(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)
LCK 101A – (Nữ) Triển khai tâm xả – Hạnh ăn, ngủ, độc cư – Bồ tát hạnh – Phật và A la hán
LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 101A
TRIỂN KHAI TÂM XẢ – HẠNH ĂN, NGỦ, ĐỘC CƯ – BỒ TÁT HẠNH – PHẬT VÀ A LA HÁN
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Người nghe: Tu sinh nữ
Thời gian: 24/02/2006
Thời lượng: [01:02:52]
1- TRIỂN KHAI TÂM XẢ
(00:00) Trưởng lão: Chúng ta còn một cái bài làm cuối cùng nữa. Ở đây, bên nam thì có một cái người làm cái bài Tâm Xả dựa theo tất cả những cái lời của đức Phật dạy, cho nên lập thành một cái dàn bài, rồi từ trong cái dàn bài đó mà làm ra. Cho nên nó có những cái căn bản của cái Tâm Xả. Nhưng như vậy nó cũng chưa đủ, nó còn nữa, bởi vì Tâm Xả mà, xả để rốt ráo để cuối cùng chúng ta đạt được chứng đạo.
Cho nên cái Tâm Xả rất là quan trọng. Do như vậy đó thì Thầy sẽ gửi cho mỗi người một bản để thấy, thành lập cái dàn bài, để chúng ta biết cách, để chúng ta thực hiện được cái con đường tu tập của chúng ta sau này. Đứng ở trên Tứ Niệm Xứ mà xả tâm tất cả toàn bộ: cái tâm nào xả, mà cái tâm nào không xả. Tức là cái niệm nào mình xả, mà cái niệm nào không xả?
Và đồng thời thì Thầy cũng gửi cho mấy con một cái bản của người Việt Nam ở nước ngoài, họ cũng đang học cái khóa tu của chúng ta ở xa. Họ có hai người, một người nam và một người nữ; họ cũng đang dự cái khóa tu của chúng ta. Một người nam viết bài cũng rất khá và người nữ cũng viết bài rất hay.
Cho nên Thầy gửi cho mấy con cái bài này để mấy con đọc để thấy cái người ở xa, người ta cũng dự thính được cái lớp học của chúng ta chứ không có khó khăn.
Và đồng thời, Thầy nghĩ rằng cái lớp học này sau khi triển khai cái tri kiến hiểu biết thì ngầm tự nó, nó đã xả một số nào rất lớn cho mấy con rồi. Thí dụ như bây giờ đi khất thực, thì đến có những món ăn ngon, món ăn dở, mấy con cũng đã tự nhiên hiểu biết món ăn là bất tịnh rồi cho nên mấy con cũng không thèm khát gì lắm đâu.
Cho nên khi mình khởi cái ý mình muốn lấy thêm cái đó hay mình thấy cái muốn ăn thì mình nhớ ngay bất tịnh rồi. Nhớ ngay bất tịnh thì nó đã chặn đứng được cái tâm tham dục về ăn của mình. Cho nên những cái bài học của chúng ta nó thực tế và lợi ích rất lớn là nó ngăn chặn được những cái tâm xấu, tâm ác của chúng ta. Cho nên chúng ta đi dần, nó sẽ được thanh tịnh.
2- TỨ NIỆM XỨ
(02:22) Và cái lớp kế tới đây thì chúng ta đi vào cái giai đoạn tu Tứ Niệm Xứ, tức là: “trên thân quán thân, trên thọ quán thọ, trên tâm quán tâm, trên pháp quán pháp”. Nhưng mà “quán” có nghĩa là xem xét, nhìn xét, Chánh Niệm Tỉnh Thức ở trên đó hay là định tĩnh ở trên thân của chúng ta. Cách thức này được Thầy hướng dẫn kỹ lưỡng để không khéo chúng ta bị ức chế thân – tâm. Khi mình nhìn trên thân của mình thì mình lại chú ý tập trung vào một cái điểm nào ở trên thân thì chúng ta cũng bị ức chế.
Thí dụ như chúng ta tu Tứ Niệm Xứ thì nó chỉ có quan sát thôi, cho nên nói “trên thân quán thân” – đó là cái giai đoạn 1; giai đoạn 2 thì khắc phục tham ưu. Nó có hai giai đoạn chứ đâu phải là một giai đoạn đâu. Quán mà nó không có chướng ngại thì vẫn quán chứ; vẫn thấy nó, vẫn hiểu nó, vẫn biết nó luôn luôn. Bởi vì hầu hết mình tu tập là mình hay quên.
Khi mình nhìn cái thân của mình, từ đầu đến chân của mình rồi một lúc cái mình quên, mình nhớ gì đó cái mình quên nó đi. Cho nên như vậy là mình thiếu cái sự quán tâm. Mà nếu mình thiếu sự quán tâm thì coi như là mình sẽ có cái niệm khác và đồng thời nó có những cái chướng ngại khác nó sẽ đánh vô mình. Cho nên, khi cái người mà luôn luôn tỉnh thức ở trên cái thân của họ, họ thấy từ đầu đến chân – lúc nào, giờ phút nào họ cũng thấy hết thì lúc bây giờ không có một cái niệm nào mà xen vô được hết. Cho nên, chúng ta quán “trên thân quán thân” mà. Mà nếu mình quán không được, nếu mà có một cái niệm nào xen vô, có một cái chướng ngại nào trên thân tâm chúng ta thì mình mới khắc phục tham ưu hay là nhiếp phục cái ưu phiền đó, không có cho nó làm chướng ngại ở trên thân.
Cho nên về Tứ Niệm Xứ thì mấy con cũng phân biệt được hai phần: một phần là Chánh Niệm Tỉnh Thức ở trên đó, tức là quán, một phần gọi là quán; cái phần thứ hai thì nó là nhiếp phục tham ưu hay là khắc phục những ưu phiền trên đó, chướng ngại trên đó, đó là cái phần thứ hai. Cho nên trong khi tu tập phải lưu ý hai phần này.
3- ĐẨY LUI CHƯỚNG NGẠI TRÊN THÂN – THỌ – TÂM – PHÁP
(04:45) Trưởng lão: Mà trong đạo Phật, trong Tứ Niệm Xứ, đức Phật dạy chúng ta biết rõ ràng là cái đề mục của Định Niệm Hơi Thở, Thầy xin nhắc lại: “Cảm giác toàn thân, tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân, tôi biết tôi thở ra”, nghĩa là mình hít vô – thở ra mình biết cái thân mình nó rung động như thế nào, tức là mình quan sát trên thân của mình đó chứ không có gì hết. Đó là cái giai đoạn “quán thân”.
Cho nên nhiều khi trong kinh Tứ Niệm Xứ, chúng ta đọc cái bài kinh Tứ Niệm Xứ thì nghe “trên thân quán thân” thì quán Thân Bất Tịnh, rồi quán Thân vô thường, quán Thân vô ngã, rồi quán Hơi Thở, quán Thân Hành Niệm – dạy chúng ta đủ thứ hết, chúng ta không biết. Rồi bây giờ mình cứ ở trên thân mình, mình quán thọ: thì xem, cứ nhìn thẳng cái đau đớn ở trên thân của mình rồi nó tan biến. Nó không phải vậy đâu, họ hiểu như vậy là sai, nó không phải. Nghĩa là người ta nói mình cứ nhìn thẳng, người ta hiểu nhìn thẳng cái cảm thọ trên thân của mình thì nó sẽ hết đau, tức là nó sẽ nhiếp phục tham ưu ở trên đó. Không phải, không phải vậy.
Cho nên nhìn qua cái cách thức mà đức Phật hướng dẫn ở trong Định Niệm Hơi Thở thì chúng ta thấy biết rất rõ ràng. Không phải là nhìn thẳng cái cảm thọ mà rồi cái cảm thọ nó hết. Nhưng mà hầu như người ta nhìn thẳng, tức là người ta không sợ nó thì thấy nó giảm, nó bớt thì người ta nói nó nhưng mà cái đó cũng là một cái sai trong đạo Phật. Bởi vì đức Phật đã dạy rất rõ ràng: “An tịnh thân hành, tôi biết tôi hít vô. An tịnh thân hành, tôi biết tôi thở ra”, và đồng thời: “Cảm giác toàn thân, tôi biết tôi hít vô. Cảm giác toàn thân, tôi biết tôi thở ra” – ở trên cái hơi thở mà nhìn cái thân của mình, quan sát cái thân của mình. Và cũng ở trên hơi thở mà đẩy lui cái cảm thọ để khắc phục tham ưu trên đó. Và cũng trên hơi thở mà có thể đẩy lui các trạo cử, các cái niệm ở trên tâm của mình bằng cách là: “An tịnh tâm hành, tôi biết tôi hít vô. An tịnh tâm hành, tôi biết tôi thở ra”.
Khi nó bị chướng ngại ở trên tâm, ở trên thọ của thân, của tâm thì chúng ta sử dụng Định Niệm Hơi Thở mà chúng ta đẩy lui tất cả chướng ngại pháp chứ không phải quán ở trên thân của chúng ta mà ngồi đây cứ tu tập Định Niệm Hơi Thở – không phải. Ngồi quán xét, có chướng ngại thì dùng hơi thở đẩy lui, không chướng ngại thì thôi.
Có hôn trầm thùy miên thì dùng pháp đi kinh hành Chánh Niệm Tỉnh Giác đi kinh hành thì nó cũng sẽ hết. Cho nên điều quan trọng là phải tập quan sát thân của mình. Hầu như nghe nói quan sát thì ai cũng biết nhưng mà coi chừng biết chứ mà ức chế.
Hôm qua Thầy kiểm tra bốn thầy thì Thầy cũng thấy trong cái sự nhiếp tâm mà để quán cái thân của mình thì nó có nhiều cái sự việc – người vầy, kẻ khác. Bốn người mà không người nào giống người nào hết.
4- LÀM BÀI XẢ TÂM KỸ MỚI LÊN LỚP CHÁNH TƯ DUY
(07:50) Trưởng lão: Cho nên trên cái phần tu tập được kiểm tra kỹ rồi mới vào tu lớp Chánh Tư Duy. Còn bây giờ thì mấy con sẽ được phân phát cho những cái này để về lập thành cái dàn bài mấy con. Cái này là làm thành cái dàn bài.
Thật sự ra trong những ngày này rất là gấp rút, cho nên mấy con làm hết sức của mấy con, để cái bài Tâm Xả cho nó hoàn tất để vào cái lớp Chánh Tư Duy.
Thầy biết mấy con làm việc rất nhiều nhưng phải cố gắng để vượt qua trong cái giai đoạn này. Viết mà cả xấp giấy như thế này. Các con thấy chữ đánh máy, chữ đánh trên vi tính như thế này nó quá nhiều chứ không ít.
Vậy mà ở bên nam họ hoàn tất tất cả những cái bài Tâm Xả này. Họ đã hoàn tất gần muốn hết rồi, còn một hai người nữa thôi. Còn mấy con ở bên đây thì Tâm Xả mấy con cũng làm nhiều lần. Nhưng tới thứ Ba, Thầy sẽ họp chung nam – nữ, Thầy sẽ trả lại hết tất cả các bài để bước vào cái lớp học Chánh Tư Duy. Rồi lên lớp Chánh Tư Duy người nào rớt, người nào ở lại rồi mấy con sẽ biết. Là khi mà nhiếp tâm nó không vô hoặc là bị ức chế thì mấy con sẽ ở lại để tập tu lớp Chánh Kiến. Đừng có vội vàng, đừng thấy mình ở lại thì mình thấy xấu hổ, không phải đâu. Mình chỉ tu làm sao cho được, kết quả cho tốt chứ không phải ở chỗ ở lại hay hoặc là lên lớp.
Nhiều khi mình lên mà mình tu không chứng thì mình cũng ngồi đó chứ mình không thể đi lên được nữa. Nghĩa là thí dụ như mấy con tu tập mà cứ ở lớp Chánh Tư Duy, ở trên Tứ Niệm Xứ để xả tâm mình mà nó chưa đủ Tứ Thần Túc, mấy con chưa đủ đạo lực, mấy con đâu có nhập định được, đâu có tịnh chỉ được hơi thở, đâu có thực hiện được Tam Minh thì làm sao? Mấy con cũng phải ở lại thôi.
Còn người ta lên lớp Chánh Tư Duy người ta xả được tâm, người ta thanh tịnh được thì người ta có đủ Tứ Thần Túc, người ta thực hiện Tam Minh thì người ta sẽ tốt nghiệp, người ta sẽ ra khỏi lớp học.
Còn mình thì buộc lòng mình phải ở lại và cứ như vậy mà tu tập lần lượt thì mình sẽ tiến hơn. Bởi vì trong cái lớp Chánh Tư Duy, sự tư duy để xả tất cả những tâm niệm của mình thì sự quan sát bốn chỗ Thân – Thọ – Tâm – Pháp là rất cần thiết cho chúng ta tu tập, rất cần thiết cho sự tu tập của chúng ta.
(10:28) Hôm nay Thầy xin gửi lại cho mấy con cái này để mấy con về nghiên cứu thêm, để biết cách thức mình phải xả tâm từ cái bước nào. Và nhớ rằng ở trong cái bài này thì sư Từ Quang đã viết dựa vào trong kinh sách; cái ý mà đức Phật đã dạy như thế nào thì hầu như là sư Từ Quang có nghiên cứu kinh sách rất kỹ, cho nên đưa ra đúng theo cái đường lối của đạo Phật để mà xả tâm. Nghĩa là đức Phật dạy như thế nào chúng ta phải làm như thế nấy. Tức là đọc cái bài này xong thì mấy con sẽ biết là pháp môn Tứ Niệm Xứ rất cần thiết cho chúng ta tu tập để xả tâm. Bởi vì muốn xả cái gì thì cũng ở trên Tứ Niệm Xứ mà xả chứ không thể ngoài Tứ Niệm Xứ mà xả được. Đó là những cái căn bản nhất.
Cho nên hôm nay Thầy chịu khó photo cho mỗi người một bản để mấy con có để mấy con nghiên cứu kỹ lại con đường tu tập của mình. Và đồng thời nó có nhiều cái sự việc xả tâm lắm chứ không phải ít, Xả Vô Lượng Tâm mà. Mà nếu mà xả được rốt ráo thì nó sẽ tới nơi. Mình đâu có gì khác là chúng ta quá tỉnh thức ở trên Thân – Thọ – Tâm – Pháp của chúng ta rồi thì cái sự xả nó không phải khó nữa. Cho nên bây giờ, Thầy nhờ mấy con đem cái này phát cho huynh đệ.
(11:50) Còn cái bài Nhân quả này mấy con sẽ đọc, mấy con sẽ thấy từ cái sữa mà chúng ta đã biết đó, rồi cho đến những cái nước yến mà chúng ta uống đó – chúng ta thấy chúng ta uống bằng máu của con yến mấy con. Khổ lắm mấy con!
Chúng ta không ngờ những cái điều mà gọi là bổ lại là những cái điều rất là đau khổ. Những cái loài vật mà được họ vét họ lấy, họ bán cho chúng ta, cho bổ cái cơ thể con người chúng ta thì bằng máu và nước mắt của loài vật.
Cho nên chúng ta là những người tu mà khi đọc những cái bài này rồi thì chúng ta không thích uống sữa nữa và chúng ta cũng không thích ăn cái tổ yến nữa, chúng ta không thích những cái thứ đó đâu. Nghĩa là chúng ta đọc rồi, chúng ta nghe, chúng ta ngán ngẩm lắm. Cuộc đời chúng ta sống là phải biết thương, không thể nào mà chúng ta lại sống trong cái đau khổ của một cái loài vật khác như vậy.
Cho nên những cái bài như vậy đó thì sau này sẽ được phổ biến để cho chúng ta giữ được cái tâm Từ, cái lòng thương yêu của chúng ta với sự sống của muôn loài vật. Các con đọc cái bài mà người ta lấy mật gấu, Thầy nghe nó đau khổ vô cùng. Tới cái tay, cái chân của con gấu mà người ta chặt, người ta bán lấy tiền thì mấy con biết…
Bởi vậy chúng ta là những người tu, cho nên chúng ta hiểu biết từ khắp nơi trên cái hành tinh này. Nước này hoặc đến nước khác, chúng ta hiểu biết những cái điều kiện mà chúng ta đang sống trong những cái thực phẩm mà họ làm ra để bán cho chúng ta có nhiều cái đau khổ vô cùng.
Thế mà con người không có nghĩ đến cái sự đau khổ của loài vật, sẵn sàng để bổ dưỡng mình cho khỏe. Thì cái điều này là một cái điều rất là, rất là đau đớn!
Tu sinh: (Phát bài tham khảo)
(14:50) Trưởng lão: Ít hôm nữa mấy con sẽ đọc bài của một cái người nam, cũng ở ngoại quốc, mà cũng làm bài gửi lên trên mạng, Thầy cũng thấy những cái bài đó cũng nhiều điều kiện cũng xuất sắc lắm.
Thầy mong rằng những người đệ tử của Thầy, khi mà tu tập, họ đều làm bài để triển khai cái tri kiến hiểu biết của họ, để rồi áp dụng vào đời sống tu tập, để họ được giải thoát hoàn toàn.
Thầy mong rằng những người này, sau này, họ là những người có thể nói rằng, khi những cái Trung tâm An dưỡng từ thiện, những chi nhánh của Trung Tâm An Dưỡng từ thiện ra đời thì dù ở bất cứ nơi đâu, họ cũng có thể thay Thầy dựng lại cái Đạo đức Nhân bản – Nhân quả; giúp cho mọi người sống không còn làm khổ mình, khổ người và khổ muôn loài vật khác nữa. Thầy chỉ ước ao có điều đó.
Và trong lớp học này Thầy mong rằng mấy con cũng cố gắng mà thực hiện cho được, không phải vì lợi ích của riêng mình mà còn vì lợi ích của chung cho biết bao nhiêu con người khác và loài vật khác đang chịu đau khổ trên sự sống chết của hành tinh này. Thầy mong điều đó lắm, nhưng mà ước ao rằng mấy con phải cố gắng thực hiện!
5- HẠNH ĂN, NGỦ, ĐỘC CƯ TRÊN LỚP CHÁNH TƯ DUY
(16:06) Trưởng lão: Thứ nhất là khi vào lớp Chánh Tư Duy thì mấy con đừng nên nói chuyện nhiều, đừng nên tiếp giao nhiều, từ giã tất cả những điều nói chuyện thì mấy con mới đạt được kết quả.
Bởi vì độc cư là bí quyết thành công của sự tu tập của mấy con. Nếu mà không độc cư được thì mấy con sẽ không bao giờ tu đến nơi đến chốn được!
Rất khó là vì cái hạnh độc cư, rồi còn ăn, còn ngủ nữa. Nó cũng cả một vấn đề tu tập mấy con.
Nếu mà không khéo thì mấy con sẽ không làm được những điều tu tập trọn vẹn cuộc đời tu của mình. Rồi phí bỏ hết một đời mà chẳng ra gì, uổng công thức khuya dậy sớm mà cuối cùng chẳng được kết quả gì cả. Chỉ được chút chút, chẳng ra gì đâu!
Bây giờ mấy con thấy có kết quả chút chút nhưng mà nhỏ lắm. Mấy con chưa đủ sức làm chủ sanh – già – bệnh – chết, chưa đủ sức chấm dứt luân hồi. Mà nếu không tiến tới tu tập nữa, không giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh nữa thì mấy con sẽ không đi tới đâu cả. Bởi vì giới luật là giúp cho chúng ta thanh tịnh thân tâm hoàn toàn.
Những giới rất là căn bản từ cái ăn, cái ngủ, cái độc cư, cái nhẫn nhục, biết tùy thuận, vui lòng; luôn lúc nào sống “độc cư, độc bộ, độc hành” thì chúng ta mới đi đến con đường giải thoát hoàn toàn. Nếu không “độc cư, độc bộ, độc hành” thì khó mà cho mấy con đến giải thoát. Cho nên ở đây, trước tiên, mấy con vào lớp tu học là triển khai cái sự hiểu biết của mấy con, khi hiểu biết mà mấy con không chịu làm thì thật ra mấy con Vô minh vô cùng.
Hiểu biết rồi mà không chịu xả là quá dở. Hiểu biết rồi thì cố gắng xả. Biết cái nào là hạnh phúc chân thật mà cái nào là hạnh phúc giả tạm. Mấy con biết rõ rồi thì phải cố gắng khắc phục mình dù gặp nhiều khó khăn, dù có nhiều sự gian nan, vất vả nhưng phải quyết tâm làm cho bằng được. Chứ không khéo rồi chúng ta sẽ phí hết một đời tu, chẳng ích lợi gì. Nhưng phải nhớ kỹ là luôn luôn lúc nào cũng giữ gìn độc cư trọn vẹn. Thầy nhắc nhở điều này rất nhiều, thế mà mấy con không nhớ mà cứ quên.
(18:33) Và mỗi buổi chiều, về vấn đề mấy con đến để trả bình thủy, mỗi buổi chiều mấy con đến sớm một chút vì buổi tối cô Út phải gài cái cửa lại để bảo đảm giữa nam – nữ nó không có lộn xộn, nó nghiêm túc. Để tối rồi mà nữ cũng còn đi ra trong cái khu vực của nam thì thấy nó kì lắm, cho nên vì vậy mà khóa cửa lại.
Mấy con cũng đến sớm sớm một chút, đem bình thủy sớm để lúc bây giờ được gài cửa sớm một chút để… Bởi vì ban đêm tối chật vật rồi nó rất khó khăn cho cái người điều hành, rất là sợ tai tiếng, nó không tốt. Cho nên mấy con phải cẩn thận một chút.
Và đồng thời, khi đi khất thực thì tất cả những khẩu phần ăn của mình thì mình cứ mang về hết, đó là cái khẩu phần người ta cúng dường cho mình. Không lẽ mình lấy một vài món rồi mình bỏ lại, bỏ lại cho ai đây?
Nếu mình ăn không hết thì mình bố thí cho chúng sanh xung quanh mình, chứ mình để lại, mình tiếc mình để lại. Bây giờ để lại cho người khác làm sao người ta ăn trong cái khẩu phần đó. Đó là cái khẩu phần của mình.
Cho nên đi khất thực thì mình ôm về hết. Còn nếu mình ăn không được thì mình xin cô Út cho mình cháo hoặc là những gì mà cô Út cổ làm cho mình thì xin cô Út. Còn hễ mình ăn được thì mình cứ ra mình nhận lãnh cái khẩu phần của mình. Chứ còn đừng có lấy một vài miếng trong đó rồi bỏ lại đó thì nó dở dang cái khẩu phần ăn.
Theo Thầy thiết nghĩ, cái người nào mà được đi khất thực đó là diễm phúc nhất. Tại sao vậy? Đó là mình lập được cái hạnh của Phật ngày xưa. Mặc dù là trong những món ăn đó có những món ăn mình ăn được, mà có những món mình không ăn được nhưng mình rất hạnh phúc là vì mình sống như Phật.
Tới giờ mình ôm bát mình ra mình xin, Mình xin như vậy quá là hạnh phúc. Nó vừa gọn, nó vừa nhẹ nhàng mà nói lên được hạnh đi xin của mình. Đây cũng là giai đoạn mình tập đi xin, thế mà mình lại bỏ cái hạnh đi xin thì Thầy thấy quá uổng.
(20:54) Mọi người, người nào cũng còn đi đứng được, còn khỏe mạnh được thì chúng ta cố gắng mà ôm bình bát đi xin. Trừ ra chúng ta yếu đuối thì nhờ một người khác người ta mới đi xin cho mình vì mình đi không được hoặc là mình bị bệnh thì mình mới nhờ người khác. Còn mình còn đi được thì còn ôm bát đi xin.
Sống đúng hạnh của Phật là quá tuyệt vời, quá đẹp đẽ! Nhất là mình được đi xin trên một quãng đường 100, 200 thước, hoặc là 500 thước. Mình thấy đi trên đường, ngày xưa, mình tưởng tượng hình ảnh của đức Phật đi từ một cây số, đi từ 500 thước, thì đức Phật và chúng Tỳ kheo. Đọc lại trong Ni kệ – “Trưởng lão Ni kệ” – các vị bên nữ, những vị già bảy, tám mươi tuổi vẫn ôm bình bát xin ăn trên đường đi. Thật là hạnh phúc vô cùng! Hình ảnh đẹp đẽ của những người tu sĩ ôm bát đi xin.
Hôm nay chúng ta được duyên, vẫn còn là chiếc áo người cư sĩ mà vẫn được thực hiện hạnh đi xin rất là tuyệt vời. Thế sao chúng ta lại không làm được điều đó mà chúng ta lại từ chối.
Hạnh đi xin là cái gương hạnh giải thoát hoàn toàn, buông xả hết. Đời sống chúng ta chẳng còn gì, chỉ còn “ba y một bát” để đi xin ăn mà thôi. Khi chúng ta thực hiện được hạnh đi xin như vậy thì Thầy thấy cái hình ảnh cao quý vô cùng – ngày xưa của đức Phật; bây giờ, chúng ta lại thực hiện sống như Phật. Chúng ta cứ suy ngẫm, chúng ta thấy hạnh phúc vô cùng. Còn gì bằng.
Một vị mà cả thế giới – được gọi là danh nhân của con người, của thế giới. Một người mà đã được mọi người chiêm ngưỡng như đức Phật, mà chúng ta hôm nay được sống cái gương hạnh của Người, được làm như Người, được sống như Người thì chúng ta thấy chúng ta hạnh phúc vô cùng! Bắt chước cái hạnh của một vĩ nhân, một con người mà cả thế gian này đều tôn kính, đều quý trọng.Thế mà chúng ta không làm được sao?
(23:12) Cho nên Thầy thấy rằng, chúng ta cứ ôm bát rồi lần lượt đi xin từng món ăn của chúng ta mà có người đem đến cho chúng ta như vậy thì chúng ta rất là hạnh phúc. Thầy mong rằng các con đừng bỏ lại.
Thầy nghe có nhiều người nói: bên nữ các con đến xin, chỉ lấy những món ăn mình ăn được, còn bao nhiêu bỏ lại. Thầy thấy Thầy rất buồn! Thầy rất buồn vì mấy con không thực hiện được hạnh mà đi chọn lựa món ăn để mà ăn thì rất là xấu hổ.
Những gì mà cô Út làm thêm bánh trái hay này kia cho thêm. Thì khi mà cho thêm thì mấy con cứ nhận, cứ nhận nhưng mà nhận với vừa đủ cái sự ăn của mình thôi. Còn nếu mà không nhận thì không tùy thuận thì cô Út buồn phiền. Là vì có Phật tử cúng dường mà một mình cô Út để lại cũng ăn không hết, cho nên vì vậy mà đem cúng dường cho chúng ta bánh trái hoặc là những gì cần thiết. Đó là những người mà đi ra ngoài đó khất thực.
Còn những người khách vãng lai thì cô Út lo cho mâm cơm để những người đó ăn – sống. Còn chúng ta là những người tu sĩ ở đây thì phải lập hạnh, đi ngay ra ngoài chỗ đó để mà khất thực, để giữ đúng cái hạnh.
Còn những người khách vãng lai họ đến đây trong một ngày, hai ngày, năm ngày rồi họ về thì những người đó có cô Út lo thực phẩm để mà ăn, để mà dự thính. Rồi chơi một, hai ngày rồi về chứ họ không phải là như chúng ta sống một đời để đi xin ăn, sống một đời để quyết tâm cầu giải thoát. Nó khác xa, nó không giống như những người tu ở đây.
Chúng ta là những người tham dự cái lớp tu từ đầu năm, từ đầu niên khóa cho đến giờ là gần 4 tháng rồi thì chúng ta là những người phải thực hiện những cái hạnh như Phật. Đừng có để bỏ sót, đừng có nghĩ rằng bỏ cái hạnh mà đi xin. Do từ đâu mà người ta đem đến cho mình? Đó rất là quý!
Còn ở trong chùa mà nấu cho mình ăn thì mình mất cái hạnh đi xin mất rồi. Cho nên vì vậy mà, như Thầy bất kì lúc nào cũng vậy, nghĩa là đến nơi mà người ta cúng dường thì Thầy nhận.
Bởi vì cuộc đời của mình được có người ở đâu mà người ta đem đến cho mình ăn như vậy là mình tránh xa được cái sự nấu nướng tại chùa mình ăn. Thì nó rất là đẹp đẽ vô cùng, giống như Phật rồi. Mà đủ duyên sống được vậy là quá hạnh phúc! Chứ không khéo mình sẽ lặp lại cái đường đi của Đại thừa – trong chùa thì có nhà bếp nấu ăn theo ý muốn. Bữa nay ăn cái này, mai ăn cái kia – đòi hỏi.
(26:04) Còn người đi xin thì có được gì đâu. Ai cho sao ăn nấy, tức là cái hạnh giải thoát hoàn toàn, không đòi hỏi về cái ăn uống. Món nào ăn được thì mình ăn, mà món nào ăn không được thì thôi. Tự mình, mình biết được những điều đó.
Nhưng khi mà nhận lãnh sự cúng dường của người thì nhận lãnh hết; không nên lựa chọn một cái gì, không nên bỏ một cái gì, mà nhận hết. Như vậy thì chúng ta mới thấy trọn vẹn.
Hôm nay ở trong Tu viện chúng ta, cái số tu sĩ hôm đó tổng số là có 62 người, nhưng vì có một số người về chưa đến cho nên cái khẩu phần Phật tử cúng dường chúng ta theo Thầy biết bữa nay là 61 khẩu phần ăn.
Cho nên vì vậy mà Thầy nghĩ rằng trong cái lớp chúng ta còn một vài người vắng mặt mà thôi, thì bất quá có dư ra một phần, hay là hai phần chứ không nhiều. Do như vậy, Thầy mong rằng các con phải cố gắng lập hạnh đi xin cho đúng đắn; đừng có phí bỏ cái hạnh của Phật, đừng có coi thường cái hạnh của Phật mà chúng ta không làm đúng. Đó là cái hạnh cao tuyệt, mà nhờ đó mà đức Phật đã chứng đạo và giải thoát.
Nếu đức Phật mà vì cái ăn uống, vì cái sự sống để cho nó theo ý muốn của mình thì chắc chắn là đức Phật phải đem nhà bếp theo khi vào rừng tu, có người nấu nướng. Là con vua thì cái điều đó quá dễ, nhưng trái lại đức Phật phủi sạch. Không bao giờ đem theo một đồng một cắc, không bao giờ đem theo đầu bếp để nấu cho mình ăn mà chỉ đi xin ăn.
Có ngày đi xin được, mà cũng có ngày không xin được, vẫn chịu đói khát như thường. Có ngày người ta cho cái thực phẩm mà có thể rằng là rất khó ăn, nhưng đức Phật vẫn thản nhiên.
(27:58) Còn chúng ta hiện giờ, chúng ta quá dễ dàng, không còn khó khăn nữa. Thầy mong rằng mấy con cố gắng giữ hạnh trọn vẹn đi khất thực. Sống như vậy thì Thầy tin rằng mấy con sẽ tu tập tới nơi tới chốn. Mà không giữ gìn được cái hạnh đi xin như vậy, chắc là không tới nơi tới chốn đâu! Vì tâm còn phân biệt cái ăn ngon, ăn dở, ăn bổ, ăn không độc… đủ thứ ở trong tâm của chúng ta thì coi chừng chúng ta khó mà xả ly; xả ly để giải thoát.
Cho nên đường tu tập nó không khó, mà nó khó là ở chỗ cái tâm chúng ta không chịu xả. Dính mắc cái chỗ này, dính mắc cái chỗ kia cho nên chúng ta không tới đâu cả hết.
Đúng rồi. “Mười hai nhân duyên” – con viết chưa đủ, con hãy viết thêm, viết thêm nữa. Dựa vào cái dàn bài và đồng thời mấy con dựa vào Bốn Chân Lý – Khổ, Tập, Diệt, Đạo; thì cái Khổ Đế và cái Tập Đế dựa vào đó mấy con cũng có thể viết về Tâm Xả rất là lớn, rất là nhiều. Nó còn nhiều điều viết.
Mấy con dựa vào, để lập thành cái dàn bài. Từ đó mình tư duy, suy nghĩ, mình tìm tòi ra để thành lập một cái dàn bài. Viết cho hết những cái Tâm Xả, để cho mình biết cách mình xả chứ không phải gì. Nếu mà không hết, tới chừng nó gặp những cái niệm, mình chỉ ức chế nó rồi cuối cùng thì mình chẳng đi tới đâu.
Bởi vì khi mình hiểu tức là xả, mà mình chưa hiểu tức là không xả. Bởi vì mình hiểu thì mình không thể làm theo những cái tâm niệm đó, cái niệm đó. Cho nên vì vậy nó gọi là “ly dục, ly ác pháp”. Đó là cách thức tu tập chỗ Tâm Xả mà hôm nay mấy con đang làm cái bài Tâm Xả.
Thầy đọc qua thì Thầy thấy nó còn thiếu chứ chưa có đủ. Trên cái Thập Nhị Nhân Duyên nó chưa đủ đâu, nó còn nhiều nữa. Và kê khai theo cái con đường tu tập của Phật đã nhắc nhở chúng ta thì trên Tứ Niệm Xứ để mà xả. Muốn xả cái gì thì nó phải có cái pháp hành đó thì nó mới có đi đúng được.
6- VÍ DỤ BỒ TÁT HẠNH
(30:30) Trưởng lão: Chữ Bồ Tát hạnh, con muốn hiểu, giải thích nghĩa chữ Bồ Tát hạnh? “Hạnh” là hành động, cái việc làm; “Bồ Tát” là cái việc làm, cái hạnh của Bồ Tát. Thí dụ như cái hạnh Từ, hạnh Bi, đem lại cái sự thương yêu với chúng sanh, giúp cho chúng sanh không còn khổ đau nữa – gọi là Bồ Tát hạnh. Tức là cái hành động để làm cho chúng sanh đừng có khổ. Cũng như nói là: “Tôi thực hành Bồ Tát hạnh làm giảng dạy, là cho mọi người, người ta được giải thoát”.
Giải thoát có nghĩa là khi bệnh đau thì mình giúp đỡ họ bằng cách này kia cho bệnh đau của họ hết hoặc là dạy phương pháp cho họ tu, giảng thuyết cho họ tu. Đó là Bồ Tát hạnh, cái hạnh của Bồ Tát. Cái hành động của Bồ Tát là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Đó là thường thường ở bên Đại thừa thì họ lấy như vậy gọi là Bồ Tát hạnh.
(31:31) Còn ở bên Nguyên thủy thì người ta không có nói cái hạnh Bồ Tát, mà người ta khi tu chứng thì người ta mới dạy đạo. Còn khi không tu chứng thì người ta không có dạy, người ta không có lấy cái Bồ Tát hạnh mà nửa chừng.
Cũng như bây giờ mấy con học cái lớp Chánh Kiến rồi, mấy con sẽ đi ra mấy con giảng được, mấy con làm Bồ Tát hạnh. Tức là cái hạnh dạy cho người khác khi mà cái đó mình đã học hiểu của rồi, mình dạy lại cho người khác.
Thì bây giờ mấy con đứng lớp, mấy con dạy lại cái lớp Chánh Kiến được rồi, nhưng con đường tu của mấy con sẽ không bao giờ tới nơi tới chốn. Bởi vì mấy con tu chưa xong, mà bây giờ đứng ra dạy thì mấy con sẽ bị Bồ Tát hạnh này – cái hạnh Bồ Tất vẫn bị ô nhiễm. Tại sao vẫn bị ô nhiễm? Ô nhiễm là vì danh, vì lợi. Khi mà dạy thì người ta nói: “Cái vị này dạy hay quá! Thuyết giảng rất tuyệt vời!” – thì chúng ta bị những cái lời đó, mà khi chúng ta chưa “ly dục, ly ác pháp” hoàn toàn, chưa chứng quả A La Hán thì cái danh của chúng ta nó sẽ ngầm nó sẽ lớn, cái bản ngã chúng ta sẽ to ra.
Chẳng hạn như bây giờ ở đây, mấy con cứ lưu ý những cái người mà được Thầy khen, được Thầy cho đọc bài, được Thầy này kia – tự cái ngã nó cũng lớn rồi. Thầy rất lo lắng cái điều đó. Nhưng vì lấy cái sự hiểu biết chung để cho mấy con hiểu biết, cùng nhau mà hiểu biết để chúng ta đi vào con đường tu tập.
Chứ sự thật ra, đưa một cái bài của một người nào lên đọc hoặc là đưa một cái bài – Thầy đã hiểu cái ngã của cái người đó họ cũng sẽ theo đó mà lớn, gọi là vì danh. Nhưng biết sao hơn, là khi mình đang tu tập ở trong cái lớp, tâm mình chưa hoàn toàn thì mình sẽ bị theo cái danh lợi đó, cái danh đó chứ không có gì khác. Cho nên Bồ Tát hạnh là rất nguy hiểm!
Đó là cái hành động mình chưa có hoàn tất được mà độ chúng sanh, gọi là Bồ Tát hạnh. Cũng như đức Phật, trong kinh Nguyên thủy nói đức Phật là một vị Bồ Tát còn đang tu, còn cái người mà tu xong rồi thì cái người đó là A La Hán hoặc là Phật. Cái người mà tu xong mà đi ra dạy đạo thì cái người đó không sợ. Là vì danh đến với họ, họ không có bị nhiễm; mà lợi đến với họ, họ cũng không có ham.
(33:47) Còn bây giờ đó, mấy con thấy người ta làm Bồ Tát hạnh, người ta cất giữ tiền bạc nè, ăn uống phi thời nè – đó là bị danh, cái dục nó sai khiến mất đi. Rồi bắt đầu các con thấy như chùa to, Phật lớn, rồi chỗ ở sang đẹp, đầy đủ những tiện nghi. Đó là Bồ Tát không đó!
Thì những cái vị dùng cái hạnh Bồ Tát đó đã bị chìm xuống cái dòng sông đau khổ của cuộc đời mà chúng ta từng thấy. Cho nên, với cái người mà tu cái hạnh Bồ Tát thì chúng ta coi chừng, rất là nguy hiểm.
“Người tu hạnh Bồ Tát là người đã chứng quả A La Hán chưa?” – Chưa! Người tu chứng quả A La Hán là cái người đó người ta thấy cái trách nhiệm người ta đi độ chúng sanh chứ không phải là người ta còn dùng cái hạnh Bồ Tát.
Hạnh Bồ Tát ở đây để mà độ chúng sanh đó là các Tổ, các vị mà tu ở bên Thiền tông; người ta nghĩ mình làm cái điều đó cho nên mới gọi là Đại thừa – xe lớn, vừa tu mà vừa chở nhiều người.
Còn cái bên Nguyên thủy đó thì người ta gọi là Tiểu thừa – là cái người đó không có chở ai hết, tại vì người ta tu chưa xong, cho nên người ta không dám chở. Từ mà người ta tu xong rồi người ta mới dạy người, người ta mới độ. Cho nên người ta không phải còn làm Bồ Tát hạnh mà là A La Hán hạnh.
Người ta tu chứng rồi đó, người ta độ thì đó là A La Hán hạnh, chứ không có gọi người ta là Bồ Tát hạnh. Còn cái Bồ Tát hạnh là cái người tu chưa chứng mà cứu độ người khác, cho nên vì vậy mà cái vị Bồ Tát đó sẽ bị ngã, sẽ bị danh lợi nó lôi cuốn mất đi.
Cho nên “Cái người tu hạnh Bồ Tát là cái người đã chứng quả A La Hán?” – chưa chứng gì cả hết. Nghĩa là chỉ có hiểu biết một số kinh sách, chưa có tới đâu hết, nhưng mà đi ra dạy cái hiểu biết của mình cho người khác.
7- PHẬT VÀ A LA HÁN
(35:48) Trưởng lão: Đó, như bây giờ mấy con học cái lớp Chánh Kiến, mấy con tu cũng chưa tới đâu hết mà luôn luôn lúc nào cái ngã của mấy con cũng còn lớn. Khi đó thì mấy con lại đi ra dạy thì mấy con bị danh, bị lợi nó sẽ cuốn mất mấy con. Từ cái chỗ mà A La Hán đó nó trở thành phàm phu, phàm phu mà lại là phàm phu tội lỗi nữa – tức là mình lừa đảo người khác.
Cho nên đối với Nguyên thủy thì không có chấp nhận cho cái người làm Bồ Tát hạnh nhưng mà bên Đại thừa thì ca ngợi cái hạnh Bồ Tát. Cho nên hầu hết là ở bên đó – như ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nè, ngài Phổ Hiền Bồ Tát nè, ngài Địa Tạng Bồ Tát nè, ngài Quan Âm Bồ Tát nè… Hầu hết là lấy những người đó để mà nói rằng đó là Bồ Tát.
Nhưng mà sự thật, nếu mà Bồ Tát đó đã chứng quả A La Hán thì không còn gọi Bồ Tát nữa. Tại vì người ta chứng quả A La Hán thì A La Hán hạnh. Cái hạnh độ chúng sanh là bậc A La Hán, thì gọi là A La Hán hạnh chứ không gọi là Bồ Tát. Bồ Tát là những người tu chưa chứng.
Cái câu hỏi thứ hai hầu hết là mọi người, như thầy Nhất Hạnh là cũng hiểu qua kinh sách chứ cũng chưa biết. Tại vì các thầy đó chưa hiểu cho nên nói vị A La Hán còn xuất tinh, là do ngài Đại Thiên.
Ngài Đại Thiên là một vị lãnh chúng trong một cái thời xưa, nhưng mà vì có thị giả giặt y áo cho ngài, cho nên thấy cái vấn đề bất tịnh của ngài mới hỏi: “Sao Ngài là A La Hán mà sao còn xuất tinh?”. Cho nên Ngài mới nói A La Hán còn xuất tinh.
Do đó, thật sự ra đúng là… A La Hán là vô lậu rồi, tâm đâu còn dục đâu mà xuất tinh được! Vấn đề đó là vấn đề sai mất. Khi mà tu xong Thầy mới thấy rằng cái lời nói của ngài Đại Thiên là sai.
(37:52) Mà thầy Nhất Hạnh tu thì thầy cũng chưa biết, cho nên Ngài cũng dựa vào. Tức là thầy Nhất Hạnh cũng chưa chứng quả A La Hán, cho nên đâu có biết A La Hán là thanh tịnh cái mức độ nào. Do đó, cho nên thầy (Nhất Hạnh) cũng dựa theo cái ngài Đại Thiên mà trả lời như vậy thôi chứ không dám trả lời khác. Bởi vì không biết, thành ra đâu dám. Dựa theo cái vị Tổ đó mà trả lời. Cho nên hầu hết là đi nhẩm lại cái lối của các vị Tổ. Cho nên đó là sai, không đúng!
Hỏi: Lúc ấy, con nghe Thầy trả lời cô Diệu Vân rằng con đường tu chứng quả A La Hán gặp rất nhiều chướng duyên. Khi tu chứng A La Hán xong phải tu hạnh Bồ Tát rồi mới tới quả vị Phật không?
Trưởng lão: A La Hán là Phật, mà Phật là A La Hán. Vì mục đích của đạo Phật là vô lậu. Mà một cái người nào mà tu vô lậu tức là hết khổ rồi, mà hết khổ là giải thoát. Qua cái chân lý của đạo Phật chúng ta thấy: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Thì chúng ta biết rõ ràng là Đạo Đế là những cái phương pháp, cái giáo trình để dạy cho người ta tu tập đến cái chỗ mà Diệt Đế. Tức là đến cái chỗ không còn tham – sân – si. Thì cái con đường của đạo Phật chỉ rõ ở trên Tứ Diệu Đế. Bốn cái Chân Lý rất là rõ ràng, chúng ta không còn phải tu tập thêm một cái gì nữa khác.
Một người chứng quả là A La Hán là vô lậu. A La Hán có nghĩa là vô lậu, mà khi vô lậu đó là đã xong rồi. Phật và A La Hán là đồng đều nhau. Nhưng Phật là cái người đã đưa ra được cái giáo pháp, cái chương trình tu học. Còn vị A La Hán, chẳng qua là một người theo con đường đó mà tu học để chứng quả A La Hán mà thôi.
Cho nên, cái vị A La Hán không thể nói là một đấng Giáo chủ được, mà cũng không thể gọi là Phật. Mà gọi là Phật cũng được nhưng vì chỉ có một đức Phật Thích Ca là cái người duy nhất đầu tiên đã đưa ra cái giáo pháp mà người đời sau người ta tôn xưng là Giáo chủ của đạo Phật. Chứ sự thật ra thì đức Phật cũng không mong muốn cái điều đó. Cho nên thường đức Phật tự xưng mình là một “Bà La Môn đúng”.
Chứ không phải người tu A La Hán xong rồi phải tu Bồ Tát hạnh rồi mới chứng quả A La Hán, nghĩa là đem cái công đức độ chúng sanh đó mà thành A La Hán – không!
8- DỰNG LẠI NỀN ĐẠO ĐỨC ĐỂ KHÔNG CÒN CHIẾN TRANH
(40:08) Trưởng lão: Mình đem cái công đức đó, coi chừng mình độ chúng sanh… Chẳng hạn như bây giờ Thầy dạy cho mấy con tu tập, cái công đức đó nó chỉ là pháp hữu lậu mà thôi. Còn cái vô lậu, các con thấy cái pháp vô lậu là Thầy ngồi “thanh thản, an lạc, vô sự”, trong đó không tham – sân – si nó mới gọi là vô lậu.
Còn Thầy dạy mấy con, mấy con thấy Thầy mệt nhọc vô cùng lận! Gọi là tập để mà lấy công đức để mà làm cho mình thành Phật, thì Thầy thấy cái công đức đó Thầy không ham chút nào đâu. Có phải không? Thầy dạy các con khô tiếng nè. Thầy dạy phải chăm sóc các con nè! Phải dạy, phải làm bài, phải chấm bài cho mấy con… Quá vất vả! Thì nói rằng Thầy tập cái hạnh Bồ Tát để làm Phật. Phật gì mà còn khổ đến mức độ vậy?
Vì lòng thương yêu của Thầy, Thầy không nỡ để chúng sanh trên hành tinh này mất đi cái nền Đạo đức Nhân bản – Nhân quả, sống không làm khổ mình, khổ người. Vì lòng thương yêu, Thầy mới chịu cực khổ chứ không phải là vì “Bồ Tát hạnh mà thành Phật” mà Thầy làm cái điều này đâu! Thầy không ham làm Phật, Phật cái kiểu này chắc Thầy hết… Thầy quá hoảng hồn! Nghĩa là cực quá cực mấy con, đâu có sung sướng gì! Nếu mà bây giờ sử dụng cái Bồ Tát hạnh này để độ chúng sanh mà vất vả như thế này thì nó là hữu lậu chứ đâu phải là vô lậu được.
Mà Thầy tu đến chứng quả A La Hán là vô lậu rồi, giải thoát rồi. Vì thương chúng sanh, chứ không phải cầu danh, cầu lợi, cầu ham trên cái thế gian này nữa. Cho nên Thầy đem cả cái sức của mình ra để dựng lại cái Chánh pháp của Phật. Đem lại cái nền đạo đức cho con người ở trên hành tinh không còn đâm chém, giết nhau nữa mà thôi. Không còn ganh ghét, không còn thù hận, không còn oán ghét, không còn giết nhau…
Sự thật ra cái hình ảnh trong chiến tranh – Thầy nói, Thầy là cái người đã chứng kiến từ đầu cái cuộc chiến tranh. Từ giặc Pháp cho đến giặc Mỹ, cho đến mọi mặt ở trong cái đất nước quê hương này là một cái điều Thầy đã chứng kiến. Nhất là tuổi thanh niên của Thầy rất là đau khổ, nghĩa là đủ thứ khổ. Nghĩa là bây giờ ngồi đây, một lát là chết không chừng. Bây giờ ngồi đây, một lát ở tù cũng không chừng. Chưa chắc đã yên.
Còn bây giờ chiến tranh đã hết rồi, hạnh phúc lắm mấy con! Cho nên Thầy ước mong rằng con người đừng có chiến tranh nữa, nước nào cũng đừng có chiến tranh nữa mấy con. Chiến tranh là khổ vô cùng! Xương máu của dân tộc chúng ta đổ biết bao nhiêu! Người Việt chúng ta sẽ giết người Việt mấy con, đau đớn lắm mấy con!
Người Tây, người Mỹ họ đến đây họ cai trị chúng ta, họ chỉ điều khiển người Việt giết người Việt. Giết một cách tàn nhẫn, giết một cách ghê gớm, giết một cách… Đánh đập nhau, cũng người Việt mình đánh đập nhau chứ Tây nó không có cầm cái cây mà nó lại nó đánh mình bao giờ hết.
Thầy nói thật sự, khi nó qua đây nó cai trị chúng ta – người Việt giết người Việt, người Việt đánh người Việt, chứ không có bao giờ mà thằng Tây nó cầm cái cây mà nó đánh người Việt mình hết.
(42:55) Mỹ nó vô đây nó cũng vậy. Nó bắn, nó giết, nó đốt nhà chúng ta nó đốt chứ còn đánh lộn nhau thì mình đánh với nhau không à, đánh đập nhau. Điều tra cũng mình điều tra với nhau, mình cũng đánh đập, những cái cực hình của những người bị tù tội – trời ơi, ghê gớm! Cũng người Việt mình đánh người Việt không.
Cho nên chúng ta cũng chung nhau một đất nước, một quê hương. Mà khi vì danh lợi rồi chúng ta chia ra làm hai nhóm: nhóm này theo Tây, nhóm này theo Mỹ; nhóm này theo bên đây, nhóm này theo bên kia, hai bên. Rồi người Việt với người Việt cũng giết với nhau, cũng đánh đập nhau. Đau đớn!
Cho nên đứng trước cái cảnh đau khổ của chiến tranh rồi, cho nên vì vậy mà Thầy chỉ mong sao cái nền đạo đức dựng lại. Cho không phải riêng đất nước Việt Nam đâu, mà cả thế giới đừng có chiến tranh nữa mấy con. Vì đạo đức “không làm khổ mình, khổ người” đã thấm nhuần cho mọi người thì người ta không còn chiến tranh đâu. Nếu không thì luôn luôn lúc nào cũng có chiến tranh, không nước này cũng nước khác.
Rồi ngày mai đất nước chúng ta cũng chiến tranh nữa. Là vì các con thấy lịch sử có bao giờ nó được kéo dài yên lâu đâu. Nó không yên lâu đâu, lịch sử đã chứng minh điều đó mà. Đất nước chúng ta đã trải biết bao nhiêu đời cua chưa? Đâu có lúc nào mà nó yên ổn đâu mấy con!
Cho nên vì vậy mà con cháu của chúng ta sau này còn một trận khổ nữa chứ không hết. Ví dụ như trong cái thời nhà Minh – Lê Lợi. Thì coi như là ông bà của chúng ta trong cái giai đoạn đó rất là khổ, chết biết bao nhiêu người.
Rồi tới cái giai đoạn mà đất nước của chúng ta bị Pháp cai trị, ông cha của chúng ta chết. Rồi kế đó, tới cái giờ phút mà Thầy lớn lên, từ cái tuổi nhỏ mà sanh ra trong cái giai đoạn của đất nước mình đang bị cai trị. Lớn lên, tiếp nối ông cha của mình chiến đấu.
Cuối cùng biết bao nhiêu thanh niên cỡ như Thầy mất ở trên đất nước này không? Mấy con biết không? Ghê gớm! Nhiều lắm chứ không phải một người đâu, quá nhiều!
(45:00) Rồi đến hôm nay thì chiến tranh chấm dứt nhưng ầm ì ở trong đó nó cũng chưa yên đâu mấy con. Cho nên nếu mà đạo đức không sớm được hướng dẫn con người thì chắc chắn còn khổ đau vô cùng.
Chúng ta thấy rõ ràng mà. Chỉ cần một vài trăm ngàn thôi, mà người ta đang chạy xe, người ta vẫn giật. Một cái điện thoại di động thôi, người ta vẫn giật. Người ta không có tha thứ chút nào, người ta coi mạng sống của con người không ra gì!
Thì cái tâm tham lam của người ta đến mức độ như vậy thì mấy con thấy. Làm sao mà chúng ta đem được cái nền đạo đức cho sớm chừng nào tốt chừng nấy. Hạn chế được cái sự mà tham để giết hại biết bao nhiêu sinh mạng của con người.
Chúng ta tu tập, Thầy nghĩ rằng chúng ta tu tập, không nghĩ lo cho mình giải thoát đâu, nhưng mà nghĩ cố gắng để cho mình làm sao đem lại cái sự bình an cho mọi người, trong đó có mình. Vì vậy mà ráng như thế nào chứ không thể ráng theo cái kiểu mà Bồ Tát hạnh.
Khi đút đầu ra đi dạy mà mình chưa tu chứng, mình sẽ bị tiền bạc, danh lợi nó lôi cuốn mình mất đi. Bởi vì mình chưa tu chứng, cái tâm tham mình còn, cho nên trước cái đống tiền, trước cái danh người ta ca ngợi mình thì mình rất khó mà thắng nó. Rất khó!
Cho nên vì vậy mà Thầy mong mấy con nỗ lực trong năm ba tháng, mấy con tu cái lớp Chánh Tư Duy nó xong, mấy con sẽ “ly dục, ly ác pháp” hết thì mấy con đứng lớp mấy con dạy rất là vững vàng, không ai còn làm cho mấy con mờ mắt được.
Mà cứ ở trong cái Tu viện mà Thầy nhìn từ cái ăn, cái đi khất thực của mấy con mà bị cái ăn, cái uống làm mờ mắt mấy con thì Thầy quá mất những cái hy vọng rồi. Không có còn hy vọng mấy con để đứng mà dạy lớp. Vì nội cái chuyện nhỏ nhỏ không mà mấy con còn dính mắc thì làm sao mấy con không xả. Mấy con phải xả ngay những cái điều đó chứ. Thế mà không có chịu xả thì làm sao?
Rồi tới cái ngủ mấy con cũng xả không nổi nữa! Rồi đến cái độc cư mà xả không nổi thì thử hỏi làm sao mà xả danh, xả lợi cho nổi? Những cái thường như vậy mà không xả được thì những cái khác làm sao xả được? Thầy mong rằng mấy con sẽ cố gắng!
9- THÂN CỦA A LA HÁN LÀ THÂN THANH TỊNH
(47:14) Trưởng lão: Qua cái chỗ mấy con hỏi về cái vấn đề mà không thanh tịnh của một vị A La Hán thì cái điều đó không đúng. Bởi vì vô lậu rồi thì cái tâm dục người ta đã hết rồi, người ta không còn có nữa. Cơ thể người ta toàn bộ thay đổi trên từ pháp Tứ Niệm Xứ, rất là thanh tịnh. Người ta không còn cái thân của một con người bình thường đâu.
Người ta cũng mang cái thân giống như mấy con nhưng mà cái thân người ta thanh tịnh lắm. Người ta thanh lọc được thanh tịnh. Thầy nói như thế này: cái người nam thì họ không còn xuất tinh, mà người nữ thì không còn kinh nguyệt đâu mấy con. Mấy con tu rồi mấy con sẽ biết.
Khi mà thân tâm mấy con có đủ Tứ Thần Túc – nó thanh tịnh vô cùng. Cơ thể của mấy con không còn cái cơ thể của người phàm phu đâu, tự nó thanh tịnh. Đó là cái vấn đề thanh tịnh của bậc A La Hán, chứ đừng nói là bậc A La Hán mà còn. Người nữ mà tu mà còn kinh nguyệt mà A La Hán thì chắc không bao giờ có; mà người nam còn xuất tinh thì không bao giờ có chứng quả A La Hán.
Những cái điều đó là những điều chứng minh qua bản thân của Thầy biết. Khi mà ăn một cái vật gì thúi thì tự nhiên ở trong thân của Thầy nó tự phản ứng. Nó không bao giờ… Bây giờ Thầy uống thuốc rầy hay hoặc nói chung là Thầy uống thuốc chuột đi nữa, tự thân Thầy nó cũng tống ra, nó cũng không bao giờ để cái chất độc đó nó ngấm trong thân Thầy đâu. Cho nên nó là cái thân thanh tịnh rồi, nó đặc biệt rồi – tự nó, nó phản ứng, nó chống lại liền.
Cho nên các con biết khi tại sao mà thân chúng ta là thân nhân quả, thì nó có cái sự thay đổi của thời tiết thì nó phải đau nhức chứ. Nhưng mà khi đau nhức, nó chỉ cần nó hướng đến cái thân không đau nhức là nó không đau nhức chứ. Nó có cái uy lực gọi là hướng tâm. Nó hướng tâm chứ không phải tác ý như chúng ta tác ý đâu.
Còn bây giờ mấy con chưa có đủ cái sức hướng tâm đó cho nên vì vậy mấy con tác ý để trở thành ý thức lực, nó đẩy lui các bệnh của mấy con thôi. Chứ còn cái hướng tâm người ta, cho nên người ta chỉ cần nghe đau chỗ đó, người ta chỉ cần muốn hết đau là nó hết, nó không có còn dây dưa. Đó là cái sự thanh tịnh của thân tâm của người ta. Nó mới có đủ Tứ Thần Túc.
Mấy con nghe chữ Dục Như Ý Túc mà. Dục Như Ý Túc tức là muốn như ý của mình. Thì có ai muốn tiền bạc làm gì? Cái người tu rồi người ta không có ham danh, ham tiền, ham bạc đâu. Mà người ta muốn cho cái sự bình an cho cơ thể và tâm người ta, cho nên luôn luôn nó “thanh thản, an lạc, vô sự”, nó không còn đau khổ.
Tu tới đây chúng ta mới thấy là hạnh phúc. Vì tiền tài vật chất mấy con chết cũng không mang theo. Còn cái “thanh thản, an lạc, vô sự” này các con ở đâu thì nó ở đó, nó không rời mấy con một bước. Đó là cái trạng thái chứng quả A La Hán.
10- TU BỒ TÁT HẠNH RỒI MỚI TU QUẢ VỊ PHẬT LÀ SAI
(49:45) Trưởng lão: Còn cái sắp xếp của Đại thừa thì tu chứng quả A La Hán rồi con phải tu Bồ Tát hạnh, rồi mới tới quả vị Phật. Điều đó điều sai, không đúng. Như vậy thì mấy con thấy quả vị Phật như thế nào khi đức Phật ngồi dưới cội bồ đề 49 ngày, tu chứng đạo rồi đi ra dạy đạo – là lúc bây giờ, người ta gọi Phật hay là gọi là A La Hán?
Lúc bây giờ đức Phật mới ra thôi, chưa có làm hạnh Bồ Tát mà. Mới có ra thôi, tức là tu chứng dưới cội Bồ Đề, đến đó rồi mới suy tư tìm cái người dạy đạo. Thì hai cái vị thầy mà dạy mình về nhập Không Vô Biên Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đó, thì hai vị thầy đó đã chết rồi.
Cho nên đức Phật mới quán thấy năm anh em Kiều Trần Như, là những người này đều là theo hộ mình. Mà từ khi mình ăn lại thô thực để mình tu tập đó, thì mấy vị này coi như mình không còn khổ hạnh nữa, họ không còn chơi với mình nữa, họ đi tìm cái chỗ khác họ ở. Do đó đức Phật quan sát thấy những vị này có thể độ được cho nên mới đến gặp những vị này.
Nhưng mà trước khi đến, những vị này thấy cái bóng dáng của đức Phật đằng xa đi tới thì các vị này nói: “Ông Cồ Đàm này ổng đã lợi dưỡng rồi. Ổng không có khổ hạnh nữa, mình đừng có đứng dậy chào!”, nghĩa là mình đừng có chào ông ta – năm anh em Kiều Trần Như đều nói chung với nhau vậy.
Nhưng mà khi cái oai nghi của đức Phật đi đến thì buộc lòng mấy người đó thấy cái hạnh rất là tuyệt vời, cho nên các vị đều đứng dậy vái chào và xin mang cái bát của đức Phật. Tức là đức Phật mang cái bát ở trên mình, xin để nâng cái bát thì đức Phật chấp nhận và đồng thời đức Phật lên cái tảng đá để thuyết pháp cho năm vị Kiều Trần Như này nghe. Đó là cái bài pháp đầu tiên, tức là bài pháp Tứ Diệu Đế.
Các con đọc lại, như vậy là lúc bây giờ đức Phật mới bắt đầu làm Bồ Tát hạnh à? Rồi Bồ Tát hạnh bao lâu đây mới thành Phật, mấy con? Có phải không? Ở đây trong cái câu này nè: là sau khi chứng quả A La Hán – tức là đức Phật “ly dục, ly ác pháp” hoàn toàn là chứng quả A La Hán rồi chứ gì? Vô lậu rồi mới đi ra dạy đạo, tức là Bồ Tát hạnh, trong khi mới dạy năm anh em Kiều Trần Như. Có phải không?
Như vậy là mới có làm Bồ Tát hạnh. Bao lâu nữa, hay là tới Phật chết rồi mới gọi là Phật? Nhưng bây giờ người ta vẫn chưa Phật mà. Cho nên vì vậy mấy con thấy Đại thừa nó sắp xếp theo kiểu này là sai mất, không đúng.
(52:21) Đó! Hôm nay thì Thầy giảng cho con thấy. Con sẽ hiểu rõ là khi mà chứng quả A La Hán đó, là vị Phật đầu tiên, tức là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ông chứng quả A La Hán rồi ông đến ông dạy đạo – Tứ Diệu Đế. Nó làm sáng tỏ được đạo Phật là ngay từ cái bài thuyết pháp đầu tiên đó.
Đó là một vị A La Hán đầu tiên và dạy đạo đầu tiên, cái bài thuyết pháp đầu tiên. Đó là một vị Phật – không còn phải tu, không còn phải độ chúng sanh. Mà sau khi đức Phật chứng đạo thì đức Phật có quan sát, mấy con – quan sát chúng sanh coi có duyên hay không. Nhưng đức Phật thấy chúng sanh khó độ vô cùng, khó lắm. Nhưng thấy rằng có cái bông sen búp, cái bông sen nở. Thì đức Phật nói có thể được, cho nên vì vậy… Chứ đức Phật cũng muốn nhập diệt nữa, bởi vì thấy chúng sanh khó độ lắm.
Cho nên vì vậy mà với cái lòng thương yêu chúng sanh, thì đức Phật nhìn thấy cái ao sen: có từng cái bông chưa ló lên nước, còn những cái bông thì ló lên nước, đang nở. Thì đức Phật thấy có cái duyên để mà độ chứ không phải không duyên. Cho nên đức Phật mới đem giáo pháp của mình… Do đó mới quan sát các vị thầy của mình, dùng cái Tam Minh mà quan sát lần lượt, để soi sáng đó, thấy năm anh em Kiều Trần Như. Cho nên mới biết là những người này là những người đệ tử đầu tiên của mình độ. Cho nên đức Phật mới đến đó mà thuyết giảng cái bài. Rồi từ đó về sau này mới thấy đạo Phật phát triển.
Không phải cái chỗ đó là cái chỗ mà đức Phật làm Bồ Tát hạnh đâu mấy con. Chỗ đó là A La Hán đi độ chúng sanh chứ không phải A La Hán là ích kỷ – tu rồi nhập diệt như các Đại thừa đã nói đâu. Không phải đâu. Người ta tu chứng rồi, người ta độ chúng sanh là vì thương chúng sanh.
Cũng như Thầy tu xong rồi, Thầy làm chủ được sanh tử rồi. Thầy cũng quan sát là mình không có duyên với chúng sanh, cần phải tạo duyên. Mà tạo duyên bằng ai bây giờ? Không ngoài cái miệng (uy tín) của thầy Thanh Từ thì còn ai hơn nữa?
11- TU XONG MỚI NÊN DẠY ĐẠO
(54:27) Trưởng lão: Nếu mà Hòa thượng Thanh Từ không nói về Thầy đã chứng thế này thế khác thì ai mà theo Thầy mấy con? Một cái người tiểu tốt như Thầy, ai thèm theo. Đức Phật ngày xưa còn là vua chúa, người ta còn nghe; chứ còn một nông dân như Thầy làm sao ai mà thèm nghe đâu. Thầy bây giờ có vỗ ngực xưng tên nói rằng tu chứng, ai có thèm nghe!
Đây, bây giờ ở đây Thầy có một đệ tử, đó là thầy Từ Minh. Vừa rồi thầy về đây, thầy gặp ai thầy cũng nói mình đã tu chứng thế này thế khác. Ai tin không? Nhưng mà đến để mà gặp Thầy, Thầy nói: “Tu chứng thì chứng như thế nào? Trình bày cho Thầy. Nếu mà quả đúng Thầy sẽ trợ giúp cho”. Thầy sẽ nói cho: “Cái người này là tu chứng nè”. Chứng như thế nào – Thầy tuyên bố cho mọi người thì người ta sẽ đến chứ không phải là tự miệng mình nói mình chứng mà người ta nghe đâu. Dù mình có tu chứng mình nói người ta cũng không nghe đâu.
Mình phải nói một cái gì cho cụ thể, cho mọi người khác người ta có cái trình độ, người ta nghe người ta mới hiểu chứ còn mình nói láp váp bậy bạ thì ai tin. Cho nên có nhiều người tự xưng mình, mà xưng – ai theo đâu. Có ai nghe đâu! Cho nên rất khó mấy con.
Bây giờ Thầy nói như thế này này nè. Thầy Chân Quang mà hôm nay thầy làm được những cái công việc mà gọi là cái chùa Phật Quang rất là nổi đó, mà có hàng ngàn người đến theo thầy nghe pháp đó – là thầy dựa vào kinh sách, thầy thuyết giảng qua cái tri kiến hiểu biết của thầy. Có nhiều cái người ta không hiểu mà thầy giảng hiểu, cho nên người ta mới theo. Chứ còn nếu mà thầy tự thầy đặt ra kinh sách, thầy tự thầy đặt ra, thầy nói thầy tu chứng thế này thế khác – ai mà theo, mấy con!
Cho nên mấy con thấy rằng nó có cái duyên, nó có cái khả năng trong đó nó mới làm được. Cũng như bây giờ, mấy con ra mấy con nói là tôi tu chứng, mấy con nói, ai tin mấy con không? Không bao giờ ai tin.
Bây giờ mấy con muốn người ta tin thì mấy con đưa ra một cái bài thuyết pháp, một cái bài kinh Phật nào đó thuyết pháp; mà nếu con dựa vào những người thuyết pháp từ lâu tới giờ mà con lặp lại cái nghĩa đó thì người ta thấy con cũng là một giảng sư bình thường thôi, người ta cũng không tin đâu. Nghĩa là mấy con cũng nói như mấy người kia, thì sao người ta tin. Cho nên mấy con phải nói khác, nói như thế nào mà người ta thấy “ờ cái này nó có cái lạ mới đây” thì người ta mới tin. Nếu mà người không tu chứng, làm sao mà trong góc độ nào làm sao người ta hiểu được cái này, mà người ta nói cái này.
Còn vì mình cứ nhẩm lại cái lối mòn người khác thì coi như là mình học lại của người khác thì người ta cũng hiểu cái đó rồi. Có gì đâu mà người ta học của con đâu. Cho nên cái mà được người ta tin thì cái đó phải là mới mẻ, không thể nào mà còn lặp lại cái ý cũ của người khác. Cho nên thầy Chân Quang thầy có những cái kiến giải rất là sâu sắc, khi mà về đây Thầy thấy thầy Chân Quang sẽ thành lập một góc trời. Nhưng mà phải hướng dẫn sao cho đúng con đường Đạo đức Nhân bản – Nhân quả thì nó lợi ích cho chúng sanh rất lớn. Không khéo thì người ta cũng sẽ thấy hay đó rồi người ta sẽ theo tức là người ta sẽ bị lệch đi. Người ta bị lệch, rất là tội!
(57:27) Nhưng mà vì cái duyên của chúng sanh thì không làm sao mà hàng phục. Bởi vì có cái duyên đó để một số người, người ta theo cái hướng đó. Cho nên Thầy cũng không cấm cản được cái điều đó. Chứ thầy Chân Quang có thể nói rằng, thầy sẽ đứng ở trong cái vị trí của cái Trung tâm An dưỡng, nếu trong thời đó mà Thầy xin phép được cái Trung tâm An dưỡng. Và đồng thời Thầy với thầy Chân Quang gần gũi nhau thì không có lệch đâu. Và chúng sanh rất tốt đó mấy con.
Những người mà có tài có năng như vậy mà đồng hợp tác với nhau mà làm đúng thì đem lại… Hiện bây giờ, từ cái ngày mà Thầy ra Phước Hải tới bây giờ, nếu mà cái Trung tâm An dưỡng được thành hình – được thầy Chân Quang và Thầy mà làm việc – thì chắc chắn bây giờ cái nền đạo đức rất là sáng suốt vô cùng, bao nhiêu người được lợi ích rất lớn.
Cái số người hiện giờ theo thầy Chân Quang các con biết bao nhiêu không? Rất là đông, chứ không phải ít đâu. Cho nên nếu mà được cái điều kiện mà tốt từ ngay lúc đầu thì bây giờ cái Đạo đức Nhân bản – Nhân quả nó sẽ nhân rộng biết bao nhiêu không? Còn bây giờ, thầy (Chân Quang) chỉ có một cái phần rất là nhỏ mà thầy gọi, thì thầy nói về “Nhân bản – Nhân quả”, nó chỉ rất là nhỏ chứ đâu có lớn.
Đó thì mấy con thấy, cả nếu trong khi mà Hòa thượng Thanh Từ, thầy Chân Quang và Thầy – cả ba huynh đệ, cả thầy trò và huynh đệ với nhau – hợp nhau mà xây dựng cái nền đạo đức của Phật giáo, lợi ích cho bây giờ. Các con biết Hòa thượng Thanh Từ, đâu phải là cái số người mà theo Hòa thượng ít đâu – quá nhiều, khắp thế giới chứ không phải. Rồi thầy Chân Quang, một số người theo thầy Chân Quang thì mấy con biết bao nhiêu không? Thầy đối với các thầy đó chỉ là số không.
Cái số đệ tử của Thầy đối với quý vị đó là chưa có gì hết đâu. Các con biết, nếu mà được hợp tác với nhau mà dẫn dắt nhau để hướng dẫn cho Phật tử, hướng dẫn cho người tu trên con đường mà đúng Chánh pháp của Phật, dựng lại cái nền đạo đức – Thầy nghĩ rằng giờ này, tới bây giờ đây, hai mươi mấy năm – thì bây giờ nó lợi ích biết bao nhiêu không? Quá lớn mấy con! Nghĩa là cần hợp tác với nhau thôi, đừng có ở trên cái vị trí danh lợi thì chúng ta sẽ đẹp biết bao nhiêu.
Nhưng mà vì cái tâm chưa có “ly dục, ly ác pháp”, chưa có chứng quả A La Hán cho nên bị danh lợi làm sao mà hợp tác được. Danh lợi nó chìm đi, nó phải chia đi; chứ còn nếu mà nó hợp được thì mấy con biết lợi ích vô cùng, lợi ích lớn lắm.
(59:44) Tại vì tu chưa chứng cho nên nó có nhiều cái chướng ngại – do cái tâm tham danh, tham lợi của chúng ta. Đứng ở góc độ nào thì hào quang mình chiếu sáng thì không muốn cho ai xen vào trong đó. Cái anh hùng cá nhân của chúng ta nó lộ ra chỗ này, nó quá khó rồi. Tội cho những người khác, người ta không có đủ trí tuệ; cho nên vì vậy mà người ta thấy hay, người ta cứ theo thôi. Rồi cho khi đến cuối đời người ta cũng chẳng được gì thì chừng đó người ta mới hay thôi.
Còn ở đây, Thầy mong rằng những cái lớp học Thầy đào tạo cho mấy con, thực chất là cho mấy con được giải thoát hoàn toàn chứ không có nói vu vơ, không có nói mơ hồ. Đúng như lời đức Phật dạy: “Bảy ngày, bảy tháng, bảy năm” – phải thực hiện cho được!
Đó là một cái sự tu tập của chúng ta hôm nay và trong những cái lớp mà được Thầy chọn lựa, mấy con được chọn lựa. Nhưng mà Thầy rất là buồn là vì thấy mấy con trong khi tu tập để được vô lậu hoàn toàn như vậy mà còn bỉ thử, nghĩ cái điều này, nghĩ cái điều kia, rồi tranh chấp hơn thua, giỏi dở.
Thầy không cần cái giỏi lắm, mà Thầy cũng không cần cái dở lắm, là tại vì cái trung bình, cố gắng tích tập. Bây giờ thí dụ như thay vì mấy con ngồi, mấy con cố gắng mấy con viết được một cái bài này; thì thay vì mấy con đọc lại, rồi mấy con lập kỹ lại, rồi mấy con hiểu biết ở trong cái bài này nó dễ dàng hơn là tự mấy con triển khai. Các con hiểu không? Bây giờ có cái bài như thế này, mấy con sẽ đọc, từ đó mấy con làm cái dàn bài, nói không biết làm như thế nào đúng, cái nào trước, cái nào sai?
(01:01:13) Nhưng bây giờ có một cái người làm sẵn rồi, mấy con coi theo đó rồi mấy con thấy: à cái này không có khó. Và đồng thời mấy con nhẩm ở trong đầu của mình, mình sẽ viết cái bài, mình sẽ lập y như thế này. Thì cái dàn bài nó sẽ có sẵn trong đầu của mấy con thì sau này mấy con dễ hơn là bắt đầu, mới đầu. Cho nên chúng ta huân cái hiểu biết của Phật, huân cái hiểu biết của huynh đệ mình – không hơn kém nhau đâu.
Mình đừng có nghĩ danh, nghĩ lợi hơn thua nhau mà mình thấy đây là cái sự tích tập sự hiểu biết của mình. Mỗi người có cái hiểu biết để giúp đỡ chúng ta trên cái sự hiểu biết. Cuối cùng thì cái sự hiểu biết nó huân về mình. Nó huân về mình để làm gì? Để cho mình hiểu biết, để mình xả cái tâm, để cho mình đi tới rốt ráo, để cho mình hoàn toàn làm chủ cái sự sống chết. Đây là không phải hạnh phúc sao?
Mình là người đang học, đang tu, đang thu lượm lại những cái mà mình chưa biết để cho mình hiểu biết. Để cuối cùng mình trở thành cái hiểu biết để cho mình xả được cái đau khổ, cái không có giải thoát ở trong thân tâm của chúng ta, ở trong mình.
Đó, thì Thầy trả lời như vậy. Biết rằng đạo Phật nó không có tu cái Bồ Tát hạnh, nhưng mà Đại thừa thì tu Bồ Tát hạnh. Nó là cỗ xe lớn, cho nên nó sẽ tu Bồ Tát hạnh. Còn đối với chúng ta thì chúng ta không đủ sức kham nhẫn mà tu cái Bồ Tát hạnh.
Là vì chúng ta tu chưa xong mà chúng ta độ người khác thì chúng ta như người chưa biết lội mà đi cứu người chết đuối, hoặc là người mù mà dẫn một đám mù đi – thì chúng ta không nên làm cái điều đó. Trong kinh Nguyên thủy thì đức Phật rất căn dặn chúng ta: khi tu tập chưa tới nơi tới chốn thì đừng dạy ai hết mà phải tu tập cho tới nơi tới chốn!
HẾT BĂNG
Đang trực tuyến: 5 | Lượt truy cập: Hôm nay: • Tổng: | Lượt xem trang: Hôm nay: • Tổng:


