ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang

Pháp âm Đường về xứ Phật

Pháp âm Đường về xứ Phật

Pháp âm “Đường Về Xứ Phật” là tiêu đề một trong những bài pháp sớm nhất của Trưởng lão Thích Thông Lạc với thế gian sau 10 năm chứng đạo. Đây là một bài pháp rất quan trọng, thiết thực và có lợi ích với tất cả mọi người. Bài pháp này hoàn toàn khác với Bộ sách Đường về xứ Phật.

Pháp âm Đường về xứ Phật

A A A

ĐƯỜNG VỀ XỨ PHẬT – PHẦN 1

ĐƯỜNG LỐI TU TẬP CỤ THỂ CỦA ĐẠO PHẬT

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Phật tử

Thời gian: 15/06/1990

Thời lượng: [1:26:55]

 

1- NHÂN DUYÊN THẦY DẠY ĐƯỜNG VỀ XỨ PHẬT

(00:00) Này các cư sĩ, mở đầu cho bài học hôm nay mang tựa đề Đường Về Xứ Phật. Đường Về Xứ Phật là một tên sách của nhiều cuốn sách, mà các nhà hâm mộ đạo Phật đã ghi chép và thuật lại các cuộc hành trình của các phái đoàn Phật giáo Việt Nam và Trung Hoa đến thăm xứ Phật và chiêm bái thánh tích nơi mà Đức Phật đã giáng sinh, thành đạo và nhập Niết Bàn. Ở đây Đường Về Xứ Phật không phải là một cuộc hành hương thăm viếng hay chiêm bái mà là một đường lối tu tập rất cụ thể của đạo Phật. Nó được giảng dạy qua sự thực hành một cách dễ dàng nhưng đòi hỏi người tu hành phải có công phu liên tục và tự giác cao độ, khép mình trong khuôn khổ giới luật, năng nổ rèn luyện tâm tánh, đức hạnh và thiền định. Thời gian phải trải qua một quá trình lâu dài, chứ không phải một ngày một bữa.

(01:40) Đường Về Xứ Phật, từ ngày mở cửa thất bước ra, Thầy đã bắt đầu ghi chép lại quá trình tu hành của mình. Gần mười năm, hôm nay đủ duyên lành do một nhân duyên khá đặc biệt. Vì từ khi viết bộ sách này, có nhiều người xin đọc nhưng Thầy đã nhận thấy với tâm niệm họ chỉ tò mò tìm hiểu chứ chưa có người quyết tâm thực hành để cầu đạo giải thoát, vì thế bộ sách này chưa được ai đọc. Cho đến hôm nay, ngày 11/6/1990, có một người Phật tử đến thăm chùa, trao cho Thầy ba cuốn băng cát sét và xin giảng cho những bài Kinh mà người cư sĩ có thể thực hiện được con đường giải thoát đúng chánh pháp của đạo Phật. Thầy nhận ba cuốn băng, biết đây là nhân duyên của chúng sanh trong thời điểm đã đến lúc được nghe giảng về đức hạnh của đạo Phật. Bấy giờ, thời điểm trong một xã hội con người đang trên đà đạo đức xuống dốc. Vì thế Thầy chẳng ngại tài hèn trí mọn nên cố gắng đem hết sức mình thuyết dạy, chỉ giúp cho người Phật tử dễ tiếp nhận và thu thập được cái lý thâm sâu của nhân quả nghiệp báo trong đạo Phật. Ngõ hầu, những lời giảng này giúp cho mọi người thức tỉnh hiểu rõ lý nhân quả nghiệp báo. Thường sống có ý có tứ trong từng mọi hành động, mọi tâm niệm, mọi lời nói. Nhờ thế mới thoát khỏi mọi loại khổ đau và mọi bất hạnh của đời người trong cuộc sống. Đó là sự mong ước của Thầy nhưng dù sao Thầy cũng là những kẻ hậu sinh nên thành kính nghiêng mình trước các bậc tôn túc, cao minh, đức rộng, trí dài. Khi nghe qua những lời thuyết giảng này có chỗ nào còn sơ xuất xin hoan hỷ hiệu đính, chỉ dạy cho để lần thuyết giảng sau những bài kinh này được hoàn mãn, sống động và cụ thể, dễ hiểu hơn.

Thầy xin thành kính tri ân!

Ngày 15/6/1990 tại Tu viện Chơn Như.

Kính ghi!

2- ĐẠO PHẬT LÀ TÔN GIÁO DẠY CON NGƯỜI ĐẠO ĐỨC

(05:08) Mở đầu cho bài học hôm nay, người ta nói đến đạo Phật là nói đến đạo giải thoát. Có mấy ai nghĩ đến đạo Phật là một tôn giáo dạy con người đạo đức tuyệt vời. Hễ mỗi khi nói đến đạo đức, người ta nhớ đến Nho giáo, Tam cang, Ngũ thường: Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín, v.v…​ Hiện nay, hình ảnh của đạo Phật và việc làm của nó hầu hết là việc cúng bái, cầu an, cầu siêu, ma chay, xin xăm, toán quẻ, cúng sao, giải hạn, xem ngày tốt xấu và thuyết giảng giáo lý từ chương. Chẳng có áp dụng vào giới luật, đức hạnh nghiêm túc, cũng như chẳng thực hiện thiền định sâu mầu phá thọ ấm, làm chủ thân tâm một cách cụ thể. Người ta chỉ thuyết giảng như một lớp học từ cơ bản đến cao đẳng Phật học. Nhưng trước mắt Thầy, chẳng mấy ai làm được như lời đã nói, chỉ biết sống trong danh và lợi do mồ hôi nước mắt của đàn na thí chủ đóng góp.

Thật đáng cho chúng ta suy ngẫm lại con đường tu hành của mình. Theo đúng tinh thần giải thoát của đạo Phật thì việc làm này chỉ ở một góc độ của đạo Phật mà thôi. Bởi vậy, đạo Phật rất thực tế, từ một người phàm phu được hướng dẫn tu tập dần dần trở thành bậc Thánh nhân có đức độ cao sâu, có tâm hồn từ bi biết thương yêu tất cả mọi loài chúng sanh, có thiền định sâu mầu làm chủ được thân tâm một cách cụ thể. Nhưng phải biết con đường giải thoát của đạo Phật phải trải qua nhiều giai đoạn tu tập và rèn luyện công phu hết sức, chứ không phải nghiên cứu học hỏi suông như các nhà học giả.

3- NHỮNG TRƯỜNG HỢP LẠC NẺO TRONG ĐẠO PHẬT

(08:20) Người Phật tử hiện nay có tâm tìm cầu sự giải thoát sanh tử luân hồi trong đạo Phật nhưng họ đã lạc nẻo đi vào con đường kiến giải ngôn ngữ, biện luận, tranh chấp. Còn thực hành thì lại chấp không, cho chơn không diệu hữu bằng cách lý luận, luận giải suông, nghĩ rằng Phật tánh là như vậy. Dù uống rượu, ăn thịt, dâm dục thì Phật tánh không mất. Vì lầm chấp như vậy nên có nhiều vị tu sĩ có vợ con vẫn an nhiên sống phây phây trước mọi người Phật tử thông suốt giới luật! Và hiện giờ người ta còn lập ra phái Tân Tăng để đưa đạo Phật đi đến chỗ suy đồi. Bởi vậy, đối với đạo Phật nếu ai muốn thực hành, tu hành mà không có thiện tri thức để làm chỗ nương, cứ từ chương học giáo lý chắc con đường giải thoát của đạo Phật sẽ không đi đến đâu và càng ngày đạo Phật sẽ bị người ta khinh chê, khinh thường, chê bai. Đạo Phật sẽ không còn là chỗ nương cho ai hết, chỉ là nơi trao đổi vật chất và tinh thần. Lúc bấy giờ, người ta chỉ còn xem đạo Phật là một triết học suông để cho các nhà học giả sưu tầm và nghiên cứu.

(10:29) Trên đường tu tập theo đạo Phật, lại có một số người thực hiện sai lệch. Lầm chấp tưởng thức là con đường tu thiền định nên tiếp tục thực hành tạo ra một thế giới siêu hình mà hầu hết các tu sĩ trên thế giới đều thực hiện. Thế giới siêu hình này có chư Phật, chư Hiền, Thánh Tăng và Thần, Tiên, ma, quỷ, linh hồn người chết. Những người tu thiền dùng tưởng thức tập luyện thiền định thì họ gặp gỡ những linh hồn người chết, Phật, Thánh, Tiên và Bồ Tát. Họ đâu biết rằng cái thế giới siêu hình này là cái thế giới do tâm họ tạo ra. Nó là cái thế giới chủ quan, không có khách quan. Vì thế khi thân này hoại diệt thì cái thế giới kia tan biến như hư không.

Khi người tu tập mà đạt được cái thế giới này thì có những hành động thù diệu, biết chuyện quá khứ vị lai, thường gặp chư Phật, chư Bồ Tát được các ngài hướng dẫn tu tập thiền định. Hầu hết các nhà tu thiền có công phu năng nổ khắp trên thế giới đều được nghe thấy thế giới siêu hình này. Không những ngày nay mà ngày xưa, như các vị tổ sư thiền Trung Hoa còn phải rơi vào cảnh giới này, như ngài Thiên Thai Trí Khải đại sư và ngài Hư Vân Hòa thượng, v.v…​

(13:05) Vì quá ham mê thần thông, cầu biết túc mạng quá khứ vị lai nên người ta không để ý con đường giải thoát của đạo Phật. Không phải ở mục đích đó, mà ở chỗ tu tập thiền định để có một sức tự chủ. Do sức định này phá thọ ấm làm chủ toàn diện thân tâm một cách rất cụ thể và khoa học. Chớ không phải mơ hồ trừu tượng như người ta tưởng.

Có kẻ lại vọng cầu tu pháp môn Đốn Ngộ cho mau rốt ráo nhưng kỳ thực họ chẳng biết lối vào, cứ loanh quanh trên chữ nghĩa văn tự và chấp những kiến giải cho là như vậy sẽ thực hiện được giải thoát. Nhưng cuối cùng họ là người làm giảm uy tín Phật pháp vì giới luật họ chẳng nghiêm túc, đức hạnh họ chẳng đầy đủ, oai nghi tế hạnh họ chưa làm xong, hành động cử chỉ ngôn ngữ đều tỏ ra ngã mạn cống cao, hiu hiu tự đắc, xem thế gian này chẳng có ai bằng mình, thường dùng ngôn ngữ khích bác người này người kia hoặc pháp môn này, pháp môn nọ tạo thành một Phật giáo chia rẽ. Họ không biết khởi đầu sự tu như thế nào nên thường chấp những cái vi diệu, cao sâu, thượng đẳng, chê những pháp môn khác thấp kém, cho những pháp môn ấy tầm thường.

4- ĐẠO PHẬT TU TẬP NGĂN CHẶN ÁC, TĂNG TRƯỞNG THIỆN

(15:13) Bởi vậy, con đường đạo Phật là con đường gần gũi cụ thể với cuộc sống con người. Bắt đầu người thực hành sẽ có kết quả ngay, cũng như vị thiện tri thức bắt đầu chỉ dạy tu hành không có nghĩa đem kinh sách ra giảng từ chương. Mà phải ngay căn cơ trong hành động sai trái tối tăm vô minh hoặc điên đảo mà chỉ cho họ lối tu tập để khắc phục thân tâm không còn phạm phải những lỗi lầm, lỗi ác và luôn luôn chỉ dạy họ tu tập thiền định để họ đủ sức bình tĩnh trước mọi đối tượng, mọi sự việc. Khi có được tự chủ họ mới đủ sáng suốt kịp thời ngăn chặn những ác tâm, ác khẩu, ác thân và giải quyết mọi vấn đề được tốt đẹp và an vui, hạnh phúc.

(16:32) Thay vì bắt đầu sự tu hành họ phải thực hiện giải trừ tâm ác độc để phá đi cái nhân ác do thân, miệng, ý và còn phải luôn luôn tăng trưởng các nhân thiện. Cũng từ đó con người mới tròn đủ đức hạnh thì thế giới mới được hòa bình, xã hội mới được an vui, con người mới thấy được chơn hạnh phúc. Không bao giờ có sự giải thoát khỏi luân hồi sanh tử cho một kẻ chưa giải trừ các điều ác. Nếu một người chưa gạn lọc lòng mình hết những điều ác sẽ không tìm thấy những thù diệu vĩ đại khác nữa trong Phật pháp. Sự giải trừ các điều ác khiến cho một người đi trong sanh tử luân hồi hết khổ đau và được hoàn cảnh thuận tiện để tiến tu thiền định giải thoát. Họ không thể ngồi yên tọa thiền tập định nếu quá thiếu phước hoặc bị những bức bách thống khổ, của ngoại duyên quấy nhiễu. Thế nên cần phải thực hành giải trừ những điều ác, tích lũy điều thiện để làm căn bản vững chắc cho hành trình tu tập giác ngộ ở phía sau.

(18:34) Thời nay, người ta dạy tu thiền dựa theo kinh điển chữ nghĩa của Phật giáo có các pháp môn như: niệm Phật, tụng kinh, trì chú, thiền quán, công án, thoại đầu, Lục Diệu Pháp Môn, An Bang Thủ Ý. Nếu như các pháp môn này được các Phật tử tín tâm chấp nhận thực hành, nhưng chẳng ai đạt kết quả tốt, phần nhiều lệch lạc. Từ pháp môn của Đức Phật biến thành tà giáo ngoại đạo như: niệm Phật Chuyển Pháp Luân, niệm Phật xa luân, thiền xuất hồn.

5- MUỐN TU HÀNH PHẢI ĐỦ PHƯỚC DUYÊN

(19:39) Một hôm, ông Đỗ Đình Đồng và chúng tôi về thăm một tu viện, ông hỏi một thiền sư:

– Một người cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, lại gặp những chướng duyên cản trở thì có cách nào tu thiền định?

Thiền sư đáp:

– Thì họ cứ tinh tấn làm chủ trong mọi lúc.

Ông Đỗ Đình Đồng cười:

– Thiền như vậy tôi không chấp nhận.

Theo Thầy hiểu ý của ông Đỗ Đình Đồng đó là một thứ thiền lý thuyết ngôn ngữ. Lâu đài tu tập thiền định giải thoát thân tâm ra khỏi bùn nhơ, nước đọng ô uế của thế gian không thể xây dựng trên bãi phù sa mềm yếu của ác nghiệp mà phải được xây dựng trên nền móng đá tảng vững chắc của thiện pháp.

(20:55) Một người nông dân đến thưa hỏi Phật về pháp môn tu hành trong khi bụng đói. Đức Phật biết nên bảo ngài A Nan đem cho ông thức ăn, sau khi thọ thực xong Đức Phật mới vì ông thuyết pháp. Đạo Phật thực tế như vậy, người ta không thể đủ bình tĩnh sáng suốt để từng tự quán tưởng về một giáo lý cao sâu như đạo Phật, hoặc an ổn được trong khi ngồi nhiếp tâm công phu để đi sâu vào thiền định. Khi mà sự đói kém đang hành hạ cơ thể, khi mà mọi hoàn cảnh thống khổ đang bức bách, khi mà cơm không đủ ăn áo không đủ mặc, đang cơn lả người vì đói khổ. Cho nên muốn tu hành phải đủ phước duyên, no cơm ấm áo, hoàn cảnh an ổn, mọi duyên sự ràng buộc phải được thu xếp an ổn trước khi tiến sang qua giai đoạn tu tập cao hơn của Phật pháp, thì mới thấy được những trạng thái thù diệu của tâm hồn. Tuy những trạng thái này vô ảnh vô hình, rất trừu tượng nhưng khi thực hành đạt đỉnh thì lúc nào cũng có mặt. Nếu thiếu phước ngay đây chúng ta sẽ rơi vào trạng thái rối loạn thần kinh, chỉ tu sai một ly hào là trở thành người bệnh tật mất trí suốt đời. Bởi vậy, không đủ phước thì làm sao có hoàn cảnh an ổn để tu tập và vượt thoát qua những trạng thái điên khùng.

6- TÍCH LŨY PHƯỚC THIỆN LÀ PHÁP MÔN MÀU NHIỆM NHẤT

(23:15) Tích lũy phước thiện chính là pháp môn mầu nhiệm nhất để đưa con người đến mọi sự sung mãn và hạnh phúc trong cuộc sống, để xây dựng một xã hội lành mạnh bằng tình thương yêu nhau, ở đây mới có thể gọi lá lành đùm lá rách, mọi người có ấm no, mọi người có hạnh phúc an vui thì đây là con đường giải thoát ở đoạn đầu của đạo Phật, gọi là giới đức, có giới đức mới đủ phước duyên tạo nên hoàn cảnh thuận tiện để tiến tu những giai đoạn sau của đạo Phật.

Bởi vậy, trong cuộc sống hàng ngày, không phải chúng ta đi tìm cơm áo ấm thân hạnh phúc bằng cách chỉ biết làm quần quật trên đồng ruộng hay trong nhà máy hoặc trong văn phòng mà còn phải biết tích lũy việc thiện. Nghiệp thiện có tràn trề thì con người mới có lòng nhân ái, biết thương yêu nhau, đùm bọc lẫn nhau, tình người chơn thật mới thấy xuất hiện. Bấy giờ cây lúa mới trĩu hạt, nhà máy mới sản xuất sản phẩm tốt.

7- TỘI HAY PHƯỚC LÀ DO CHÍNH MÌNH LÀM ÁC HAY THIỆN

(24:57) Thiếu phước chỉ vì con người thiếu lòng thương yêu nhau. Vì lòng người chẳng thiện nên thời tiết không tốt, khí hậu chẳng ôn hòa, đồng ruộng bị hạn hán hoặc ngập lụt, cây lúa bị úng thối, nhà máy bị hư sập, sản xuất bị bế tắc. Thiếu phước, đời sống con người còn biết bao nguyên nhân xảy ra tạo cảnh đau buồn sầu khổ. Cũng chính vì lòng người gian ác, tham lam thiếu đạo đức, thiếu lòng yêu thương nhau. Chính tội phước đã đem lại sự trở ngại hay thuận tiện cho cuộc sống con người, hạnh phúc hay khổ đau chính là do chúng ta.

Vì không rõ lý nhân quả nên khi gặp tai nạn khổ ách hay bệnh tật nan y thì người ta đi đến chùa cầu khẩn chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ cho thoát nạn. Sự thật không thể cầu khẩn van xin như vậy mà được.

Đem một tảng đá quăng xuống hồ nước, tảng đá ấy chìm tận đáy hồ, chúng ta bèn kêu gọi hàng trăm hàng vạn người cùng rước các thầy cúng đến cầu khẩn, cúng bái khiến cho tảng đá được nổi lên mặt nước. Điều này chắc không thể làm được. Cũng như một kẻ làm ác phải thọ lấy sự khổ, không ai cầu khẩn mà thoát khổ được và cũng không ai cứu khổ được.

(27:00) Người làm việc thiện, lòng không mong cầu phước báu đến, nhưng phước báu vẫn đến. Tại sao vậy? Ví như những giọt dầu rơi trên mặt nước, cầu khẩn cho nó chìm xuống cũng chẳng được, không cầu khẩn nó cũng nổi như vậy.

Bởi vậy, tội phước là do chính cá nhân mình, đây là một định luật nhân quả rất công bằng và khách quan.

Khi làm điều ác, chúng ta dù chui xuống biển hay bay lên trời và ở bất cứ nơi đâu cũng không thoát khỏi luật này.

Thế nên chính họ, họ đã tạo cho họ an vui hạnh phúc; mà cũng chính họ, họ đã tạo cho họ khổ đau bất hạnh, không có ai cứu giúp họ được bằng chính họ.

(28:08) Hành vi ác sẽ đem đến sự đau khổ cho người đã tạo ra nó và ngược lại hành vi thiện sẽ đón chào chủ nó bằng kết quả hạnh phúc an vui hiện tại và mai sau.

Người gặp nhiều khổ đau ngang trái vẫn có thể chuyển đổi hoàn cảnh đó trở thành an lạc. Nếu họ biết, bằng cách hàng ngày luôn tạo những điều thiện, việc làm thiện này tuy nhỏ như lấp một vũng nước trên đường đi, nhặt một cây gai, một miếng miểng chai trên lộ, tránh một đoàn kiến đang băng qua đường, nâng một cây gậy cho bà lão, dắt một em bé qua lộ, khuyên một em bé đừng làm ác, an ủi một người đang khổ đau, chia sẻ một nửa củ khoai cho người đang đói, nhường chiếc áo lành cho người đang rách tả tơi, tránh xô đẩy chen lấn cho người vào trước hay lên xe, nhường chỗ ngồi trên xe cho người yếu đuối và bệnh tật, v.v…​ Việc làm này tuy nhỏ như giọt nước, nhưng nhiễu mãi lâu ngày cũng sẽ đầy lu nước lớn.

(29:55) Kẻ đang giàu sang phú quý mà không rõ thông lý nhân quả vẫn có thể đi đến chỗ đổ vỡ nếu họ tích chứa ác nghiệp mỗi ngày.

Đức Phật cụ thể hóa các thiện nghiệp qua mười điều lành gọi là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Chúng xuất phát từ các hành động của thân, miệng và ý: hành vi, lời nói và ý nghĩ. Mười Điều Lành này là cốt lõi của đạo Phật, nếu suy rộng là tất cả các điều lành khác. Cho nên Mười Điều Lành này là mẹ đẻ của tất cả những điều lành khác.

8- SÁNG SUỐT NHẬN ĐỊNH THIỆN ÁC TRONG TỪNG HÀNH ĐỘNG

(31:00) Tuy nhiên, giữa cuộc đời bấp bênh tương đối này, ranh giới giữa thiện và ác khó thể phân định rõ ràng. Ít có nghiệp nào thuần thiện mà không xen lẫn chút ác và ngược lại, đôi khi trong ác vẫn có thể gây ra một ảnh hưởng thiện về sau.

Ví dụ:

– Người chiến sĩ phải tiêu diệt giặc ngoại xâm (Ác) để bảo vệ hòa bình cho quê hương đất nước (Thiện).

– Người mẹ nuông chiều con (Thiện) nhưng sẽ đưa nó hư hỏng về sau (Ác).

– Một cuộc cách mạng đem lại no ấm tự do cho xã hội quê hương (Thiện) nhưng lại gây máu đổ thịt tan cho kẻ khác (Ác).

– Để sửa sang lại đoạn đường bị hư (Thiện) đội thi công phải phá đoạn đường cũ gây trở ngại lưu thông trong thời gian thực hiện (Ác).

– Một ông vua lên ngôi ra lệnh đàn áp Phật giáo (Ác) khiến cho những kẻ núp áo cà sa hưởng thụ công lao của đàn na thí chủ phải bỏ Chùa nhanh chóng (Thiện).

– Một người nông dân cày ruộng dùng thuốc rầy giết hại côn trùng sâu bọ (Ác) nhưng khi hạt lúa nặng trĩu bông để mọi người được no cơm lành áo (Thiện).

– Người Phật tử quý kính chư Tăng đem những vật dùng đẹp đẽ sang trọng đến cúng dường (Thiện) nhưng vô tình đã phá hại sự thanh bần cao cả trong Phật pháp (Ác).

– Một thầy giáo phạt và đánh học trò (Ác) nhờ thế học trò siêng năng học tập sau này trở nên người hữu dụng cho xã hội và ích lợi cho bản thân cậu bản thân nó (Thiện), v.v…​

(33:33) Vô số những trường hợp mà thiện và ác gắn chặt vào nhau không thể tách lìa. Do đó chúng ta phải sáng suốt nhận định cả hai khía cạnh thiện và ác trong một hành động thật kỹ lưỡng rồi hãy bắt tay thực hiện, đừng cạn cợt không chịu tư duy cho là thiện mà không ngờ để ý cái ác lớn lao sầm sập ở phía sau thì đó là một tai họa rất lớn cho người hành thiện thiếu trí tuệ hay nói khác thiếu suy tư.

(34:26) Câu chuyện “Con Rắn Độc” nhắc nhở khuyên người hành thiện phải có trí tuệ, thiếu nó hành thiện tức là hành ác:

“Một ngày nọ có một vị Đạo sĩ băng qua cánh đồng, lũ trẻ chăn bò thấy vậy liền ngăn:

– Thầy chớ đi qua cánh đồng này, có con Rắn độc thường cắn giết trâu bò

Vị Đạo sĩ mặc lời ngăn cản của lũ trẻ vẫn tiếp tục đi và quả nhiên ông ta gặp con Rắn độc hiện ra giương thẳng đầu, há mỏ, muốn cắn. Nhưng con Rắn không thể chịu nổi cái nhìn đầy từ bi nghiêm nghị và xót thương bao dung của Đạo sĩ, nó liền nằm bẹp xuống. Vị Đạo sĩ liền vỗ về:

– Này Rắn, con đường giải thoát không phải con đường cắn hại, gây chết chóc làm đau khổ cho người, cho vật. Vì sự sống của con mà con cắn hại làm mất sự sống của người khác, vật khác thì sự sống của con sẽ ngắn ngủi và thọ lấy nhiều đau khổ. Chính đem sự sống về con là đem sự chết đến với con, đem sự sống cho muôn loài là đem sự sống cho chính con; vì con đường tu so với những gì con cắn hại, con cắn hại làm sao con giải thoát. Này Rắn, đừng bao giờ cắn hại nữa.

Nói xong vị Đạo sĩ ra đi.

(36:59) Từ đó con Rắn trở nên từ bi chẳng còn cắn hại ai. Lũ trẻ mục đồng lúc đầu còn đứng xa nhìn ngó, sau ăn quen tiến lại gần, trước còn ném đá dò hơi sau nắm đuôi Rắn mà quất lên trời. Cho đến một hôm Rắn gần chết, Rắn bất tỉnh hàng giờ mới lay tỉnh bò về hang, từ đó chỉ dám đi ăn lúc ban khuya, ngày một võ vàng tiều tụy.

Rồi một hôm vị Đạo sĩ trở về cánh đồng thăm Rắn, gọi mãi mới thấy Rắn mệt nhọc lết ra khỏi hang; hỏi Rắn:

– Hãy nói cho Thầy nghe công quả tu luyện của con.

– Lạy Thầy, nhờ Thầy khai thị cho con, nay con đã đến gần việc thiện, chẳng còn cắn hại một ai.

– Sao hình thể con tiều tụy như thế này?

– Bạch Thầy, nhờ Thầy khai thị, con đã yên lặng chịu đựng sự tinh nghịch của lũ mục đồng mà không hề cắn trả.

– Này Rắn, thật không còn gì dại dột cho bằng, Rắn yên lặng cho kẻ khác hành thân xác con. Này Rắn, con không nên cắn hại ai, hung dữ với ai nhưng phải biết dọa rống lên làm cho kẻ nào muốn giết hại con phải khiếp sợ, phải tự vệ trước sự dữ nhưng không lấy sự dữ trả lời sự dữ, không lấy oán thù trả lại oán thù.”

(39:12) Khi một hành động có chung cả thiện và ác thì kết quả sẽ xuất hiện cả khổ và vui. Thế nên chúng ta phải phân tích ý nghĩa thiện ác thật thấu đáo sao cho cái thiện phải nhiều hơn gấp bội cái ác trong một hành động, và như vậy niềm vui sẽ đong đầy và nỗi khổ sẽ luôn vơi ở hiện tại và mai sau. Nhân thiện đem đến quả vui và nhân ác đem đến quả khổ, quả vui khổ này được hiểu trên hai ý nghĩa xa và gần như sau: Nếu suốt đời chúng ta tạo được nhiều điều thiện thì ngay cuộc sống hiện tại được an vui hạnh phúc, không sợ hãi cũng như không hối hận dù một việc làm ác, không che đậy dấu diếm một hành động sai trái nào, đó là người biết tu sửa mình. Sống hồn nhiên bộc trực thanh thoảng, đối với luật pháp xã hội không lo ngại tránh né, tiếng tốt đồn xa vang dậy, đối diện với cuộc đời tâm tỏa sáng những niềm vui trong sạch. Vị lai về sau, ngay trong đời này hay những đời kế tiếp, chúng ta luôn luôn ở vào những hoàn cảnh sung sướng, thuận tiện, giàu sang, uy quyền, mong cầu điều chi cũng được như ý, được nhiều người kính phục thương yêu và vâng phục. Ngược lại nếu chúng ta đã tạo quá nhiều điều ác thì cuộc sống hiện tại là sự che phủ của bất an, tâm hồn hối hận sợ hãi và tránh né, hổ thẹn và tủi thân, lúc nào trong đầu óc cũng chất đầy sự lo sợ, sợ sệt. Còn về vị lai chúng ta luôn luôn sống trong sự hiện diện những hoàn cảnh đau buồn, ngang trái, bệnh hoạn, tai họa, nghèo nàn, hèn kém. Kết quả gần thì dễ hiểu vì nó là sự suy luận cụ thể của khoa học tâm lý, khoa học xã hội, nhưng kết quả xa thì khó thấy vì nó thuộc phạm vi nghiệp báo luân hồi. Chỉ có những bậc Thánh chứng ngộ mới thấu suốt đường đi phức tạp của nhân quả nghiệp báo, với những chi tiết lắt léo nhất trong vòng lưu chuyển sanh tử vô tận của chúng sanh.

9- NGŨ GIỚI, THẬP THIỆN LÀ NỀN TẢNG VỮNG CHẮC ĐỂ TIẾN TU

(42:51) Một hôm có một người Phật tử giàu có đến xin Thầy dạy pháp môn tu thiền, Thầy khuyên bà ta hãy trở về tu Thập thiện một thời gian rồi Thầy sẽ chỉ tiếp những phương pháp tọa thiền nhập định. Sau khi bà ta ra về, một thiền sinh trong Tu viện đến hỏi Thầy: “Bạch Thầy, vì sao bà ta đã giàu có đầy đủ tiện nghi xe hơi, nhà lầu mà Thầy còn dạy tu Thập thiện?”

Thầy đáp: “Sự giàu có của bà ta chỉ mới xuất phát từ tâm niệm hành vi bố thí, còn những việc làm thiện khác như không nói dối, không tà dâm, không sát sanh, không ác khẩu, không ly gián, không sân hận, v.v…​ thì bà ta chưa tròn đủ. Bà phải dọn mình sạch sẽ trong các pháp thiện rồi mới có thể bước những bước thăng xa hơn. Thập thiện chưa thuần thục thì tu thiền không tiến bộ mà còn rơi vào thiền tà.”

Thật vậy, đối với Thầy, Ngũ Giới – Thập Thiện là nền tảng vững chắc cho sự tu thiền sau này. Người ta không xét nét giữ mình trong Ngũ Giới – Thập Thiện thì làm sao có đủ duyên lành, có hoàn cảnh thuận tiện để tiến tu, để nhiếp tâm.

(44:48) Thật vậy, một người cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, bị mọi chướng duyên bức bách thì làm sao có thể tu thiền được. Tu thiền không khó, nhưng khó vì hoàn cảnh không thuận tiện và ngoại duyên chi phối, do đó phải lấy giới luật làm nền tảng.

Bởi vậy, trong kinh giới có dạy: “Đức hạnh là chiếc thuyền qua nước Phật”. Đức hạnh không có thì phước cũng không có, thì lòng người không yên như thuyền thủng bờ kia khó đến. Đức hạnh là thuốc hay thường chữa lành bệnh khổ của chúng sanh. Người không đức hạnh thì người ấy ắt hư thân mất nết, mọi người trong gia đình thiếu đức hạnh thì gia đình ấy ắt lộn xộn không yên như trong nhà tù; mọi người trong một nước mà không có đức hạnh thì nước ấy ắt người người hung tàn, không còn phong hóa kỷ cương gì nữa.

Đức hạnh là nền tảng vững chắc cho cá nhân con người, cho gia đình và cho xã hội. Thiếu nền tảng đạo đức con người trở nên hung ác, lúc nào cũng gặp khổ đau bất hạnh, gia đình thì không thuận, đất nước thì không yên, giặc giã, trộm cướp nổi lên khắp nơi.

(47:07) Còn những pháp môn tu thiền định nào không đặt trên nền tảng giới hạnh, coi thường giới luật và thiện nghiệp, dù mượn danh Phật tiếng Tổ, nó vẫn chỉ là lối thiền tà ngoại. Hãy đánh giá một người qua thập thiện, thập giới trước rồi sẽ đánh giá công phu thiền định của họ sau.

“Phật cao nhất xích, Ma cao nhất trượng”, câu nói này cảnh giác cho tín đồ Phật giáo về sau. Thần thông của Ma rất giống thần thông của Phật, kiến giải của Ma rất giống trí tuệ của Phật, giống thì giống mà phải thì chẳng phải. Thế nên hạnh của Ma thì khác xa hạnh của Phật. Trí thức của thế gian không phải là trí tuệ chánh kiến của đạo Phật. Thế nên chúng ta vẫn thấy bao nhiêu kỹ sư, bác sĩ, kiến trúc sư, giáo sư mà vẫn say sưa tu thiền xuất hồn, thiền điển linh thiêng, tin ông giáo chủ này mê bà sư phụ nọ.

(49:09) Phật tử phải xem kinh điển của Phật dạy, để chiêm ngưỡng giới hạnh tuyệt vời của đạo Phật. Và thấy đức hạnh của Phật và các vị A La Hán thời nguyên thủy. Và để lấy đó làm mực thước để đánh giá những bậc tu hành hiện tại.

Dĩ nhiên chúng ta không thể đòi hỏi người đang tu hành có được tâm hạnh trọn vẹn như Phật, như Bồ Tát, A La Hán. Nhưng ít ra người này phải có tâm thiết tha hướng về giới hạnh, khất ngưỡng thiện pháp, cố gắng giữ gìn giới bổn, lấy đó làm mực thước nỗ lực tu hành. Họ không thể sống chung đụng quá nhiều với thế tục, không thể lộ rõ bản chất tham sân quá thô, không thể thiên về hình thức tế lễ quá đáng và cũng không nên mù quáng tu tập thiền tà.

(51:01) Sau khi đức Phật nhập diệt, một cư sĩ hỏi Tôn giả A Nan: “Bạch Tôn Giả, trước khi nhập diệt, đức Thế Tôn có giao quyền trưởng giáo lại cho một vị nào chăng?”.

Tôn giả A Nan đáp: “Này Cư sĩ, Thế Tôn không giao lại quyền trưởng giáo cho một ai hết, chỉ để lại giáo pháp và giới luật làm chỗ nương tựa cho người sau”.

Nếu mọi người đều lấy giáo pháp và giới luật làm chỗ nương tựa, thì đạo Phật không đi lạc vào tà kiến và mê tín quá nhiều như hiện nay. Chính vì người ta đặt niềm tin cuồng nhiệt nơi một vị tổ sư nào đó mà quên đi giới luật và giáo pháp của Phật, nên đạo Phật bị phân hóa và biến thái dần dần, cho đến hôm nay thì dường như hình ảnh chơn chính, bình dị, thanh bần của đạo Phật thuở ban đầu khó thể tìm thấy nữa.

(52:58) Trên đường tu hành theo đạo Phật, chúng ta hãy dựng lại giới hạnh như là một nền tảng quan trọng trong Phật pháp. Những người cư sĩ tại gia có đủ phước duyên tu tập thiền định thì hãy lấy thập thiện, ngũ giới làm giới hạnh kiên cố cho sự tu hành và cuộc đời của mình, đừng tin một thứ thiền nào nếu nó không đề cao đức hạnh giới luật. Hơn nữa, xã hội loài người hôm nay đổ vỡ về đạo đức quá nhiều, chúng ta là những tu sĩ Phật giáo phải thấy bổn phận của mình, Bồ Tát hạnh, xây dựng lại nền đạo đức cho cuộc đời. Và nếu làm điều đó chúng ta phải hoàn chỉnh bản thân mình trong thập giới hạnh Sa di. Nơi bản thân mình đã đạt được những giới hạnh này, thì đó là một gương ảnh tốt cho mọi người thân của chúng ta xung quanh để soi tức là xã hội. Hành thập thiện là điều thiết yếu đem đến mọi tốt đẹp cho mọi cá nhân, cho xã hội và cho những ai muốn tiến xa trên đường giải thoát.

(55:12) Này các cư sĩ, bây giờ Thầy sẽ nói về thập thiện. Thập thiện – Mười Điều Lành – được phân tích nơi hành vi thân, nơi lời nói miệng và nơi tâm tư ý như sau:

Hành vi nơi thân:

1- Không sát sanh

2- Không trộm cướp

3- Không tà dâm

Lời nói nơi miệng:

1- Không nói dối

2- Không khoe khoang

3- Không chia rẽ

4- Không nói lời ác

Tác ý nơi ý nghĩ:

1- Không tham lam

2- Không sân hận

3- Không tà trí kiến

Bấy giờ, chúng ta phân tích từng điều thiện trên đây để thấy giá trị lớn lao của nó.

Bấy giờ, Thầy nói về không sát sanh. Làm con người không ai không biết sợ đau khổ, bệnh tật và chết chóc. Đó là nỗi khắc khoải lo âu trong lòng người. Đó cũng là một sự trọng đại nhất của đời người, thường sống trong sự đau khổ bệnh tật và chết chóc nên con người đặt ra nhiều câu hỏi về con người.

10- 20 CÂU HỎI VỀ CON NGƯỜI

(57:36) 1- Câu hỏi thứ nhất: Con người sinh ra làm chi để chịu bao nhiêu thứ khổ không thể đếm hết được, rồi một ngày nào đó phải chết, chết trong đau khổ, ít ai tránh khỏi sự đau khổ giày vò của cơ thể trong giờ phút lâm chung. Từ xưa đến nay không ai tránh khỏi cái chết?

2- Câu hỏi thứ hai: Tất cả những sự đau khổ của thế gian, có phải do tạo hóa sắp đặt, bắt buộc con người phải chịu như vậy chăng?

3- Câu hỏi thứ ba: Làm sao hết đau khổ?

4- Câu hỏi thứ tư: Con người từ đâu sanh về đây?

5- Câu hỏi thứ năm: Chết đi về đâu?

6- Câu hỏi thứ sáu: Khi chết còn hay mất? Cái gì còn? Cái gì mất?

7- Câu hỏi thứ bảy: Có phải chăng con người còn có một linh hồn chăng?

8- Câu hỏi thứ tám: Phải chăng chết là mất hết?

9- Câu hỏi thứ chín: Có thế giới vô hình hay không?

10- Câu hỏi thứ mười: Thiên Đàng, Cực Lạc, Tây Phương và Địa Ngục có hay không? Các cõi này ở đâu?

11- Câu hỏi thứ mười một: Cái điểm tuyệt đối có hay không?

12- Câu hỏi thứ mười hai: Tất cả vạn vật trong vũ trụ do ai sinh?

13- Câu hỏi thứ mười ba: Trong Kinh nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, vậy Phật tánh là cái gì?

14- Câu hỏi thứ mười bốn: Niệm Phật có phải là thiền định hay không?

15- Câu hỏi thứ mười năm: Thiền Đốn Ngộ, Thiền Công Án, Thiền Xuất Hồn, Thiền Nhĩ Căn Viên Thông, Thiền Hơi Thở, Thiền Tri Vọng, Thiền Quán, Thiền Quán Tưởng Phật Thánh Tiên hoặc Hoa Sen, Thiền Xa Luân,v.v…​ Tất cả những loại thiền, thiền nào đúng, thiền nào sai và tu thiền để làm gì?

16- Câu hỏi thứ mười sáu: Tu thiền sẽ làm Phật phải chăng?

17- Câu hỏi thứ mười bảy: Mục đích của đạo Phật như thế nào? Có phải đạo Phật dạy con người trốn khổ hay không?

18- Câu hỏi thứ mười tám: Có phải ăn chay, niệm Phật, gõ mõ, tụng kinh, trì chú, thiền định khi chết được Phật rước về Cực Lạc hay được nhập Niết Bàn?

19- Câu hỏi thứ mười chín: Niết bàn là gì?

20- Câu hỏi thứ hai mươi: Tại sao kinh nói “Kiến tánh thành Phật”, khỏi phải tu hành gì hết có đúng chăng?

Này các cư sĩ, bao nhiêu câu hỏi này có những câu hỏi chưa phải lúc hỏi nhưng Thầy cũng sẽ hoan hỷ lần lượt trả lời tất cả. Ở đây Thầy sẽ trả lời những câu hỏi cần thiết và lợi ích thiết thực cho sự tu hành của các con, còn những câu hỏi nào để tìm hiểu chơi thì tùy duyên mà Thầy sẽ giảng nói sau. Cái cần thiết cho cuộc sống của các con hiện giờ là phải làm sao hàng phục được tâm mình, đừng để cho nó ô nhiễm vật chất thế gian, đừng để đắm nhiễm tiền tài danh lợi và sắc dục. Và cuối cùng ngay trên bản thân của các con phải làm sao làm chủ được thọ ấm. Đó là sự quan trọng nhất chứ không phải là những câu hỏi vu vơ không thực tế, không ích lợi, hỏi để hiểu chơi, để thỏa thích tò mò thì đối với sự tu hành của đạo Phật thì không nên hỏi.

(01:03:25) Này các cư sĩ, đạo Phật rất thực tế nên những câu hỏi nào đúng với pháp môn của Phật mà các con có thể tu tập được có kết quả ngay trong khi thực hành. Chứ không phải trả lời bằng những ngôn thuyết lanh lợi, xảo thuật hay bằng những ngôn thuyết làm trò cười cho thiên hạ, hoặc bằng những ngôn thuyết đặc dị, độc đáo, hoặc bằng sự tưởng tượng siêu hình để làm cho mọi người chú ý mình hay để thu hút và quyến rũ những người khác.

Ở đây Thầy sẽ trả lời với các con như thế nào? Có một sự trung thực Phật pháp cụ thể dễ tiếp nhận, dễ thực hành của pháp môn đó. Khi nghe xong các cư sĩ sẽ nhận được ngay mà thực hành rất dễ dàng, như dắt một em bé qua đường, lượm một miếng miểng chai trên lộ, nâng một cây gậy cho bà lão. Đó là những việc tu hành cụ thể mà ai ai cũng có thể làm được.

(01:05:06) Phật pháp dạy chúng ta tu hành làm lợi ích cho mọi người, cho xã hội, cho mình. Trong đó có một nguồn vui, một nguồn an vui hạnh phúc chân thật nơi tâm hồn. Nguồn vui đó là sự giải thoát chân thật của đạo Phật. Mọi người có an vui thì ta mới an vui, đất nước có thanh bình thì lòng ta mới thảnh thơi.

Theo câu hỏi đầu, con người sinh ra làm chi để chịu bao nhiêu thứ khổ không thể đếm hết được? Rồi một ngày nào đó cũng phải chết, chết trong đau khổ, trong thương tiếc. Ít ai tránh khỏi trong giờ phút lâm chung mà không thọ những sự dày vò đau khổ của cơ thể, xem như đó là một hình phạt nặng nề nhất trong đời người.

Để đặt lại những câu hỏi cho rõ ràng: Do duyên gì con người sinh ra, do duyên gì con người thọ khổ? Do duyên gì con người phải chết?

(01:06:31) Để trả lời câu hỏi thứ nhất trong câu hỏi đầu: “Do duyên gì con người sinh ra?”. Câu hỏi này chia làm hai phần chính ác và thiện, nếu giảng rộng ra thì rất nhiều nghĩa nhưng tựu trung không ngoài ác thiện.

1- Phần thứ nhất, do một đại sự nhân duyên độ chúng sanh (Thiện) mà Bồ Tát phát nguyện thị hiện, do một nhân duyên từ bi vĩ đại, một tâm hồn đầy thiện pháp, đó là đức Phật Thích Ca giáng sanh tại cõi ta bà này cùng với các bậc Thánh Hiền thể hiện khắp trên thế giới

2- Phần thứ hai, do nhân giết hại chúng sanh mà ta có mặt trên đời này (Ac).

Tất cả chúng sanh đều có chung một bản năng là ham sống sợ chết. Ngay cả người nghèo khổ nhất trong đời này cũng vẫn làm lụng cực nhọc để sống qua từng ngày, vất vả gian lao như ông lão tiều phu trong ngụ ngôn La-Phông-Ten:

(01:08:14) “Xưa có một ông lão tiều phu quá già yếu, lưng còm gần sát đất, ông chẳng có con cái chi hết. Hàng ngày lên rừng đốn củi đem ra chợ đổi gạo. Một hôm ông vào rừng đốn củi, làm một bó thật to rồi vác về nhà. Trên đường về, ông dừng lại nhiều lần để nghỉ mệt. Mỗi lần dừng bước, ông thở một cách mệt nhọc, cả người ông rung lên và đầu ông choáng váng, ông mới than thân: “Phải chi mình chết cho rồi, chết là khỏe chứ thân tàn này biết mấy, sống làm chi cho khổ quá như vậy”.

Ông còn đang than thở, cầu mong cho chết thì ngay lúc đó Tử Thần hiện ra bảo ông: “Ông muốn chết thật à? Dễ lắm, tôi sẽ đưa cái vòng hái này vào cổ ông, tức khắc ông sẽ chết liền”.

Ông lão xanh mặt sợ hãi lật đật quỳ xuống lạy Tử Thần: “Kính lạy ngài, xin ngài cho con sống, dù cực khổ gian lao đến đâu con cũng chịu được, con không hề dám thở than nữa”.”

(01:09:57) Bởi thế, một kẻ quyên sinh tự tử cũng là một kẻ muốn sống mãnh liệt. Họ tự tử để trốn tránh một cuộc sống quá đau đớn hiện tại, khi mà lòng mong muốn một cuộc sống êm đềm hạnh phúc mà không còn tìm thấy nữa. Cái chết của chúng sanh ngoài sự đau đớn rã rời nơi cơ thể, còn có nghĩa là phải vĩnh biệt trần gian với bao nhiêu người thân thương quý mến. Ham sống là một bản năng mãnh liệt và chết chóc là một nỗi cực khổ ghê gớm của chúng sanh.

11- THÂN NGƯỜI LÀ QUẢ CỦA HÀNH ĐỘNG GIẾT HẠI CHÚNG SANH

(01:10:51) Thế nên sát hại chúng sanh là một điều ngăn cấm thứ nhất trong giới luật của đạo Phật. Vì đức Phật biết rõ sự giết hại chúng sanh là một điều không may mắn, không an lạc và không hạnh phúc cho kẻ giết hại. Và chính nó là nguồn gốc tạo ra thân này, nhân giết hại chúng sanh là nhân tạo ra thân mạng mình. Nói một cách khác: “Chúng ta có thân đó là quả của hành động giết hại chúng sanh và cũng vì thế khi có thân phải thọ lấy nhiều thứ khổ đau không thể đếm hết được”.

Không giết hại chúng sanh là một giới cấm rất quan trọng của đạo Phật, đó là một điều răn cấm khiến cho chúng sanh thoát khỏi thân phàm phu ô trược và không còn lưu chuyển sanh tử luân hồi nữa. Bởi vì giết hại chúng sanh là một cái tội cực ác, xâm phạm đến tính mạng, cướp lấy mạng sống của chúng sanh nên con người không thể nào thoát khỏi sự sanh tử. Nhân đoản mạng chúng sanh thì quả phải thọ lấy sự tử vong. Bởi vậy, cướp lấy mạng sống của chúng sanh, dù là loại côn trùng nhỏ nhít nhứt như: kiến, trùng, dế, mạt, rận, rệp, chí, v.v…​ chính là tạo cái quả cướp lấy mạng sống của mình ở mai sau.

(01:13:07) “Xưa, Ngài Ca Văn Thế Tôn vì cứu 98 người lái buôn đồng hành trên thuyền, Ngài nhổ cây trụ cầu đập chết tên cướp. Sau khi Ngài đắc đạo, thấy gươm bay trước mặt qua lại Ngài biết cái oan gia tiền kiếp. Ngài liền đưa bàn chân ra chịu, gươm chém nhằm ngón chân chảy máu để trả nợ máu cho xong. Sự giết hại chúng sanh dù trải qua trăm ngàn kiếp nghiệp đã tạo không mất, khi thời tiết nhân duyên đến thì quả báo tử phải thọ lấy”.

Theo lời đức Phật trong kinh giáo thì sự sinh ra con người và vạn vật cũng như chư thiên đều do nhiều nguyên nhân kết hợp nhưng nguyên nhân chính là đoản mạng chúng sanh.

Nếu một người từng giết người không gớm tay, không sợ hãi, không dày vò bởi lương tâm thì chắc chắn người này sẽ sinh vào loài súc sanh để trả cái nhân giết hại.

Người Trung Hoa có tương truyền một chuyện huyền thoại, ngăn người hung sát người hay sát hại chúng sanh:

(01:14:48) “Một gia đình kia mổ heo làm thịt thấy hai lá phổi của con heo có hiện hai chữ Tào Tháo, họ thất kinh hồn vía. Cả đời Tào Tháo chỉ gây nên chiến tranh tàn sát, chẳng đem lại chút lợi lạc cho ai. Phải chăng giết hại đó mà đời đời phải làm thân heo và trâu, bò. Khi chết trên hai lá phổi còn ghi danh tánh rõ ràng để cảnh tỉnh người sau chăng? Làm thân heo, chó, gà, vịt, cá tôm, v.v…​ Sau khi chết phải chịu phân thây cắt tiết thật là đau khổ muôn vàn!”

“Ở quê Thầy, Trảng Bàng, có hai vợ chồng ông X chuyên làm nghề đồ tể mổ heo, mổ bò. Do nghề này, ông bà làm ăn cũng khá khá nhưng có điều con cái thường hay đau ốm, không lúc nào chấm dứt bệnh tật, hễ người này mạnh thì tới người kia đau. Một hôm hai vợ chồng đánh xe bò đi mua heo về làm thịt vì là thời chiến tranh trên đoạn đường xe ông phải đi là một bãi mìn. Ông chờ cho những xe khác qua trước rồi ông mới lần lượt theo dấu xe đi sau. Bốn chiếc xe bò đi trước đã qua rồi, thấy được bình an ông liền cho xe theo sau nhưng xe ông cán phải mìn nổ tung, cả vợ lẫn chồng đều tan xác không còn tìm được một mẩu xương nguyên vẹn”.

(01:17:01) Luật nhân quả rất công bằng, dù ông có khôn ngoan thì ông cũng phải trả nghiệp trên đường tơ kẽ tóc. Bốn chiếc xe kia vẫn thoát nạn đó là không gây nghiệp nhân xấu nên vẫn tránh được mìn. Chúng ta không phải bận tâm tránh đạn né bom, cầu mong an vui hạnh phúc mà được, chỉ nên bận tâm lo tránh tội ác, chính tội ác mới chiêu cảm sinh tử, mới chiêu cảm thọ thân sau, mới chiêu cảm hầm chông, bom đạn, khói lửa, hỏa hoạn thủy tai hoặc tai nạn này tai nạn khác đến với chúng ta mà thôi.

12- CON NGƯỜI KHỔ DO THÂN, KHẨU, Ý TẠO NHÂN ÁC

(01:18:00) Để trả lời câu hỏi thứ hai trong câu hỏi đầu: “Do duyên gì con người thọ khổ?”

Này các Phật tử, các con phải biết, do hành động ác của thân, miệng và ý nên các con phải thọ khổ. Vì thế các con phải cẩn thận tức là phải có ý có tứ từng hành động. Thân khi đi đứng nằm ngồi hoặc làm tất cả những việc khác cũng như phải suy tư chín chắn rồi mới phát ra lời nói. Lời nói phải dựa vào bốn điều thiện căn bản của thập thiện. Không nên phát ngôn bừa bãi mà tạo ra nhiều thứ khổ, còn nguy đến tính mạng.

(01:19:02) “Thuở xưa, trong một cái hồ kia có một con Rùa và hai con Cò trắng thường hay tới lui làm bạn với nhau. Năm ấy trời làm đại hạn suốt một năm trời ròng rã nhưng không có một cơn mưa nào cả, nước ở trong hồ cứ cạn dần vì sự thiêu đốt gay gắt của mặt trời, cỏ lá trong hồ cũng vàng úa tàn tạ, có thể nước nóng như một chảo nước sôi vì thế loài thủy tộc chết lần chết hồi. Ở trong tình trạng đó chàng Rùa ta ngồi đứng không yên và trong đầu óc luôn luôn suy nghĩ một phương kế thoát thân khỏi cái địa ngục nóng này thì may mắn thay trong lúc ấy có hai vợ chồng Cò đến chơi, thấy lộ dáng thiểu não của chàng Rùa hai vợ chồng Cò ân cần hỏi thăm:

– Chắc có chuyện gì buồn chăng mà trông bác có dáng lo nghĩ thế?

Rùa rầu rầu đáp:

– Hai bác ơi, tôi đang gặp phải đại nạn, phen này chắc chết mà không còn gặp hai bác nữa!

(01:21:08) Chàng Cò chặn lời:

– Chúng ta là bạn thân thiết với nhau, sung sướng cùng chia thì hoạn nạn cùng chịu. Vậy bác hãy cho chúng tôi biết nguyên nhân nào làm bác phiền muộn, họa may chúng tôi có thể tìm phương giải quyết và giúp đỡ bác chăng? Chứ chưa chi mà bác đã than van thất vọng như vậy!

Rùa trả lời với một giọng lâm ly thống thiết:

– Không biết hai bác làm ăn thế nào chứ tôi hai hôm nay chưa có lót dạ nữa con tép chứ đừng nói tôm cá vì chúng đã chết sạch hết, hồ nước cạn dần thế này, trước sau thế nào cũng không thoát khỏi bàn tay độc ác của lũ mục đồng. Cách đây 5 năm tôi đã bị chúng bắt một lần, may nhờ một bà già mua đem về Chùa phóng sanh nên mới sống sót đến ngày hôm nay. Vì thế mỗi lần nghĩ đến tai nạn chết chóc tôi bắt rùng mình!

Trong lúc chàng Cò đang ra dáng suy nghĩ thì chị Cò thương hại hỏi:

– Sao bác không đi ở một nơi khác một phen xem sao, xem thế nào?

– Bác thử nghĩ xưa nay tôi có từng đi đâu, đường xá thì xa xôi nguy hiểm mà sự đi lại của tôi quá chậm chạp nên tôi nghĩ thà chết nơi chôn nhau cắt rún còn hơn.

(01:23:22) Bỗng chàng Cò ngóng cổ nói lớn lên với một niềm hy vọng:

– Thôi, bác khỏi lo, cách đây mười dặm có một cái hồ sen không khi nào cạn, mặc dù là lúc trời hạn hán, chúng tôi sẽ đem bác đến đấy, trước là giải quyết sinh kế mà sau nữa được gần gũi nhau trong lúc tối lửa tắt đèn.

Nhưng chàng Rùa vẫn lo ngại nói vẻ thất vọng:

– Trời ơi, mười dặm! Một dặm mà tôi đã đi đến chưa, huống là mười dặm, thôi! Tôi đành chịu chết vậy!

– Điều ấy bác cũng không nên lo

Chàng Cò tin tưởng nói:

– Chúng tôi đã có một phương pháp nhưng có điều hơi khó là bác cần phải bình tĩnh và can đảm.

– Bác thử nói xem.

Chàng Rùa vội vàng hỏi:

– Khó thế nào tôi cũng cố gắng.

Chàng Cò giải thích với một điệu bộ quan trọng:

(01:25:12) – Phương pháp như thế này: Hai vợ chồng tôi tha một cái cây, mỗi người một đầu còn bác thì ngậm ngay chặng giữa, chúng tôi sẽ tha bác đến cái hồ kia nhưng có một điều tối quan trọng và nguy hiểm! Bác nên nhớ, trong lúc chúng tôi bay, bác phải ngậm chặt vào cây và không được nói năng, hỏi han gì cả”.

Đến đây đã hết giờ, Thầy sẽ dừng lại, ngày mai giảng tiếp, có chỗ nào chưa hiểu hoặc còn nghi vấn một điều gì chưa rõ, các cư sĩ cứ mạnh dạn thưa hỏi Thầy. Thầy sẽ vui lòng giải thích để các cư sĩ thấu suốt đường lối tu tập của đạo Phật. Bây giờ, Thầy và các cư sĩ đồng niệm hồi hướng:

Nguyện đem công đức này

Hồi hướng cho tất cả

Pháp giới và chúng sanh

Đều được thành Phật đạo.

KẾT THÚC PHẦN 1

ĐƯỜNG VỀ XỨ PHẬT – PHẦN 2

LÒNG YÊU THƯƠNG CỦA PHẬT GIÁO

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Phật tử

Thời gian: 16/06/1990

Thời lượng: [1:26:55]

 

1- CON NGƯỜI KHỔ DO THÂN, KHẨU, Ý TẠO NHÂN ÁC

(01:00) Tiếp tục bài học hôm qua, Thầy kể tiếp câu chuyện “Con Cò Và Con Rùa”:

“  - Mặc dù gặp phải trường hợp thế nào đi nữa chỉ trong vòng nửa giờ là chúng ta đến nơi, bác nhớ nhé. Tôi dặn lại dù gặp trường hợp nào, bác cũng phải ngậm miệng không được nói năng.

Chàng rùa ra dáng điệu hiểu biết:

– Thôi, tôi nhớ mà. Hai bác xem tôi chẳng bằng con nít, dặn đi dặn lại mãi.

Sau khi sửa soạn xong chàng Cò lại tha thiết căn dặn lần cuối cùng:

– Đó, bây giờ bác muốn ho he hay nói gì thì nói đi chứ chốc nữa mở miệng thì nguy hiểm lắm đấy.

(02:02) Xong đâu đấy, cả ba làm theo ý định, bốn cánh vỗ mặt hai cặp chân cò duỗi thẳng. Chàng rùa lẳng mặt đất rồi từ từ lên cao chẳng khác nào chiếc máy bay hai động cơ. Bay được một lúc, mặc dù lần đầu tiên thấy những cảnh kỳ lạ hiện ra trước mắt, đây cánh đồng xanh rì gợn sóng như tấm nhung xanh, kìa con sông trắng phau phau nằm quằn quèo như con bạch xà lượn khúc và cây cối, nhà cửa.v.v…​ Bao nhiêu là cảnh đẹp mắt, dù đã bao lần chàng Rùa định mở miệng để hỏi cho thỏa thích tính tò mò, nhưng may thay mỗi lần định hỏi chàng lại sực nhớ đến lời dặn quan trọng của anh chàng Cò trắng.

Nếu sự đời yên ổn nói làm chi, rủi thay trên đường hành trình của chàng rùa không qua khỏi cặp mắt tinh quái của lũ trẻ. Một đứa la lớn:

– Anh em ơi ra coi đây nè, hai con cò tha một con rùa. A ha! Vui quá.

Bọn trẻ đồng la ầm lên, một thằng lớn nhất trong bọn hét lớn:

– A ha! Thật giống hai thằng mộng dắt một thằng mù, a ha! Thầy bói, thầy bói!

Không dằn được tức giận chàng rùa định bụng trả lời:

– Mặc kệ chúng tao, mắc mớ gì chúng mày. Đồ nhãi con!

Nhưng tội nghiệp thay vừa mở miệng, rùa đã rơi xuống và tan thân vì đụng nhầm một tảng đá.”

(04:27) Nhân ác có rất nhiều nhưng không ngoài 10 điều ác, cơ bản dưới đây:

1- Sát sanh

2- Trộm cướp

3- Tà dâm

4- Vọng ngữ

5- Nói hai chiều

6- Nói thêu dệt

7- Nói lời hung ác

8- Tham lam

9- Sân hận

10- Si mê.

2- GIẾT HẠI CHÚNG SANH ĐEM ĐẾN HẬU QUẢ BI THẢM

(04:55) Mười điều ác này là cái nhân khổ cho chúng sanh triền miên bất tận và trôi lăn mãi trong đường sanh tử luân hồi. Ở đây Thầy sẽ nói về điều ác thứ nhất, đó là sự giết hại chúng sanh, nó đem đến những hậu quả bi thảm cho đời người một cách ghê gớm. Chỉ vì chúng ta đang mê muội nên vui cười sung sướng trên xương máu và sự đau khổ của chúng sanh. Trong kinh Thập Giới nói: “Không nên đốt rừng núi”, nỡ nào giết chúng sanh, moi móc hồ ao, ngăn ngòi, đắp rạch đều là cách thức hại loài thủy tánh.

“Xưa thời kỳ Phật còn tại thế, có hai vị Tỳ kheo đồng đến ra mắt đức Phật. Giữa đường hết nước mang theo, trong khi khát ngặt, thấy một ao nước có trùng li ti, thầy Tỳ kheo lớn tuổi quyết giữ gìn giới không uống nước có trùng, khát quá thầy đành chịu chết. Thầy Tỳ kheo nhỏ tuổi hơn không giữ giới sát, uống no rồi đến ra mắt đức Phật. Lúc bấy giờ, đức Phật quở rằng: Ngươi là người ngu si, chấp thân mạng vô thường nghiệp báo này là chân thật, nên không giữ gìn giới hạnh. Tuy ngươi gặp ta nhưng cách ta ngàn dặm, còn thầy Tỳ kheo kia vì có tâm giữ giới, khi chết được sanh lên cõi Trời và đã gặp ta trước rồi.”

(06:52) Đây, Thầy nhắc các chú hương đăng và các cư sĩ thắp đèn dầu trên bàn thờ Phật, hay bàn thờ Tổ tiên nên để ý. Nếu không thắp đèn cũng tốt, bằng muốn làm sáng bàn thờ Phật hay bàn thờ Tổ tiên thì các con nên tìm một miếng lưới sắt che trên ống khói đèn để tránh loài vật ham ánh sáng mà bị ngọn lửa thiêu chết. Điều này do các con vô tình tạo ra nghiệp sát sanh, các con không tránh khỏi nghiệp đau khổ khi quả đến. Cho nên vô tình các con muốn làm nơi bàn Phật và bàn thờ Tổ tiên có ánh sáng, không ngờ lại tạo tội đời đời kiếp kiếp, hễ có thân là các con thường hay bị bệnh tật, đau khổ.

Trong Sa Di Luật Giải dạy: “Khi thắp đèn phải dùng những thứ the, nhiễu, giấy, lụa che kín đèn, đừng để cho những trùng, muỗi ngã vào”. Loài vật nhỏ còn thương như thế huống là loài vật lớn như chim thú.v.v..

3- HÃY CỨU GIÚP CHÚNG SANH KHI HOẠN NẠN

(08:16) Trong kinh Tạp Hữu Tạng dạy:

“Xưa có vị Hòa thượng nuôi một chú Sa di, biết chú này còn bảy ngày nữa là mạng chung mới cho về thăm cha mẹ. Chú này đi giữa đường thấy bầy kiến bị trôi theo dòng nước. Chú khởi tâm từ bi thương xót, cởi áo đựng đất, đất nước và vớt kiến lên để chỗ cao ráo.

Bảy ngày chú trở lại chùa, vị Hòa thượng thấy làm lạ bèn hỏi:

– Trên đường đi về nhà cha mẹ, con có tạo điều phước báu lớn phải không?

Chú Sa di ngạc nhiên hỏi Thầy:

– Tại sao Thầy biết được? Trên đường về thăm cha mẹ con đã cứu sống một đoàn kiến bị trôi trên nước.”

Này các Phật tử, các con phải giữ gìn cẩn thận từ hữu ý hay vô tình đừng giết hại chúng sanh, đừng ăn thịt chúng sanh. Đó là để tránh cho các con những hậu quả bi thảm và cũng để ngăn chặn ác tâm của các con trong lòng đang trỗi dậy. Ngoài việc không giết hại và ăn thịt chúng sanh, các con còn phải dè dặt có ý có tứ từng phút giây trong mỗi hành động để đối với những vật nhỏ như cá, tôm, ốc, hến, trùng, kiến, muỗi, mòng v.v…​ Bước chân đi phải chịu khó để ý tránh đạp phải bầy kiến, trùng, dế trên sân, trên lộ, côn trùng trên đất. Mỗi sức cẩn thận, ý tứ như thế đều là những công đức thiện tích lũy, bồi đắp cho chúng ta ở hiện tại và mai sau.

(10:25) Từng phút giây tu hành đúng chánh pháp của đạo Phật mà Thầy đã dạy đó là: “Các con nên xây dựng từng viên đá lòng Thiện, từng cây rươi miếng mè lòng Từ, từng tấm ngói viên gạch lòng Bi, để cùng với hồ xi măng lòng Xả, xây lên đời sống vị lai ở kiếp sau đầy hạnh phúc an vui là lòng Hỷ. Một hành vi thiện, một lời nói lành, một ý nghĩ thương yêu tức là mỗi viên đá đẹp chồng chất lên cho đời sống hiện tại và mai sau của các con đó”.

“Xưa có một anh chàng nghèo hết chỗ nói. Cả sự nghiệp của anh chỉ có một bà mẹ già và chiếc búa đốn củi. Ngày ngày đi kiếm củi về chờ đổi gạo có bao nhiêu anh cung phụng nuôi mẹ bấy nhiêu. Sống trong cảnh nghèo túng nhưng anh biết san sẻ giúp đỡ những người khác. Trong vùng, bất luận gặp một tai nạn gì anh thường giúp đỡ họ tận lực. Anh là người ở trong rừng núi nên người ta đặt anh những món tiền rất lớn để anh bắt các thú rừng hiền lành như nai, khỉ, chồn, thỏ v.v…​ Anh từ chối vì anh là một Phật tử chân chính, không bao giờ anh giết hại một sinh vật nào, dù vật ấy nhỏ như con trùng, con kiến. Chẳng những anh không bắt chúng mà còn thương yêu chúng. Anh thường hằng ngày ngồi chơi trên đồi cỏ để nhìn đàn nai hiền lành đang gặm cỏ bên anh. Những con thỏ hiền lành, anh từng vuốt ve như những con mèo của chúng ta. Vì thế mà nơi hai mẹ con anh ở được nhiều bạn bè đến chơi, đó là thú rừng, những tổ chim được lót trên cành cây bên nhà mỗi sáng chiều chúng hót vang như những bản nhạc tuyệt vời.”

Đời sống người Phật tử rất hiền hòa không thể đem tiền mua chuộc làm điều ác.

4- BẢN NĂNG HUNG ÁC TỪ NHIỀU ĐỜI KIẾP

(13:14) Con người sinh ra vốn thiện, nhưng vì ham danh lợi, tài sắc, ăn ngon, mặc đẹp nên mới tạo những điều ác. Ác từ trong tâm đến hành vi và đến lời nói.

“Một hôm thầy trò Bách Trượng đi dạo núi chơi, bỗng có hai con thỏ thấy bóng người liền nhảy ra chạy trốn.

Bách Trượng hỏi đệ tử:

– Tại sao hai con thỏ thấy chúng ta chạy dữ vậy?

Người đệ tử trả lời:

– Tại chúng nó sợ hãi.

Bách Trượng nói:

– Bậy, không phải vậy, tại bản năng hung ác của chúng ta. Chính vì bản năng hung ác của chúng ta đã huân tập nhiều đời kiếp, do đó chúng ta đã từng làm việc ác nên chúng ta phải gặt lấy những quả khổ chớ không có tạo hóa nào làm khổ chúng ta được.”

(14:15) Như đã giảng ở trên, khổ vì chính do chúng ta chớ không do ai hết. Trong cuộc đời tu hành các con muốn vào biển Phật pháp để tìm lấy sự giải thoát Sinh – Lão – Bệnh – Tử, nhưng trước tiên phải tu pháp lành, phải giữ gìn giới luật nghiêm định. Thế mà có một số người điên đảo tu hành không chịu khảo nghiệm sự thật của Phật pháp luôn luôn tháo động, kiến giải, mạt sát hạnh lành, phá giới luật, chê giới luật gò bó, không có sự giải thoát ở đó. Vọng tưởng mê chấp cho giới luật là sợi dây trói buộc làm cho người tu thiền không giải thoát như câu: “Các pháp đều không tu, không chứng, không nhân, không quả. Phật chẳng giữ giới, Phật chẳng tu hành, Phật chẳng tạo giữ, Phật chẳng tạo kinh niệm Phật, Phật chẳng lười biếng, Phật là người vô tác, v.v…​”.

(15:32) Kết quả của những kẻ này, tự suy luận kiến giải qua các câu kinh này, sống tự tại phóng tâm nên hằng đọa nơi bến mê, biển khổ phá hại Phật pháp làm cho mọi người mất niềm tin Tam Bảo, trọn đời không có nẻo thoát ly như câu chuyện “Giết Kẻ Dẫn Đường”:

“Có một đoàn thương gia dự định đến phương xa để tìm kế sinh sống. Đường đi phải trải qua một sa mạc, cả đoàn người không rành đường mới bàn tính với nhau mời một người đi theo chỉ lối, rồi họ cùng nhau khởi cuộc hành trình. Đi được nửa đường họ đến một cánh đồng bao la bát ngát, gặp một ngôi miếu thần, theo tập quán nơi đó đoàn phải giết một người tế miếu rồi mới đi qua khỏi được. Đoàn thương gia cùng nhau bàn luận riêng, ai cũng cho rằng trong bọn chúng ta đều là bà con thân thích và đồng hương, chỉ có người dẫn đường là người ngoài, chi bằng giết người này để cúng tế. Bàn tính xong xuôi, họ bèn đem người dẫn đường ra giết. Cúng tế xong họ lên đường nhưng vì không có người dẫn lối nên cả bọn lạc lõng, bơ vơ nơi sa mạc mênh mông bát ngát, cuối cùng cả bọn đều bị chết ở giữa sa mạc.”

5- THIỆN HỮU TRI THỨC, NGƯỜI QUAN TRỌNG NHẤT ĐỜI TU

(17:32) Này các con, muốn tu hành theo đạo Phật phải chọn người Thiện tri thức có đầy đủ kinh nghiệm giải thoát thật sự. Nếu không chúng ta sẽ rơi vào kiến giải do tưởng thức tạo nên. Như đoàn lái buôn kia không có người dẫn đường nên đành chết trong sa mạc. Người tu theo đạo Phật cũng vậy, nếu không Thiện tri thức, chắc chắn sẽ rơi vào mê tín dị đoan hay bị dính mắc vào danh lợi Phật pháp. Còn không thì rơi vào kiến giải tưởng thức, đó là những kẻ sưu tầm, nghiên cứu, tưởng tượng thiếu thực hành. Còn những kẻ có kiến giải, sưu tầm, nghiên cứu và có thực hành thì lại rơi vào trạng thái định của tưởng thức. Chắc chắn những lối tu theo Phật giáo như thế này sẽ không bao giờ có làm chủ được thân tâm và bị chết trong danh lợi, tài sắc mà không lối thoát.

(18:54) Thiện tri thức là một người quan trọng nhất trong đời tu hành giải thoát của đạo Phật. Nếu chưa có Thiện tri thức chúng ta hãy tìm, nhưng phải đầy đủ trí tuệ sáng suốt để chọn người Thiện tri thức như Phật đã dạy:

“Đừng tin theo lời người thuật lại;

Đừng tin theo truyền thuyết lâu đời;

Đừng tin theo lời khuyên quá cảnh cáo;

Đừng tin theo những điều ghi chép trong kinh điển;

Đừng tin theo lời phỏng đoán mơ hồ;

Đừng tin theo sự khảo sát;

Đừng tin vì bị thế lực chi phối;

Đừng tin để làm vừa lòng người đồng đạo;

Đừng tin lời kẻ khác cho là đúng chân lý;

Đừng tin vì lòng tôn kính bậc thầy tổ của mình.”

Chỉ nên tin chắc khi nào mình thực hành những điều đó đem lại sự ích lợi chân thật là mình không còn bị lệ thuộc vào tâm tham, sân hận, si mê. Những hành động thân, khẩu, ý không làm các điều ác, không gây tội lỗi đau khổ cho ai hết, không bị người thức giả chê trách. Nên tránh những giáo lý mà khi thực hành không đem lại sự lợi ích cụ thể cho mình và mọi người xung quanh, không thành tựu viên mãn được sự giải thoát cho thân tâm mình hết khổ não, phiền lụy thì nên lánh xa các pháp ấy, dù chính Phật thuyết giảng các pháp đó cũng không nên tin làm. Chỉ khi nào thực hành chứng nghiệm và xác định điều đó là thiện pháp được hàng thức giả khen ngợi.

(21:03) Xét qua những lời dạy của đức Phật trên đây chúng ta phải chọn người Thiện tri thức là người phải thể hiện được thân giáo chớ không phải là thuyết giáo suông. Người có thuyết giáo, có thân giáo là người có học, có tu chứng, có trí tuệ đầy đủ kinh nghiệm. Nhưng làm sao mà biết họ là người Thiện tri thức? Muốn biết phải xem hành động việc làm, cuộc sống của họ. Họ có biết thương người, biết thương yêu mọi người hay không? Có thị hiện được tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả hay không? Họ có sống đúng với giới luật hay không? Vì giới luật của Phật là thước đo Thiện tri thức. Chúng ta dựa vào đó mà chọn Thiện tri thức hay lánh xa Ác tri thức.

Trong cuộc đời tu hành theo đạo Phật chúng ta đã chọn mặt gửi vàng, chọn đúng người đã gởi thân tâm mình, quyết liều chết mà tìm chơn giải thoát. Sống gần gũi bên Thiện tri thức chúng ta thường bắt chước tập theo hạnh của Người thì sự tu hành của chúng ta có kết quả tốt. Chọn được bậc thầy có đức hạnh và giới luật nghiêm túc, lại thêm thiền định sâu mầu đó là một phước báu rất lớn và hy hữu cho kẻ nào may mắn.

(22:52) Đến đây là những mẩu chuyện nhỏ trong đời đức Phật chứng minh cụ thể hùng hồn đức Phật là một đại Thiện tri thức, một tâm hồn thương yêu đệ tử vô bờ bến, một tấm lòng từ bi đối với chúng sanh như hư không, biển cả.

“Một hôm đức Phật và thầy thị giả đến một khúc đường rẽ đôi, đức Phật dự định quẹo phải, thì thầy thị giả lên tiếng:

– Bạch đức Thế Tôn đệ tử hữu sự rẽ trái.

– Này Nagasamala không nên, Như Lai có duyên sự quan trọng cần phải độ sanh ở phía tay phải.

– Đệ tử hữu sự muốn rẽ tay trái.

Đức Phật nói như năn nỉ:

– Này Nagasamala, không nên. Như Lai có duyên sự quan trọng cần phải độ sanh ở phía tay mặt. Đừng làm như vậy, hãy theo Như Lai đi về tay phải.

Mặc đức Phật ba lần ngăn cản nhưng Nagasamala không tuân lời, cuối cùng thầy bỏ bát của đức Phật giữa đường và liền đi về tay trái theo sở thích. Đức Phật lượm bát một mình thui thủi hướng về phía tay mặt.

(24:29) Một lần khác thì Mê-khí-dá làm thị giả theo đức Phật đi qua làng Chanh-tu tỉnh Ba-chi-na-sa-sa. Buổi sáng thầy đi khất thực với đức Phật, lúc trở về thì thấy một vườn xoài sum suê mát mẻ, thầy nảy sinh ý định đến đây tham thiền bèn bạch Phật xin phép. Đức Phật khuyên ngăn ba lần nhưng thầy Mê-khí-dá một mực cãi lời, bỏ đức Phật một mình và ra đi về phía vườn xoài để hành đạo.

Cuối cùng những người này trở về lễ Phật xin sám hối. Đức Phật chẳng những không để tâm về những hành động nông nổi gần như phạm thượng của các thầy, mà trái lại đức Phật còn dùng những lời từ mẫn khuyên lơn.”

Những hành động từ bi như thế thật khó kiếm được trên đời này. Hành động từ bi bao dung của Thiện tri thức là một bài học cụ thể nhất. Đó mới gọi là thân giáo, nhờ đó chúng ta tiếp nhận và chịu ảnh hưởng sâu đậm. Lúc bấy giờ mới phát khởi tình thương yêu chân thật.

Nhưng muốn có lòng thương yêu chân thật thì phải tu cách nào? Như vừa giảng ở trên phải được Thiện tri thức thân giáo thì tâm từ bi mới phát hiển.

6- NGƯỜI Ở ĐỜI CHƯA CÓ TÌNH THƯƠNG CHÂN THẬT

(26:20) Này các các cư sĩ, các con phải suy tư cho rõ ràng người ta ở trong đời chưa bao giờ có tình thương chân thật. Các con sẽ bảo Thầy nói điều này là không đúng sự thật vì cha mẹ thương con, con thương cha mẹ sao lại nói không tình thương.

Này các cư sĩ, nếu bảo có tình thương thì tình thương ấy là tình thương đổi chác. Ví như chúng ta đến nhà một người bạn chơi thường mua bánh, trái cây làm quà cho các em bé. Các em bé này vừa thấy chúng ta là chạy ra mừng vui hớn hở, đó là các em tỏ tình thương yêu chăng? Tình thương yêu của các em không phải vì thương, mà vì bánh. Nhưng hành động cho và hành động vui lòng nhận đó mới là bắt đầu tập có tình thương yêu cả hai bên.

Khi chúng ta không có dịp đến thăm thường, hoặc chúng ta bị bệnh chết, chúng được tin người cho bánh không còn ở trên trần gian hay không còn gặp nhau nữa thì các em bùi ngùi nhớ, khóc. Đó là sự nhen nhúm mới chút ít tình thương mà thôi.

Tình thương đối với cha mẹ do công ơn sinh thành dưỡng dục có phải tình thương chân thật chăng? Đó là tình thương vì ơn sinh thành dưỡng dục đùm bọc, nuôi nấng chớ không phải tình thương là tình thương.

(28:12) Tại sao người kia không sanh thành dưỡng dục mình có thương chăng? Cũng như cha mẹ thương con vì máu thịt của mình sanh ra, chớ sao con của người khác mình không thương? Do đó mới có mẹ ghẻ con chồng. Vậy chúng ta thương cha mẹ vì ơn sanh thành dưỡng dục cũng như cha mẹ thương con vì máu thịt của mình chớ không phải tình thương người. Bởi vậy muốn có tình thương chân thật chúng ta phải hành, chúng ta hãy tập thương yêu.

7- CÁCH TẬP THƯƠNG YÊU

(28:52) Này các con, tập thương yêu như thế nào?

Tập thương yêu có nhiều cách. Đầu tiên chúng ta hãy tập ăn rau cải, tương, dưa. Có nghĩa là chúng ta tránh khỏi sự đau khổ của chúng sanh, nói đúng hơn vì chúng ta sợ quả đau khổ của chính mình.

Trong kinh Phật dạy rất đầy đủ ý nghĩa nhưng người ta hiểu ở một góc độ lý thuyết như bảo: “Ăn chay, làm lành lánh dữ”, lời dạy này rất đúng chớ không phải sai nhưng phải hiểu đây là lời dạy bằng ngôn ngữ suông. Nói một cách khác cho dễ hiểu đó là lý thuyết. Vì thế gian hiện nay người ta tu theo đạo Phật bằng những ngôn ngữ lý thuyết như câu: “Ăn chay, làm lành lánh dữ” là một trong những lý thuyết khác. Cho nên người tu hành không hiểu trọn vẹn những hành động tu hành như thế nào đúng? Như thế nào sai? Và lời dạy nào đúng, đầy đủ sự thực hành và ý nghĩa giải thoát. Sự thật nếu lời dạy có đầy đủ kinh nghiệm thực hành, nhờ thế chúng ta mới tạo nên một nền tảng vững chắc đức hạnh giới luật để xây dựng một ngôi nhà thiền định trí tuệ vĩ đại của đạo Phật.

(30:40) Này các cư sĩ, ăn chay có nghĩa là mới bắt đầu tập luyện lòng thương yêu, tâm đại bi. Muốn tập luyện tâm đại bi mà không hiểu được ý nghĩa ăn chay thì làm sao có tâm lớn, nếu như nói: “Ăn chay, làm lành lánh dữ” câu này có nghĩa trốn tránh thụ động. Chẳng hạn giặc cướp đến nhà bắt cha mẹ khảo tra lấy tiền của thì bấy giờ chúng ta đánh trộm cướp để cứu gia đình mình hay chạy trốn? Nếu bảo vì ăn chay, chúng ta không giết bọn cướp thì cha mẹ chúng ta sẽ bị chết hoặc của cải bị cướp phá. Vậy nói làm lành là làm như thế nào? Và lánh dữ là lánh như thế nào? Đừng ngồi đó mà tưởng tượng thế gian này như một cục đất. Cho nên lời nói: “Làm lành lánh dữ” là một lời nói suông khó mà ai làm được, làm tròn và lánh dữ trọn vẹn. Cuộc đời người ta không cho phép mình “Làm lành lánh dữ” bằng cách trốn chạy thì tâm hồn chúng ta sẽ giày vò và đau khổ như câu chuyện con rắn mà Thầy đã kể ở đoạn trên.

(32:26) Mục đích của đạo Phật là giải thoát thân tâm, vậy ăn chay là một pháp môn đầu tiên để chúng ta tập luyện cho mình có một lòng thương yêu mọi người rất chân thật, không có nghĩa đổi chác. Nếu muốn có sự giải thoát ở tâm mình đứng trước một xã hội loài người, tâm tánh mọi người rất phức tạp điêu ngoa, xảo trá, hung ác, đầy mưu mô, thủ đoạn v.v…​ Nếu chúng ta thiếu lòng thương yêu chân thật thì chúng ta sẽ tự thọ lấy biết bao nhiêu thứ phiền não, đau khổ muôn vàn, không thể nào lường hết được. Bởi vậy chúng ta hãy tập thương yêu, tập thương yêu là phải ăn rau cải, tương, dưa, muối. Tránh sự đau khổ, tránh sự chết chóc của muôn loài, muôn vật. Đó là chúng ta tập nuôi lớn tình thương yêu. Nhưng phải hằng ngày biết nhìn mọi sự đau khổ chết chóc của chúng sanh như chính sự đau khổ chết chóc của chính mình. Nhờ sự nhen nhúm tình thương yêu đó, lâu ngày lòng thương yêu chúng ta mới thực sự có thương yêu.

(34:00) Chúng ta hãy đứng nhìn cái chết một con kiến đang lăn lộn trên mặt đất. Chúng ta đừng vô tình thản nhiên đi qua sự đau khổ ấy. Chúng ta hãy lặng người bùi ngùi trong lúc con kiến xuôi tay chân ra đi trong cõi chết, như đứng trước một người thân của mình. Không bao giờ chúng ta có được lòng thương yêu này nếu chúng ta không chịu khó tập luyện. Sự thương yêu này sẽ xây cho chúng ta một lầu đài bốn tâm vô lượng, đó là từ, bi, hỷ, xả. Bốn tâm này đã thành hình nơi một tâm hồn của chúng ta thì chắc chắn sự giải thoát nơi tâm hồn của chúng ta không còn tham, sân, si nữa. Không còn phiền não đau khổ lo âu suy tính nữa. Tại sao vậy?

Nền tảng vững chắc cho lâu đài giải thoát tâm hồn chúng ta phải xây dựng bằng tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả. Thiếu bốn tâm này không bao giờ có sự giải thoát chân thật, thiếu bốn tâm này chẳng bao giờ chúng ta có được thiền định sâu mầu. Cho nên sự không giết hại chúng sanh là một hành động ngăn ác để tăng trưởng việc thiện, để nuôi dưỡng lòng thương yêu. Nói một cách khác để xây dựng Bốn Tâm Vô Lượng.

(35:51) Không giết hại chúng sanh đó là hành vi thứ nhất. Trong luật nhà Phật dạy hoặc mình giết, đây là nghiệp thân, nghiệp gây tội, nghĩa là mình thân hành làm việc sát hại hoặc lấy tay, chân, dao, gậy, ngói, đá, v.v…​ Đánh cho nó chết; hoặc đứng xa quăng liệng cho nó chết; hoặc cho nó uống thuốc độc; hoặc xô nó rớt trong hầm, giếng nước, lửa; hoặc cầm gươm, đao đâm chết; hoặc xúi người giết, xúi người đây thuộc về khẩu nghiệp gây ra tội ác nghĩa là xúi người khác giết, muốn tìm người khác giết; hoặc thêu dệt cho người khác tức giận mà giết người; hoặc khen tặng làm cho người khác hừng chí giết hại; hoặc mắng nhiếc; hoặc vu oan giá họa làm tức tối người khác để tự tử chết; hoặc trù ẻo cho nó chết; hoặc yếm bùa chú làm cho nó chết; hoặc thấy người khác giết mình vui theo tùy hỷ đây là do ý nghiệp ác sanh ra tạo tội. Nghĩa là thấy người khác làm việc sát hại mình tùy thuận mà sanh lòng hoan hỷ; hoặc suy tư một âm mưu để giết người, hại người đều đồng một tội như người cầm dao giết người.

(37:47) Không sát hại chúng sanh mà còn phải biết khởi tâm thương yêu.

“Thuở xưa có một vị tu sĩ đi khất thực chợt thấy một người hàng thịt dắt một con con chó về nhà toan làm thịt mà ăn.

Vị tu sĩ thấy vậy động lòng thương nói rằng:

– Anh ơi, trong đời chỉ có tội sát sanh là lớn hơn hết, xin anh mở lòng Từ Bi mà cho con chó ra.

Vị tu sĩ hết lời yêu cầu khẩn thiết mà người ấy nằng nặc quyết một là muốn ăn thịt con chó đó mà thôi. Vị tu sĩ không biết liệu làm sao bèn bốc cơm trong bát cho con chó ăn rồi rưng rưng nước mắt mà chú nguyện thầm:

– Ôi! Chẳng biết kiếp trước nhà ngươi làm điều chi ác mà mắc tội rất nặng nên đã làm thân súc sanh mà lại chẳng vẹn toàn tính mạng. Đến nỗi này, còn bị người phân thây xẻ thịt mà ăn là khác nữa. Nay ta nguyện cho nhà ngươi đời đời tội hết, phước sanh, lìa thân khổ thú, mau đặng sanh lên làm người sớm gặp minh sư, quy y Tam Bảo.

(39:28) Vị tu sĩ chú nguyện vừa xong thì con chó cũng ăn hết bát cơm lại quắc đuôi ra lộ vẻ mừng rỡ dường như tỏ dấu vâng lời. Thảm thay người hàng thịt đem con chó về nhà hạ sát rồi mời thân bằng đến ăn uống hỉ hả. Tất cả chỉ vì cho ngon miệng và no bụng mà quên sự quả báo ngày sau.”

8- MUỐN HÒA BÌNH THẾ GIỚI THÌ KHÔNG SÁT SANH

(40:03) Từ ngàn xưa cho đến hôm nay chúng sanh vì sự sát hại nhau, ăn thịt lẫn nhau vì thế khắp trên thế giới lúc nào cũng có chiến tranh, không đất nước này thì đất nước khác. Bởi vậy, thế giới bị binh đao khói lửa cũng đều do nghiệp sát sanh của chúng sanh chung tạo nên. Muốn mọi người chấm dứt nghiệp sát sanh, thế giới sẽ được hòa bình, vì thế trong kinh Phật đã dạy:

“Nhất thiết chúng sanh vô nghiệp sát

Thập phương hà xứ động binh đao

Gia gia, hổ hổ đồng tu thiện

Thiên hạ hà cầu bất thái bình.”

Xin tạm dịch:

“Nếu mọi chúng sanh chẳng sát sanh

Mười phương đâu có động binh đao

Nhà nhà, trai gái đều tu thiện

Thiên hạ lo chi chẳng thái bình.”

(41:42) Khắp trên thế giới mọi người đang khẩn thiết kêu gọi hòa bình vì họ rất sợ đại chiến thế giới thứ ba bùng nổ, nguyên tử sẽ tiêu diệt loài người. Nhưng sẽ không bao giờ có hòa bình, tại sao vậy?

Nếu con người còn sát sanh hại vật, nếu con người chưa tập luyện thương yêu nhau thì dù cho các nhà chính trị tài ba lỗi lạc đi tìm hòa bình thế giới bằng các phương pháp chuyên môn của họ nhưng vẫn chẳng đình chỉ được chiến tranh.

Chúng ta cứ nhìn cuộc sống của con người hiện nay mà biết được thế giới có hòa bình hay không?

Nếu con người chưa biết thương yêu nhau chân thật. Con người còn vì ăn ngon mặc đẹp, còn muốn hơn mọi người, còn giết hại chúng sanh để mà ăn thịt, chẳng có chút lòng thương yêu nhau thì không bao giờ con người có hạnh phúc và thế giới chẳng bao giờ có hòa bình. Hiện giờ chúng ta muốn có hạnh phúc, an lạc, hòa bình thế giới, chúng ta phải làm sao?

(43:42) Chúng ta đi tìm hạnh phúc cho mọi người trong đó có mình, cho hòa bình thế giới thì không gì hơn hết bằng sự giữ gìn giới sát nơi bản thân mình và từng phút giây phải tập, tu tập thương yêu tất cả chúng sanh. Phải biết khóc trước cái chết của một con vật, phải biết đau lòng trước cơn bệnh của người khác như chính mình. Khi nào hầu hết mọi người đều giữ được giới sát và thương yêu nhau, đùm bọc lẫn nhau thì khi đó các nhà chính trị mới có giải pháp hòa bình vững chắc mà khỏi phải đi tìm nơi đâu hết. Chính thiện nghiệp bất sát của mọi người chung góp lại mới có thể đem đến nền hòa bình trường cửu cho nhân loại.

9- THƯƠNG YÊU BẰNG HÀNH ĐỘNG CỨU MẠNG CHÚNG SANH

(44:58) Này các cư sĩ, một hôm nào đó các con đến nhà một người quen chơi. Người ấy bảo vợ làm thịt gà để đãi các con, nếu các con thản nhiên làm thinh để cho người ta làm thịt gà, trước sự chứng kiến của các con và đồng tình để ăn thịt thì bảo rằng các con dự vào sự giết hại như chính các con cầm dao giết hại con vật. Bởi vậy các con nên nhớ giới không sát sanh còn có một ý nghĩa tích cực thương yêu bằng hành động cứu lấy mạng sống chúng sanh khi mà mình có thể ngăn được. Bất cứ khi nào có dịp, có điều kiện các con hãy tìm cách cứu lấy mạng sống của muôn loài, cản người giết thú, khuyên người ăn chay, mua chim cá phóng sanh đều là hành động cứu mạng chúng sanh một cách tích cực.

(46:58) Thầy có một người đệ tử rất là giàu có, tỷ phú thường mua hết cả chim, rùa ở Thành phố Hồ Chí Minh phóng sanh. Do hành vi cứu mạng sống của loài vật nên trên bước đường làm ăn nhiều khi xảy ra những tai nạn lưu thông hoặc tất cả những việc khác, có điều là vượt thoát một cách rất là bình an. Chính thiện nghiệp tích cực này sẽ đem mọi sự an vui và sức khỏe cho chúng ta ở ngày mai.

Cách đây hơn một năm có một người cư sĩ ở Đà Nẵng về thăm chùa thuật lại cho Thầy nghe một câu chuyện:

“Ông cư sĩ này có một người bạn chuyên làm nghề bẫy rập chim đem bán, ông này chứng kiến một trận lụt cuốn trôi nhà cửa, người, vật. Từ đó ông hồi tâm tỉnh ngộ, bỏ nghề và phát nguyện mua chim cá phóng sanh, bố thí với đồng tiền kiếm được của một người giáo viên. Dịp may đến ông ta về thành phố Hồ Chí Minh được bạn bè giúp đỡ ông trở thành triệu phú nhưng vẫn làm hạnh phóng sanh và bố thí đều đặn. Cuộc sống của ông bây giờ rất là hạnh phúc, an vui.”

(49:02) “Ở Trảng Bàng quê Thầy có ông X, thuở nhỏ nhà nghèo ông phải đi ở cho nhà giàu đem tiền về cho cha mẹ. Mỗi khi trông thấy các đứa trẻ đồng trang lứa dùng ná bắn chim ông đến ngăn cản, còn phần ông khi có tiền ông đều mua chim cá phóng sanh. Lớn lên ông vào làm công cho một hiệu kim hoàn vẫn giữ hạnh phóng sanh không ngừng nghỉ. Người chủ hiệu thấy ông hiền lành đức hạnh nên gả con gái và dạy nghề cho ông. Ông nhanh chóng trở thành một chủ nhân giàu có. Do phước lành này ông sanh được những người con hiếu hạnh, thuận thảo và đẹp lòng hơn nữa, chiêu cảm thiện pháp cả dâu và rể cũng đều hiếu thảo, biết vâng lời. Thiện nghiệp đưa đẩy khiến ông đến gặp Thầy để xin học hỏi những phương pháp tu hành đúng chánh pháp của đạo Phật.”

Giữ giới sát chúng ta phải hiểu trên hai ý nghĩa: tiêu cực và tích cực.

(50:49) Tiêu cực là không làm tổn hại đến sinh mạng của chúng sanh, không đoản mạng chúng sanh. Nghĩa là không tự tay mình giết, không xúi người giết, không xu hướng vui theo người giết và không gián tiếp sát sanh bằng cách ăn thịt chúng sanh. Còn tích cực là đem mọi khả năng của mình để cứu mạng chúng sanh, như vớt một con kiến ra khỏi vũng nước, như cứu một con trùng bò trong bếp lửa, như ngăn cản một con mèo đang bắt một con chuột, như mua chim cá phóng sanh, khuyên người đừng giết hại chúng sanh.

10- THƯƠNG YÊU BẰNG HÀNH ĐỘNG HY SINH CỨU NGƯỜI

(52:10) Chuyện “Linh Mục Kolbe” cũng khá cảm động:

“Linh mục Kolbe thuộc dòng thánh Phanxicô ở Ba Lan bị lính Đức bắt giam vào một trại tù khi đoàn quân Đức tràn qua chiếm Ba Lan hồi đệ nhị thế chiến. Một hôm bất ngờ có người vượt ngục trốn thoát, sĩ quan Đức tập hợp tất cả tù nhân và tuyên bố tử hình mười người để đền lại cho một người vượt ngục kia. Hắn rảo qua đám tù xem mặt ai đáng ghét thì đưa tay chỉ vào mặt nói: “Mày”, thế là lính Đức xông tới kéo người xấu số đó đứng riêng khỏi hàng ngũ. Có một thanh niên, khi vừa chỉ mặt liền rú lên: “Con ơi, em ơi,” nghĩa là anh ta có vợ con ở nhà. Khi đã chọn xong mười người tử tội, chợt có một người thứ mười một trầm tĩnh bỏ hàng ngũ tiến về phía tên sĩ quan Đức, đó là linh mục Kolbe.

(54:05) Linh mục Kolbe đã là một linh mục mẫu mực xứng đáng trong việc truyền giáo. Ông đã từng mở một tờ báo để phổ biến giáo lý rộng rãi trong quần chúng. Khi Đức chiếm Ba Lan, ông cũng bị bắt trong đám tù. Ở trong tù thức ăn thiếu thốn nhưng ông luôn luôn xén bớt phần ăn của mình để tặng cho người tù nào có vẻ mệt mỏi. Hôm đó ông được cho nằm trên chiếc giường nệm nhưng ông đã nhường cho người bạn nào phải bệnh và mình thì nằm dưới đất.

Hồi ông còn nhỏ, có lần ông nằm mộng thấy đức Mẹ Maria hiện ra cầm hai chiếc mũ trắng và đỏ, hỏi ông chọn chiếc nào?

Ông hỏi ý nghĩa mỗi chiếc, đức Mẹ đáp: “Chiếc mũ trắng là trọn đời hiến mình cho đạo. Chiếc mũ đỏ là tử vì đạo”, ông lẳng lặng cầm chiếc mũ đỏ.

(55:58) Giờ đây ông đang bước về phía trước, tên sĩ quan Đức quắc mắt hỏi: “Con heo Ba Lan này, muốn gì?” Người tây phương hay chửi nhau bằng thú vật.

Thong thả, trầm tĩnh và vô biên, ông chỉ người thanh niên trong đám tù tử tội và nói: “Tôi xin được chết thay cho người này vì anh ta có vợ con đang chờ, còn tôi thì không có ai chờ đợi”.

(56:54) Sững sờ vì kinh ngạc, tên sĩ quan Đức trố mắt lặng im và cuối cùng gật đầu. Thế là người thanh niên được trở về hàng ngũ cũ, còn linh mục Kolbe được xếp vào mười người tử tội đem nhốt riêng trong một trại giam hầm tối. Mỗi sáng lính Đức xuống dẫn một người đem bắn. Những đêm trước đó linh mục Kolbe đã thức suốt để an ủi và cầu nguyện cho họ làm vơi bớt nỗi khổ đau, sợ hãi. Đến ngày thứ mười linh mục Kolbe được tiêm thuốc thay vì đem bắn.

Sau này tòa thánh Vatican có làm lễ phong Thánh cho Cha, có hai vợ chồng và đứa con người thanh niên kia đến dự.”

11- THƯƠNG YÊU BẰNG HÀNH ĐỘNG NHẪN NHỤC

(58:35) Tích cực không sát sanh tức là tập thương yêu chúng sanh, thà chúng ta chịu chết để chúng sanh sống, thà chúng ta chịu oan ức mà cứu được mạng sống của chúng sanh như câu chuyện “Nắm Hạt Trai”:

“Hôm nay theo thứ lớp đi khất thực, một vị Khất sĩ tu theo phái đạo Phật phải đặt chân vào một chiếc cổng cổ kính nhưng không kém phần tráng lệ và mỹ thuật của một thương gia giàu có. Ông này có tiếng chuyên môn buôn bán lớn về ngọc ngà, vàng bạc. Vị Khất sĩ đưa tay ấn nhẹ cánh cửa cổng rồi khoan thai bước vào. Người thong thả duỗi bước theo hàng rào để lần đến một nếp nhà cao sang nằm chểnh vểnh giữa một khu vườn vuông vắn. Chung quanh Người hoa lá đang nhộn nhịp trong nắng ban mai và trước mắt Người cảnh giàu sang đang được phô bày diễm lệ.

(01:00:42) Nhưng bình minh trong sạch như lòng vị Khất sĩ. Vị Khất sĩ vẫn trầm tĩnh, nét mặt vẫn bình dị, đôi mắt Người vẫn dịu hiền và cả nụ cười không thay đổi ý nghĩ giải thoát của một nhà tu hành đạo Phật.

Xa xa đàn ngỗng trắng đang đùa giỡn trên đám cỏ xanh mềm, bỗng chúng cất tiếng kêu vang làm ngưng tai vị thương chủ giữa lúc ông ta đang chọn lấy mấy hạt trai để xâu lại thành chuỗi.

Đạo sĩ khất thực, cả một hình dáng yên lặng và thanh tịnh đang nhẹ tiến về phía người thương gia. Sung sướng, người thương gia để luôn cả nắm hạt trai xuống đất, chấp tay vái chào đạo sĩ, rồi vội vàng đi lấy cơm dâng cúng cho Người.

(01:02:16) Trong lúc ấy, đàn ngỗng đứng bên cạnh trông thấy nắm hạt trai óng ả. Chúng lầm tưởng một món ăn ngon, quên cả sự có mặt của đạo sĩ, một con lớn nhất trong đàn lanh lẹ chạy đến và nuốt đi mấy hạt trai. Đạo sĩ hoảng hốt đưa tay đuổi nhưng muộn lắm rồi, cả nắm hạt trai trong nháy mắt đã dễ dàng trôi qua cổ họng con ngỗng khốn nạn. Trong trường hợp này đạo sĩ tự thấy lo ngại, nhưng Người trầm tĩnh lại ngay và yên lặng chờ đợi.

(01:03:23) Giữa lúc người thương chủ đã từ nhà đi ra mang theo một bát cơm sốt dẻo, chàng cung kính quỳ trước đạo sĩ để dâng cúng cho Người. Nhưng chàng vẫn sửng sốt, kinh lạ khi nhìn lại nơi chàng để nắm hạt trai. Một lần nữa chàng đưa mắt nhìn kĩ xung quanh và nhìn lại nơi để nắm hạt trai, rồi bỗng chàng đưa mắt nhìn đạo sĩ mà Người đang im lặng đứng trước mặt chàng. Chàng đứng ngay dậy, tay chàng run lên, mắt chàng như nảy lửa và chàng cất tiếng mỉa mai:

– Chắc đạo sĩ không lạ gì trước cử chỉ thất lễ đột nhiên của tôi chứ? Mong người trả lại nắm hạt trai quý giá cho chúng tôi.

Trước cử chỉ và lời lẽ của thương chủ, vị tu sĩ khất thực vẫn bình tĩnh không trả lời.

(01:05:02) Thái độ im lặng và thản nhiên của đạo sĩ càng làm cho thương chủ tức giận sôi gan. Chàng lớn tiếng mắng đạo sĩ và gọi gia đinh bắt trói đạo sĩ lại. Đồng thời cho mời hương chức làng để tra hỏi, nhưng đạo sĩ vẫn im lặng chịu đựng trước những lời lẽ đương nhiên chua chát của thương chủ. Trước hình phạt tra tấn của hương chức, nhưng sức người có hạn đạo sĩ không chịu đựng được nữa, Người té xỉu và ngất lịm trên vũng máu.

Giữa lúc ấy con ngỗng trắng khốn nạn kia bỗng cất cánh bay lại bên đạo sĩ chìa cổ hút lấy dòng máu. Sẵn cơn tức giận, thương chủ không một thương tâm tha thứ, chàng xách gậy chạy đến và đánh chết ngay con ngỗng.

(01:06:41) Vị đạo sĩ vừa hồi tỉnh, nghe động đưa mắt nhìn sang, người hoảng hốt kêu cứu cho con ngỗng, nhưng làm sao kịp nữa. Con ngỗng đáng thương của đạo sĩ chỉ còn là cái xác không hồn. Động lòng từ bi, đạo sĩ cố lần lại bên thi hài con ngỗng. Người đưa tay vỗ về và lăm răm đọc kinh cầu nguyện. Cử chỉ tự nhiên, thái độ chí thành thương yêu của đạo sĩ trong sự cầu nguyện đã làm cho thương chủ im lặng quên cả sự đánh mắng. Vài phút sau đạo sĩ đứng dậy và chậm rãi nói với người thương chủ:

– Nắm hạt trai của ngươi chính con ngỗng này đã nuốt vào bụng nó trong khi người vắng mặt.

(01:08:16) Nghe xong, thương chủ vội bảo người nhà đem mổ bụng con ngỗng để chàng xem hư thật. Quả như lời đạo sĩ, nắm hạt trai óng ả được đưa ra với nắm ruột khốn nạn của con ngỗng bạc phước. Thương chủ vừa trông thấy, chàng liền sụp đầu sát chân vị đạo sĩ, cầu xin người mở lượng từ bi cho chàng sám hối. Chàng than phiền:

– Sao đạo sĩ không cho tôi biết trước, để tôi lầm lỗi như thế này?

Một câu nói đầy ý nghĩa đã vội mở trên đôi môi của vị đạo sĩ:

– Hỡi thương chủ, lòng từ bi không giới hạn, ta đã nguyện mở rộng trước mọi đau khổ của chúng sanh. Vì thế nếu ta đem chuyện con ngỗng lầm dại nói ngay với ngươi từ trước, như vậy là ta đã gián tiếp giết hại con ngỗng. Việc ấy ta không bao giờ làm, vả lại ta không thể trái lời Phật dạy: “Manh tâm lưu hải cho chúng sanh, chỉ vì sự an lạc nhỏ hẹp của chúng sanh.”

(01:10:35) Thương chủ như mở bừng đôi mắt, đến đây chàng mới nhận rõ cái cử chỉ yên lặng từ trước của đạo sĩ là một ý nghĩa cao quý làm sống lại lời dạy của đức Phật và tỏ rộng đạo từ bi. Chàng tự than nếu tất cả nhân loại và chúng sanh ai cũng biết sống đúng theo lời của Phật dạy và thực hành theo hạnh từ bi như vị đạo sĩ thì còn đâu nữa mọi nỗi đau khổ của cuộc đời. Hơn nữa muốn biết xem thường vật chất thì đến nỗi nào phải tối tăm và lầm lỗi như chàng đã lầm lỗi.

(01:11:45) Giờ phút này lòng chàng như cởi mở và rộng rãi bao la. Đưa mắt nhìn về dĩ vãng, chàng cảm thấy chàng như một căn phòng tối tăm thấp thoải. Và có lẽ từ đây chàng không thể sống lại một cuộc đời nhỏ hẹp chỉ biết lo với vàng bạc, ngọc ngà. Chàng cũng không thể sống lại một cuộc đời nô lệ đầy tội lỗi chỉ biết tìm lạc thú để cung cấp cho tự thân. Một ý niệm trong đẹp nảy nở trong tâm thức chàng. Chàng phải từ rải tất cả để đền trả tội xưa. Chàng phải từ rải tất cả để làm những gì mà lòng chàng ao ước hoài vọng. Đưa mắt nhìn lại ngôi nhà sang trọng của mình rồi chàng mạnh mẽ hướng về đạo sĩ. Chàng cúi đầu đảnh lễ và cầu xin noi chí rộng rãi của Người. Chàng phát nguyện chàng sẽ là một viên đá nhỏ trong vô số viên đá khác để chung góp xây đạo từ bi. Chàng sẽ là một tia sáng nhỏ trong vô số tia sáng khác để cùng nhau nêu cao lời Phật dạy, để đem lại hạnh phúc giải thoát và giác ngộ cùng khắp cho tất cả mọi loài chúng sanh.”

(01:14:03) Bởi vậy, chiến tranh làm gì có khi người ta biết giữ giới không sát sanh. Hung dữ, gian ác, trộm cướp làm gì có, khi người ta biết thương nhau. Trên đời này chỉ có tình thương chân thật mới đem đến hạnh phúc cho muôn người. Vì thế giới luật của đạo Phật, giới sát là thứ nhất, đó là cơ bản nền tảng vững chắc của hạnh phúc đời người. Muốn gia đình hạnh phúc an vui, xã hội đoàn kết, thế giới hòa bình mà không tập luyện tình thương yêu thì không khi nào có hạnh phúc, có đoàn kết, có hòa bình. Muốn tập luyện lòng thương yêu mà còn sát hại chúng sanh; còn muốn ăn thịt chúng sanh; còn nhìn trước cái đau khổ chết chóc của chúng sanh với một sự vui sướng thản nhiên như không có sự đau khổ chết chóc thì không bao giờ có tình thương. Và đã không có tình thương thì làm gì có hạnh phúc, có đoàn kết, có hòa bình.

12- THƯƠNG YÊU BẰNG HÀNH ĐỘNG SẺ CHIA

(01:15:45) Này các cư sĩ, trong cuộc Đại chiến thế giới thứ hai, người ta kể lại rằng:

“Trong một bãi chiến trường, chỉ còn xác chết của quân lính Nga và lính Đức nằm ngổn ngang. Trong lúc đó có hai người lính bị thương, một người là người Nga, một người là người Đức. Hai người cùng nằm gần bên nhau, chỉ nhận ra tiếng rên khe khẽ mới biết là hai người còn sống. Mặc dù trong chiến trận, hai người là kẻ thù nhưng trong cảnh đau đớn của vết thương hai người vẫn thấy sự đau khổ như nhau. Tuy không trao đổi với nhau được lời nào nhưng nhìn sắc phục họ cũng biết người bên cạnh mình là địch thủ. Người lính Nga biết mình không thể sống thêm được nữa vì vết thương quá nặng trong khi tuyết xuống quá lạnh. Người lính Nga thấy người lính Đức đang thiếp vào giấc ngủ ngon lành biết người này sẽ còn sống được. Người lính Nga cố gắng cởi chiếc áo của mình rồi đem choàng cho người lính Đức. Anh lăn ra nằm co cóng dưới trời tuyết lạnh buốt mà chết.”

(01:17:31) Đến phút cuối cùng người ta mới thể hiện được tình thương, mới tập được thương yêu, phải chi người ta biết thương yêu nhau ngay từ lúc đầu thì thế giới đâu có chiến tranh, máu xương đâu có phủ đầy trên chiến địa.

Này các cư sĩ, trong một thời xa xưa đức Phật là một vị vua, tên là Thi Thiệt.

“Một hôm có một con chim Bồ câu bay thẳng vào lòng nhà vua tỏ vẻ sợ hãi, kêu nhà vua cứu mạng.

Chim Cắt bay tới đứng ở trên điện nói:

– Tâu Bệ hạ, xin ngài trả lại cho tôi con chim bồ câu ấy.

Đáp: – Trả cho người để làm chi.

– Tâu Bệ hạ, nó là món ăn của tôi, tôi đang đói, trả để tôi ăn.

Đáp: – Ta có quyền cứu tế cho muôn loài. Nó đã lại đây với ta thì ta không trả đâu.

– Tâu Bệ hạ, ngài tự nói cứu tế cho muôn loài mà cướp món ăn của tôi thì tôi phải chết đói. Đối với tôi không phải là một trong muôn loài hay sao?

Đáp: – Ngươi đói thì có thể dùng thứ thịt khác được hay không?

– Tâu Bệ hạ, vâng, cũng được! Nhưng phải cho tôi thứ thịt hãy còn tươi, máu hãy còn nóng thì tôi mới dùng.

(01:19:31) Nhà vua thầm nghĩ: “Như thế thì phải giết một con vật khác, nhưng nếu giết một con vật mà cứu một con cũng vô ích, chi bằng ta cắt thịt của ta thay thế cho nó là hơn”. Nghĩ xong, lấy dao cắt một miếng thịt đùi, trao chim cắt và nói rằng:

– Đây ngươi dùng miếng thịt của ta để thay chết cho chim bồ câu.

Chim Cắt ra dáng không bằng lòng nói:

– Tâu Bệ hạ, ngài đã mang danh là một đại thí chủ, đã dùng con mắt bình đẳng đối với tất cả. Tôi đây tuy là một con chim nhỏ thực nhưng nếu theo sự công bình thì ngài phải bắt cân để chim một bên, thịt một bên, thịt và chim bằng nhau thì tôi sẽ nhận.

Theo lời chim nói có lý phải nên nhà vua sai người bắt cân để chim một bên, để thịt nhà vua một bên. Bắt đầu để một miếng hãy còn nhẹ, lại cắt thêm miếng nữa vẫn thấy còn nhẹ. Vị trí nhà vua cắt hết một vế đùi nhưng vẫn nhẹ như thường. Sau cắt hết hai vế đùi, cho đến hai cánh tay, hai mạng mỡ xong vẫn còn nhẹ. Sau róc hết các thớ thịt ra để lên cũng vẫn thấy còn thấy nhẹ, chim vẫn nặng hơn. Nhà vua liền đứng dậy để bước lên bàn cân thì đau quá khí lực đã hết nên ngài ngã lăn đùng xuống đất mê mệt không biết gì.

(01:21:55) Giờ lâu tỉnh lại thầm nghĩ rằng: “Ta từ bao kiếp đến nay, cũng chỉ vì có thân này mà làm cho ta khốn khổ, nổi chìm trong ba cõi, trôi dạt trong sáu nẻo. Cũng do thân này, tham thân sống này, tiếc thân sống này, vui nó, bảo thủ nó, giữ gìn nó, yêu quý nó. Vì nó mà làm hại biết bao sinh mạng khác; vì nó mà biết bao sự đau khổ của muôn loài; vì nó mà biết bao nhiêu người thương ghét giận hờn. Nhưng trái lại, rủi một ngày gần đây nó lại tan không, hòa đồng với đất nước cỏ cây. Chưa bao giờ ta vứt nó đi để hy sinh nó mà cứu mạng chúng sanh. Vậy ta phải tiến lên để đập tan những bức thành ngã chấp từ bao kiếp tới nay, để đạt tới pháp thân bất diệt”. Nghĩ xong liền ngồi dậy cố gắng đứng lên bàn cân, nhìn vẻ mặt vẫn vui tươi.”

13- GIẾT HẠI CHÚNG SANH LÀ TỘI LỖI NẶNG NỀ NHẤT

(01:23:20) Những mẩu chuyện trên đây đều nhắc chúng ta một gương hạnh biết thương yêu chân thật. Một hành động thương yêu cao đẹp vô cùng mà chúng ta cần phải hằng ngày trau dồi luyện tập thì mới có được lòng thương yêu, thương yêu ấy. Một hành động, một lời nói, một ý nghĩ không giết hại chúng sanh mà còn thương yêu chúng sanh thì đời đời kiếp kiếp của chúng ta sẽ được quả mọi người thương yêu và mạng sống của chúng ta sẽ được mạnh khỏe và an vui, hạnh phúc.

Ở một phương diện khác, cứu mạng chúng sanh không có nghĩa mua chim cá phóng sanh không. Mà còn làm hành vi chăm sóc chữa bệnh cho mọi người hoặc mình trực tiếp chữa bệnh hoặc mình bố thí thuốc men dụng cụ chữa bênh, xây dựng cơ sở dưỡng bệnh, nhà thương, trạm y tế, nhà bảo sanh v.v…​ Đó là những công đức cần thiết cứu mạng sống con người. Nếu thực hành được những điều này, quả báo trở lại với người này là sự giàu sang phú quý, mạnh khỏe, nhiều bạn bè quyến thuộc thân mến, ít bị người thù oán, tuổi thọ lâu dài, ở vào những địa vị cao trọng, lòng từ bi có cơ hội tăng trưởng dễ dàng.

(01:25:12) Nếu chúng ta có đầy đủ tâm nguyện giữ gìn thiện nghiệp không sát hại nhau, cứu mạng chúng sanh, thương yêu chúng sanh thì đâu có lý do nào mà chúng ta tiếp tục dùng thức ăn huyết nhục của chúng sanh. Dù chúng ta không tự tay giết nhưng bắt buộc phải có người giết mới có thịt cá cho chúng ta ăn. Hơn nữa sự tiêu dùng thịt cá của chúng ta khiến cho nhu cầu của thị trường tăng lên và lò thịt phải tăng gia sản lượng giết thịt nhiều thêm mãi. Nếu nhiều người đình chỉ thức ăn huyết nhục thì lò thịt phải giảm bớt sự giết hại mỗi ngày. Chính sự tiêu thụ gián tiếp của chúng ta đã thúc đẩy sự giết hại trực tiếp của lò thịt và chúng ta phải chịu trách nhiệm hậu quả bởi hành vi ăn huyết nhục này.

(01:26:27) Theo Thầy suy nghĩ: “Đạo Phật là đạo từ bi thì lúc đức Phật còn tại thế những tín đồ đem vật thực cúng dường Phật và chư Tăng đều phải là thức ăn chay. Tại sao vậy? Vì người Ấn Độ chịu ảnh hưởng của Bà La Môn giáo, quan niệm Bà La Môn rằng ăn chay là biểu hiện của đạo đức, của lòng thương yêu chúng sanh, của tâm từ bi”. Thầy cũng không hiểu sao hiện giờ có một số người tự nhận mình là đệ tử của Phật mà lại ăn huyết nhục chúng sanh thỏa thích không có một chút lòng thương yêu và chẳng biết sự đau khổ chết chóc của chúng sanh là như thế nào. Họ chỉ biết ăn cho ngon và bồi dưỡng cho cơ thể mập béo mà không có chút lòng từ bi gì hết. Trái lại còn công kích những người ăn chay cho người ăn chay giữ giới là ngoại đạo.

Này các cư sĩ, người ăn thịt chúng sanh mà tu thiền không thể thực hành đến cứu cánh được, không thể chứng ngộ được. Vì nhân quả nghiệp báo thân mạng và xương máu của chúng sanh tạo nên hoàn cảnh chẳng thuận tiện và cơ thể của những kẻ này chẳng bao giờ được an ổn mặc dù họ đều thông suốt đúng giáo lý của đạo Phật.

(01:28:04) Này các cư sĩ, các con đừng dựa vào câu: “Vật dưỡng nhân” để tạo tội ác. Lời dạy này là của ngoại đạo không phải đạo Phật. Trong tất cả tội lỗi thì tội giết hại chúng sanh là nặng nề nhất, thế nên không sát hại mạng chúng sanh là điều thiện đầu tiên trong thập thiện. Bệnh tật, nghèo nàn, tai nạn, ác đạo, khổ ách là kết quả dành cho những người sát sanh, hại mạng. Khỏe mạnh, giàu sang, an ổn, hạnh phúc, vui sướng là kết quả dành cho người biết cứu mạng chúng sanh.

(01:28:50) Trong đời chúng ta vẫn thường chứng kiến những người thoát nạn một cách lạ lùng, khó hiểu. Té từ trên cao mà xây xát sơ sơ, bị lật xe mà không hề hấn gì, đạn nổ gần bên mà không dính chút miểng. Họ là những người đã từng phóng sanh chim cá và thường ra tay tế độ, cứu mạng sống của muôn loài nên thiện nghiệp luôn luôn hộ vệ họ như hình với bóng, còn hữu hiệu hơn những người lính bảo vệ của các vị lãnh tụ.

Đến đây đã hết giờ, Thầy sẽ dừng lại, ngày mai giảng tiếp. Có chỗ nào chưa hiểu hoặc còn nghi vấn một điều gì chưa rõ, các con cứ mạnh dạn thưa hỏi. Thầy sẽ vui lòng giải thích để các con thấu suốt đường lối tu tập của đạo Phật.

Bây giờ Thầy và các con niệm hồi hướng:

Nguyện đem công đức này

Hồi hướng cho tất cả

Pháp giới và chúng sanh

Đều được thành Phật đạo.

KẾT THÚC

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 173)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.