà như trên đã nói: CẨN THẬN TRONG CHÁNH NIỆM hoặc CẨN THẬN TRONG TÀ NIỆM.
6- TĨNH GIÁC có sự thanh tịnh và bình tĩnh nên thường dùng TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM chứ không dùng TĨNH GIÁC TÀ NIỆM.
7- TĨNH GIÁC là một giới đức trong pháp môn QUÁN VÔ LẬU của Phật giáo nên nó có phương pháp tu tập, vì thế nó có sức gạn lọc tâm tư thanh tịnh không còn các ác pháp và trong khi tu tập nó còn có một sức bình tĩnh kỳ lạ khi đứng trước các ác pháp nó rất định tĩnh. Nếu tu tập đúng đặc tướng.
8- Đức CẨN THẬN không có phương pháp tu tập, chỉ hằng ngày tập sống CẨN THẬN mà thành thói quen, nên nó không có phương pháp gạn lọc tâm tư trong sạch toàn thiện. Vì vậy, trong các pháp ác nó vẫn có sự cẩn thận, cẩn thận để tăng trưởng ác pháp.
9- Trong bài “TÂM HỒN CAO THƯỢNG”:
Đáp án thứ 2: Vì cô bé THIẾU ĐỨC CẨN THẬN Ý HÀNH, nhớ lại quên đem sách âm nhạc nên lo lắng, nhưng ở đây tác giả dùng chữ “hoảng hốt” không đúng, vì hoảng hốt là phải có đối tượng gây ra ấn tượng sợ hãi dao động tâm quá mạnh còn mới quên hay nhớ, đó là một trạng thái bình thường làm sao có sự hoảng hốt như vậy. Cho nên đáp án 2 cô bé THIẾU ĐỨC CẨN THẬN Ý HÀNH là đúng.
Đáp án 3: Cô bé THIẾU ĐỨC TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM Ý HÀNH là đúng, vì lúc bấy giờ cô bé không còn bình tĩnh quá sợ hãi
10- TĨNH GIÁC và TỈNH THỨC khác nghĩa, khác hình dạng chỉ có đồng âm. Chữ TĨNH GIÁC dấu ngã (~), chữ TỈNH THỨC dấu hỏi (?).
Chữ “GIÁC” có nghĩa là “GIÁC NGỘ” mà GIÁC NGỘ có nghĩa là phân biệt biết rõ các pháp nào ác và các pháp nào thiện. Nên chữ “GIÁC” có nghĩa là “QUÁN XÉT” hay “SUY XÉT”.
Chữ “THỨC” có nghĩa là tỉnh táo biết rất rõ nhưng không phân biệt pháp nào thiện hay pháp nào ác. Thiện ác hai pháp như nhau, nên chữ “THỨC” có nghĩa là “TẬP TRUNG”.
11- Pháp TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM trong kinh Phật dạy dùng sức “BÌNH TĨNH” quan sát phân biệt các pháp nào thiện để tăng trưởng và ngăn chặn, diệt trừ các pháp nào ác để “XẢ TÂM”, đó là để giúp tâm bất động trước các pháp ác; là để giúp tâm thanh thản, an lạc và vô sự; đó là để bảo vệ CHÂN LÝ nơi bất sinh bất diệt của loài người.
12- Pháp TỈNH THỨC CHÁNH NIỆM trong kinh Phật dạy dùng sức “TỈNH TÁO” tập trung tâm vào một đối tượng duy nhất để thực hiện “NHIẾP TÂM” và “AN TRÚ TÂM” luyện nội lực “TỨ THẦN TÚC”.
13- Vì thế chúng ta phải hiểu: TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM là pháp môn dùng để XẢ TÂM. Còn TỈNH THỨC CHÁNH NIỆM dùng để NHIẾP TÂM LUYỆN TẬP NỘI LỰC.
14- Trong TĨNH GIÁC không có TỈNH THỨC, vì có TỈNH THỨC thì TĨNH GIÁC mất cũng như trong TỈNH THỨC không có TĨNH GIÁC, vì có TĨNH GIÁC thì TỈNH THỨC mất. Cho nên hai pháp này không phải là một pháp mà hai pháp môn. Hai pháp môn này là hai giai đoạn tu tập của Phật giáo “GIỚI, ĐỊNH”. Vì thế, các con đừng hiểu lầm lạc. Hiểu lầm lạc là không biết đường tu tập.
15- Các con nên nhớ kỹ: Pháp môn TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM dùng để tu tập TỨ CHÁNH CẦN xả tâm phần thô; còn Pháp môn TỈNH THỨC CHÁNH NIỆM dùng để tu tập TỨ NIỆM XỨ luyện nội lực thiền định để xả tâm phần vi tế.
16- Người tu tập mà hôn trầm, thùy miên còn nhiều, nếu muốn phá hôn trầm thuỳ miên thì không nên ngồi nhiều mà nên đi kinh hành theo pháp môn TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM xả tâm, chứ không được tu tập theo pháp môn TỈNH THỨC CHÁNH NIỆM, vì tu tập TỈNH THỨC CHÁNH NIỆM dễ rơi vào trong trạng thái “KHÔNG”, ngoan không.
Hôn trầm, thùy miên và vô ký là một trạng thái mất tỉnh giác, một trạng thái si mê, một trạng thái lười biếng, vì thế phải bằng mọi cách nhiếp phục cho được, hoàn toàn trong giờ tu tập không bao giờ còn có bóng dáng của nó thì mới mong tiến tới tu tập tới các pháp môn khác, nếu hôn trầm thùy miên tu tập chưa xong thì đừng mong tu tập Tứ Niệm Xứ. Muốn tu tập pháp môn Tứ Niệm Xứ thì tâm phải không còn niệm vọng tưởng và hôn trầm thùy miên nữa.
Chúc các con tu tập xả tâm rốt ráo để thành công tốt đẹp.
Thầy của các con
(Trích sách Những bức tâm thư – Tập 1, TVCN – 2013, trang 301-305)


