(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)
LCK 091C – (Nam) Chuẩn bị các pháp tu để vào lớp Chánh tư duy – Định vô lậu đúng cách – Xả tâm đúng cách
LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 091C
CHUẨN BỊ CÁC PHÁP TU ĐỂ VÀO LỚP CHÁNH TƯ DUY – TU TẬP ĐỊNH VÔ LẬU ĐÚNG CÁCH – XẢ TÂM ĐÚNG CÁCH
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Người nghe: Tu sinh nam
Thời gian: 14/02/2006
Thời lượng: [51:41]
1- NHẬN XÉT BÀI LÀM CỦA TU SINH – CHUẨN BỊ CÁC PHÁP TU TẬP TRÊN LỚP CHÁNH TƯ DUY
(00:00) Trưởng lão: Như quý thầy với quý cư sĩ đã nghe được cái bài Từ Tâm của Thanh Quang, như vậy thì chúng ta cố gắng ai có duyên với Từ Tâm thì thực hiện ngay Đức Từ Tâm, đi một pháp đến cuối cùng để “ly dục, ly ác pháp” hoàn toàn. Trong bài Đức Từ Tâm của Thanh Quang, Thầy có khuyên Thanh Quang nên tu tập Đức Từ Tâm. Đó là cái duyên. Khi làm bài nó cụ thể rõ ràng, thiết thực nói đến Đức Từ Tâm.
Vì vậy hằng ngày chúng ta rèn luyện Đức Từ Tâm, tức là tu một pháp độc nhất để đi vào cứu cánh giải thoát hoàn toàn.
Ngày xưa em ông Cấp Cô Độc tu Tâm Từ mà chứng quả A-la-hán, hôm nay Thầy mong rằng trong lớp tu học Bát Chánh Đạo sẽ có người sử dụng Đức Từ Tâm đi đến rốt ráo. Và đồng thời chúng ta còn một bài nữa là Đức Xả Tâm. Vậy cố gắng làm xong để chúng ta vào lớp học Chánh Tư Duy, lớp quyết định cho cuộc đời tu hành của chúng ta bằng phương pháp Định Vô Lậu, để quét sạch những lậu hoặc trong thân tâm của chúng ta.
Vậy Thầy mong rằng còn mấy hôm nữa, người nào mà thực hiện được một Pháp duy nhất, người nào thực hiện không được thì nên tu Tứ Niệm Xứ và do sự hướng dẫn của Thầy. Người nào vào trễ thì hãy chờ đợi khoá sau. Còn khoá này thì Thầy không có đủ thời gian để chấm bài, để hướng dẫn cách thức để triển khai Tri Kiến Giải Thoát, để triển khai Định Vô Lậu.
(02:07) Vừa rồi quý thầy đã nghe đọc hai bài. Bài đầu thì chúng ta biết cách để làm dàn bài, bài thứ hai được đọc để nghe triển khai tri kiến tâm Từ của chúng ta. Đó là phương pháp tu tập Định Vô Lậu, mà người đời và trong đạo thì thường cho đó là Thiền quán.
Vậy Thầy mong rằng quý thầy đến sau chưa đủ thời gian học tập, chưa triển khai được tri kiến Định Vô Lậu thì hãy lần lượt nghe rồi cố gắng tập luyện. Bắt đầu, những vị mới vào sau thì nên tập Định Niệm Hơi Thở. Mười sáu đề mục của Định Niệm Hơi Thở, mười tám đề mục của Định Niệm Hơi Thở, và mười chín đề mục của Định Niệm Hơi Thở, phải tu tập nhuần nhuyễn.
Nhất là nhiếp tâm và an trú tâm trong một phút cho trọn vẹn. Đừng nhiếp tâm nhiều mà chỉ một phút mà thôi. Đồng thời phải tu tập Chánh Niệm Tỉnh Giác đi kinh hành và pháp Thân Hành Niệm để phá hôn trầm, thùy miên, vô ký. Cuối cùng thì nên tập Định Thư Giãn tức là Định Sáng Suốt để quen dần với trạng thái trên Tứ Niệm Xứ. Đó là những người mới vào.
(03:53) Còn quý thầy và quý cư sĩ đã được học lớp này xong, còn mấy hôm nữa thì bắt đầu qua lớp Chánh Tư Duy, lớp tu tập xả tâm bằng tri kiến của chúng ta.
Hiện giờ thì chắc chắn trong lớp này mọi người đều nhiếp tâm – an trú tâm 1 phút, đều đạt được chất lượng một phút từ ngày tu tập đến giờ. Thầy chỉ cho 1 phút mà thôi.
Một phút nhiếp tâm – an trú tâm để làm gì? Phải lưu ý! Chúng ta không phải nhiếp tâm – an trú tâm để tăng từ 2 phút, 5 phút, 10 phút – không phải. Chúng ta nhiếp tâm – an trú tâm là để chúng ta đẩy lui các chướng ngại pháp trên thân của chúng ta, tức là bệnh khổ.
Khi có những trạng thái cảm thọ khổ đau trên thân thì cần một phút nhiếp tâm – an trú tâm trên bước đi, trên cánh tay, hoặc trong hơi thở thì chúng ta mới có đủ sức đẩy lui các chướng ngại pháp của Thân – Thọ.
Còn về tâm chúng ta, tất cả các niệm thì chúng ta dùng Định Vô Lậu để xả, để diệt, để trừ tất cả các niệm. Cho nên chúng ta có phương pháp hẳn hòi. Đối với thân thì có pháp để trị các cảm thọ của thân. Đối với tâm thì có Định Vô Lậu, có Tri Kiến Giải Thoát, hoàn toàn chúng ta không ức chế tâm.
Như vậy chúng ta bước vào lớp Chánh Tư Duy sắp tới là chuẩn bị tất cả những phương pháp để mở màn chiến đấu với mặt trận sanh tử. Một là chúng ta thắng, hai là chúng ta thua. Nhưng Thầy thiết nghĩ rằng chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng tư thế chiến đấu thì chắc chắn chúng ta là những người chiến thắng chứ không phải là những người chiến bại.
(05:50) Thầy mong rằng những bài viết của quý thầy được Thầy chấm, Thầy xem, những người có khả năng Định Vô Lậu thì Thầy tin rằng quý thầy sẽ “ly dục, ly ác pháp” sẽ chiến thắng được từng tâm niệm tham – sân – si của mình, hoàn toàn sẽ quét sạch qua tri kiến của chúng ta.
Vậy Thầy mong rằng lớp học của chúng ta sẽ bắt đầu giai đoạn thực hành, không còn chần chờ nữa. Còn những người tu sau thì chờ khoá sau chứ còn không thể theo khoá này được. Thầy cũng không đủ thời giờ để tiếp để dạy quý thầy trong khoá sau được, nhưng quý thầy vẫn có quyền tham dự, vẫn có quyền tập tành nhưng phải đi vào từng căn bản. Chờ khóa sau thì bắt đầu học lại lớp Chánh Kiến.
Còn như vừa rồi, Thầy đọc của sư Minh Tiên. Sư Minh Tiên viết bài như thế này chưa được, phải hỏi lại và tìm cách viết từ cái Tâm Từ, Tâm Bi, Tâm Hỷ, Tâm Xả. Đây là Pháp Độc Nhất của Tứ Vô Lượng Tâm mà triển khai như thế này thì không thể nào triển khai Tâm Từ, Tâm Bi, Tâm Hỷ, Tâm Xả được.
Thầy mong rằng chỉnh trở lại. Cái gì không hiểu sẽ được hỏi thưa để triển khai lại cái tri kiến của mình cho đúng cách, để tu tập Định Vô Lậu, hoàn toàn ba lậu hoặc không còn có trong thân tâm mình nữa. Chứ viết như vầy thì không thể được, không thể dẹp được lậu hoặc mà bị ức chế tâm.
Sư Minh Tiên mà viết như thế này thì sẽ bị ức chế tâm, không có xả được tâm. Hiểu như thế này thì bị ức chế tâm, nghĩa là luôn luôn không đạt được chất lượng giải thoát. Thầy mong rằng chuẩn bị những điều kiện mà Thầy nói, để chuẩn bị cho đúng, viết cho đúng, làm cho đúng.
Ở đây chúng ta đi vào đạo Phật là đi vào đạo trí tuệ chứ không phải là liệt tuệ – thắng tuệ chứ không phải liệt tuệ, cho nên đòi hỏi phải có đủ sức hiểu biết.
2- DIỆT TRỪ CẢM THỌ TRÊN THÂN TÂM – GIẢI QUYẾT THỨC ĂN DƯ – PHÁP THÂN HÀNH NIỆM
(08:15) Trưởng lão: Thầy sẽ trả lời – của sư Chơn Niệm:
Hỏi: Khi có các cảm thọ lạc hoặc khổ khởi lên trên thân tâm, nó do từ bên ngoài đập vào, hoặc khởi lên từ thân tâm, hoặc cả hai kết hợp lại? Kính mong Thầy chỉ dạy cho con được thông suốt.
Trưởng lão: Cái câu hỏi này là khi thọ lạc, thọ khổ từ trong thân mình hay hoặc là từ bên ngoài tác động vào, để muốn diệt nó.
Muốn diệt nó thì từ ở trong thân, chúng ta có những phương pháp để mà chúng ta tu tập như Định Niệm Hơi Thở, đó là về cảm thọ của thân; nhưng về tâm thì chúng ta có Định Vô Lậu thì dùng tư duy mà xả nó.
Còn nếu về các pháp bên ngoài mà gây cho chúng ta những thọ lạc, thọ khổ, thọ bất lạc bất khổ thì chúng ta có pháp phòng hộ và Như Lý Tác Ý để phòng hộ mắt – tai – mũi – miệng – thân – ý không cho tác động vào. Do đó chúng không gây cho chúng ta thọ lạc, thọ khổ, thọ bất lạc bất khổ. Đó là chúng ta có phương pháp rồi, dùng các phương pháp ấy mà ngăn chặn mà diệt trừ những thọ lạc, thọ khổ, thọ bất lạc bất khổ khởi lên – bên ngoài hoặc bên trong.
Các thầy đã học phương pháp rồi, do đó áp dụng vào những phương pháp đó mà diệt trừ tất cả các cảm thọ.
(09:49) Hỏi: Về phần mỗi bữa ăn đều có dư bịch nilon và hộp xốp, xin Thầy cho phương cách giải quyết chung bịch nilon và hộp xốp.
Trưởng lão: Nghĩa là mỗi người được lãnh khẩu phần ăn của mình thì còn có thừa dư. Không thừa dư đâu. Nếu có thừa dư, những thực phẩm đó sẽ được bố thí cho những người khách vãng lai, hoặc tất cả khách vãng lai đều do cô Út đã đài thọ thì những cái hộp xốp thực phẩm và bịch nylon dư đó sẽ được bố thí cho những người nghèo xung quanh chúng ta. Các con đừng lo gì hết. Đó là giải quyết vấn đề ăn uống ở trong Tu viện.
(10:42) Hỏi: Bạch Thầy, con xin hỏi khi con đi kinh hành phá hôn trầm, an trú Chánh Niệm Tỉnh Giác, thở năm hơi thở: “Với tâm giải thoát, tôi biết tôi hít vô, với tâm giải thoát, tôi biết tôi thở ra”.
Trưởng lão: Minh Trí con hỏi điều này như thế nào?
“Khi đi kinh hành phá hôn trầm” – thì đi kinh hành đó là phá hôn trầm rồi.
“An tịnh, Chánh Niệm Tỉnh Giác, thở năm hơi thở”. An tịnh, Chánh Niệm Tỉnh Giác đi kinh hành thì tức là mình Chánh Niệm Tỉnh Giác nơi bước đi của mình, thì lúc bấy giờ là phá hôn trầm.
“Thở năm hơi thở: Với tâm giải thoát, tôi biết tôi hít vô. Với tâm giải thoát, tôi biết tôi thở ra.” – nghĩa là muốn phá hôn trầm thuỳ miên mà người ấy đang ngồi, không muốn đi thì dùng cái câu tác ý: “Với tâm định tỉnh, tôi biết tôi hít vô. Với tâm định tỉnh, tôi biết tôi thở ra” thì đúng. Chứ “Với tâm giải thoát, tôi biết tôi hít vô. Với tâm giải thoát, tôi biết tôi thở ra” thì không đúng.
Cái câu đề mục của Định Niệm Hơi Thở “Với tâm giải thoát, tôi biết tôi hít vô. Với tâm giải thoát, tôi biết tôi thở ra” để sử dụng cho phá hôn trầm thùy miên thì không được. Không đúng.
(12:02) Hỏi: Vừa đi kinh hành vừa nhiếp tâm an trú độ một phút, bạch Thầy như vậy có được không?
Trưởng lão: Được. Bởi vì nhiếp tâm đi kinh hành tức là nhiếp tâm trong cái bước đi và an trú ở trong cái bước đi trong 1 phút, thì đó là cách thức tập Chánh Niệm Tỉnh Giác ở trong một phút nhiếp tâm và an trú. Được, cái này tu tập tốt.
(12:23) Hỏi: Bây giờ con đã “ly dục, ly ác pháp”, con tu Thân Hành Niệm, con tác ý theo đúng mệnh lệnh, tác ý từng tiếng, động tác liên tục. Như vậy có được không? Vì nó là pháp cuối cùng.
Trưởng lão: Ở đây khi tu Tứ Niệm Xứ, hiện giờ tu pháp Thân Hành Niệm là tập để khi chúng ta phá cái hôn trầm thuỳ miên thôi, cũng như làm quen với cái pháp đó thôi.
Chứ chưa phải là cái pháp tu mà chúng ta tu để đạt cái cuối cùng của con đường tu. Khi chúng ta tu Tứ Niệm Xứ, tâm “thanh thản, an lạc, vô sự” trong 12 tiếng đồng hồ – suốt 12 tiếng đồng hồ “thanh thản, an lạc, vô sự” không chướng ngại – mà chưa có đủ Tứ Thần Túc thì chúng ta mới ôm pháp này mà tập suốt một đêm, hoặc tập suốt một giờ, hai giờ, ba giờ cho đến khi nào chúng ta thấy Tứ Thần Túc hiện đủ thì chúng ta thôi.
Còn chưa đủ thì chúng ta ôm pháp này đi mãi, tập mãi cho đến khi có Tứ Thần Túc. Còn hiện giờ nếu mà tập, hiện giờ tâm chúng ta chưa “ly dục, ly ác pháp”, Tứ Niệm Xứ chưa sung mãn mà ôm pháp Thân Hành Niệm mà tu thì chúng ta sẽ bị các trạng thái Tưởng và bị ức chế tối đa. Do đó chúng ta sẽ bị rối loạn thần kinh hoặc có thể điên khùng nữa là khác.
Cho nên pháp này là pháp cuối cùng để thực hiện Tứ Thần Túc chứ không phải để thực hiện pháp xả tâm, “ly dục, ly ác pháp” gì cả. Chỉ có Tứ Niệm Xứ là trong khi tu tập để “ly dục, ly ác pháp”, để xả tâm để đạt được Bất Động Tâm mà thôi.
(14:19) Câu hỏi ba.
Hỏi: Những nửa tiếng con tu mà không có niệm khởi và vọng tưởng thì có lạc vào tà không ạ?
Trưởng lão: Trong khi ngồi tu đúng cách như tu Tứ Niệm Xứ giữ tâm “thanh thản, an lạc, vô sự” khoảng nửa tiếng, một tiếng hay hoặc là hơn nữa mà không một niệm khởi, không một vọng tưởng lạc vào thì không có sao hết. Nhưng, cũng trong nửa tiếng hoặc một tiếng ở trạng thái “thanh thản, an lạc, vô sự” mà có những trạng thái Tưởng: thấy bóng dáng, nghe âm thanh trong tai, nghe mùi hương – đó là những trạng thái Tưởng, tức là đã rơi vào Không Tưởng, chứ không phải còn ở trạng thái sung mãn của Tứ Niệm Xứ nữa. Coi chừng, hễ có những trạng thái Tưởng là sai.
Còn không có trạng thái Tưởng, vẫn thấy “thanh thản, an lạc, vô sự” đó là đúng.
Không một trạng thái gì xen vào trạng thái “thanh thản, an lạc, vô sự” thì đúng. Nhưng phải thấy, điều cảnh giác là khi tâm “thanh thản, an lạc, vô sự” có một trạng thái hỷ lạc xuất hiện; trạng thái hỷ lạc xuất hiện, nếu là Xúc Tưởng Hỷ Lạc thì ý thức không còn làm việc, còn ý thức còn làm việc thì không phải là trạng thái của Xúc Tưởng Hỷ Lạc. Ý thức còn làm việc tức là chúng ta còn tác ý, còn thấy biết rõ được Tứ Niệm Xứ của chúng ta rõ ràng.
Còn lúc bấy giờ không nhận thấy Tứ Niệm Xứ nữa mà thấy có trạng thái hỷ lạc không, thì coi chừng là sai.
(16:00) Câu hỏi bốn.
Hỏi: Khi con tu tập, có lúc mệt con xả nghỉ dù là chưa hết giờ hoặc đến giờ; con tạm nghỉ hồi sức, con lại tiếp tục. Như vậy có phạm vào nội quy không ạ?
Trưởng lão: Khi trong thời gian mình quy định tu tập 1 giờ, trong lúc đó mới 40 phút đã mệt. Tu pháp môn gì, Định Niệm Hơi Thở hoặc là Tứ Niệm Xứ?
Sự thật ra tu Tứ Niệm Xứ thì không bao giờ mệt vì không có vận dụng ức chế tâm, vì không có vận dụng sức lực của mình để tập trung, chỉ ngồi chơi. Mà luôn lúc nào có những chướng ngại trên bốn chỗ Thân – Thọ – Tâm thì chúng ta mới sử dụng các pháp khác để đẩy lui mà thôi.
Thì vậy không lý ngồi tu Tứ Niệm Xứ mà mệt sao? Không lý, không có.
Chỉ có khi nào mà chúng ta đi kinh hành quá sức thì có mệt, hoặc chúng ta vận dụng hơi thở để tu các hơi thở thì có mệt. Hoặc chúng ta vận dụng để trụ tâm trong “tâm thanh thản, an lạc, vô sự” thì có mệt. Chứ chúng ta ngồi để quan sát bốn chỗ Thân – Thọ – Tâm – Pháp thì không bao giờ có mệt.
Vì ngồi chơi, mà có chướng ngại trên Thân – Thọ – Tâm thì sử dụng pháp khác mà đuổi chứ không có làm cái công việc gì ở trên bốn chỗ Thân – Thọ – Tâm này cả, mà chỉ có một pháp duy nhất là phải tỉnh giác trên bốn chỗ mà thôi. Nghĩa là tỉnh thức trên bốn chỗ mà thôi. Đừng để hôn trầm thuỳ miên xen vào. Đừng để quên đi bốn chỗ đó thôi, chứ không có tập trung, không có làm gì cả.
Cho nên khi mà mệt, ở đây hỏi rõ: à, bây giờ con tu Định Niệm Hơi hoặc là đi kinh hành Chánh Niệm Tỉnh Giác, hoặc là con tu cái pháp gì mà nó mệt, thì trong cái thời gian con tu 1 giờ mà 40 phút nó đã mệt. Nhưng mà phải nói rõ cái pháp để Thầy xác định cho rõ. Còn hỏi như thế này thì Thầy không biết là tu cái pháp gì cho nên Thầy chưa có xác định được. Minh Trí hỏi Thầy!
Đó, thì mấy con hỏi: “Con tu cái pháp đó như vậy, như vậy có được không?”. Còn nói chung chung thì rất khó trả lời.
Tu sinh Minh Trí: Bạch Thầy, là trong lúc con đi kinh hành!
Trưởng lão: Trong lúc con đi kinh hành mà bị mỏi mệt thì đó là cái pháp tu của con, con nghỉ được, không sao hết. Còn nếu con tu cái pháp Tứ Niệm Xứ thì không bao giờ mỏi mệt. Thì được nghỉ, nghỉ con không đi. Con nghỉ rồi một lúc con khoẻ con lại tiếp tục tu, không sao hết.
Bây giờ quý thầy, các cư sĩ có hỏi Thầy gì thêm không?
3- CÁCH THỨC TU TẬP ĐỊNH VÔ LẬU
(18:53) Trưởng lão: Trong những bài tập Thầy đã chấm xong, vậy thì nhờ con gửi lại cho quý thầy. Cái bài Tâm Từ của Thanh Quang, cái bài đó con sửa lại một chút xíu đi, đăng báo được.
Ở đây cái phần tu tập của mấy con tu về cái Định Vô Lậu, triển khai cái tri kiến thì coi như một số người được vào cái lớp Chánh Tư Duy tu tập được. Nghĩa là những cái bài viết của mấy con chứng tỏ được cái tri kiến của mấy con vào lớp tu tập tốt, chứ không có khó khăn nữa.
Nhưng dù sao đi nữa, vào cái lớp tu trong một tháng thì sau khi một tháng, Thầy sẽ kiểm lại, kiểm lại coi từng cái sự tu tập của mấy con đạt đến cái mức độ nào, coi xả tâm được ở chỗ nào. Và những người nào mà kém thì được Thầy trợ giúp thêm qua những cái, bắt buộc mấy con phải làm những cái bài qua những cái niệm của mấy con. Rồi trong khi đó Thầy duyệt lại cái bài coi mấy con xả như thế nào mà nó không thanh tịnh. Còn những người nào tu tập mà xả được thanh tịnh thì bốn cái chỗ Tứ Niệm Xứ nó sẽ sung mãn. Và khi nó sung mãn thì lợi ích rất lớn, mấy con thấy an trú rất rõ ràng.
(21:13) Cái này là sư Thông Châu. Thông Châu là ai? Ở đây có người nào pháp danh Thông Châu không? Như vậy là chắc về rồi chứ gì. Chắc sư Thông Châu không có ở đây, về rồi. Cho nên có ghi số điện thoại ở Thành phố Hồ Chí Minh, để có sự trực tiếp. Ở đây cái bài làm của sư thì không theo dàn bài, quán Tâm Vô Lậu không theo thứ tự triển khai, cho nên cái chiều sâu không có nổi bật, nói lung tung. Cho nên trong cái vấn đề viết thì cũng có viết đây mà viết không theo thứ tự được, mà nói lung tung. Tức là chưa biết quán Định Vô Lậu.
Hầu như quý sư, quý thầy mà viết bài, nghe nói Định Vô Lậu thì ai cũng nói tôi quán được hết, nhưng mà khi làm bài rồi thì mới thấy Định Vô Lậu quý thầy chưa biết cách quán Định Vô Lậu. Cho nên có học, có tu tập mới biết được cái trình độ Quán Vô Lậu. Cũng như người ta nói Thiền Quán, rồi cứ giảng một số kinh sách nào đó rồi để tự người đó quán, quán điên quán khùng, quán bậy bạ không à, quán bên đây quán bên kia không có đúng cách.
Chứ ít ra cũng phải hướng dẫn người ta tu cái Định Vô Lậu như thế nào, tư duy như thế nào, suy nghĩ như thế nào cho nó đúng cách. Chứ không phải đụng đâu quán đó, nói tùm lum đủ thứ, quán thân vô thường rồi quán vô thường đủ cách trong đó. Dựa vào một số hiểu biết rồi mình quán có chút cái hết, không biết cái vô thường nào mà nói nữa.
(22:58) Cho nên cái sự tu học về Định Vô Lậu nó không phải khó, mà nó cần phải triển khai cho người ta biết cách để cho người ta đi vào cái Định Vô Lậu. Như muốn làm một bài luận văn thì phải có dàn bài, có cách thức, thì quán nó cũng như vậy, như một người làm (luận văn). Còn cái này mình không có chịu học, không có chịu hiểu thì làm sao triển khai cái tri kiến mình hiểu được cái Định Vô Lậu. Mà cái Định Vô Lậu là rất cần thiết cho cái cuộc tu tập của chúng ta. Nó là pháp “Ngăn ác, diệt ác; Sanh thiện, tăng trưởng thiện” của đạo Phật mà.
Nói “vô lậu” – là đạo Phật vô lậu, là giải thoát rồi. Mà cái Định Vô Lậu là cái định rất cần thiết cho cái sự tu tập của đạo Phật. Thế mà người ta chỉ dạy chúng ta chỉ nghe suông suông những cái lời của Phật dạy mà không triển khai cái tri kiến của mình.
Vừa rồi quý thầy nghe cái Tâm Từ của thầy Thanh Quang đã đọc, mấy con thấy người ta triển khai cái tri kiến, người ta hiểu cái Từ Tâm của người ta như vậy, nó mới áp dụng vào cái đời sống của người ta mới được chứ.
Còn mình không làm được, mình triển khai cái tri kiến hiểu biết Từ Tâm không đúng thì thử hỏi mình làm sao mình làm được, mình làm sao mình xả tâm được. Thì chỉ chẳng qua mình hiểu sơ sơ rồi mình ức chế tâm mình, mình cũng nói thương cũng nói này kia. Cho nên ở đây mình triển khai thật sự hiểu biết, cho nên đòi hỏi ở cái sự hiểu biết của chúng ta.
(24:17) Còn những người nào mà không hiểu biết, hiểu biết ít như vậy mà muốn tu tập được giải thoát thì nó phải ở trên Tứ Niệm Xứ, hoặc là chúng ta ở trên Xả Tâm Vô Lượng. Mà Xả Tâm Vô Lượng đó bằng cách nào? Cũng phải dạy người ta cách vô lậu bằng ngắn gọn, không lý luận nhưng mà nhắm vào cái chỗ Xả để người ta thực hiện Xả.
Thí dụ, như khi tâm sân của mình nổi lên: “Sân là một ác pháp, nhất định tôi phải xả bỏ cái tâm sân này đi”, thì đó cũng là một cái lý luận, một cái suy tư, cái nghĩ. Nhưng phải xả, tác ý như thế nào, nghĩ như thế nào, suy luận như thế nào vì sân ở trong lòng là một sự đau khổ mà cứ ôm ấp như vậy là mình ngu si, là mình không đúng cách, cho nên mình phải cố gắng xả cái tâm này đi chứ không lý luận.
Còn người ta có cái Định Vô Lậu, người ta suy luận vì cái sân này nó như thế nào thế nào, nó đem lại nỗi khổ cho mình thế nào, người ta luận nó ra, tự nó xả ra. Còn mình chỉ dùng cái câu tác ý, dùng ngắn gọn.
Thật sự ra rất là khó, là cái người mà không có tri kiến của Định Vô Lậu thì mình tác ý như Thầy nói: “Sân là đau khổ, hãy xả đi, hãy bỏ đi”, nhưng coi chừng bị ức chế. Nó ngắn gọn như vậy tức là mình chưa thông suốt được cái tâm sân của mình, mình chưa thông suốt cái đối tượng gây cho mình cái tâm sân, thì do đó nó vẫn ôm ấp trong đó, mà tác ý như vậy là sẽ bị ức chế.
Cho nên cái người mà tu theo Phật giáo là phải cái người có trí tuệ, thắng tuệ, chứ không thể liệt tuệ. Còn mình liệt tuệ là mình bị ức chế, mình rất khó xả tâm. Mà hầu hết làm bài như thế này thì đó là liệt tuệ, nó không có đúng.
(26:09) Thắng tuệ, như cái bài viết của Thanh Quang. Đó là thắng tuệ.
Cho nên những cái người mà trí tuệ kém thì phải được gần gũi một vị thiện hữu tri thức đã tu xong, người ta mới trợ giúp cho mình. Mà hướng dẫn cho một người liệt tuệ, một người mà không đủ cái khả năng để tu tập Định Vô Lậu thì cái người thầy hướng dẫn cho vị sư đó rất là khó. Cực khổ lắm.
Phải theo dõi họ từng chút, không khéo họ ức chế tâm họ thì họ vô Định Tưởng, họ không thể nào vượt ra. Cho nên quý sư, quý thầy phải cố gắng, dù như thế nào cũng phải cố gắng để triển khai cái tri kiến của mình vì đạo Phật làm chủ được sự sống chết của mình bằng cái hiểu biết. Cho nên nói đạo Phật là đạo trí tuệ, chứ không phải đạo ngu si, đạo không trí tuệ.
(27:04) Đạo Phật là đạo tâm Từ Bi, mà nếu không có lòng Từ Bi thì không thể nào xả. Mà có biết được lòng Từ Bi là phải có trí tuệ.
Không có trí tuệ làm sao hiểu tâm nào là tâm Từ, tâm nào là tâm Bi? Ngay cả viết bài Thầy thấy lộn xộn tâm Từ qua tâm Bi, tâm Bi lộn qua tâm Từ. Không ra cái nào cả hết, lộn xộn. Nếu mà Thầy không nhắc thì quý thầy biết tâm nào là tâm Từ, biết tâm nào là tâm Bi, chúng ta chỉ nói suông.
Cho nên trong con đường tu tập của đạo Phật nó rõ ràng, cụ thể, không thể nào trí hiểu biết này lẫn lộn qua trí hiểu biết khác. Cái nào ra cái nấy: trí tuệ giải thoát là giải thoát, mà trí tuệ tham dục là tham dục. Những cái hiểu biết của tham dục vẫn có sự hiểu biết của tham dục; những hiểu biết giải thoát có những sự hiểu biết của giải thoát. Cho nên chúng ta không lầm cái tình thương ích kỷ nhỏ mọn với cái tâm Từ Bi của chúng ta được. Cho nên đó là cái thắng tuệ, một cái sự hiểu biết cụ thể rõ ràng.
Một người tu theo Phật phải nắm vững điều này, không thể lộn xộn. Người tu theo Phật: tâm Từ ra tâm Từ, tâm Bi ra tâm Bi, mà tâm Hỷ ra tâm Hỷ, tâm Xả ra tâm Xả – không lộn xộn.
(28:18) Giảng một cái bài Từ – Bi – Hỷ – Xả mà nó lộn xộn không tâm nào ra tâm nào – tâm Từ có tâm Bi, tâm Bi có tâm Hỷ, tâm Hỷ có tâm Xả – lộn xộn như vậy thì làm sao mà đức Phật gọi là Pháp độc nhất?
May là đức Phật nói, chứ nếu không có đức Phật nói trong bài kinh Bát Thành thì người ta muốn luận như thế nào đó người ta luận, người ta che đậy như thế nào đó người ta nói. Hiểu như vậy gọi là hiểu tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả sao được! Cho nên ở đây vạch ra từng chút để thấy được cái sai của cái người sau hiểu Phật pháp một cách rất cạn cợt cho nên cuối cùng tu tập không giải thoát.
Vậy hôm nay lớp học này cũng phải biết rõ ràng, triển khai Tri Kiến Giải Thoát của chúng ta bằng Định Vô Lậu, bằng sự học hiểu rõ ràng. Nó là lớp Chánh Kiến của chúng ta đang học.
Hôm nay lớp Chánh Kiến chúng ta sắp sửa hết để bước sang qua lớp Chánh Tư Duy. Mà không chuẩn bị cho Tri Kiến Giải Thoát này đầy đủ thì chắc gì mà chúng ta vào lớp Chánh Tư Duy mà tu tập được. Cho nên những người có đủ Chánh Kiến để bước qua lớp Chánh Tư Duy thì tiếp tục tu tập, tới đây khó hơn.
4- NHẮC NHỞ VỀ LỚP CHÁNH TƯ DUY
(29:38) Trưởng lão: Thầy báo tin cho biết là lớp Chánh Tư Duy khó hơn, đức hạnh khó hơn, sống đúng tiêu chuẩn của sự tu tập. Nếu tu sai, sống không đúng giới luật thì lớp Chánh Tư Duy không thành hình.
Chúng ta chuẩn bị, còn vài hôm nữa bước vào lớp Chánh Tư Duy. Ở trong thất không được cào, hốt, làm rột rẹt động tất cả các thất khác. Nghĩa là làm phải có oai nghi tế hạnh, nhẹ nhàng, êm ái. Tức là lớp Chánh Tư Duy chúng ta sắp sửa học.
Mỗi hành động chúng ta làm đều phải tư duy như thế nào, không được làm động kẻ khác. Chung quanh chúng ta đều là những người đang tu, đang tập luyện để cầu sự giải thoát; mà nếu chúng ta làm động người khác thì không nên.
(30:24) Còn về ăn uống, thì chúng ta ăn như thế nào tuỳ theo sự ăn uống của mình, chứ không nên nghĩ phải ăn như thế này ăn như thế khác. Không phải như các chùa, ở đây người ta cúng dường, ở đâu người ta đem đến đây cho mình thì không đòi hỏi điều này thế kia được. Mình ăn như thế nào, trong thực phẩm ngày hôm đó mình ăn không được cái gì hết – bỏ hết, mình chỉ ăn cơm với muối.
Ở đây sẵn sàng có đủ muối, khỏi lo vấn đề đó. Muối ớt có, muối tiêu có, muối đậu có và muối trắng có. Người nào muốn ăn loại nào có loại nấy, nhất là muối thì dễ lắm. Đem một hũ muối, muối cục có, muối nhuyễn có, tất cả muối thì dễ lắm. Muốn ăn cơm với muốn thì vẫn sống khoẻ mạnh hơn là ăn những cái khác.
Thì ai ăn được cứ ăn, ai ăn không được thì có thực phẩm, đồ ăn của Phật tử cúng dường, mình cứ nhận lãnh vào mình ăn. Cái gì ăn được thì mình ăn, cái gì không ăn được thì mình bố thí cho chúng sanh. Vì xung quanh chúng ta loài kiến, loài chúng sanh rất nhiều – đang đói khổ không có thực phẩm.
(31:35) Thì sự nhận lãnh cúng dường của Phật tử, chúng ta không phải phí bỏ của mồ hôi nước mắt của người khác đâu. Nhưng chúng ta vì tu hành, cái gì chúng ta ăn không được thì chúng ta sẽ bố thí cho loài vật khác đang đói khổ, chúng ta không phí bỏ của ai đâu.
Chúng ta biết thương mình, thương người, thương chúng sanh thì không nỡ nào mà chúng ta lại chỉ biết bo bo cho mình ăn không. Do đó cái ăn mà chúng ta không bỏ, cái gì cũng ăn hết, thì chúng ta cũng nên dành lại một ít để chúng ta bỏ cho chúng sanh. Chứ không phải trong ngày hôm đó mà chúng ta ăn sạch, quét sạch, không có còn cái gì nữa hết thì chúng ta dở lắm.
Là vì người tu sĩ Phật giáo, chúng ta biết xung quanh chúng ta có loài chúng sanh đang lăng xăng chạy đi tìm thực phẩm, chúng ta hãy dành một hạt cơm, một cục đường, một miếng thực phẩm, một chút dầu mà chúng ta chỉ cần bỏ trên nơi đâu đó thì chúng sanh sẽ đến tìm lấy cái sự sống trong ngày hôm đó. Đối với chúng ta đó là thực hiện lòng thương yêu của chúng ta đối với loài vật.
(32:42) Có như vậy chúng ta mới thật sự là tu, chứ nếu mà chúng ta không làm được như vậy thì thật sự chúng ta không tu. Nghĩ rằng mình phí bỏ của đàn na – không phải. Chúng sanh đang đói, tôi cũng đang đói; tôi là người tu tôi phải thương yêu, thương yêu tôi tôi phải thương yêu chúng sanh. Một bầy kiến đang bò lăng xăng đi tìm thực phẩm mà chúng ta bỏ một vật thực đúng là thực phẩm của chúng, chúng mừng lắm.
Chúng ta cứ nhìn đi, bỏ một miếng đường hoặc là một miếng dầu. Với thực phẩm của chúng ăn, chúng bu lại – không còn sợ chết, không còn sợ gì nữa hết. Cỡ sức chúng ta trên một giọt dầu, chúng bu lại bao nhiêu con, chúng ta chỉ cần đè một ngón tay xuống là chúng chết sạch. Nhưng chúng không ngao ngán, bởi vì sự sống của chúng quá khổ. Chúng ta chỉ dành cho chúng một ít đi, đừng có tiếc mà ăn hết thì không hay chút nào hết. Đó là những điều mà Thầy căn dặn để chúng ta đừng có lo lắng về ăn uống, ngủ nghỉ.
(33:36) Ở đây, tới lớp này rồi không có ngủ nghỉ, không có ăn uống, không còn lo lắng gì nữa hết. Như vậy mới gọi là tu, mới gọi là xả tâm, mới gọi là người tu theo Phật giáo. Nhớ kỹ những lời Thầy dặn mà cố gắng. Vì lớp chúng ta sẽ là cái lớp sắp sửa đi vào sự thực hành để chứng đạt sự giải thoát, không còn thời gian mà chúng ta chờ đợi. Quyết tâm là phải làm được, còn không quyết tâm mà chúng ta tu cầm chừng thì không làm được. Còn quyết tâm thật sự, từng tâm niệm, từng sự hiểu biết – như chúng ta vừa nghe thầy Thanh Quang đọc bài Từ Tâm.
Nghĩa là chúng ta còn đọc nhiều bài nữa, nhưng thời gian chúng ta không có. Bi Tâm, Hỷ Tâm, Xả Tâm, và tất cả Nhân quả, rồi Thân vô thường, Bất tịnh, Thực phẩm bất tịnh, Thân bất tịnh – tất cả những bài pháp này chúng ta đã thấu triệt xuyên suốt nó rồi. Thì tất cả những chướng ngại pháp, từng tâm niệm tham – sân – si của chúng ta nổi lên, chúng ta đều có phương pháp quét sạch, không để chúng trở thành chướng ngại của thân tâm chúng ta nữa. Như vậy, trong thời gian tu tập mà cố gắng quét sạch như vậy thì không lâu quý thầy sẽ chứng đạo.
Nhớ lời Thầy nói: “Tâm thanh tịnh là chúng ta chứng đạo”.
(35:00) Chỉ trong tri kiến, Tri Kiến Giải Thoát của chúng ta thôi. Sự học, qua mấy tháng học, chúng ta đã triển khai tri kiến của chúng ta. Nếu người nào đã thấm nhuần được Tri Kiến Giải Thoát là người đó đã giải thoát rồi. Bây giờ không có chướng ngại nào mà có thể đánh vào tâm tư họ được. Dùng cái tri kiến hiểu biết của họ, đều là quét sạch những chướng ngại ra khỏi trong tâm.
Không lý quý thầy đã học hiểu như vậy mà để cho thân tâm mình buồn phiền, giận hờn nữa sao? Mình ngu gì mà đem những cái đau khổ đó vào thân tâm chúng ta khi chúng ta là một người đã hiểu biết. Thầy tin rằng Tri Kiến Giải Thoát sẽ đem đến sự bình an cho quý vị trong bây giờ khi quý vị đã hiểu lớp này.
Thầy nghĩ rằng bao nhiêu, một người tu sĩ đạo Phật mà có Tri Kiến Giải Thoát như vậy cũng đủ cho sự giải thoát của họ. Họ sống Đạo đức không làm khổ mình, khổ người bằng Tri Kiến này. Chỉ quý vị chưa hiểu thì quý vị mới chấp nhận sự đau khổ đó, còn đã hiểu rồi tại sao chúng ta không quét nó ra, lại để trong thân tâm chúng ta chịu đựng như vậy sao?
(36:00) Vì vậy mà lớp Chánh Tư Duy là lớp quét ra, để tập tành quét ra cho sạch. Trong lớp Chánh kiến chúng ta hiểu rồi, nhưng chưa thực tập, chưa áp dụng vào cho nên chúng ta còn thấy phiền não, còn thấy đau khổ, còn thấy sân hận trong lòng chúng ta.
Nhưng đến lớp Chánh Tư Duy là lớp quét ra. Sau thời gian ba tháng, năm tháng, bảy tháng mà quét ra thì thử hỏi quý thầy quý cư sĩ như thế nào, có giải thoát không?
Đức Phật có 49 ngày quét sạch, “ly dục, ly ác pháp”. Chúng ta có Tri Kiến Giải Thoát rồi thì chúng ta quét sạch nó cao lắm là bảy tháng là quá sức tưởng tượng, quá lâu rồi.
Thầy nghĩ rằng trong bảy tháng ở lớp Chánh Tư Duy này, thì quý thầy sẽ đem lại sự bình an thật sự cho quý thầy, không còn một bóng dáng tham – sân – si trong lòng của quý thầy. Quý thầy sống đúng phạm hạnh của người tu sĩ Phật giáo.
Thầy nghĩ rằng lớp học này sẽ đến lúc kết thúc – ai tu chứng, ai không tu chứng sẽ biết rõ. Người thật tu sẽ chứng, mà người không thật tu thì dù muốn dù không thì quý vị không có giải thoát. Bởi vì đạo cũng muốn mà đời cũng muốn thì làm sao tu tập được?
Đời là đời, đạo là đạo. Mà hễ muốn đạo thì phải dẹp đời, không còn tâm niệm đời thì cái lớp Chánh Tư Duy sẽ đưa quý vị đến chỗ giải thoát hoàn toàn. Nếu đạo – đời cùng đi một đường thì chắc chắn quý vị không làm được trò trống gì hết. Uổng công phí sức, không tu tập được gì.
Thầy hôm nay quyết định điều đó là điều chắc chắn để dẫn dắt quý thầy đi đến nơi đến chốn.
Các thầy phải nhớ. Cố gắng, chuẩn bị tinh thần vững vàng vào lớp Chánh Tư Duy để đạt được sự giải thoát hoàn toàn cho chính bản thân và tâm của mình.
Đến đây Thầy xin chấm dứt. Quý thầy có hỏi có thưa gì nữa không? Chúng ta sẽ nghỉ.
5- TÂM TỪ VÀ TÂM XẢ – XẢ TÂM ĐÚNG CÁCH
(38:01) Tu sinh: Bạch Thầy! Cái Tâm Từ với cái Tâm Xả, cái tâm nào đi nhanh, Thầy?
Trưởng lão: Cái Tâm Xả là cái người đó không khởi được cái lòng thương yêu của mình, mình chỉ gượng ép thì mình dùng Tâm Xả. Còn người mà khởi được lòng thương yêu thì cái người đó sẽ đi nhanh lắm, bởi vì lòng thương yêu của nó sẽ phá tất cả những chướng ngại.
Tu sinh: Bởi vậy con hồi lúc gặp Thầy thì con dùng Tâm Xả. Từ cái người uống rượu bảy ngày bảy đêm mà con xả chỉ có đâu một năm một là bứt. Không ăn muối ăn tương mà dám ăn chay trường luôn. Mà bắt đầu ăn ngọ luôn ba chục tháng từ đó tới nay, thì cái Tâm Xả này thì con thấy là…
Trưởng lão: Đó là Tâm Xả.
Tu sinh: Thấy là con đã đi, cái cái đoạn đường đi của con là Tâm Xả, dường như là con đường đó con đi. Còn cái Tâm Từ thì con thấy thương yêu nó thấp. Mà không biết hai tâm này con phải chọn tâm nào?
Trưởng lão: Con thì Tâm Xả, bởi vì cái nghị lực cương quyết của con phải xả bỏ cái đó là nhất định xả bỏ; tất cả các ác pháp đều xả, hiện lên đối với con lúc nào con cũng xả. Con có sự quyết định cho nên vì vậy mà con dùng Tâm Xả mà tu.
(39:10) Tu sinh: Bởi mấy hôm rày con cứ suy tư hoài, hai cái tâm cũng đều muốn tu hết nhưng mà không biết chọn cái tâm nào. Nhưng mà cái con đường con đi đầu tay thì cái Tâm Xả. Vì cái Tâm Xả mà con mới đến đây, đến tuyệt đối luôn. Thì cái Tâm Xả này rất là nhanh.
Trưởng lão: À, bây giờ Thầy nói như thế này để xét nè. Sau khi làm bài xong tới Tâm Xả, qua những cái bài viết của mấy con thì Thầy sẽ xác định cho mấy con là Tâm Xả hay Tâm Từ.
Khi mà Tâm Từ, như Thanh Quang viết Tâm Từ, Thầy khuyên Thanh Quang nên tu Tâm Từ. Còn riêng con, con cứ viết bài đi, rồi tới chừng đó Thầy sẽ thấy con viết Tâm Xả như thế nào, nghĩa là đụng cái gì con cũng xả hết thì lúc bấy giờ con tu Tâm Xả. Còn nếu con viết bài Tâm Xả sơ sơ có mấy câu, Thầy nói như vậy là không được.
Và Tâm Xả, còn là một cái người có đầy đủ nghị lực, can đảm, quyết định thì mới là tu Tâm Xả. Bởi vì có nghị lực, khi đó nó khó chứ không phải không. Mình không có cần lý luận; mà mình thấy cái này lợi ích cái này không lợi ích – nhất định là dứt bỏ, không làm theo, bỏ hẳn.
Cũng như dứt thuốc hút thì bỏ hẳn, không hút nữa, chết bỏ. Mà dứt rượu là bỏ rượu luôn, không uống. Dứt một cái gì là nhất định ly nó liền tức khắc, bỏ nó ra, không bao giờ còn chấp nhận nó nữa, không trở đi trở lại. Do đó dù chết nhất định người đó dùng Tâm Xả này, thì cái người đó mới tu được – tu về Tâm Xả.
(40:42) Tu sinh: Lúc trước con bỏ hút thuốc trong bảy ngày là xong, ăn chay trường nữa, bảy ngày là xong luôn.
Trưởng lão: Đó là có cái nghị lực, có cái cương quyết thì tu Tâm Xả. Còn nếu không có nghị lực, không có cương quyết thì tu…
Tu sinh: Nó kèm theo cái pháp Tác ý, hễ nó hiện lên là bắt đầu dẹp nó xuống liền.
Trưởng lão: Thì nó có phương pháp tác ý, nhưng cái phần Tâm Xả coi chừng bị ức chế. Nghĩa là mình ráng mình chịu đựng thì cơ thể nó có cái hiện tượng nó bệnh, hoặc là ức chế trong cái tâm của mình thì hiện tượng của Tưởng nó xuất hiện, đó là bị ức chế. Cho nên vì vậy cái người tu Tâm Xả mà gặp cái trường hợp này là bị ức chế. Thì ức chế mau mau đến gặp Thầy để Thầy trợ giúp, Thầy giúp cho xả những cái trạng thái Tưởng. Bởi vì Tâm Xả, mình không có cần lý luận, không có khởi tâm Từ như người tu Tâm Từ. Người tu Tâm Từ không bao giờ có bị Tưởng, bởi vì lòng thương yêu của họ mà họ xả cho nên họ không có bị Tưởng.
Còn mình thì không có tâm Từ mà xả là bằng cái nghị lực, cái quyết định của mình, thấy cái đó nó không lợi ích gì là xả bỏ. Cho nên khi xả bỏ như vậy có phần ức chế mình rất lớn. Nhưng mà nếu gặp trường hợp có các trạng thái Tưởng xuất hiện thì hãy đến gặp Thầy để trợ giúp cho mình xả các trạng thái Tưởng để trở về cái sự bình thường, chứ không khéo thì nó rất khó chứ không phải dễ. Nói xả nhưng mà sự thật ra cái người tu Xả, như hồi nãy Thầy nói, là luôn luôn được gần thiện hữu tri thức. Còn người tu Tâm Từ hoặc là Tâm Bi nó dễ lắm, bởi vì nó từ cái lòng thương yêu mà nó xả, cho nên nó cởi mở nó không bị ức chế.
Mà luôn luôn họ tu tập là họ triển khai cái lòng thương yêu đó. Họ dễ nức nở, họ dễ khóc lắm. Như con thấy cái người tu Tâm Từ, vừa nghe cái chuyện con chó đến nằm trên cái mồ mà nhịn đói nhịn khát với lòng trung thành với người chủ.
Con thấy cái người mà tu Tâm Từ là người ta xúc động ngay liền, người ta thương liền. Đó là cái lòng thương yêu của họ. Nghe những cái cảnh đau khổ của người nào thì người đó, họ còn đang ở trong cái chưa giải thoát hoàn toàn, thì họ có cái sự xúc động, họ rơi nước mắt, họ có những cái điều kiện làm cho họ thấy rõ ràng là cái lòng thương yêu của họ với cái sự đau khổ đó.
(43:00) Thì mình xét qua tâm mình, mình biết được mình sẽ tu tâm nào nó cũng không khó. Nhưng mà dù sao đi nữa muốn tu chắc ăn như vậy thì mình phải nhờ một bậc thiện hữu tri thức, người ta chọn. “Con có cái tình cảm con như vậy đó, nghe chuyện gì cũng dễ xúc động lắm”, thì khi đó người ta hướng dẫn cho mình làm bài, người ta trợ giúp cho mình lập thành cái dàn bài để cho mình nói hết những cái tâm tư xúc động của mình, cái lòng thương yêu của mình ra. Thì khi viết thành một cái bài rồi đó, thì người ta triển khai được cái tri kiến hiểu biết về cái Tâm Từ.
Do đó người ta sẽ đọc đi đọc lại, nhẩm lại rồi người ta triển khai cái lòng Từ, cái phương pháp hành để triển khai cái lòng thương yêu đó. Do đó thì người ta sẽ có đầy đủ cái lòng Từ, từ đó người ta mới bắt đầu thực hiện vào cái tu tập của người ta trên Tứ Niệm Xứ bằng cái Tâm Từ của người ta. Đó là Pháp độc nhất.
Con hỏi Thầy?
(43:54) Tu sinh Thanh Quang: Kính bạch Thầy, xin Thầy dạy cho là trong bốn cái món Vô Lượng ấy thì tu một món tâm nào đó là chủ yếu? Ngoài ra thì có thể kết hợp cả các cái món Vô Lượng khác cũng được chứ ạ?
Trưởng lão: Cũng được, nhưng nó là chính đó con. Nó là chính, nhưng mình kết hợp vô để thực hiện cái lòng Từ. Nếu mà cái lòng Từ của mình thì mình kết hợp vô lòng Xả nó cũng vô lòng Từ của mình. Hễ mình xả được là có Từ rồi.
Còn con, con. Có thưa gì không? Còn ai nữa không con? Hết rồi? Các con phải chuẩn bị về những cái bài viết của mấy con, dựa theo cái dàn bài làm cho đúng. Chứ không mấy con nói mênh mông quá, thành ra nó cũng lạc đề mất đi. Mình xoáy vào cái mục đích để xả tâm.
(44:42) Tu sinh: Bạch Thầy, giờ con làm xong cái Từ, Bi, Hỷ, Xả rồi. Thì bây giờ con đợi Thầy duyệt cái Tâm Xả của con để con còn lựa lọc con làm cái bài về Tâm Xả này.
Trưởng lão: Thầy sẽ duyệt cái bài Tâm Xả của con. Coi cái Tâm Xả của con, con viết. Tâm Xả nó khó mà nó dễ. Mấy con luận như thế nào, nói như thế nào để xả, mà mấy con luận cách thức như cái pháp Như Lý Tác Ý thì coi chừng, nó là pháp ức chế đó. Cho nên nói Tâm Xả; bởi vì Từ, Bi thì nó dễ rồi, mà tới Hỷ là nó có khó rồi đó.
Cho nên mấy con nói về cái Hỷ mà ở trong Bốn Thiền, “ly dục, ly ác pháp sanh hỷ lạc” là Sơ Thiền, coi chừng mấy con nói theo kinh chứ mấy con biết đâu mà nói. Có người nào mà tu tập tới đó đâu mà nói, cho nên mấy con nói theo kinh. Vì vậy mà nói theo kinh thì nó không sai đâu mấy con, nó đúng; nhưng mà vì chúng ta chưa tu tới đó cho nên chúng ta phải dựa theo kinh mà nói thôi. Không cách nào khác hơn.
Như Thầy nói thì được bởi vì Thầy đã biết – Thầy có nhập vào Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền. Thầy có thể nói khác hơn Phật nhưng vẫn nằm ở trong cái trạng thái mà Phật đã nói, không có sai. Cho nên trong cái sự tu tập của chúng ta, thì chúng ta phải nói hết chứ không thể nào nói cái Hỷ mà chỉ nói cái Hỷ của thế gian không. Cho nên cái bài của Từ Quang là cái bài nó rất là chuẩn – từ thấp đến cao, cho đến Tứ Thiền – rất là chuẩn, trên cái dàn bài rất chuẩn lắm.
Cho nên Thầy lấy cái dàn bài đó để làm cho mấy con sử dụng cái Tâm Hỷ. Và đồng thời tới Tâm Xả, mấy con nhớ người nào viết bài cũng phải làm cái dàn bài Tâm Xả.
(46:21) Còn con viết Tâm Xả, hầu hết là có một số người viết Tâm Xả Thầy thấy mấy con viết điên hết rồi, không có viết đúng. Quán cái kiểu quán khùng! Kiểu Định Vô Lậu người ta mà quán cái kiểu này chắc Định Vô Lậu thành Định Hữu Lậu, quán cái kiểu đó thành Định Hữu Lậu chứ không phải Định Vô Lậu.
Cho nên vì vậy phải lập thành cái dàn để mà xả tâm thật sự, cách xả mà không bị ức chế. Chứ mấy con nói lơ mơ, xả lơ mơ là mấy con xả ngang xương đó. Chỉ cần tác ý bảo “Dừng!” thì mấy con bị ức chế đó. Nó không dễ đâu. Cho nên vì vậy mà viết cho nó rõ ràng về Tâm Xả. Khó đó, chứ không phải dễ, nó khó hơn mấy tâm kia.
Thầy nói khó là khó đó. Bởi vì mấy con nói “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh”, bây giờ mấy con biết làm sao mà xả đây? Hay là nói không à. Có phải không? Nói được chứ chưa biết cách làm đâu. Cho nên vì vậy khi mà xả những cái, làm cho được cái Tâm Xả của mình, bắt đầu mấy con nói xả về dục lạc của mấy con trước.
Xả bằng cách nào? Nói bằng cách nào để mà xả nè? Bây giờ cái ngôn ngữ của tôi, tôi hay nói cái lời không ái ngữ nè; mà tôi xả cái lời nói không ái ngữ, tôi phải xả như thế nào? Nói cho rõ, chứ nói xả mà “tôi xả là tôi xả” thì thôi, thôi, cái chuyện đó thôi hết nói rồi. Cho nên phải luận như thế nào để biết rằng tôi xả ở trong cái ngôn ngữ như vậy. Tôi xả cái hành động đó là hành động ác, tôi xả như thế nào để cho cái tâm tôi không còn tham ăn nữa.
(48:02) Chứ nói bây giờ: “Sáng nó thấy đói nó muốn ăn”, bây giờ xả cái đói ăn này cho Thầy đi. Thì các con phải xả như thế nào, nói xả như thế nào? Nói: “Giờ tôi không ăn”. Mấy con không ăn thì bây giờ mấy con ức chế chứ sao. Có phải không? Nó thèm ăn mà không cho nó ăn, thì mấy con bị ức chế chứ sao? Vậy thì mấy con xả sao mà cho nó đừng ức chế? À bắt đầu bây giờ xả thì tôi phải quán Thực phẩm bất tịnh, tôi nhàm chán tôi ớn thì tôi mới xả chứ. Các con hiểu, như vậy là mình có pháp xả chứ đâu phải không có pháp xả.
Còn bây giờ: “Mày muốn ăn, tao không cho mày ăn nè” thì có phải bị ức chế không? Có phải không mấy con? Xả như vậy, nếu cái ăn uống mà mấy con ức chế nó như vậy mà cái bụng, cái tâm thì nó cứ thèm; mà không cho nó ăn rồi nó sanh nhức đầu, nó sanh chóng mặt, rồi nó sanh bệnh thì sao.
Thì như vậy rõ ràng mình ức chế chứ gì. Còn xả mà không cho nó ăn vậy đó, cái nó nằm chiêm bao nó bốc nó hốt ăn à. Bởi vì mấy con ức chế nó mà, làm sao nó không đi qua cái mộng nó ăn? Có phải không? Thầy nói mấy con sẽ thấy, nó thèm quá mà. Thì bây giờ chiêm bao để cho nó thoả mãn cái ăn của nó chứ.
Đó là mấy con sai. Nhưng mà mấy con quán Thực phẩm bất tịnh đi, nó có thèm không? Chiêm bao nó cũng ngán gần chết à. Nó còn sợ hơn nữa, nó đâu có ăn, có phải không? Cách thức xả coi vậy chứ nhiều lắm mấy con. Mỗi cái Tâm Xả của mình nó xả tham – sân – si như thế nào, nó có cách thức của nó xả. Chứ không phải nói suông suông hay hoặc là tác ý: “Mày muốn ăn giờ này, tao không cho mày ăn đâu, phi thời!” – coi chừng đó, tới chừng nó nằm chiêm bao mà ăn lia lịa đó.
Không, Thầy đem một cái ví dụ để cho mấy con thấy viết bài Xả. Chứ không phải…
Nếu không hiểu mấy con viết bậy bạ đó, ức chế hết đó. Có đúng không, mấy con nghĩ đi, Thầy không nói mấy con viết tới cái bài Xả là mấy con sẽ viết sai đó. Thầy nhắc nhở trước tất cả những cái phương pháp, những cách thức đã học mà trong Định Vô Lậu mấy con đã học rồi.
Còn mấy người mà chưa học quán Thực phẩm bất tịnh, biết đâu mà xả. Cho nên nói bây giờ: “Giới không ăn phi thời”, rồi “Tôi cố gắng không ăn phi thời” – không ngờ là ức chế nó chứ đâu phải là…
Giới luật thì phải có pháp để giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh chứ đâu phải giới luật đem bắt buộc mình, ức chế mình làm cho mình khổ như vậy thì đạo Phật là đạo gì?
Sao đức Phật lại nói: “Pháp Ta không có thời gian, đến để mà thấy”. Thấy cái gì mà: “Trời đất ơi, giới luật cấm không cho tôi ăn; mà tôi thèm gần chết đây, mà tôi thấy cái gì? Thấy khổ chứ tôi thấy cái gì”. Vậy tu theo đạo Phật là tu cái gì? Tu khổ chứ đâu phải tu giải thoát.
Không, Thầy nói để mà thấy được cái phương pháp của đạo Phật nó thực tế, cụ thể để chúng ta giải thoát chứ, chứ đâu phải nói chơi; tu thật chứ đâu phải là tu chơi. Nói thiệt để đem sự giải thoát thật sự mà. Tâm an trú thật sự trong khi chúng ta ăn ngày một bữa, mà chúng ta thấy an lạc vô cùng, đâu có còn thích ăn thích uống.
Coi như ngoài đời vô đây bắt ăn ngày một bữa coi, sáng không ăn là họ chịu không nổi rồi. Nghe tô phở là chảy nước miếng rồi. Thấy người ta nhai me là ở đây đổ nước miếng cả đống ra rồi. Thật sự là chúng ta còn thèm chứ đâu phải là chúng ta hết.
(50:58) Nhưng mà cái người tu quán Thực phẩm bất tịnh, họ có thèm không? Mấy người nhai me đi, mấy người nhổ ra đi – ông nội tôi cũng không dám nhai lại. Có phải không?
Sự thật là khi quán Thực phẩm bất tịnh mà thấm nhuần được, thậm chí như có người người ta quán Thực phẩm bất tịnh, bây giờ người ta không muốn ăn. Người ta thấy cơm, thấy đồ ăn người ta ghê lắm, người ta không muốn ăn – tại quán quá sâu rồi. Cho nên vì vậy mà chúng ta quán vừa đúng chúng ta nhàm chán là chúng ta dừng lại, không được quán thêm.
Đó, hôm nay là những cái phương pháp để chúng ta thực hiện được sự giải thoát. Sống như Thánh, chứ không phải là sống như phàm phu được. Lớp chúng ta sắp sửa tới là lớp thực hành rồi đó. Thầy căn dặn, phải cố gắng để tiến bước trên con đường tu tập.
Đến đây Thầy xin chấm dứt. Mấy con về rồi còn lo một chút đi khất thực.
HẾT BĂNG
Đang trực tuyến: 11 | Lượt truy cập: Hôm nay: • Tổng: | Lượt xem trang: Hôm nay: • Tổng:


