ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang

Thiền định của đạo Phật

Thiền định của đạo Phật

THIỀN ĐỊNH CỦA ĐẠO PHẬT

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Pháp âm gốc: Thầy giảng về Giới – Định – Tuệ

Người nghe: Phật tử Châu Đốc

Thời gian: 1998

Thời lượng: [01:57:12]

Trích đoạn: [00:00 – 51:35]

 

1- THIỀN ĐỊNH CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

(00:06) Phật Tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Tôn Đức Tăng, Phật tử Châu Đốc chúng con hôm nay đủ phước, đủ duyên đã được nghe chơn Tôn Đức Tăng dạy cho về giới luật, về đạo đức sống thế nào để không làm khổ mình, khổ người. Hôm nay tiếp tục chúng con xin thỉnh Ngài giảng dạy cho chúng con có Chánh kiến về Thiền định. Để cho chúng con biết phân biệt thế nào là tà thiền, thế nào là chánh thiền. Để chúng con được lợi ích trong Phật pháp, chấn hưng Phật pháp, không có đi sai lạc con đường của Phật đã dạy.

Chúng con thành tâm cầu xin chơn Tôn Đức Tăng từ bi hứa khả cho chúng con được ân triêm pháp nhũ.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Trưởng Lão: Thầy chấp nhận bữa nay là Thầy sẽ thuyết giảng cái giai đoạn thiền định của đạo Phật, để cho quý Phật tử rõ.

Phật Tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chơn Tôn Đức Tăng đã từ bi hứa khả cho rồi, chúng con xin thành tâm đảnh lễ ba lạy cúng dường.

Trưởng Lão: Chúng ta hiểu được cái đức hạnh của Phật là như vậy, thì hôm nay Thầy giảng về thiền định của Phật. Từ lâu tới giờ nghe nói thiền định thì mọi người ai cũng muốn tu thiền định, vì nghe nó thực và nghe nó hay. Cái lý luận thì cũng rất là tuyệt vời và nó có logic, làm cho chúng ta thấy nó rất thực. Nhưng mà nhìn lại cái quá trình mà chúng ta tu cái thời gian rất dài. Những cái sự thiền định đó nó đạt được những kết quả gì và cái sự siêu việt nó như thế nào, nó có hay không?

(02:22) Cho nên chúng ta nghe nói thiền Yoga, rồi các đạo sĩ Yoga như thế này, thế khác, có nhiều cái đặc biệt siêu việt thần thông. Rồi đến Mật Tông thì chúng ta nghe các vị Lạt Ma, nó cũng thực hiện nhiều những cái phương pháp tu hành, người ta cũng có những cái siêu việt. Vậy thì cái thiền định của đạo Phật, như thế nào là thiền định của đạo Phật, mà nó có cái thần lực như các cái thiền định kia không?

Thì hôm nay Thầy sẽ dạy về thiền định của đạo Phật. Mà từ lâu tới giờ thì người ta đều xem cái thiền định đó, là cái thiền định Phàm thiền. Người ta gọi cái tên là Thiền Phàm Phu, người ta đặt cho nó cái tên Thiền Phàm Phu. Rồi người ta còn gọi nó một cái tên nữa là Thiền Tiểu Thừa.

Thiền Tiểu Thừa có nghĩa là cái cỗ xe nhỏ, cái thiền nhỏ chứ không phải là thiền lớn. Đó thì nó mang cái tên như vậy mà chính đó là cái thiền của đạo Phật. Mà chính đức Phật nhờ thực hiện cái thiền này, mà Ngài đã làm chủ được cái sự sống chết của Ngài, là Ngài làm chủ được cái khổ của cái kiếp người.

Do đó thì hôm nay Thầy sẽ giảng trạch cho quý Phật tử có duyên, hôm nay còn có mặt được nghe bốn cái loại thiền, mà người ta gọi là Tiểu thừa, gọi là Phàm Phu Thiền này. Cho nên nghe cái tên là chúng ta đã thấy không ưa rồi, không thấy thích rồi.

Người ta nghe cái tên mà như Như Lai Thiền, Tối Thượng Thừa Thiền, hay hoặc là Đại Thừa Thiền. Rồi chúng ta nghe thấy nó lớn cái chúng ta ham. Nhưng mà nghe nói Tiểu Thừa, Phàm Phu Thiền thì nghe nó, sao nó thấp, nó bé quá. Nhưng mà chính những cái hành động của cái loại thiền này, chúng ta thấy nó có những cái sức lực, nó làm chủ được cái sự sống chết của con người.

(04:26) Như hồi nãy Thầy đã nói, đức Phật cũng nhờ cái thiền này mà đi đến cái sự cứu cánh của mình. Mà mỗi cái thiền của nó mà chúng ta tập thì chúng ta có thấy kết quả liền, chứ không phải đợi tới chừng nào đó nó mới giải thoát, mà nó kết quả ngay liền. Thấy nơi thân tâm của mình có cái sự làm chủ thật sự.

Thì cái thiền thứ nhất, như chúng ta đã biết đó là, đức Phật gọi là Tứ Thiền, là bốn cái loại thiền. Thì bốn cái loại thiền đó tên là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền.

Đức Phật còn cho nó cái tên nữa, đó là Thánh Trú. Những cái bậc Thánh người ta mới trú vào được những cái loại thiền đó. Rồi người ta còn gọi, đức Phật ở trong kinh Phật còn gọi nó là Phạm Trú. Phạm Trú là những người đức hạnh mới trú được vào trong những cái thiền đó, còn những người mà không có đức hạnh thì không thể nào trú được vào cái thiền đó. Thì ở trong kinh điển Phật còn gọi nó là Như Lai Trú. Những bậc mà chứng đạo thường sống ở trong đó, cho nên gọi là Như Lai Trú. Thì những cái tên đó, là những cái tên mà trong kinh điển của Phật đã xác định đúng cái nghĩa của bốn cái loại thiền này.

Nhưng mà các nhà học giả thì họ cho nó là “Tiểu Thừa Phàm Phu Thiền”. Thế mà trong kinh điển của Phật thì kêu nó như là “những cái nơi cư trú vững chắc cho những bậc giải thoát”, thì người ta mới ở được trong các loại thiền này.

2- NGŨ LỰC – THẦN LỰC CỦA PHẬT GIÁO

(06:00) Vì vậy trên cái bước đường tu tập, thì đức Phật có xác định là đạo Phật có năm lực. Bởi vì nói đến thiền định thì phải nói là Thần lực. Thần lực, cái lực của một vị Thần thì quý vị nghĩ nó phải siêu việt vô cùng mới gọi là Thần lực.

Còn vừa rồi thì Thầy giảng về đức hạnh, mà trong kinh điển của Phật gọi là Oai lực. Oai lực tức là cái oai nghi tế hạnh, cái hành động của một vị đó, nó làm cho chúng ta phải kính mến, kính mến cái vị tu sĩ đó, gọi là Oai lực.

Còn bây giờ đến dạy nói về thiền định thì phải nói về Thần lực. Vậy thì cái Thần lực của đạo Phật, vậy cho nên muốn được cái Thần lực như vậy, thì đức Phật xác định thêm bốn cái loại thiền này nó là Định lực. Cho nên nó có bốn cái lực.

Cái Tín lực, là cái lòng tin của mình đối với Phật pháp và giới.

Rồi cái Tấn lực, là cái sự siêng năng mà không phải cố ép mình siêng năng, mà tự động nó siêng năng gọi Tấn lực.

Rồi Niệm lực, Niệm lực là cái niệm nó không có bị mất, gọi là Niệm lực, sức lực của cái niệm.

Rồi Định lực, là cái sức lực của Thiền định.

Rồi Tuệ lực, là cái sức lực của Trí tuệ.

Cho nên đức Phật xác định cho chúng ta biết rõ những cái bài pháp, mà chúng ta tu tập ở trong cái ba bẩy Phẩm Trợ Đạo. Thì Tín lực đức Phật cho chúng ta thực hiện cái Tín lực đó, thì phải là thực hiện Tứ Bất Hoại Tịnh. Bốn cái pháp làm cho thân tâm của chúng ta thanh tịnh, gọi là Tứ Bất Hoại Tịnh, gọi là Tín lực.

Tấn lực thì đức Phật xác định cho chúng ta muốn được có cái Tấn lực, thì chúng ta thực hiện Tứ Chánh Cần. Tức là các pháp ác chưa có sanh khởi, thì mình ngăn không có cho sanh khởi, mà đã sanh khởi thì mình đoạn diệt. Các pháp thiện chưa sanh khởi thì sanh khởi và khi mà đã sanh khởi thì tăng trưởng các pháp thiện lên, chứ không có bảo chúng ta diệt cái điều thiện. Thì đó là cái Tấn lực.

(08:37) Rồi Niệm lực thì đức Phật xác định rằng Tứ Niệm Xứ là Niệm lực.

Mà đến Định lực thì đức Phật xác định đó là Bốn Thiền. Sẽ là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, đó là Định lực. Cho nên Định lực nó thuộc về Thần lực, thì nó cụ thể rất rõ ràng.

Và Huệ lực thì đức Phật xác định là Tứ Diệu Đế là Huệ lực.

Cho nên mỗi một cái lực thì đức Phật đã xác định cho một cái pháp, một cái bài pháp để mà chúng ta thực hiện trên con đường tu tập của chúng ta.

Vì vậy cho nên những cái thiền mà của đạo Phật nó thuộc về Định lực của một cái sức lực, của một người tu tập. Để nó làm chủ được sự sống chết thì nó phải có một cái lực như thế nào, chứ không phải mình ngồi thiền một cách cho hết vọng tưởng lơ mơ đó, rồi cái lực nó ở chỗ nào, mình không thấy. Cho nên mình tu hành là phải như thế nào để có cái lực của nó.

3- NGƯỜI MUỐN NHẬP SƠ THIỀN THÌ TÂM PHẢI LY DỤC, LY ÁC PHÁP

(09:35) Do đó nãy giờ Thầy xác định cái Bốn Thiền để chúng ta thấy thật sự nó nằm ở trong kinh sách của Phật rất rõ ràng. Và xác định nó, những cái tên tuổi nó rất rõ ràng. Vậy thì bắt đầu mà chúng ta trở về vị trí của chúng ta để thực hiện cái con đường thiền định này, thì đầu tiên chúng ta phải nhập được Sơ thiền.

Vậy thì hôm qua mà Thầy đã dạy về cái đạo đức của chúng ta là không làm khổ mình, khổ người, thì chúng ta phải sống giới luật. Lấy giới luật phòng hộ sáu căn: mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của mình để bảo vệ cái sự tu tập của chúng ta. Rồi thực hiện các loại định, như Định Vô Lậu, Định Chánh Niệm Tĩnh Giác, Định Niệm Hơi Thở, Định Sáng Suốt. Bốn cái loại định này để mà chúng ta thực hiện cái Sơ thiền, tức là cái thiền thứ nhất.

Cho nên cả một cái vấn đề mà rất là quan trọng của cái Sơ thiền, thì chúng ta phải thực hiện nào là giới luật phải nghiêm chỉnh, rồi chúng ta phải sống đời sống thiểu dục tri túc, phải lấy giới luật phòng hộ sáu căn của mình, phải tu tập bốn cái loại định. Do đó chúng ta mới có thể ly dục, ly ác pháp được, cho nên cái Sơ thiền coi vậy chứ nó không đơn giản.

Vậy mà có nhiều người nghĩ rằng: “Khi mình ngồi hết vọng tưởng, không có niệm ở trong đó thì nó là Sơ thiền”. Không phải. Sơ thiền ở đây của Phật là do cái tâm mà mình ly được cái lòng ham muốn của mình, mình xả được cái ác pháp ở trong tâm của mình, thì cái đó mới gọi là Sơ thiền.

Do cái thiền như vậy thì chúng ta thấy nếu mà chúng ta tập bốn cái định. Từ cái Định Vô Lậu, cái Định Niệm Hơi Thở, cái Định Chánh Niệm Tĩnh Giác và cái Định Sáng Suốt. Thì bốn cái loại định này, nó sẽ giúp chúng ta thực hiện được một cái tâm thanh tịnh, cái tâm thanh tịnh tức là cái tâm ly dục, ly ác pháp.

Như ngày hôm qua Thầy dạy đạo đức, là nhắm vào cái chỗ mà Sơ thiền đó chứ không phải gì khác nữa hết. Vì thực hiện được như vậy mới có thể nhập được Sơ thiền. Và khi Sơ thiền mà nhập được, thì cái tâm thanh tịnh của chúng ta đó là cái Đạo lực, cái Đạo lực của đạo Phật.

Cho nên đức Phật, hôm qua Thầy cũng có nhắc là Giới sanh Định, do giới nó làm cho chúng ta ly dục, ly ác pháp. Mà vì vậy mà cái tâm chúng ta mới được thanh tịnh. Mà cái tâm thanh tịnh không còn tham, sân, si, phiền não đó, thì cái tâm đó là cái tâm định, lúc bấy giờ cái tâm của chúng ta nó có định. Mà khi nó có định, thì nó thanh tịnh mà nó định, thì nó sẽ tịnh chỉ được những cái điều kiện khác mà khi mà chúng ta muốn nhập các cái định khác sâu hơn.

4- NGƯỜI MUỐN NHẬP NHỊ THIỀN THÌ PHẢI CÓ LỰC ĐỊNH CỦA TÂM THANH TỊNH

(12:08) Cho nên cái hướng tu tập của chúng ta nó có cái hướng tu tập rất là rõ ràng. Khi một cái người mà tâm ly dục, ly ác pháp rồi thì cái tâm đó thanh tịnh, cho nên nó có một cái sức lực gọi là Định lực. Vì chúng ta có định nó mới có lực, mà khi cái tâm thanh tịnh thì nó có định, nó có định thì tức là nó phải có lực. Vì vậy mà đức Phật gọi là Tứ Thiền là Định lực.

Cái thiền đầu tiên, cái Sơ thiền, nó đã giúp cho chúng ta có định, cho nên chúng ta có cái lực của thiền định. Vì vậy mà bây giờ chúng ta muốn nhập cái thiền thứ hai để chúng ta làm chủ được cái lão, tức là già. Già là cái sự vô thường thay đổi, làm cho thân chúng ta thường thay đổi mà dần dần chúng ta già đi. Dần dần chúng ta đến, khi mà chúng ta đổi đến mức độ mà cằn cỗi, rồi không thể mà hồi phục lại cái sự sống, nó bị hoại diệt luôn, vì vậy mà chúng ta chết.

Do đó muốn mà cho không có già, thì cái người đó phải nhập Nhị thiền, nhờ cái Nhị thiền thì cái thân nó không thay đổi nữa. Vì ba cái chỗ mà hành động của nhân quả nó không hoạt động được.

Thứ nhất là cái thân ngồi bất động, thì nó không hoạt động được cho nên nó không thay đổi.

Thứ hai là miệng không nói, một người ngồi thiền mà còn nói chuyện được sao? Đâu còn đi tới, đi lui. Cho nên khi mà gọi là định, thì thân phải định mà tâm phải định. Mà tâm thì ly dục, ly ác pháp thì nó đã định rồi, mà cái thân thì chúng ta chưa có định, cho nên buộc nó phải ngồi.

Còn hồi mà chúng ta tu, tu để cho cái tâm thanh tịnh thì chúng ta phải đi kinh hành. Đi tới, đi lui để mà chúng ta xả ly, lìa cái tâm ham muốn và các ác pháp trong tâm của chúng ta. Do đó chúng ta tu mà cái tâm định thì chúng ta còn đi tới, đi lui được, bởi vì cái thân nó chưa định. Còn khi mà chúng ta muốn tu cho cái thân định, thì cái tâm phải định rồi thì tu cái thân mới định.

(14:04) Còn bây giờ quý vị chưa có tâm định, còn ham muốn cái này, cái nọ, cái kia. Mỗi chút thì còn giận hờn, phiền não, thế mà vô ngồi thiền để cho cái thân định, thì tức là chúng ta đi vào cái thân định, khép chặt không có cho nó hoạt động. Rồi bắt buộc cái ý chúng ta không có khởi niệm, diệt niệm thiện, niệm ác của nó đi. Do vì vậy mà chúng ta tu mãi mà chúng ta không có làm chủ được.

Còn trái lại khi mà trong tâm nó thanh tịnh rồi, thì bắt đầu cái người này đã có tâm định, thì nó không còn có phóng dật ra ngoài. Cho nên luôn luôn nó thanh tịnh, thì nó ở trên cái thân của nó, cái thân nó hoạt động. Bởi vì hồi mình tu, mình đi kinh hành, đi tới, đi lui trong tất cả mọi hành động, nó điều chú ý trong cái hành động của thân. Cho nên khi nó thanh tịnh rồi, thì luôn luôn nó quay vô nó biết cái hành động của thân nó, cho nên gọi là tâm định trên thân.

Cho nên khi mà cái tâm ly dục, ly ác pháp thì luôn luôn nó biết cái thân hoạt động của nó, nó không biết cái gì bên ngoài hết, cho nên gọi là tâm không phóng dật.

Đó phải hiểu cái lời của Phật dạy ở trong kinh sách, gọi là tâm không phóng dật, là tâm đã quay vô thân. Nó luôn luôn, cái biết của nó luôn luôn biết cái hoạt động của thân của mình. Thân thở nó biết thân thở, thân đi nó biết thân đi, thân ngồi nó biết thân ngồi. Mà mình không phải còn đang lúc tu tĩnh giác như vậy, mà bây giờ tự động nó, nó đã biết. Vì cái tâm chúng ta ly dục, ly ác pháp thì cái tâm nó không còn quay ra nữa, mà nó quay vô nó nhận cái hành động của cái thân, gọi là tâm định trên thân, hay là tâm định vô thân.

Bây giờ cái tâm nó định rồi, thì do đó bây giờ chúng ta mới bắt buộc cái thân nó định lại cái tâm, gọi là thân định trên tâm, hay là thân định vô tâm, định trở lại, vậy thân tâm nó mới có định với nhau được. Cho nên chúng ta bắt đầu chúng ta tu cái Sơ thiền giúp cho tâm chúng ta định, tâm nó định vào cái thân của nó.

Bắt đầu bây giờ chúng ta tu Nhị thiền cho đến Tứ thiền cái thân nó mới có định. Chỉ có cái thiền đầu tiên là cái tâm chúng ta định. Rồi ba cái thiền này, ba cái thiền sau cùng, đến cuối cùng cái thân nó mới định trọn vẹn, chứ nó không định ngay liền được. Thì chúng ta còn cái khó khăn nào mà chúng ta phải trải qua cho tới Tứ thiền, cái thân của chúng ta mới định được?

Là vì rất khó, khi mà cái tâm nó định, nó quay vô rồi thì nó không có khởi cái niệm, nó không có khởi niệm như cái ý của chúng ta nó không còn khởi cái niệm ra. Cho nên nó luôn luôn nó biết cái thân động của nó thôi, mà nó không còn biết cái gì hết, nó không khởi niệm nghĩ nhớ cái này, nhớ cái kia. Cho nên chúng ta không có dừng vọng tưởng mà vọng tưởng chúng ta không còn có nữa. Do đó vì vậy thì cái tưởng thức của chúng ta bắt đầu hoạt động.

5- SẮC THỨC, TƯỞNG THỨC VÀ TÂM THỨC – BA CÁI THỨC CỦA THÂN NGŨ UẨN

(16:50) Thầy xin nhắc lại, trong cái thiền định của đạo Phật chúng ta phải nên phân biệt biết được ba cái thức, chứ không phải có một cái thức. Đối với, như Thầy cũng có nhắc hồi hôm qua rồi, thì đối với cái thân của chúng ta, cái thức mà đầu tiên nó hoạt động hằng ngày, đó là gọi là sắc thức. Mà sắc thức thì nó phải hoạt động ở trong sáu cái căn của chúng ta: mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của chúng ta.

Cho nên nó hoạt động cái đó gọi là sáu cái thức của chúng ta, gọi là lục thức đó, thì nó là mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của chúng ta. Thì đó là thuộc về cái sự điều khiển của cái sự sống hằng ngày của chúng ta hằng ngày, thuộc về ý thức của chúng ta.

Còn ban đêm mà chúng ta ngủ, chúng ta nằm chiêm bao đó, đó là cái tưởng thức hoạt động. Cho nên sáu cái thức này nó ngưng hoạt động, nó nhường lại.

Còn bây giờ chúng ta cái tâm nó quay vô rồi, thì sáu cái thức này, cái lỗ tai chúng ta có nghe âm thanh bên ngoài, nghe nhưng mà nó không phân biệt, vì vậy cho nên nó không còn hoạt động nữa.

Nó phân biệt, nó biết tiếng đó là máy nổ, người đi, tiếng nói chuyện, mà nói chuyện nghĩa lý gì, cái lý gì ở trong lời nói chuyện đó. Đánh lộn với nhau hay hoặc là khóc lóc, hay hoặc kể lể, thì nó nghe, nó phân biệt nó biết rất rõ.

Còn đằng này nó quay vô nó không có biết, nó có nghe nhưng nó không phân biệt cái điều đó như thế nào. Cái tiếng động đó có tác động nó, nhưng mà nó không có biết cái tiếng động đó là như thế nào, nó không phân biệt nữa. Thì lúc bấy giờ cái tâm nó quay vô thân thì nó chỉ chuyên chú vào cái những hành động của thân mà thôi.

Do vì vậy nó không phân biệt bên ngoài, thì đương nhiên coi như là nó ngưng hoạt động. Cũng như mình ngủ mình không còn nghe, mình không còn thấy mọi vật. Còn cái này nó quay vô rồi nó cũng không còn nghe, còn thấy mọi vật bên ngoài, cho nên gọi là vô phân biệt, chứ không phải nó không nghe, không thấy.

Cho nên do vì vậy mà nó đã dừng, sáu cái thức này nó dừng lại, tức là cái ý, cái thân thức của chúng ta nó sẽ dừng lại. Nó dừng lại thì tưởng thức của chúng ta hoạt động, thì lúc bấy giờ chúng ta cũng còn bình tĩnh như thế này, chứ không phải là nằm chiêm bao, không phải nằm ngủ. Nhưng mà cái tưởng thức hoạt động giống như chúng ta ngủ, cho nên chúng ta làm sao mà xả cho hết cái này, xả cho hết cái này.

Cho nên khi mà người nhập Nhị thiền, thì chúng ta đã đóng sáu cái thức của chúng ta lại, tức là sắc thức đóng lại. Cho nên diệt tầm tứ, nó không có khởi niệm, không có tác ý nữa, cho nên ý thức nó ngưng hoạt động hoàn toàn, nó không hoạt động. Mà nó không hoạt động thì cái tưởng thức nó phải hoạt động.

Cho nên lúc bấy giờ chúng ta ngưng được cái này, thì chúng ta thấy trạng thái hỷ lạc, rồi thấy cái ánh sáng, thấy hào quang. Rồi thấy tất cả những cái âm thanh, sắc tưởng mình thấy rất rõ, nó hiện cái tướng của tưởng ra. Mà nó mỗi lần mà mình không hiểu biết, thì mỗi cái tướng nó hiện ra như vậy thì mình thấy như là mình đã ngồi thiền mà nhập định, mình có những cái lạ lùng, cái kỳ đặc.

Do đó mình nhận thấy nhiều khi nó khởi ra những cái trực giác, làm cho mình nhận ra được những cái tâm niệm của kẻ khác nữa, nó hiểu biết được những cái tâm niệm của kẻ khác. Nó có khi ngồi đây mà nó nhập trong cái định đó, thì cái sự kiện mà xảy ra ở ngoài kia, cái chuyện gì nó ở đây nó biết. Người đi cách xa vài trăm thước, thì cái người mà nhập vào những cái loại định đó đó, cái định mà của tưởng, thì đương nhiên là nó ngồi đây mà nó biết được cái người đó sẽ còn cách đây vài trăm thước sẽ đến đây, mà cái người đó là cái người nào nó cũng biết.

(20:02) Đó là những cái thần thông tưởng do cái tưởng mà nó hiện ra, nó tạo cho chúng ta biết như vậy. Là vì vậy cho nên đức Phật bảo mình xả hỷ, những cái trạng thái mà làm cho mình thấy như mình có cái khả năng thiền định, nó làm cho mình mừng đó, mình vui mừng đó. Thì đức Phật gọi là xả hỷ, lìa những cái lòng mừng đó đi, cái lòng mà nó xảy ra những cái trạng thái nó làm vui mừng đó, coi như mình đắc thiền, đắc đạo đó, do đó đức Phật bảo xả ra.

Xả hỷ tức là xả các cái loại tưởng, mà nói chung là phải xả cái tưởng thức. Mà khi mà xả tưởng thức thì chúng ta sẽ không còn mộng mị nữa. Mà không còn mộng mị nữa thì từ cái chỗ mà đóng cái Nhị thiền, nó đóng sáu căn lại, nó không còn tầm tứ. Thì cái Tam thiền nó lại đóng cái tưởng thức của chúng ta lại.

Cho nên con người mà tu mà tới Tam thiền thì không còn mộng mị, cho nên ý thức ngưng, ngưng hoạt động hoàn toàn, mà tưởng thức nó cũng đóng lại. Nó đóng lại như vậy thì chúng ta mới thực hiện được cái Tứ thiền, còn nếu không đóng lại thì không thể nào mà thực hiện được Tứ thiền.

Và chúng ta nhớ rằng trong thân ngũ uẩn của chúng ta, nó có thức uẩn, người ta nói là “sắc, thọ, tưởng, hành, thức”. Cái thức uẩn này từ lâu tới giờ ở trong thân của chúng ta, nó từ khi mà tái sanh cho đến khi mà nó thành người, rồi tiếp xúc với mọi duyên. Như chúng ta là một con người như bây giờ đó, thì cái thức đó nó còn nằm im lìm, nói chưa hoạt động bao giờ hết. Nói nó là cái thức, nhưng mà sự thật cái vị trí của nó đứng thì nó chưa có hoạt động.

Từ lâu thì chúng ta hoạt động ở trong cuộc sống hằng ngày thì đó là ý thức, rồi kế đó là tưởng thức, còn cái tâm thức của chúng ta nó không có hoạt động. Cho nên bây giờ chúng ta đóng lại hết những cái tụi này, thì cái tâm thức của chúng ta bắt đầu hoạt động. Coi như muốn cho nó hoạt động thì chúng ta phải ngưng cái sắc thức và cái tưởng thức, thì cái tâm thức của chúng ta mới hoạt động.

Do đó khi mà cái tâm thức nó hoạt động, thì cái hơi thở của chúng ta mới tịnh chỉ được. Còn cái tâm thức chưa hoạt động mà cái hơi thở tịnh chỉ, thì chúng ta sẽ là trở thành một cái thây ma, là một người chết, không thể nào phục hồi lại sự sống được.

Vì vậy đương nhiên về cái tâm của chúng ta, thì lúc bây giờ chúng ta dừng cái sắc thức và dừng cái tưởng thức của chúng ta, để rồi đánh thức cái tâm thức dậy. Để rồi dừng, bắt buộc cái thân của chúng ta tịnh chỉ hơi thở, ngưng hoạt động để rồi cái thân nó định vào cái tâm.

Thì cách thức nó cụ thể và rõ ràng, rất là khoa học. Cho nên khi mà chúng ta muốn dừng cái này được, thì nó mới dừng cái kia. Cũng như bây giờ mình muốn chiêm bao, thì phải dừng ý thức mình, không cho hoạt động thì cái chiêm bao nó sẽ thể hiện.

6- THIỀN XUẤT HỒN LÀ CỦA NGOẠI ĐẠO, KHÔNG ĐEM LẠI SỰ GIẢI THOÁT CHO CON NGƯỜI

(22:48) Như chúng ta thấy có một loại thiền, gọi là Thiền Xuất Hồn, phải không? Nếu mà cái người đó mà còn ý thức thì họ không có xuất hồn được đâu. Vì vậy mà cái người mà tu thiền đó họ phải tưởng như là mình phải ngủ, rồi tưởng như là mình ở trên đầu mình nó nứt ra một lằn, rồi nó xuất hồn từ đó do dùng cái tưởng của mình.

Vì vậy mà cái giấc chiêm bao nó dễ thực hiện là khi mình ức chế cái vọng tưởng của mình, tức là cái ý thức nó không có khởi niệm nữa. Thì lúc bấy giờ cái tưởng nó hoạt động thì nó thành ra cái giấc mộng của người đó, được xem như là mình đã xuất hồn. Và mình điều khiển bằng cái sự tu tập đó, cho nên cái giấc chiêm bao bằng cái sự điều khiển mình chiêm bao.

Còn hiện giờ mà quý Phật tử mà chiêm bao đó là tự động nó chiêm bao, chứ không phải là mình điều khiển. Còn cái người tu Thiền Xuất Hồn thì người ta chủ động, người ta điều khiển để cho cái ý thức của chúng ta ngưng, để cho các tưởng thức nó hoạt động, nó trở thành cái giấc mộng người ta. Đương nhiên là người ta xuất hồn là người ta đi chơi.

Vì vậy mà nhiều khi người ta xuất hồn ra thì người ta đi đến những nhà này, những nhà kia. Thì những cái sự kiện gì xảy ra, thì khi mà người ta trở lại bình thường, tức là người ta hết chiêm bao đó, cũng như mình là tỉnh dậy đó, thì mình nói lại cái việc xảy ra hồi mình xuất hồn đó, thì xảy ra rất đúng. Cho nên nói dường như là mình có cái hồn, mình xuất hồn ra, chứ sự thật không phải đâu.

Đó là cái tưởng thức của chúng ta giao cảm được, những cái điều mà chúng ta đã thực hiện điều khiển được cái tưởng thức của chúng ta hoạt động đúng cách. Cho nên chúng ta thấy được thực trạng của hiện tại, của cái hoàn cảnh đó, của những người mà mình muốn biết.

Cho nên nó cũng không hay ho gì hết, là đánh thức những cái tưởng thức của chúng ta hoạt động mà thôi. Nó không giải quyết, cho nên những người mà tu Thiền Xuất Hồn, họ không giải quyết được cái sanh, già, bệnh, chết. Họ không làm chủ được cái sự đau khổ, tâm tham muốn và ác pháp trong lòng của họ, cho nên nó không giống đạo Phật.

Vì vậy họ xuất hồn để mà chơi, hoặc là xuất hồn để mà thể hiện những cái thần thông huyền bí chơi, để mà gạt người, lừa đảo người. Thì cái điều kiện mà họ làm cho người ta thích thú những cái thần thông đó, thích thú cái xuất hồn đó và đặt niềm tin là: “Mình chết đi mình cũng xuất hồn được, thì mình bỏ thân này thì vẫn còn cái phần hồn, cái linh hồn của mình, mình vẫn điều khiển nó đi tới, đi lui chỗ này kia được và tái sanh cũng dễ dàng, không có rơi vào địa ngục”. Thì do đó họ cũng thích, họ tưởng tượng như vậy.

Nhưng mà sự thật khi mà người chết rồi, thì cái tưởng thức nó cũng không còn. Cho nên cái linh hồn mà họ tưởng ra đó, nó cũng không có, cho nên toàn bộ là nó hoại diệt sạch, nó không còn có nữa đúng như lời đức Phật đã nói: “Không có một vật gì còn có trong thân ngũ uẩn này cả”.

7- SƠ THIỀN LÀ NỀN TẢNG ĐẦU TIÊN RẤT QUAN TRỌNG CỦA THIỀN ĐỊNH

(25:22) Đó thì khi mà thực hiện thiền định của đạo Phật, mà khi mà chúng ta tu đến đây rồi, thì chúng ta mới thấy rằng cái Sơ thiền là cái vấn đề rất quan trọng. Do cái tâm thanh tịnh có cái định đầu tiên, nhờ cái định đầu tiên đó gọi là Định lực, từ cái Định lực đó chúng ta mới hướng tâm chúng ta nhắc.

Bởi vì thường thường chúng ta ly dục, ly ác pháp là chúng ta phải dùng cái hướng tâm chúng ta nhắc hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, để chúng ta nhắc nhở để mà ly dục, ly ác pháp. Cho nên tới mà khi mà chúng ta thanh tịnh được cái tâm, thì cái lực đó nó trở thành một cái sức lực rất mạnh, vĩ đại.

Bởi vì hằng ngày chúng ta nhấn mạnh vào cái tâm chúng ta để buông xả, để ly được ác pháp và cái tâm ham muốn. Mà đến khi nó ly được rồi thì nó trở thành một cái đạo lực rất là vĩ đại. Do đó chúng ta bảo: “tầm tứ tịnh chỉ”, thì nó ngưng liền hoàn toàn, nó không còn hoạt động.

Cho nên lúc bây giờ thân chúng ta không hoạt động, ý chúng ta không hoạt động, miệng chúng ta không nói, hoàn toàn ngồi, thời gian rất dài chứ không phải ngắn như là một, hai tiếng đồng hồ. Có thể một, hai ngày, hay ba, bốn ngày, hay hoặc là thời gian cả trăm năm nó vẫn là ở trong cái trạng thái đó. Và khi mà cái người mà ngồi cái thiền đó, cái Nhị thiền đó mà còn cảm thấy đói, thì chưa phải đúng thiền. Bởi vì cảm thấy đói, tức là còn trở về cái trạng thái của dục thì chưa phải là đúng cái thiền của Phật.

Chính người ta nhập Sơ thiền, mà trong khi mà người ta nhập Sơ thiền, người ta ly dục, ly ác pháp, thì người ta không thấy cái trạng thái đói. Cái trạng thái ly dục, ly ác pháp nó là cái trạng thái hỷ lạc, nó sanh ra hỷ lạc. Cái hỷ lạc đó nó làm cho chúng ta không có cảm thấy đói, dù cái người đó nhập Sơ thiền họ vẫn không thấy đói.

Cho nên nói chung chúng ta ngồi để hết vọng tưởng, chúng ta thấy tâm thanh thản, nhưng mà bụng chúng ta đói, chúng ta khát nước, chưa phải là chúng ta nhập Sơ thiền nữa. Bởi vì đó là những cái trạng thái kinh nghiệm của một người tu người ta thấy được cái điều đó. Chúng ta nhiều khi chúng ta thấy cái Sơ thiền quá dễ, chứ sự thật ra nó không phải dễ, nó rất khó.

Ngồi làm sao mà mình tới giờ mình ăn cơm mà mình không thấy đói. Mà một, hai ngày, ba, bốn ngày mà làm sao mà ra khỏi được cái điều này. Chỉ có sự ly dục, ly ác pháp mà cái trạng thái hỷ lạc nó giúp chúng ta không thấy cảm thấy đói. Bởi vì nó là hỷ lạc, nó làm cho chúng ta an lạc, cho nên nó không còn có cái cảm giác thọ làm cho chúng ta khổ sở vì cái đói, cái khát của chúng ta. Vậy thì mới thấy được cái thiền định của Phật vi diệu đến cái mức độ như vậy.

Kế đó thì chúng ta diệt tầm tứ được, nhập Nhị thiền, thì lúc bấy giờ chúng ta lại có một trạng thái định thật cụ thể và rõ ràng. Cho nên đức Phật gọi là “Định sanh hỷ lạc”, không phải còn do ly dục sanh hỷ lạc. Nhưng mà nhờ cái sức mà thanh tịnh của tâm định đầu tiên đó, chúng ta mới điều khiển được mà vào cái định sau này. Cho nên muốn xả được cái tưởng của chúng ta không phải là chuyện dễ đâu, khó rất khó.

(28:12) Chúng ta xả cái ý thức, chúng ta ngồi lại mà chúng ta niệm Phật hay hoặc là chúng ta nương vào hơi thở, hay hoặc là giữ cái tâm mình không vọng tưởng cũng thấy khó rồi. Mà vọng tưởng là cái dễ nhất, mà đến cái tưởng thức là cái trừu tượng rồi. Cho nên khó có ai mà biết cách để mà dừng được cái tưởng thức. Chỉ có cái tâm thanh tịnh của chúng ta mới dừng được cái tưởng thức, nó thuộc về vô hình rồi.

Còn cái ý thức của chúng ta nó thuộc về cái hữu hình, tức là thuộc về thân của chúng ta. Cho nên vì vậy mà chúng ta còn dùng cái thân để điều khiển nó, ức chế nó không niệm thiện, niệm ác. Còn đến cái tưởng thì chúng ta khó, rất khó dừng, chỉ còn có cái lực của cái tâm thanh tịnh của chúng ta thì điều khiển nó dừng được. Cho nên nó dừng được, thì chúng ta không mộng mị chiêm bao nữa, tức là chúng ta tỉnh thức hoàn toàn.

Do đó thì chúng ta cũng dùng cái lực của cái Sơ thiền, của cái tâm thanh tịnh đó mà chúng ta tịnh chỉ hơi thở của chúng ta. Do cái hơi thở tịnh chỉ thì chúng ta nhập được Tứ thiền.

8- TAM THIỀN – LÀM CHỦ ĐƯỢC CÁI BỆNH CỦA THÂN

(29:06) Do nhập được Tứ thiền thì như Thầy đã nói, khi mà nhập được Tam thiền thì chúng ta làm chủ được cái bệnh. Cái thân chúng ta bị đau cái chỗ này, nhức cái chỗ kia, thì chúng ta chỉ cần dùng cái pháp hướng ra lệnh.

Vì trong kinh Phật đã dạy thọ là vô thường, cũng như Phật dạy là thân, thọ, tâm và pháp là Tứ Niệm Xứ, bốn chỗ. Thân là vô thường, thọ vô thường, tâm là vô thường, pháp là vô thường. Thì thọ là một ở trong bốn cái chỗ đều là vô thường, nó vô thường, vô ngã, và khổ. Cho nên Phật xác định trên bốn cái chỗ này đều vô thường, vô ngã, nó không thật.

Cho nên khi chúng ta biết cái thọ là vô thường không có thật, do đó chúng ta dùng cái lực của tâm thanh tịnh mà chúng ta ra lệnh: “Thọ hãy rời khỏi nơi đây, vì thọ là vô thường không có ở đây mà đau nhức”. Thì ngay đó chúng ta chỉ cần giữ cái sự yên lặng trong tâm của chúng ta, thì ngay lúc bây giờ cái thọ dần lui mất, không còn thấy đau đớn ở nơi chỗ thân của chúng ta đang bệnh. Như vậy chúng ta đã làm chủ được cái bệnh rất là cụ thể.

Cho nên thí dụ như một người đó bị bệnh nhức đầu, thì họ không phải ngồi thiền mà hết nhức đầu. Mà ngồi thiền hết nhức đầu là tại vì ngồi rồi chúng ta bị cảm thế này, thế khác. Chúng ta ngồi giữ cái thân tâm bất động của chúng ta, thì một lúc thì nó xuất hiện mồ hôi, thì nó toát, nó đẩy những cái chất nắng mưa hay nước trong người chúng ta ra, thì chúng ta thấy nó không còn cảm nữa.

Còn trái lại đây là cái thọ, như bây giờ chúng ta đau óc không phải vì cảm, thì chắc chắn ngồi thiền như các vị ngồi mà để trị bệnh, mà trị cái bệnh nhức đầu thì sẽ không bao giờ hết, nhức đầu theo không phải cảm. Nhưng mà cái người mà ngồi thiền mà, mà theo mà cái Tam thiền, mà nhập được Tam thiền đó, thì họ sẽ trị được hết cái đau.

Nhưng mà cái thân vô thường của họ, bệnh gì đó mà nó thành ra cái cảm giác đau đó, thì khi mà họ xuất thiền, thì trong lúc mà họ đã đẩy lui được cái cảm giác đó, mà họ ở trong cái trạng thái đó – thì cái trạng thái thiền định của Tam thiền, nó lần lượt nó phục hồi lại cái cơ thể đang bị bệnh. Cái nơi, cái chỗ đó, nó làm cho cái vết thương của cái nơi bị bệnh đó, bị rối loạn đó, nó phục hồi lại.

Nó làm cho cái người đó kéo dài cái thời gian đó ra hơn cái thời gian trước. Thí dụ như trước khi mình ngồi Tam thiền, mình nhập mới có một tiếng đồng hồ, mình xả ra mà nó chưa hết đau. Thì bấy đầu bây giờ đó mình mới nhập cái lần thứ hai, mình ngồi hai tiếng đồng hồ, mình xả ra nó hết đau, tức là nó đã phục hồi rồi. Nó nhờ cái sức thiền định nó phục hồi lại cái cơ thể đang bị rối loạn đó.

Nếu mà hai giờ chưa hết, chúng ta sẽ nhập một lần thứ ba nữa, là ba giờ hay là bốn giờ, chúng ta kéo dài cái thời gian ra. Và cái thời gian mà ở trong cái loại định đó nó sẽ phục hồi lại cái cơ thể, nó làm cho cái cơ thể không còn bị rối loạn đau khổ nữa. Cho nên cái bệnh nó sẽ dứt, nó không còn có nữa.

(32:12) Đó là cái lối mà chúng ta dùng cái pháp để trị bệnh, gọi là lấy pháp trị bệnh chứ không lấy thuốc trị bệnh.

Cho nên khi mà người tu thiền của đạo Phật, chúng ta có pháp để trị bệnh. Và nhân quả chúng ta đã sống ở trong thiện pháp, ly ác pháp, cho nên nhân quả chúng ta rất thiện, vì vậy mà chúng ta chuyển rất dễ. Còn chúng ta đang sống trong ác pháp mà chúng ta chuyển cái nghiệp quả khổ chúng ta rất khó, không thể nào chuyển được. Và vì vậy mà cái tâm chưa thanh tịnh, thì chúng ta không thể nhập Tam thiền được.

Bởi vì Tam thiền nó có cái sức của nó để làm chủ được cái thọ, cái cảm thọ của chúng ta, cái đau đớn của chúng ta, cái khổ sở về cái bệnh đau của chúng ta. Cho nên vì vậy mà khi mà chúng ta thực hiện được cái Tam thiền thì chúng ta đẩy lui được những cái bệnh tật ở trong thân của chúng ta, cho nên làm chủ được bệnh. Sanh, già và bệnh thì chúng ta làm chủ được cái bệnh, do cái sức Tam thiền nó sẽ làm chủ được cái đó.

9- TỨ THIỀN – LÀM CHỦ SỰ SỐNG CHẾT

(33:06) Bây giờ chúng ta nhập cái Tứ thiền thì hơi thở tịnh chỉ, thì chúng ta làm chủ được cái sự chết của chúng ta. Cho nên khi mà hơi thở ngưng mà chúng ta phục hồi lại cái hơi thở, nó thở trở lại được, thì đó là chúng ta đã làm chủ được sự sống chết.

Muốn chết thì chúng ta tịnh chỉ hơi thở, hơi thở ngưng, tức là, coi như là cái thân của chúng ta chết. Và bây giờ chúng ta muốn sống lại, thì chúng ta điều khiển bằng cái pháp lệnh của chúng ta, thì cái hơi thở bắt đầu thở trở lại và thở lại bình thường. Rồi chúng ta sống như mọi người, nó phục hồi lại sự sống của chúng ta, nó hoạt động lại, cơ thể chúng ta hoạt động lại như người bình thường, không có gì khó khăn cả.

Đó là bốn cái loại thiền của Phật để giúp đỡ cho chúng ta như vậy, mà làm được những chuyện này không phải là Thần lực sao? Nếu không có đủ một cái Đạo lực, Thần lực như vậy thì làm sao làm chủ được nó. Cũng như bây giờ quý vị muốn chết, quý vị nín thở được không? Không bao giờ được, rất khó, không thể nào mà chúng ta nín thở mà…​

Có bao giờ chúng ta nghe một người nào tự tử mà người đó ngồi lại nín thở rồi chết không, không có đâu. Họ phải tự tử nhảy xuống sông, nhờ nước mà họ thở không được, họ mới nghẹt mà họ chịu chết. Hoặc là họ dùng cái thòng lọng, họ đưa cổ họ vào họ siết, để cho họ thở không được, họ mới chết. Chứ còn không ai mà ngồi tự nhiên như vầy mà nín thở mà chết được.

Nhưng một cái người tu thiền của đạo Phật, thì người ta ngồi tự nhiên, người ta truyền lệnh được cái hơi thở nó tịnh chỉ, nó ngưng, nó không thở. Cho nên người ta bỏ cái thân của người ta một cách dễ dàng, không để cho nó đau khổ.

Thí dụ như bây giờ cơ thể của Thầy già yếu rồi, Thầy thấy nó không còn sử dụng được nữa, cho nên Thầy cần phải bỏ. Vì vậy mà Thầy cần ngồi lại, Thầy ra lệnh, Thầy bảo: “Hơi thở tịnh chỉ, hãy bỏ cái thân này đi, vì cằn cỗi rồi không có xài được nữa, như một cái chiếc xe cũ không đi được nữa, thôi bỏ đi”.

Thì Thầy chỉ ra lệnh, rồi Thầy ngồi yên lặng một chút xíu thì cái hơi thở tịnh chỉ, thì lúc bây giờ Thầy bỏ luôn cái thân. Và những người thân của Thầy sẽ đem thiêu đốt, hoặc là đem tẩm liệm trong một cái quan tài, rồi đem đào một cái lỗ, đem chôn nó, thì đó là Thầy đã hoại diệt, bỏ cái thân của mình. Và lúc bây giờ Thầy còn cái gì?

Nếu một người mà có cái Đạo lực như vậy thì họ phải giữ cái thức, chứ họ không có để tan hoại cái thức của họ. Cho nên khi đó, họ chỉ dùng cái pháp hướng của họ, tức là cái Đạo lực của họ, họ truyền lệnh: “Cái thức này phải tiếp tục trên con đường tái sanh để làm việc Phật pháp, lợi ích cho chúng sanh, vì hiện giờ chưa có người làm tròn cái nhiệm vụ này, thì cái thức này phải đi làm tròn cái phận sự này”.

Khi mà truyền lệnh, thì lúc bây giờ cái vị mà truyền lệnh cho mình tiếp tục cái sự tái sanh đó, thì cái vị đó họ dùng cái Thiên Nhãn Minh, họ quan sát cái nơi nào đó để mà cho cái thức này đi trở về đó tái sanh. Thì họ tìm ngay cái chỗ, cái duyên nào mà hợp nhất, là cha mẹ của cái kiếp tới đó, thì họ đi vào cái chỗ đó mà họ tái sanh.

(36:09) Cho nên nó không phải do nghiệp lực thúc đẩy, mà do cái Đạo lực, cái Thần lực của họ, đưa cái thức của họ vào cái nơi tái sanh đó, chứ không để cho nó mất. Cho nên vì vậy coi như là họ giữ được cái thức không bị tan hoại theo bốn cái uẩn kia, coi như là cái uẩn thức họ giữ.

Cũng như một người mà thân định trên tâm, tâm định trên thân, thì cái gì họ còn điều khiển được Tam Minh? Thì chính là cái Thức uẩn của họ. Cho đức Phật gọi là “hướng tâm đến Tam Minh”. Khi mà thân định và tâm định rồi, thì hoàn toàn là nó không còn hoạt động nữa. Thì cái cuối cùng mà còn thì nó còn cái hành uẩn và cái thức uẩn.

Cho nên vì vậy nó mới nhờ những cái lệnh, tức là cái Thần lực của thiền định đó, mà điều khiển để đưa cái tâm chúng ta trở về Túc Mạng Minh, hay là Thiên Nhãn Minh, hay Lậu Tận Minh. Nó giúp cho cái tâm của chúng ta hướng về đó để mà thấu rõ nhiều đời, nhiều kiếp. Để mà cái không gian không trải dài, họ muốn thấy, muốn xem một chúng sanh nào đó ở đâu, họ đều thấy biết. Và tâm niệm của chúng sanh như thế nào, họ đều rõ ràng.

Do cái chỗ mà hướng dẫn Tam Minh như vậy, cho nên cái thức họ phải giữ. Vì vậy mà họ muốn phục hồi lại sự sống, thì đương nhiên là cái thân sống lại. Họ không muốn phục hồi sự sống, thì họ phải đưa cái thức họ đi tái sanh luân hồi kế tiếp một kiếp nữa.

Vì Phật pháp như thế nào, vì cái duyên chúng sanh như thế nào mà họ chưa xong, cho nên họ tiếp tục tái sanh để họ tiếp tục độ chúng sanh. Còn nếu họ thấy duyên họ hết thì họ diệt luôn cái thức của họ, họ luôn luôn ở trong cái trạng thái hoàn toàn là yên lặng của họ.

10- THƯỜNG KIẾN, ĐOẠN KIẾN VÀ VÔ NGÃ

(37:52) Mà cái trạng thái đó nói có, hoặc nói không, không được. Vì nói có là chấp thường, mà nói không thì nó không đúng, là chấp đoạn. Cho nên đối với đạo Phật mà còn chấp thường, chấp đoạn thì không được. Cho nên đạo Phật gọi là đạo vô ngã.

Nếu mà nói thường, nó còn thì cái gì còn, mà nói là Niết Bàn còn thì chúng ta là đã chấp thường, mà như vậy là không phù hợp với đạo Phật, vì đạo Phật vô ngã, đâu thể nói được. Nhưng cái mục đích của đạo Phật là chúng ta nhập được các thiền định đó, giúp cho chúng ta giải thoát được cái đời của con người rồi, thì cái còn, cái mất đó chúng ta không cần thiết nữa. Mục đích chúng ta đã đạt được rồi, chúng ta không quan trọng về cái còn mất.

Nhưng ở đây chúng ta phải nói thiền định của Phật, mà người ta gọi là Thiền Tiểu Thừa, Thiền Phàm Phu, mà đến cái lực chúng ta không ngờ được, đến cái sức thần lực mà không ngờ được.

Ở đây Thầy không nói cái chuyện mà ngồi thiền nhập bảy, tám ngày, một năm, hai năm. Đối với cái chuyện đó thì nó không thành vấn đề. Mà cái chuyện mà chúng ta đã làm chủ được cái bệnh, làm chủ được cái tuổi già, làm chủ được cái đời sống của chúng ta và làm chủ được cái chết của chúng ta. Thì cái vấn đề này là cái vấn đề rất là quan trọng cho cái đời người.

Nhưng khi mà chúng ta đã làm chủ được bốn cái nỗi khổ này rồi, thì ai có hỏi chúng ta: “Còn có cái gì không? Còn có Phật tánh không?” Chúng ta từ chối liền.

“Nếu tôi nói còn có Phật tánh, tức là tôi bị chấp thường, thành ra nó sai, nó không đúng cái nghĩa của đạo Phật. Vì đạo Phật là đạo vô ngã, tại sao lại còn có cái ngã, nó không có đúng. Mà nếu chấp đoạn, thì chúng tôi lại mất hết, như vậy chúng tôi tu để làm gì đây? Giải thoát thôi sao? Cho nên nó không đúng”.

Vì vậy mà chỗ này là để cho quý vị có được cái trí vô hạn, thì quý vị khỏi cần hỏi mà quý vị sẽ biết nó rất rõ. Còn quý vị hỏi với cái trí hữu hạn của quý vị mà hỏi để hiểu nó, thì đạo Phật sẽ trở thành đoạn và hoặc thường mà thôi. Nếu thường thì cũng không đúng nghĩa, mà đoạn thì cũng không đúng nghĩa.

Cho nên ở đây chúng ta chỉ biết được bốn cái loại thiền này mới có thể giúp ta có đủ thần lực để làm chủ được những cái điều mà cái đời người chúng ta mang. Trong cái con người chúng ta, mỗi người đều mang bốn cái khổ và bây giờ con đường thiền này đã giúp chúng ta.

(40:14) Cho nên chúng ta nghe nói giới luật, nghe nói ba bảy Phẩm trợ đạo, rồi là Bát Chánh Đạo, tám cái nẻo tu tập, cho đến cái Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Tứ Như Ý Túc, tất cả mọi cái đều là nhằm để chúng ta thực hiện bốn cái thiền này, chứ không phải là gì cả. Ngay cả giới luật của Phật để mà chúng ta thực hiện sống một đời sống phạm hạnh, cũng nhắm vào bốn cái loại thiền này, chứ không phải vì là cái chỗ khác mà chúng ta thực hiện.

Cho nên cuối cùng thì chúng ta vẫn thấy mình sống giới luật, mình tu các cái loại thiền định gì, tất cả mọi cái nó cũng dồn về đến khi mà chúng ta nhập được cái Sơ thiền. Rồi chúng ta thực hiện cuối cùng thì, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ Thiền, thì cuối cùng thì chúng ta cũng từ đó mà chúng ta làm chủ được cái tuổi già, rồi làm chủ được cái bệnh tật, rồi làm chủ được cái sống chết của chúng ta.

Thì như vậy rõ ràng là những cái điều kiện mà các pháp mà Phật dạy chúng ta, đều nhằm vào cái chỗ giải quyết cho sự đau khổ của chính mình. Nhưng chúng ta đòi hỏi hiểu cái sâu xa hơn: “có hay là không có” thì chúng ta đã đòi hỏi một cái quá sức hiểu biết của mình.

Mình hãy nỗ lực mình tu tới đó và đồng thời sẽ theo Thầy nghĩ, như quý Phật tử chúng ta không cần hiểu cái đó. Mà chúng ta chỉ cần làm sao mà giải thoát được bốn cái nỗi khổ, mà mỗi con người mang cái thân này đều phải khắc khoải ở trong lòng của mình, thì cái hay nhất là chúng ta phải giải quyết nó thôi. Giải quyết rồi thì chúng ta sẽ biết được những cái gì mà chúng ta cần biết. Vì lúc bấy giờ chúng ta không còn nằm ở trong cái trí hữu hạn nữa, mà chúng ta đã có một cái trí vô hạn, từ đó mà chúng ta sẽ hiểu về phía sau của nó.

Cũng như có người nói: “Có đời sống sau khi chết”, thì cái đó là sai. Bởi vì chúng ta làm sao có cái trí mà hiểu biết, rằng cái phía sau cái sự chết của chúng ta lại có cái đời sống. Nếu mà chúng ta không có đủ cái trí đó, thì chúng ta phải tưởng mà hiểu mà thôi.

(42:13) Cho nên người ta nghĩ rằng: “Có đời sống sau khi chết, tức là phải có linh hồn”. Mà nếu có linh hồn, thì tức là có một vật thường hằng, mà một vật thường hằng thì như vậy là đạo Phật lại tuyên bố là đạo vô ngã. Như vậy là cái thuyết đó sẽ là phản lại cái giáo lý, cái đạo Phật mất đi rồi, phải không? Thành ra cái đạo Phật, nếu cái kia đúng, thì đạo Phật sai, nếu cái kia mà có linh hồn thì đạo Phật là sai, mà nếu mà đạo Phật mà đúng thì cái kia phải là sai.

Cho nên ở đây chúng ta thấy đạo Phật mục đích là dạy cho chúng ta thoát cái khổ, thì đó là đúng. Nhưng mà nó nói về siêu hình thì điều kiện đức Phật đã xác định là nếu mà có những cái siêu hình như vậy, có cái linh hồn như vậy thì đạo Phật không đúng rồi. Mà không đúng thì tức là chúng ta sẽ không giải quyết được bốn nỗi khổ của chúng ta. Còn đằng này chúng ta giải quyết được bốn nỗi khổ, thì chắc chắn là cái kia phải sai, không đúng rồi.

Cho nên Thầy có nhắc cho quý Phật tử, một hôm đức Phật trong cái họp chúng đó, thì đức Phật lấy một ít đất bỏ trong móng tay của mình rồi mới nói: “Nếu mà còn một chút xíu thức của chúng ta như đất trong móng tay thì con người không thể giải thoát…​”. Mà con người không thể giải thoát thì đạo Phật ra đời để làm gì? Cho nên do đó đức Phật mới nói: “thì Đạo ta cũng không ra đời”.

Cho nên vì vậy mà đức Phật đã thấy rất rõ là con người giải thoát được, vì vậy mà đạo Phật nên ra đời. Ra đời để giúp cho con người giải thoát, chứ không phải giúp cho con người đi tìm cái linh hồn, hoặc là đi tìm cái thế giới siêu hình.

11- NGOÀI TỨ THÁNH ĐỊNH KHÔNG CÓ PHÁP NÀO LÀM CHỦ ĐƯỢC SANH, GIÀ, BỆNH, CHẾT VÀ ĐẠT ĐƯỢC TAM MINH

(43:42) Như vậy là quý Phật tử hôm nay đã được nghe Thầy nói về bốn cái loại Thiền mà từ lâu người ta đã xem nó là cái thứ “thiền đồ bỏ”. Cho nên nhiều người tu thiền mà bây giờ không biết là tu thiền để mà giải thoát mình như thế nào, người ta chưa biết cách tu như thế nào hết.

Hôm nay được nghe Thầy nói về bốn cái thiền này, kể như là quý Phật tử là người đầu tiên được nghe cái điều kiện mà Thầy đã nói. Chứ trước kia thì chúng ta cũng nghe trong kinh điển, cũng đọc, cũng thấy nói Phật nói:

“Ly dục, ly ác pháp nhập Sơ thiền, do ly dục sanh hỷ lạc có tầm, có tứ, có hỷ, có lạc có nhất tâm.

Rồi diệt tầm tứ nhập Nhị thiền, định sanh hỷ lạc.

Nhập Tam thiền thì ly hỷ, trú xả nhập Tam thiền.

Xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh rồi nhập Tứ thiền”.

Đó là những cái danh từ để chỉ cho chúng ta biết đó là các cái loại thiền là như vậy, nhưng mà chưa nói cách thức để mà chúng ta tu tập.

Hôm nay được nghe Thầy giảng dạy về cách thức chúng ta tu tập. Như muốn Sơ thiền thì chúng ta phải thực tập những cái định nào, những cái loại nào để mà chúng ta nhập được cái Sơ thiền. Và giới luật phải thực hiện như thế nào, đạo đức con người phải tu tập như thế nào cho đúng những cái giới luật của đức Phật, tức là đúng những cái đạo đức mà đức Phật đã dạy.

Rồi đến cái Nhị thiền thì phải dùng cái lực định của tâm thanh tịnh mình như thế nào để điều khiển. Thì hôm nay Thầy chỉ nói dùng Như Lý Tác Ý hay là pháp hướng, chứ chưa có chỉ dạy cặn kẽ cái pháp hành đó. Là khi chúng ta ngồi, chúng ta phải hướng cách nào và chúng ta nhắc như thế nào để cho nó thực hiện được cái điều kiện đó. Thì đây là nó về chuyên môn, về cái sự thực tập, nó không phải còn lý thuyết, ở đây cho nên Thầy không nói.

Cái đó là để dẫn dắt người ta tu, còn bây giờ mình nói để cho mình hiểu được cái thiền này, nó phải có những cái phương pháp, cách thức nó như vậy. Nhưng mà về cái thực hành, thì nó đi vào những cái hành động chi li. Người đó phải làm cái gì trước và hướng cái nào trước, hướng cái nào sau để cho chúng ta thực hiện được cái định đó, cái thiền đó. Cho nên đó là cái chuyên môn rồi.

Còn bây giờ chúng ta đại khái, chúng ta hiểu là chúng ta phải dùng pháp hướng, dùng Như Lý Tác Ý như thế nào để mà chúng ta tịnh chỉ nó mà thôi. Do tịnh chỉ được thì chúng ta nhập được cái thiền định đó, chứ không phải chúng ta cứ ngồi ì trong đó để mà giữ cái tâm mình không vọng tưởng, rồi nó nhập vào đó được đâu, không phải đâu. Không tự nhiên mà nhập được, nó phải có một cái sức lực nào mà Thầy gọi là Thần lực, cái sức lực đó gọi là Thần lực.

(46:17) Do vì vậy mà chúng ta mới tu tập mới làm chủ được, chứ nó không đơn giản như chúng ta ngồi mà tu thiền. Rồi ngồi đó tưởng xuất hồn, hay hoặc ngồi lại tưởng như mấy người mà dùng khí công, nó cũng dùng sức tưởng của họ đó. Cho nên có nhiều cái trường hợp mà người ta dùng khí công người ta trị bệnh, thì để cho mình cảm thấy như hết bệnh. Nhưng cái bệnh của chúng ta là do nhân quả làm sao ai trị hết được, không có Thần lực nào mà trị hết cái nhân quả, chỉ có nhân quả trị nhân quả là hết.

Đó là những cái điều mà hôm nay Thầy giảng cho quý vị biết là chúng ta tạo cái thân nghiệp bệnh là do cái nhân quả hành động của chúng ta, thì chỉ có nhân quả mà chúng ta thực hiện đúng, thì nó chuyển được cái bệnh của chúng ta thoát, chứ còn không có một cái gì mà có thể mà làm thay đổi được cái nhân quả đó được. Chỉ có nhân quả mới chuyển được nhân quả mà thôi.

Thiền định chúng ta cũng từ ở trong cái thiền định mà ly dục, ly ác pháp, tức là thiền định thiện pháp, nó mới chuyển ra. Chứ còn nếu mà chúng ta ở trong ác pháp, mà chúng ta mà dùng thiền định chuyển, thì không bao giờ chuyển hết được, không bao giờ chuyển được đâu, đó là một cái thực tế và cụ thể.

Bởi vì cái luật nhân quả là luật công bằng và công lý nhất. Nó là một cái đạo luật, đạo đức của con người ở trên hành tinh này, không thể mà chúng ta trốn chạy được nó khi mà chúng ta làm điều ác. Cho nên chúng ta tin sâu cái nhân quả chừng nào, thì cuộc đời chúng ta hạnh phúc chừng nấy, vì chúng ta sẽ làm thiện không làm ác.

Còn chúng ta không tin nó, thì chúng ta tự làm thì chúng ta phải thọ lấy những cái quả khổ từ làm những hành động ác. Thì cái quả khổ đó là do cái chỗ hành động ác của chúng ta, sẽ không ai ban bố cho chúng ta, không phải ngẫu nhiên nó đem đến cái sự khổ cho chúng ta đâu. Mà chính chúng ta đã làm mà chúng ta phải gặt lấy.

Và người mà nhập được thiền định cũng phải đi từ cái đạo đức nhân quả, để nó chuyển được cái nhân quả của chúng ta mới nhập được thiền định. Cho nên nó gọi là ly dục, ly ác pháp mới nhập được định, chứ đâu phải là khi không mà chúng ta nhập được định. Cho nên chúng ta cứ ngồi ì ra mà chúng ta giữ cho mình nhập được định, thì làm sao mà định được. Vì cái nhân quả là cái thân của chúng ta, đâu phải là chuyện dễ, khó, rất là khó khăn chứ đâu phải dễ.

(48:13) Cho nên chúng ta phải thực hiện từ cái đạo đức nhân quả, thì tuần tự chúng ta sẽ nhập các định, chúng ta sẽ làm chủ được bốn cái đau khổ của kiếp người. Chứ không phải ngoài cái riêng cái pháp này mà còn có những pháp nào, mà làm chủ được bốn cái sự đau khổ của kiếp người được. Thầy nói ngoài bốn cái pháp thiền định này, không có pháp nào mà làm chủ được cái sự đau khổ của kiếp người.

Mà ngoài bốn cái thiền định này, thì không có ai mà đạt được Tam Minh. Nghĩa là cái người nào mà không nhập Tứ thiền “thân định trên tâm mà tâm định trên thân”, thì người đó không bao giờ người đó sẽ là hướng tâm đến Tam Minh được. Mà người nào mà nhập được Tứ thiền “tâm định trên thân, mà thân định trên tâm”, thì người này sẽ thực hiện được Tam Minh. Nghĩa là cái người nhập Tứ thiền là người sẽ thực hiện được Tam Minh.

Còn người nào mà không nhập Tứ thiền mà nói gọi là thực hiện được Tam Minh, thì chỉ còn nói vọng ngữ mà thôi. Hoặc là một vài cái sự hiểu biết trong cái không gian và cái thời gian ngắn, gần, do cái tưởng thức của chúng ta giao cảm mà biết trong những cái chuyện đó, chứ nó là tà thiền, tà định. Cho nên nó có những cái thần thông, nhưng cái thần thông đó chỉ một thời gian sẽ mất đi.

Người đó ở trên núi tu hành một thời gian, hoặc là luyện tập đúng cách thì cái tưởng nó hoạt động, chúng ta biết chuyện quá khứ vị lai. Nhưng mà quá khứ vị lai rất ngắn, trong cái thời gian ngắn biết những chuyện mà xảy ra của gia đình của chúng ta hồi hôm qua, hồi hôm kia, hoặc một tháng, hai tháng, hoặc một năm, hai năm, hoặc hai, ba chục năm cũng có thể nói ra được.

Nhưng mà một đời, hai đời, ba đời thì không thể biết được. Bởi vì một đời, hai đời thì nó không thể nào cái tưởng, nó thu ngắn được cái thời gian đó trở lại được. Mà trong một đời chúng ta, nghĩa là lúc nhỏ chúng ta té, chúng ta như thế nào, thì cái người mà có cái tưởng thông đó, cái tha tưởng thông đó, họ sẽ biết được cái sự kiện xảy ra chúng ta hồi còn bé như thế nào, họ nói được.

(50:04) Nhưng mà cái đời nữa thì họ không biết, cái đời trước nữa thì họ không biết. Cái tưởng thông nó không có thể mà vượt cái thời gian quá khứ dài đó được, đó là có thần thông, nhưng mà thần thông đó thuộc về loại Mật tông bùa chú. Thuộc về loại người dùng thiền tưởng mà có thần thông đó, cho nên nó không phải là Chánh đạo.

Còn cái thần thông của đạo Phật do ly dục, ly ác pháp, cho nên cái tâm mà hết ham muốn rồi, thì cái thần thông đó hoàn toàn là không hại con người. Còn cái tâm mà còn ham muốn mà có thần thông như là những bậc mà A La Hán thì thế giới này họ là bá chủ hoàn toàn, bởi cái tâm dục họ còn.

Cho nên họ khi mà có thần thông như vậy, họ sẽ sử dụng thần thông đó, mà một cái nước nào mà không đầu hàng họ, họ tiêu diệt nước đó liền, họ giết sạch con người ở đó, để họ làm bá chủ ở đó. Thì đủ biết rằng cái tâm tham dục của chúng ta nguy hiểm lắm, khi mà nó đã có thần thông siêu việt đó.

Cho nên một cái người tu mà theo đạo Phật, nó có thần thông siêu việt đó, thì tức là cái tâm dục họ phải hết. Mà tâm dục họ hết, họ còn muốn làm bá chủ hoàn cầu không? Đâu còn. Nếu mà còn thì làm sao mà gọi là tâm siêu việt, họ chỉ còn có một tâm từ bi rất là thương xót chúng sanh.

Vì mọi con người đang sanh ra mang trong người bốn cái nỗi khổ, làm sao cho mọi người thoát ra nỗi khổ này? Đó là cái tâm niệm của một người mà tu đúng theo đạo Phật, lòng thương yêu của họ đối với tất cả mọi người đang khổ đau. Họ giải thoát rồi, họ sung sướng rồi, nhưng họ rất thương xót chúng sanh, mọi con người ở trên hành tinh này đang đau khổ.


Chia sẻ trang này

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.