ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
LCK 080B – (Nữ) Phân biệt tĩnh giác, tỉnh thức – Thần chú – Cuộc đời tu hành của Thầy – Tứ niệm xứ và Tâm

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

LCK 080B – (Nữ) Phân biệt tĩnh giác, tỉnh thức – Thần chú – Cuộc đời tu hành của Thầy – Tứ niệm xứ và Tâm

A A A

LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 080B

PHÂN BIỆT TĨNH GIÁC, TỈNH THỨC – THẦN CHÚ – CUỘC ĐỜI TU HỌC CỦA THẦY – TỨ NIỆM XỨ VÀ TÂM XẢ

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh nữ

Thời gian: 03/02/2006

Thời lượng: [47:28]

 

1- TỈNH THỨC, TĨNH GIÁC

(00:00) Trưởng lão: Rồi mấy con còn hỏi Thầy gì thêm nữa không, con?

Tu sinh: Dạ bạch Thầy, cái câu Chánh Niệm Tĩnh Giác với Chánh Niệm Tỉnh Thức, hai câu nó giống nhau hay khác nhau?

Trưởng lão: Nó khác nhau con, chứ nó không có giống nhau con.

Tu sinh: Con kính xin Thầy giải thích thêm hai câu đó.

Trưởng lão: Chánh Niệm Tĩnh Giác, “giác” ở đây là giác ngộ. Còn Chánh Niệm Tỉnh Thức là con tỉnh thức ở trên từng cái hành động của con thôi.

Còn “giác” đây là ai có nói chuyện gì mà tức giận với con, con tỉnh thức ngay những cái điều ác pháp đó làm cho tâm con bất động thì đó gọi là Chánh Niệm Tĩnh Giác. “Giác” nghĩa là giác ngộ được cái ý của người khác nói những cái lời móc lời nghéo, cái lời ác lời thiện. Con hiểu hết, gọi là Chánh Niệm Tĩnh Giác trong đó.

Còn Chánh Niệm Tỉnh Thức là tỉnh thức trên cái hành động, trên thân hành thôi. Nghĩa là con đi con biết con đi đó là tỉnh thức. Hiểu không?

Còn Tĩnh Giác là con giác ngộ những cái gì mà người ta nói ác nói thiện con biết hết, thì đó là giác ngộ. Chữ “giác” đó là giác ngộ, hiểu biết.

Còn Tỉnh Thức là nó tỉnh ở trên cái hành động của nó: đang làm, đang thở, đang đi thôi chứ nó không có ngộ cái lý gì ở trong đó hết, mà nó chỉ biết cái hành động đó thôi. Đó là Tỉnh Thức. Con phân biệt được cái chỗ đó là đúng đó con.

Bởi vì “giác”, cái chữ này, Tĩnh Giác là giác ngộ, nó có cái sự hiểu biết. Chữ “giác” nó có cái sự hiểu biết của một cái Tri Kiến của mình trên mọi ác pháp của nó. Trong đó có thiện, có ác pháp chứ không phải là không. Nó giác ngộ hết tất cả các pháp chứ không phải nó có giác ngộ ở trên cái bước đi của con không đâu. Cho nên nói “giác” là phải nói giác hết các pháp – giác ngộ hết các pháp – tức là hiểu thông suốt hết các pháp mới gọi là Tĩnh Giác.

“Tĩnh” là bình tĩnh mà giác ngộ. Người ta chửi mình, mình bình tĩnh, mình ngộ được cái lý của nhân quả của cái chửi mắng mình. Cho nên mình ngộ được cái nhân quả.

Cũng như bây giờ, mình nói ra như thế này – người ta chửi mình – mình nói: “Đây là nhân quả”. Đó là mình ngộ nhân quả, gọi là Tĩnh Giác. Con thấy cái chỗ hiểu như vậy đó là Tĩnh Giác. Chứ không phải là Tỉnh Thức. Cái đó mới là Tĩnh Giác. Cho nên giác ngộ được cái lý nhân quả là người ta mắng chửi mình.

Còn Tỉnh Thức là nó ở trên cái hành động thôi. Nó không có thấy cái gì mà nó cần hiểu biết gì. Nó chỉ biết cái đi hoặc là giở chân lên, đưa chân xuống; đưa tay ra, đưa tay vô rồi ngồi hít thở lên xuống. Nó biết cái đó – những cái động tác của nó đó thôi – thì đó là Tỉnh Thức.

2- THẦN CHÚ, CẦU CÚNG, TỤNG NIỆM

(02:33) Trưởng lão: Rồi. Con hỏi gì con?

Tu sinh: Kính thưa Thầy, con xin hỏi một cái chuyện này. Khi xưa có thời gian con bị căng thẳng thần kinh mà con tưởng rằng nó tiến tới một mức nữa là con có thể điên. Thì lúc đó con có một cái may mắn là có một vị thầy, thầy trụ trì ở trong chùa. Con lên con hỏi thì thầy nói: “Bệnh này khó lắm, Thầy cũng không biết khuyên làm sao. Thầy cho cô mượn cái quyển Chú Lăng Nghiêm, cô về cứ trì tụng đi”. Lúc đó con chưa có biết cái gì hết, con chỉ tin, tin tưởng con về con cứ đọc. Toàn là tiếng Hán, tiếng Phạn gì không à! Nhìn xuôi đọc ngược, đọc ngược đọc xuôi. Nhưng mà đến cái câu mà, cái câu gì đó nó hợp nhãn cái con xả tâm được, bây giờ con cũng quên cái câu đó. Thì sau này con luận, lúc đó con nói cái này vi diệu quá! Nhưng mà sau này con tin theo pháp Thầy thì con lý luận là con hiểu cái đó là nhờ con nhiếp tâm, con an trú tâm được trong lúc con đọc những câu đó, mặc dù con không hiểu nhưng mà cái tâm con tập trung vào đó, rồi nhảy đến một câu con hiểu được thì con xả tâm được. Thì tới chừng nó tan liền giống như một cái bao gạo mà ở trên lầu mà mới vừa vứt xuống đó Thầy. Nó hay đến mức độ như vậy. Thì con xin thưa Thầy, con nhớ lại cái đó, có phải là con đã nhiếp tâm và an trú tâm được trong lúc con đọc kinh đó phải không Thầy?

(04:15) Trưởng lão: Con ngồi xuống đi! Trong cái thời gian mà con bị bệnh, phải không? Con bị căng đầu. Con bị bệnh do con tu tập, do con lo lắng tư duy gì đó mà nó quá sức của con, nó căng. Thì lúc bấy giờ có ông thầy đó ổng đưa cho con cái cuốn Thủ Lăng Nghiêm, bảo con cứ đọc cái chú này đi.

Bởi vì chú Thủ Lăng Nghiêm nó rắc rối lắm. Nó bắt buộc con phải nhìn từng chữ mà đọc nó kỹ lưỡng, chứ không khéo đọc không được. Bởi nó chú mà, đọc như thần chú vậy đó. Thì do đó con cố gắng con đọc. Thì tức là từ đó cái thần kinh của con nó không có bị căng, tập trung vào cái chỗ nào nữa – nó không căng, nó cởi mở ra. Và đồng thời đó, thì con nghe cái chú này người ta cũng nói nó linh hiển, cho nên cái lòng tin con nó cũng đặt trọn ở trong đó – tức là cái tín lực. Từ cái tín lực, từ cái giải của cái tâm của con là không có cho nó tập trung ở trong cái Tưởng của con nữa.

Cho nên nó giải qua những cái chú. Con bị đọc, đọc phải chú ý, chứ mới đầu con đọc mà không có chú ý kỹ con đọc không có được. Nó đọc từng chữ, từng chữ chứ nó không có hiểu nghĩa gì. Nhưng mà nó làm cho giải trừ được cái tâm tập trung của con lại. Do đó mà nó giải được cái bệnh của con chứ không có gì hết, chứ không phải là thần chú nó linh mà nó giải. Nhưng mà khi đó thì con không hiểu, con nói: “Cái chú này linh thiệt chứ, tụng có một thời gian mà sao cái bệnh mình mất hết, chắc có lẽ thần chú nó trị bệnh mình đây chứ gì”.

Thì hầu hết ở đời người ta không có hiểu, người ta cứ đọc thần chú mà người ta cảm thấy như bệnh nó giảm. Sự thật ra thì nó không phải do cái thần chú mà giảm. Mà do cái thần chú nó làm cho cái tâm mình nó loãng đi, nó không có còn bị gom lại, nó không bị tập trung. Cho nên vì vậy nếu chúng ta đọc thần chú để mà tập trung tâm của mình để đừng có niệm vọng tưởng thì cái người bình thường – đọc rồi mắc đọc, nó khó nó gom lại, nó gom lại trong cái thần chú.

Còn cái tâm con nó bị gom lại, nó bị Tưởng rồi. Cho nên khi đọc nó toả ra. Bởi vì đọc, nếu mà không chú ý từng chữ thì đọc không được, con có thuộc lòng đâu. Còn mấy cái người mà người ta học thần chú mà người ta thuộc làu rồi đó, người ta thuộc làu thì người ta đọc lia đọc lịa thì nó gom cái tâm người ta ở trong những cái câu đó. Cho nên vì vậy nó tập trung nó gom lại, nó mới có những cái thần lực của nó là thần lực Tưởng.

(06:39) Còn con bây giờ đọc để mà tỏa cái gom tâm của con, cái tập trung căng thần kinh con – thì nó tỏa ra. Bởi vì con chưa phải là cái người mà đọc làu làu. Cho nên nếu mà con đọc làu làu, cũng như là đọc Tâm Kinh Bát Nhã hoặc là đọc cái thần chú Vãng Sanh. Chú Vãng Sanh mấy con đọc thấy nó: “Nam mô a di da ba…​” – nghe nó, trời đất ơi, nghe như tiếng Chà-và, tiếng gì đâu. Có phải không?

Do đó nếu mà thuộc làu thì nó lại gom tâm mấy con. Mà chưa thuộc làu mà đọc, mấy con thấy: “Nam mô a di đa bà già đa tha già đa dạ đa điệt dạ tha”, mấy con phải đọc từng chữ nó mới được, chứ đọc sao nó rắc rối quá, giống cái tiếng Ấn Độ, tiếng gì đâu đó. Thành ra nó bắt buộc mấy con tập đọc như vậy đó thì nó phân tâm mấy con ra, nó không có gom lại. Còn cái người mà người ta đọc làu làu rồi bắt đầu nó gom, nó gom tâm ở trên cái câu thần chú đó. Nó gom lại, nó không có còn cho chúng ta nghĩ ngợi một cái niệm gì khác hơn hết. Bởi vì đọc: “Nam mô ai di đà bà già, đa tha già đa đạ đa điệt dạ tha a di rô bà tì” – trời đất ơi, nó không có nghĩ được gì khác! Nó lia lịa, lia lịa mà cái âm thanh nó kéo dài dài ra cho nên nó buộc mình gom tâm. Còn khi mà mình chưa đọc nhanh được đó thì mình đọc từng chữ từng chữ thì nó bị phân tâm. Nó phân tâm ra theo từng chữ. Nó là cách thức như vậy.

Do như vậy chứ nó không phải là cái thần lực gì của cái thần chú đó. Nếu mà có thần lực như vậy thì con phải gom tâm để nó đạt đến cái mức độ ức chế ý thức; rồi từ đó nó mới có cái thần lực Tưởng. À, bây giờ con biết khi mà đọc cái chú đó, họ nói mình sẽ có thần thông gì thì nó sẽ thực hiện cái thần thông đó.

Cũng như ngài Từ Đạo Hạnh ngài đọc Chú Đại Bi mà ngài liệng cây gậy xuống dưới dòng nước, dòng suối đó; ngài bảo: “Cây gậy phải đi lên”, cái Ngài đọc thần chú thì nó lội ngược nó lên. Ngài nói hôm nay cây gậy Ngài mà đi ngược được thì ngài trả thù được rồi. Cho nên Ngài xách cây gậy ngài đến ngài giết cái ông thầy kia cho chết.

(08:44) Thì các con thấy đó là cái thần chú Đại Bi thôi nhưng mà cái Tưởng người ta nghĩ nó sẽ có một cái năng lực như vậy. Cho nên người ta quyết tâm người ta đọc cái chú đó mãi cho đến khi mà người ta ném cây gậy xuống dòng nước mà người ta đọc cái thần chú, người ta vỗ tay bảo đi ngược lên, cái cây gậy nó lội ngược lên – thì đó là nó có thần thông rồi. Hoặc là người ta ném cây gậy lên trên hư không, người ta đọc cái thần chú người ta bảo cây gậy bay đi; thì bắt đầu cây gậy không có rớt xuống mà cây gậy nó bay đi như một con chim – thì biết rằng bây giờ mình có cái lực của Tưởng mình tu tập. Nó nó có cái lực của thần chú rồi, nó sẽ điều hành được những cái gì mình sai bảo. Thì lúc bấy giờ mấy con mới thấy cái thần chú nó thường thôi, chú Đại Bi mà có cái nghĩa lí gì, thế mà cái tâm niệm đó nó sẽ biến cái chú Đại Bi nó có cái thần lực. Như vậy chứ không có gì khác hơn hết.

Còn cái chú Thủ Lăng Nghiêm thí nó 5 cái biến lận. Mà thường thường, khi mà Thầy hồi nhỏ vào trong chùa thì hầu như quý thầy, quý sư đều nói: “Ở ngoài đời thì sợ đi lính, mà ở trong Chúng thì sợ Chú Lăng Nghiêm”. Bởi vì nó khó thuộc quá! Cho nên khi mà vào học, học bốn cái cuốn luật thì dễ dàng lắm – bốn cái cuốn luật “Tỳ Ni Nhật Dụng” đồ đó – thì học thuộc làu dễ lắm. Nhưng mà học Chú Lăng Nghiêm học rất lâu mới thuộc, thuộc làu làu. Bởi vì chú nó không có nghĩa gì hết. Mình phải đọc, coi như là đọc cho nó quen miệng mình, tới chừng nó thấm nhuần nó quen rồi đọc mới được.

Chớ còn nếu mà không thuộc làu mấy con vô cái buổi khuya công phu với Chúng, mấy con đọc không có được. Người ta đọc nghe rốp rốp rốp rốp, còn mình không thuộc làu mình đọc không có được. Cho nên ở trong chùa, cứ mấy chú mà mới vô tu đọc chưa có thuộc thì vô đó chỉ có nghe người ta đọc thôi chứ còn mình đọc không có được. Cho nên một thời gian sau năm sáu tháng học thì mới có đến công phu được, mới có tụng cái chú Thủ Lăng Nghiêm được. Khuya nào người ta cũng tụng chú Thủ Lăng Nghiêm hết. Cho nên vào chùa là phải học chú Lăng Nghiêm hết. Chú điệu nào cũng phải học hết chứ không có chú nào mà tha.

(10:49) Hiện giờ thì chúng ta không có cái điều đó nữa là tại vì nó không phải là của đạo Phật mà của Mật Tông, của Bà La Môn giáo. Cho nên nó có những cái chú đó, chứ còn đạo Phật không có dạy chúng ta tu tập cái đó. Cho nên bây giờ chúng ta nhẹ nhàng, hơn nữa là Tu viện của mình lại không có tụng niệm nữa, chứ không khéo Tu viện người ta dù có bớt đi nữa người ta cũng còn tụng Tâm Kinh Bát Nhã. Như Thiền tông người ta vẫn còn tụng Tâm Kinh Bát Nhã, tối nào người ta cũng tụng một biến Tâm Kinh hoặc ba biến Tâm Kinh Bát Nhã.

Còn ở đây mình lo tu, mình lo xả cái tâm của mình cho nên mình không thực hiện những cái điều đó. Do như vậy mình đi khác con đường của họ rồi.

Cho nên khi Thầy về đây Thầy không có cho tụng niệm. Xóm này nói: “Cái chùa này nó lười biếng ghê lắm, nó không có chịu tụng niệm. Khuya người ta giọng chuông người ta tụng niệm, bà con thức dậy đi cày. Còn cái chùa gì lười biếng quá trời! Mình không có biết giờ giấc đâu mà đi cày hết”.

Thì các con thấy không? Tại hồi nào giờ nó quen, mà đến cái chùa của mình thì giờ không có tụng niệm, cúng bái nữa. Họ lắng nghe cái Chùa Am này sao mà không có tụng niệm: “Ông thầy này ổng về ổng làm biếng ghê gớm lắm, ổng ngủ thẳng cẳng à!”. Nhưng mà đâu có ngờ là mình 1, 2 giờ, mình thức dậy mình ngồi thiền rồi. Các con thấy không, nó sai khác. Còn cái kia nó tới 5 giờ, 4 giờ rưỡi 5 giờ nó thức dậy nó tụng ó é một hơi cái nó ngủ lại. Còn mình đâu có làm cái chuyện đó, mình khác.

Cho nên từ cái chỗ Hành khác – họ mới đầu họ chê, họ báng Thầy dữ lắm. Nhưng mà sau cuối cùng họ biết là: “trời đất ơi, nửa đêm ổng thức dậy ổng ngồi ổng tu rồi”, thành ra họ nói ông này còn siêng năng hơn mấy chùa kia nữa, lần lượt họ khen. Từ cái chê đến cái khen nó cũng dễ dàng quá, nó không có khó khăn. Nhưng mà hôm nay thì mình tu vững vàng là không còn ai chê mình nữa hết.

Cái hồi Thầy mới về đây, Thầy không có tụng niệm cái kiểu đó đâu, Thầy dẹp bỏ. Rồi tới ngày rằm, ngày Tết, ngày vía đồ này kia họ đến họ cúng sao giải hạn, cầu siêu, cầu an. Họ đến chùa đông lắm. Bây giờ họ không có đến chùa mình. Bây giờ, còn đến chút ít thôi chứ hồi đó họ đến đông lắm. Như rằm tháng Giêng này, bắt đầu họ đến họ cúng sao giải hạn đủ loại hết, bởi vì họ mắc sao hạn đủ thứ cho nên họ cúng dữ lắm. Nhưng mà Thầy không có làm điều đó, Thầy nói Thầy không biết làm, Thầy không có biết, Thầy không có hiểu. Riết rồi họ rút lui đâu mất hết.

(13:14) Thường thường là ở trong quê họ hay có cái tình trạng mê tín lắm. Nếu mà trong chùa chúng ta mạnh mẽ thì chúng ta dẹp được còn yếu yếu thì dẹp không được. Hơn nữa là chúng ta thích ăn trứng gà, tôm khô – bộ tam sên họ cúng sao đó. Do đó mà chúng ta thích ăn thì kể như cái chùa đó cả một cần xé hột vịt đó, mấy con biết. Họ mua đó, họ đến họ cúng: cứ người một hột vịt với mớ tôm khô, với cái bộ đồ thế. Thầy nói, đốt một đống vậy đó biết bao nhiêu tiền người ta không. Nó làm tốn hao lắm. Nhưng mà ở đây Thầy dẹp, Thầy biết cái đó là cái tốn hao của họ là cái sai. Vả lại mình tu hành mà ăn tôm khô sao mà đem tôm khô đến đây mà cúng; ăn trứng vịt nữa sao mà đem trứng vịt đến đây mà cúng. Cho nên vì vậy mà Thầy dẹp cái điều đó đi. Còn không ấy người ta cúng mình đem đổ sao? Cho nên vì vậy mà Thầy dẹp ba cái mê tín đó, Thầy không chấp nhận. Cho nên chùa mình lần lượt nó thanh tịnh, nó không còn cái sai đó.

Thứ nhất là những ngày rằm tháng Giêng này là cúng sao giải hạn nhiều. Tức là ngày mùng tám tháng Giêng đó mấy con. Bữa nay là ngày mùng mấy rồi con biết không? Người ta nói: “Mùng tám vía trời, mùng mười vía đất” gì đó. Cho nên họ tập trung vào cái ngày mùng tám là ngày cúng sao. Ở đây mình khỏe tối ngủ thẳng cẳng, khỏi cúng sao giải hạn gì hết. Cuối cùng thì mình chỉ lo tu mà thôi.

(14:33) Trưởng lão: Rồi mấy con còn hỏi Thầy gì thêm không mấy con? Rồi con hỏi Thầy con.

Tu sinh: Dạ, con bạch Thầy! Trước đây là con có quen một ông thầy, nhưng mà con là cũng thường thường tu tập theo cách thức niệm Phật là con thăm ổng. Nhưng mà qua thời gian con gặp được pháp của Thầy là con cũng từ bỏ ổng luôn. Con không đến mà ổng lại đến ổng dọa con, ổng chửi con đủ kiểu. Xong ông ấy bảo là: “Cô mà không đưa lễ đến mà đảnh lễ Phật và nói với tôi một lời thì cô sẽ vào địa ngục, thân xác cô sẽ tan tành”. Thì trong lúc đó con cũng không sợ, con nghĩ rằng là con gặp được pháp của Thầy rồi con bình thường. Con cũng im mãi để ổng chửi con một buổi luôn nhưng mà con không nói gì hết. Xong rồi con nghĩ là con không biết nói sao cả, con bảo: “Thôi, bây giờ con nói với thầy như thế này là cuối cùng. Con nghĩ Pháp là thầy của con, pháp Phật và tất cả các Giới luật của Phật đó là thầy của con. Con không nghĩ cái chi ngoài Pháp hết”.

Thì ông ấy bảo: “Pháp đâu mà pháp, bà muốn xuống địa ngục thì bà cứ rứa mà chui xuống đi. Bà không làm thì bà sẽ chết, thì đời bà sẽ tiêu tan”. Con cũng không sợ. Nhưng mà qua một cái đoạn, từ đó được 6 tháng là ổng cũng bắt được pháp nào, ổng lại bảo như thế này này: “À, cái bà này không cách gì chửi bả, bả không nói gì cả. Hôm nay mình lại được cái pháp này”. Trong lúc đó được ba, bốn tháng thì ông ấy vào Thầy. Ổng vào Thầy thì ổng có cái cách là ổng đối xử nhà con cũng không được là thân mật lắm. Thế là từ đó là nhà con cũng không lên một cái đàn của ổng một lần nữa mà ông ấy cũng là… Không biết làm sao cả, mình nghe trong sách kinh của Phật, mà Thầy dạy như thế thì mình cứ làm như thế, nếu nó chết cũng được. Con trả lời, khi đó con cũng bảo với ổng là: “Con có chết cũng được, thưa thầy, vì là con theo Giới luật của Phật chứ còn không theo ai cả. Bây giờ thầy theo thầy chửi bao nhiêu thầy cứ chửi”. Từ đó ổng cũng không dám lại nhà con. Cho nên con nghĩ cái đó là con xả tâm phải không Thầy?

(16:51) Trưởng lão: Đúng đó con, nhưng mà trong cái vấn đề đó thì con gan dạ chứ con nhát gan là ổng hù con xuống địa ngục con hoảng hồn đó. Con cũng gan đó.

Ở đây thật sự ra thì tiếng nói từ trái tim và lời sám hối. Ở đây có một cái điều kiện là qua những cái bài của Tuệ Hạnh với Nguyệt Cảo mà viết. Sự thật, mấy con viết một cái sự thật mấy con. Cái bài của mấy con có giá trị rất lớn, sau này có giá trị rất lớn nhưng mà vì hiện giờ có một số người đọc – họ tối mắt họ, họ hoảng sợ. Do đó họ không biết cách nào khác hơn là họ chỉ nói, cô Út thì cũng sợ. Bởi vì họ nói như thế này nè: những bài mấy con viết là một cái sự thật của những bậc Tôn túc, những bậc mà đang lãnh đạo Phật giáo hiện giờ. Coi như nằm trong giáo hội phần nhiều là mấy người đó, trừ ra thầy Chân Quang là không có nằm trong Giáo hội, làm lớn thôi. Nhưng mà Giáo hội thì cũng không ưa gì thầy Chân Quang lắm đâu. Nhưng mà mấy con nói về thầy Chân Quang thì nó không sai chút nào hết, đem cái đĩa hình của thầy Chân Quang mà soi lại, thì những cái lời mấy con nói thì thật sự là phá giới, không còn cái chỗ nào – toàn bộ hết. Mà chính cái người đọc bài của con, qua cái bài của thầy Chân Quang họ nói trong nhà của họ là bốn, năm người cũng theo thầy Chân Quang hết; mà đọc cái bài này chắc họ tá hoả tam tinh. Đó, thì họ cũng nói với Thầy như vậy.

Nhưng mà họ nói hiện bây giờ những cái bài này mà viết ra mà đụng mấy ông thầy đó, như các vị hoà thượng mà đang lãnh đạo đó. Thí dụ như thầy Trí Quảng chẳng hạn hoặc là thầy Từ Thông chẳng hạn, đều là những người “tay gộc” không à, mà con dám động chạm đến mấy ông đó, thì cái người cư sĩ này họ đọc thì họ cũng là người trí thức. Họ đọc họ nói mấy cái bài này thì coi như là Thầy trực tiếp Thầy đánh họ đó. Họ nói bây giờ họ đâu có nói mấy người đệ tử của Thầy đâu mà họ nói Thầy, Thầy cho đệ tử Thầy đập họ đây, thì bắt đầu Thầy cứ lượng cái sức của Thầy. Bây giờ cái lực lượng của Thầy là bao nhiêu nè, mà Thầy nhìn Đại thừa coi nó bao nhiêu nè? Nó xúm nhau lại nó khạc nước miếng không ở đây Thầy cũng ngợp chết nữa chứ đừng nói gì nữa.

(19:20) Do đó, cho nên theo họ nghĩ thì những cái bài này khoan đã, chừng nào cái lực lượng của Thầy phải tương đương với Đại thừa kìa. Còn lực lượng của Thầy mà Thầy thấy như hạt cát giữa bãi sa mạc thì thôi đừng có nói. Do đó, cái ý của họ góp vậy đó. Thì cô Út cổ nghe cổ sợ lắm. Cổ muốn ở đây mình được bình an hơn là có cái chuyện gì. Vì vậy mà cổ lo cổ nói mấy con vậy thôi. Nhưng mà sự thật ra có những cây bút mà viết như vậy đó thì nó mới thật sự nó mới có sửa đổi cái Phật giáo, chứ còn nếu không có khó sửa lắm chứ con.

Không phải Thầy nói đây Thầy khích lệ cho mấy con viết mạnh nữa. Lo mà tu chứ đừng có viết gì hết. Nhưng mà sự thật ra có những cái ngòi bút mà viết nó luận logic lắm. Nó lấy ba cái kinh sách của Thầy thôi mà nó đem ra nó luận nó đập người ta choáng váng mặt mày hết, nó không còn chỗ nào hết. Nó lấy cái cuốn “Đường về xứ Phật” của Thầy, thì nói Đại thừa, nó lấy cái đó nó chỉ điểm mấy cái ông này hết trơn hết trọi. Nó còn cái chỗ nào mà mấy ổng cục cựa, chỉ còn nước ngậm miệng thôi.

Nhưng mà ngậm miệng, đâu phải người ta ngậm miệng người ta không có chịu nhúc nhích. Thì mai mốt có cái bọn “đầu ngựa” nó đến đây chứ sao. Cho nên vì vậy nó không có gì đâu mà sợ. Đối với Thầy thì chẳng sợ gì hết đâu, vì toàn bộ Thầy nhìn đó là nhân quả mà mấy con. Nhưng mình biết, mình là cái người biết mình biết người. Cho nên lúc này được mình phổ biến hay là không phổ biến thôi, chứ đâu phải. Mình biết mình mà, mình biết người mình mới trăm trận trăm thắng chứ.

(20:54) Chứ nếu mà không biết thì làm sao được! Bây giờ cái đầu tiên hiện giờ thì sách vở của Thầy mình sẽ được xin phép, đó là cái đầu tiên để bảo đảm. Đó, mấy con thấy chưa? Bây giờ những cái bộ sách của Thầy lần lượt mà nó có được giấy phép hết rồi, sau đó cái bộ “Đường về xứ Phật”, cái bộ mà Thầy đã nhuận lại – mới đó. Thì do đó khi mà “Những lời Phật dạy” và cái bộ sách “Đạo đức làm người” được giấy phép xong thì tiếp tục là “Những lời Phật dạy” được xin phép. Sau khi mười tập “Đường về xứ Phật” được xin phép xong thì lúc bấy giờ chúng ta nói gì cũng được hết. Tại sao? Tại vì chúng ta có Nhà nước ủng hộ, phải không?

Còn bây giờ mình không có ai hết thì làm sao? Làm sao được? Bởi vì ít ra Nhà nước cũng thấy được cái đúng cái sai. Còn bây giờ nó chưa được Nhà nước quan sát xem xét được cái tài liệu của mình, nhất là trong cái giai đoạn này thì Nhà nước muốn có cái sự đoàn kết chứ không có muốn chia rẽ. Nhưng mà mình có chia rẽ gì đâu. Nhưng mà sự thật ra đó thì nói cái sai cái đúng thôi nhưng mà lúc này mình chưa nên nói, mà đồng thời Thầy thấy mình cũng chưa nên nói cái điều đó đâu, lúc này chưa đâu con.

Nhưng mà những cái bài của mấy con đi vào lịch sử có giá trị; chứ chưa phải bỏ đâu, không có bỏ đâu. Nhưng mà bây giờ chưa phải lúc, để chúng ta tu học, cái lớp chúng ta đào tạo cho được những bậc A La Hán. Cái điều đó là điều quan trọng mấy con.

(22:24) Mấy con ráng tu đi chứ, mấy con ráng tu. Rồi mấy con đủ cái khả năng, đủ cái sức của mấy con rồi. khi mà nó sai “đầu gấu” mấy con bay ngồi trên trời. Thì nó đập ở dưới đất chứ nó đâu có đập ở trên trời được, có phải không? Mấy thằng “đầu gấu” nó vô, mình ngồi trên trời hết. nN đập bụi đập đất chứ được gì. Thì mình chứng quả A La Hán mình mới ngồi trên trời chứ mình chưa chứng quả A La Hán mình ngồi được trên trời không mấy con? Bộ dễ hả? Còn mấy con ngồi dưới đất mấy thằng “đầu gấu” nó đập sạch hết chứ ở đó. Có phải không? Mà người ta có tiền nhiều thì bọn “đầu gấu” nó đến chứ có gì đâu, dễ dàng lắm. Cho nên vì vậy bây giờ chưa phải lúc mà chúng ta nói cái vấn đề này mà bây giờ là lúc chúng ta tu, chúng ta tu cho đạt được. Bởi vì cái lớp của Thầy đào tạo cho mấy con mà, đào tạo phải đạt được chứ đâu phải đào tạo để mà nói đào tạo rồi cuối cùng chẳng ai làm được gì đâu. Cái chuyện đó là cái chuyện vừa mất công mà vừa mất sức, mất sức của mấy con. Còn cái này đào tạo là phải đạt được chứ.

Cái vấn đề tu tập của đạo Phật nó có phải là cái chuyện mà mơ hồ nữa đâu, nó là cái thực tế mà. Do khi mà chúng ta tu được rồi thì chúng ta không nói ai hết mà người ta thấy mình tu được thì tự người ta sẽ đến với mình. Quý thầy người ta đi tu người ta cũng muốn tìm sự giải thoát chứ đâu phải là đi tu người ta muốn tìm ăn tìm uống, tìm chùa to Phật lớn bao giờ? Người ta đi tìm cái sự giải thoát nhưng mà vì không có giải thoát thì người ta đi qua cái hướng độ để mà người ta sống cho nó đỡ hơn, đỡ khổ hơn. Chứ bây giờ đã cái công đi tu rồi mà giờ còn ra cày ruộng nữa thì quá khổ vậy sao? Ít ra thì chúng ta cũng phải có tụng niệm cúng bái cầu siêu, cầu an để mà sống cho nó đỡ hơn, sướng hơn chút, thì cũng tìm cách sống để cho nó khỏe hơn chút chứ sao! Các con cứ nghĩ đi, không lẽ đi tu rồi bây giờ phải vác cuốc, vác cày ra ruộng mà cuốc cấy, tìm hạt lúa – thì như vậy nó quá khổ rồi. Cho nên vì vậy mà hiện không có con đường giải thoát thì buộc lòng người ta cũng tìm cái giải thoát của dục lạc chút, mấy con cứ chửi mắng người ta quá cũng tội.

Cho nên bây giờ người ta chưa có con đường thì mình tìm con đường mình vạch ra cho nó rõ ràng. Và con đường của mình có nhiều người thực hiện được thì buộc lòng người ta cũng phải dẹp cái sai của người ta chứ, đâu phải là người ta thích ở trong cái vị trí đó đâu.

Thật sự ra Thầy nói bây giờ mình tu được đi thì tất cả các cái chùa Đại thừa lần lượt họ cũng không thích cái điều đó đâu. Nhưng mà vì họ không có cách khác giải quyết hơn, cho nên họ phải nằm ở trong đó mà họ chịu đựng. Chúng ta cảm thông như vậy, vì vậy mà chúng ta cứ nỗ lực tu đi mấy con. Mấy con tu được thì mấy con khỏi nói, thầy Từ Thông ổng cũng xách gói lên đây ổng tu nữa chứ khỏi nói. Thầy Trí Quảng ổng cũng xin đến đây ổng từ bỏ Niệm Phật, ổng cũng vô đây ổng tu chứ không có nói gì ai đâu. Mấy con cứ tu đi, ổng cũng muốn giải thoát chứ ổng muốn ổng nằm bệnh viện sao? Các con cứ nghĩ đi! Ổng có muốn bán thân ổng nằm trên giường để cho đệ tử khiêng lên khiêng xuống sao? Đời mà, ai muốn cái điều đó?

(25:16) Nhưng mà cái trước mặt của mấy ổng, mấy ổng cũng biết rằng không khéo thì mình cũng sẽ bán thân nằm như các vị Hoà thượng khác chứ không chạy đâu khỏi, nhưng mà bây giờ làm sao giờ. Thà là được một chút hưởng dục lạc như vậy còn hơn là mình chờ tới đó mình nằm. Cho nên bây giờ nó không có cái đường chứ nếu mà có đường cụ thể rõ ràng; ở đây chừng năm, mười người chứng quả A La Hán, làm chủ được sự sống chết cụ thể rõ ràng là quý thầy đó họ xách gói đến với mình đó. Mình ở đây mình cất nhà không kịp nữa chứ ở đó!

Đại Thừa mà nó tập trung đến đây thì mấy con biết rồi nó đông lắm chứ không có ít đâu. Còn bây giờ thì người ta bán tin bán nghi, người ta chưa biết có được hay không? Thì mình bỏ công mà sống – trời đất ơi, ngày một bữa, sống độc cư buồn khổ gần chết mà không biết có được gì không? Người ta cũng ngán cho nên người ta chờ, người ta nhìn mình dữ lắm chứ không phải không đâu. Mà Thầy nghĩ rằng cái lớp của Thầy đào tạo là mấy con sẽ làm được, tu được, rồi mấy con làm chủ được sự sống chết đó. Cho nên khi mấy con làm chủ được thì rõ ràng là một người thì chưa đủ nói họ tin đâu! Mà hai người, ba người, mười người, một trăm người thì mấy con biết không – cả nước của chúng ta họ tập trung về hết chứ họ điên gì họ ở đó họ ăn ngủ phi thời để có lợi ích gì cho họ đâu. Chỉ phì da béo thịt ra đó rồi mang thêm những bệnh tật khổ đau. Họ có ham thích gì, nhưng mà bây giờ không có cái đường đi cho nên họ chịu đứng lại đó mà chịu chết đó thôi. Chúng ta là những người đang cứu họ mà bây giờ nói họ như thế này chắc họ chết sớm. Họ mà chết sớm chắc mình cũng trầy da tróc vảy chứ đâu phải là không. Mấy con nhớ kỹ điều đó cho nên khoan đã.

Những cái bài của mấy con sau sẽ đi vào lịch sử. Nó nói đúng trong cái thời điểm đó, nó ghi lại những cái lịch sử. Bởi vì những cái tài liệu này sau một ngàn năm sau mà người ta kiếm lại, về cái lịch sử cách một ngàn năm sau ở cái quê hương này, người ta tìm những cái bài của con không có đâu, nói ra cái sự thật mà.

Cho nên những cái bài pháp, những cái điều kiện trong xã hội mà trong cái thời đức Phật bấy giờ mà lật ra những điều kiện mà đời sống trong (thời) đức Phật hồi đó mà được vạch ra như Đề Bà Đạt Đa hại Phật như thế nào, làm sao, mưu mô trong đầu như thế nào? Tìm những cái điều đó làm sao tìm? Mà có ai mà hồi đó viết? Phải có Tuệ Hạnh, Nguyệt Cảo mà nó viết thì bây giờ đỡ chúng ta biết mấy.

(27:24) Đọc lại cái trang sử đó chúng ta thấy nó có giá trị ghê gớm lắm chứ đâu phải không. Phải không? Biết rõ được Đề Bà Đạt Đa mưu hại Phật bằng cách nào đó nó biết rõ, nó biết ghi lại. Bây giờ chúng ta đọc trời đất ơi cảm ơn Nguyệt Cảo với Tuệ Hạnh biết bao nhiêu. Còn bây giờ, hồi đó có Nguyệt Cảo với Tuệ Hạnh đâu mà ghi, cho nên bây giờ chúng ta không có biết mấy con. Đó là bằng chứng như vậy mà. Còn bây giờ mấy con mắt thấy tai nghe mấy con ghi trong cái thời điểm của mấy con hiện tại chứ gì. Nhưng một ngàn năm sau nó trở thành trang sử đó mấy con. Nó không thường đâu! Nó nói cái sử của Phật giáo trong thời điểm đó. Rồi cái ông Hoà thượng đó, cái ông Tổ đó hồi đó cách đây một ngàn năm – các vị này thành Tổ hết rồi – cho nên nói ông Tổ đó hồi đó vậy vậy đó. Trời đất ơi, họ đọc họ thấy đúng là không có sai, nó là cái trang sử thật mà. Khó lắm chứ không phải không đâu.

Tu sinh: (Không nghe rõ).

(29:35) Trưởng lão: Chắc không được đâu.

Tu sinh: Thí dụ như con thấy người ta đánh bạc với thấy đó. Mình cũng đưa ra giới luật… (không nghe rõ) … cái gì họ cũng biết chứ không phải không biết…

Trưởng lão: Tính ở trong chùa mà tổ chức đánh bạc thì chắc Nhà nước không bắt rồi.

Tu sinh: Dạ không, không có bắt.

Trưởng lão: Chứ ở ngoài mà rớ rớ tổ chức ở chỗ nào, nhà nào mà dân tập hợp là họ đến họ “lượm” hết đó, nhưng mà trong chùa nó khó.

Tu sinh: Thường Phật tử, như con với Thầy thấy, thì ai hiểu được như mình đâu, mình biết thì mình thấy điều đó. Nhưng mà những người Phật tử họ biết rõ ràng như vậy rồi, người ta đánh bài rồi đó mà Phật tử cũng ráng chạy để rồi đưa quý thầy thêm. Xe đồ cầm rồi đó, rồi thấy thầy nắng nôi không có phương tiện vậy đó rồi lật đật dồn tiền lại mua xe cho thầy. Lo cho thầy từng bữa ăn…

(30:38) Trưởng lão: Thua bạc cũng là lo luôn.

Tu sinh: Dạ dạ… (nghe không rõ).

Trưởng lão: Bởi vậy quý thầy tu sướng quá mà. Đánh bạc có người lo tiền.

Tu sinh: Đó là sự thật một trăm phần trăm…

Trưởng lão: Khổ quá! Thầy nói đúng là trong những cái điều kiện đó, trong cái giai đoạn đó mà mấy con được ghi lại; nó được đi vào những cái trang sử thôi, chứ không phải là ghi để đưa cho Chúng đọc. Mà ghi để mà nói họ bây giờ – đưa ra nói bây giờ – nhưng mà ghi thành một cái trang sử của mấy con. Để sau này nó còn lật lại cái trang sử của Phật giáo chúng ta nó tệ bạc như vậy đó mấy con. Trong chùa mà cái ổ bài bạc thì còn nói gì nữa con. Trời đất ơi, tụng ba tiếng một hơi cái hết cái thời đó rồi ra đó là trổ sòng bài ra. Còn không ấy làm cái tiệc bàn rượu nhậu “la-ve” (nhậu bia) với nhau, lai rai tới nửa đêm mới đi ngủ thì thôi hết chỗ nói rồi. Tu hành gì mà hưởng thụ dục lạc ghê gớm vậy!

3- CUỘC ĐỜI TU HÀNH CỦA THẦY

Cho nên vì vậy đó là những điều mà mấy con ghi lại, chép lại những cái điều đó trong mắt thấy tai nghe, không hề nói gian nói xảo một cái điều gì. Nhưng mà ở đây không phải đưa ra cho mọi người đâu mà để lại thành cái trang sử của Phật giáo một cách tệ hại. Các con biết, nó biến từng…​ Thầy nói, trong cái đời của Thầy xuất gia, Thầy vào một cái chùa thì quý thầy đều có vợ con hết, mà may mắn là Thầy không nhiễm mà Thầy vọt, Thầy ra khỏi cái môi trường đó. Thầy ở trong cái ngôi chùa như vậy thì họ cũng dạy tụng niệm, cúng bái, cũng ghi cầu siêu cầu an, làm tuần đám ma đủ loại hết, họ cũng làm y như người đời nhưng họ cũng có vợ có con, cũng làm ăn sinh sống y như những người khác. Chỉ có họ hơn người đời chút là họ biết tụng niệm thôi, họ học kinh thôi chứ không có khác gì hết.

Do đó mà Thầy có duyên trong chiến tranh nó không có để những người thanh niên ở tại quê này đâu, buộc lòng nó phải rời đi cho nên Thầy rời đi, rời đi riết tới các Phật học viện, ở mấy chùa ở Thành phố. Rồi từ đó có những cái người mà người ta đã hiểu biết Phật pháp người ta có giữ được chút ít. Do nhờ cái sự học rồi từ đó Thầy thoát thai ra khỏi chứ không khéo Thầy cũng trở thành ông thầy có vợ có con như mấy ông thầy kia chứ không khác gì đâu mấy con.

(32:49) Ở đâu nó ảnh hưởng vậy à! Nhưng mà may mắn là chiến tranh nó buộc lòng Thầy phải rời khỏi quê hương, đi khỏi chỗ này đi rồi Thầy đi ra cái chỗ khác; rồi từ cái chỗ khác đó lại được những cái bậc mà người ta cũng có một phần giữ gìn không có vợ con.

Thí dụ như Hoà thượng Thiện Hoa, Thiện Hoà đó. Thì mấy người đó họ từ giã vợ con hoàn toàn họ tu họ giữ gìn cũng là tốt. Do đó mình đến mình gặp những người này, rồi những trường Phật học họ mở ra rồi mình được theo học. Do đó cái trình độ học về Phật pháp của mình càng lúc càng sâu hơn, càng hiểu hơn rồi cuối cùng thì tới mình đi tu nữa. Do đó cái duyên của mình nó đẩy lần, cái duyên của Thầy nó đẩy lần đi đến cái chỗ rốt ráo, nó không có để cho Thầy bị dính mắc.

Trong cái thời mà Thầy nói, chính quý thầy ở Ấn Quang như thế này nè, trong cái thời mà Thầy ở Ấn Quang, cứ buổi chiều buổi tối vậy đó là ở trước cái phòng, mỗi thầy là có một cái phòng. Có cái nhà vậy đó, nó phòng phòng phòng tầng trên tầng dưới. Mà hễ mình đi ngang qua thấy có đôi dép của phụ nữ thì ở trong đó ông thầy ngồi nói chuyện với phụ nữ trong đó. Thì thật sự ra nó bê bôi đến cái mức độ vậy mà không làm sao được hết, mà những người đó đều là những người có trí thức hết, họ là những giáo sư đó.

Cho nên vì vậy mà Thầy, Thầy có một cái lạ lùng cuộc đời của Thầy, Thầy nói thật sự cho mấy con biết, Thầy có một cái lạ lùng là khi thấy cái điều đó Thầy không có chấp nhận. Bởi vì cái Giới luật hồi mà Thầy học với các thầy ở đây, các thầy ở trong các chùa mà có vợ con nó dạy Thầy các Giới luật, Thầy học thuộc rồi sao lại Thầy suy ngẫm, còn họ sao họ có vợ con được, Thầy cũng chẳng hiểu. Còn Thầy thì Thầy suy ngẫm Giới luật Phật dạy vậy. Rồi đi đến mấy chùa, cứ sống Giới luật, thậm chí như Thầy muốn ăn một ngày một bữa chứ Thầy không bao giờ muốn ăn ba bữa.

Rồi trong lúc đi dạy học, nó gặp đủ thứ cái chuyện mà nó rắc rối lắm mấy con. Nhưng mà Thầy vượt qua từng chỗ, từng chỗ mà Thầy vượt lên, tới cuối cùng Thầy đi tu được là không phải dễ! Nó luôn nó điều những cái mắt xích nó trói buộc một cái người tu, nó rơi vào dục lạc của thế gian. Nó cám dỗ ghê gớm lắm, nó đủ thứ.

Mà Thầy may mắn lắm. Cuộc đời Thầy may mắn là Thầy vượt qua, Thầy vượt qua khỏi hết mọi cái. Đó là một cái sự thật trong cuộc đời tu hành – quá khó chứ không phải dễ. Cho nên mình thấy quý thầy mà sa ngã trong tình hoặc là trong tiền, trong danh, trong lợi – đều là nó bị cám dỗ hết. Khi cái trình độ học thức mình có rồi nó dễ cám dỗ đủ mọi mặt. Thầy nói như thế này để mấy con biết.

(35:20) Cái người Phật tử họ rất mến vị thầy, là vì họ nghĩ rằng cái người tu là tốt, còn ở ngoài đời phần nhiều là xấu, họ mến họ lo lắng cho quý thầy. Cuối cùng họ lo rồi họ “thầu” ông thầy luôn. Không, Thầy nói thật mấy con. Thầy hồi đó, Thầy với thầy Quảng Chánh đồng quê hương ở đây mà khi đi Thành phố, thì thầy Quảng Chánh làm hiệu trưởng của trường Bồ Đề ở Chợ Lớn. Và cuối cùng cái cô đó cổ giàu có, cổ tiền bạc nhiều, cổ “thầu” luôn thầy Quảng Chánh, cổ làm luôn. Bắt đầu thầy Quảng Chánh phải trả y áo lại rồi hai người mới dẫn đi qua bên Pháp ở. Và cuối cùng thì để lại hai đứa con; và đồng thời cuối cùng thầy thấy cuộc đời của thầy nó đen tối quá cho nên thầy gửi hai người con của thầy vào cho một người thân của thầy nuôi, rồi thầy xuất gia trở lại thầy đi theo thầy Huyền Vi tu.

Cho nên hiện giờ thầy cũng đang ở một cái chùa bên Pháp, thầy cũng tu trở lại mấy con. Rất tội mấy con! Hồi đó là hiệu trưởng trường Bồ Đề đó, còn Thầy là dạy ở trường Bồ Đề, còn thầy là hiệu trưởng trường Bồ Đề. Cho nên Thầy thấy trong cái giới mà Tu sĩ mà đi dạy học là nguy hiểm vô cùng lận.

Thầy cũng bị cám dỗ nữa chứ không phải Thầy là tránh khỏi đâu mấy con. Mà Thầy vượt qua khỏi, Thầy vượt qua khỏi, Thầy đi mà Thầy không báo cho Phật tử Thành phố Hồ Chí Miinh biết. Thầy đi ra Vũng Tàu, Thầy theo Hoà thượng Thanh Từ mấy con, Thầy không cho ai biết hết. Thầy ra ngoài đó Thầy ở tu ba tháng. Thầy đi luôn lên Hòn Sơn, Thầy trốn luôn, không ai còn biết Thầy. Khi mà Thầy ra Vũng Tàu, Thầy tu với Hoà Thượng Thanh Từ; vậy mà Phật tử ở Thành phố họ mò ra họ biết, con. Họ đến họ thăm. Thầy biết đổ bể rồi, khi ba tháng ở đó rồi Thầy ra đi, Thầy âm thầm Thầy đi luôn ra Hòn Sơn. Không còn ai ra Hòn Sơn biết Thầy được, chỉ có mình Thầy ra Hòn Sơn. Thầy trốn đó mấy con, Thầy trốn để mà đi tu.

Ghê lắm mấy con, họ đến đó họ cúng dường mình đủ thứ vật dụng, cách thức họ nuôi dưỡng mình, trời ơi riết rồi mình sa ngã mất đi. Cho nên Thầy về trên Hòn Sơn mà Thầy ăn rau Thầy sống đó mấy con biết không? Thầy có cái duyên lớn lắm chớ còn nhỏ nhỏ, nếu mà ham ăn một chút là ở Thành phố hay ở Tu viện Chơn Không thì bây giờ Thầy cũng làm Trụ trì của một cái Tu viện của Hoà thượng Thanh Từ cất rồi. Lúc bấy giờ hưởng thụ dục lạc chứ chắc chắn không có giải thoát được đâu!

(37:35) Cho nên cả một cái vấn đề của đời tu mấy con. Cho nên bây giờ mấy con về đây mấy con tu là được sự bảo bọc của Thầy trọn vẹn lắm mấy con, nó yên ổn lắm. Nhưng mà Thầy mong rằng mấy con tu cho được, được như Thầy, làm chủ được sự sống chết, có đủ Tam Minh như Thầy. Để rồi mấy con còn sống một đời sống còn để cái gương hạnh tốt để chấn chỉnh lại Phật giáo, thay Thầy làm những việc đó. Một mình Thầy tiếng nói không đủ đâu mà chính nhờ mấy con thêm nữa thì mới đủ. Nhưng mà mấy con không ráng tu thì chắc chắn là Thầy thôi cũng chịu.

Có gì không con?

Tu sinh: (Không nghe rõ).

Trưởng lão: Bởi vậy Thầy mới phân làm lớp đó con, để cho cái bóng đèn của con có 110 thì ở 110, chứ 220 không được.

4- TỨ NIỆM XỨ, TÂM XẢ

(38:33) Tu sinh: Thưa Thầy, cũng như là cái đặc tướng hợp với Tứ Niệm Xứ đó Thầy, là phải tu ngay tâm Xả hả Thầy?

Trưởng lão: Tứ Niệm Xứ là tại vì con không chuyên về tâm Xả nhưng mà Tứ Niệm Xứ là tâm Xả. Bởi vì bây giờ cái kia nó ở trên cái tâm Xả nó thực hiện thì nó cũng ở trên Tứ Niệm Xứ mà nó không phải đứng ở trên Tứ Niệm Xứ mà quan sát. Còn con tu Tứ Niệm Xứ là con đứng ở trên Tứ Niệm Xứ mà con quan sát, có chướng ngại thì con mới xả. Còn cái kia nó đụng gì nó cũng xả hết – nghĩa là nó xả là nó dùng cái tâm Xả nó đi vô.

Nó cũng như là Tứ Niệm Xứ nhưng mà không phải Tứ Niệm Xứ, tại vì nó không nhìn Tứ Niệm Xứ mà nó nhìn cái tâm Xả của nó thôi, mỗi mỗi cái gì nó cũng xả. Còn cái Tứ Niệm Xứ là có (thì) mới xả, còn không có thì “thanh thản”. Nó khác, nó khác chỗ đó. Còn tu cái tâm Xả thì lúc nào nó cũng xả, nó đi nó cũng xả mà nó ngồi nó cũng xả. Tất cả đều là giữ cái tâm Xả của nó duy nhất mà, nó xả luôn luôn, nó không có để. Có chướng ngại cũng xả, không chướng ngại cũng xả, hỷ lạc cũng xả, bất thọ lạc bất thọ khổ cũng xả. Bởi vậy con nghe “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh” – nó xả rốt ráo. Cho nên nó xả hết.

Còn con thì bây giờ ở trên Tứ Niệm Xứ xả để tâm “thanh thản, an lạc, vô sự” rồi bắt đầu mới nhập Tứ Thiền, phải không? Phải Tứ Thiền mới “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh”. Bây giờ Tứ Niệm Xứ rồi mới tới Tứ Định. Còn cái tâm Xả nó xả từ đây nó đi tới luôn cả Tứ Thiền nó xả luôn. Nó không đứng ở chỗ nào hết, nó đi luôn một lượt xả. Con hiểu chưa?

(40:05) Cho nên khi nói xả thì con nghe cái Sơ Thiền thì nó nói “ly” chứ nó không có nói “xả” – “Ly dục, ly ác pháp nhập Sơ Thiền”. Mà nó tới Nhị Thiền nó diệt – “Diệt tầm tứ nhập Nhị Thiền” – chứ nó đâu có nói xả con. Phải không? Mà Tam Thiền thì nó “ly” nữa, nó “ly hỷ, nó trú xả”, nó trú vô cái xả chứ nó chưa có xả. Mà tới Tứ Thiền nó mới xả: “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh”, tới Tứ Thiền nó mới xả sạch ra.

Mà từ bắt đầu chúng ta xả tới cái tâm phàm phu chúng ta: xả tất cả ác pháp, xả tất cả các hỷ lạc, dục lạc của thế gian, xả hết. Xả hết cho đến khi mà nó xả tới cái Tứ Thiền, nó xả luôn hơi thở đó, cho nên nó đi một lèo nó xả.

Còn con thì đi Tứ Niệm Xứ thì con mới ở chỗ Chánh Niệm, con xả ở trên Tứ Niệm Xứ thôi. Cho nên nó chưa. Sau khi Tứ Niệm Xứ rồi nó mới có Tứ Thần Túc con mới vô con mới xả được. Tứ Thần Túc tức là Định Như Ý Túc, con mới vô cái tác ý đó mà con vô con “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh” thì nó mới vô tới Tứ Thiền. Còn anh này ảnh đi lạ, ảnh vô ảnh xả không, anh xả tới khi mà xả luôn cái hơi thở của ảnh luôn, ảnh đi luôn. Bởi vì cái lực của anh đó, nó đi từ cái Xả nó tạo thành cái lực của nó, Bảy Năng Lực của Giác Chi. Nó xả luôn.

Tu sinh: Bạch Thầy! Nếu mà xả vậy thì trước đó mình tu Định Vô Lậu có phải không?

(41:16) Trưởng lão: Coi như là trong cái Xả đó nó có sử dụng Định Vô Lậu, cái tri kiến của nó nó xả nữa con; rồi nó sử dụng cái pháp Tác Ý, nhất là cái pháp Tác Ý của nó. Mà cái Định Vô Lậu với pháp Tác Ý của nó kèm theo để nó xả. Bởi vì cái tri kiến hiểu biết tức là Định Vô Lậu, phải không? Cho nên vì vậy sử dụng cái tâm Xả giai đoạn đầu nó dùng cái tri kiến nó xả hết. Nó thấy nhân quả nó xả nè; nó thấy các pháp vô thường nó xả nè. Nó dùng mấy cái này nó xả hết. Nó xả cho nó đi tới rốt ráo của nó thì “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh”, nó đều xả. Vì vậy tới tâm Xả là mấy con viết, coi thử coi nếu mà mấy con nói đúng thì nó đúng mà nói trật là nó trật.

Trưởng lão: Rồi, con.

Tu sinh: Thưa Thầy con có ý kiến, con muốn hỏi Thầy, chưa rõ chỗ này. Tức là về cái tâm Xả trong cuốn “Tứ Vô Lượng Tâm” thì cái tâm Xả đấy nó là một cái Pháp để cho mình tu. Cái Tứ Niệm Xứ là trợ duyên cho cái tâm Xả hoặc là nó trợ duyên cho một cái pháp Tỉnh giác hoặc là Định Vô Lậu chứ nó không phải là một cái Pháp để cho mình xả. Thì con nghĩ vậy có đúng không ạ?

Trưởng lão: Cái Tứ Niệm Xứ nó như thế này con. Tứ Niệm Xứ là cái mặt trận, mình dàn cái mặt trận ở trên Tứ Niệm Xứ. Bây giờ Tứ Niệm Xứ nè, bắt đầu bây giờ, Thân, Thọ, Tâm của Thầy, Pháp nè​ là cái mặt trận của nó rồi. Nó không chướng ngại thì mặt trận nó đang bình yên, mà nó đấu tranh thì nó đấu tranh ở trên đó – trên Tứ Niệm Xứ.

(42:55) Còn cái Tâm Xả lại là cái phương pháp, cái phương pháp độc nhất. Mà chúng ta nói ở trên Tứ Niệm Xứ thì cũng không được, mà nói không ở trên Tứ Niệm Xứ cũng không được bởi vì nó Xả tất cả mà. Đụng đâu nó xả đó, đụng cái gì nó cũng xả hết à, cho nên cái đó là cái phương pháp Độc Nhất. Còn Tứ Niệm Xứ bây giờ nó là cái mặt trận, bây giờ chúng ta dàn cái mặt trận ra rồi mà địch nó không có động địa trên cái mặt trận, bây giờ nó chưa có vô đánh, bây giờ mình hẹn nó: “Ngày mai mày đến đây tao với mày bắn một bữa”, thì bắt đầu nó lên cái mặt trận này để nó đánh. Thì bắt đầu bây giờ mình bên đây dàn quân mình đánh nó. Phải không? Bây giờ nó vô cái bắt đầu “Phào! Phào! Phào” chỗ nào trước thì bắt đầu nó khởi niệm thì bắt đầu mình đánh ngay liền Định Vô Lậu vô nó. Còn bây giờ nó đánh vô cảm thọ, nghe đau nhức ở chỗ thân mình thì nó đánh vô cái góc độ trên mặt trận thân rồi, thì bắt đầu mình mới dùng nhiếp tâm và an trú tâm mình đánh bạt cái bệnh khổ đó ra. Thì đó là mình tu Tứ Niệm Xứ con.

Xả, cái đó cũng là xả mà xả Tứ Niệm Xứ. Tại vì nó động trên Tứ Niệm Xứ thì mình xả mà không động thì mình thôi không có xả. Còn cái kia nó Xả con.

Bình thường nó luôn luôn cái tri kiến của nó, cái hướng của nó là nó muốn xả, nó là cái pháp Xả. Cho nên đụng cái gì nó xả mà không có thì nó xả tới, nó đi tới không à, nó đi tới xả. Cái tiến trình đường đi của Xả như vậy. Bây giờ mấy con sẽ làm tới đó là mấy con sẽ thấy cái đường đi, Thầy sẽ nói cái đường đi cho mấy con thấy.

Rồi con hỏi, con. Khoan con.

Tu sinh: Bạch Thầy! Theo con hiểu giống như mình vẫn sống bình thường, mình làm nhưng mọi động dụng, thí dụ mình cứ thấy nó khởi ra mình xả, khởi ra mình xả. Còn cái tâm mà không có là mình cũng đề phòng…

(44:44) Trưởng lão: Cái đó nó còn nằm ở trong cái… Nói chung là cái đó là nó không phải là Xả Tứ Vô Lượng Tâm. Mà xả của con đó là nó tâm Xả mà trong giai đoạn đầu.

Tu sinh: Con cũng nghĩ là giai đoạn đầu, nhưng mà xả cũng là giai đoạn đầu của Xả Tứ Vô Lượng Tâm?

Trưởng lão: Không con! Tứ Vô Lượng Tâm nó đi tới Tứ Thần Túc rồi nó mới xả cái kia, nó có nhờ cái Tứ Thần Túc – tức là cái đạo lực đó – nó mới xả tới “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh”. Còn nó chưa có Tứ Thần Túc. Còn cái Xả này nó tự xả, rồi nó đi đến đó nó đủ Thần Túc. Nó không có nghĩ nó có Thần Túc đó đâu, nhưng mà tại nó xả rồi nó có đủ cái lực nó đi tới. Thành ra tự con đường nó đi rồi nó có Tứ Thần Túc, mà nó không phân biệt Tứ Thần Túc ở trong đó. Tại nó xả, nó thanh tịnh rồi nó đi tới à. Nó đi tới, rồi cái lực của nó, nó tự nó có nó đi tới thôi chứ nó… Cho nên nó không có đi qua vào cái Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền gì hết. Nhưng mà nó đi thẳng tới: nó muốn cái gì là nó xả cái nấy, nó muốn cái gì nó xả cái nấy. Làm như cái xe ủi đất, nó tới đâu nó ủi sập tới đó hết. Cái xe ủi đất, cái xe Xả, cái xe mà bang, nó bang sạch ra hết. Còn cái xả này, bắt đầu đây là cái xả của con, trên Tứ Niệm Xứ này nó phải có bốn chỗ nó tác động vô mình xả; còn không tác động thì thôi, mình ngồi bất động. Phải không?

Còn cái mà con nghĩ, con giữ gìn, con tác ý con giữ gìn đó là cái phương pháp xả đầu tiên. Có thì con tư duy, mà không có thì con tác ý: “Tâm phải xả tất cả các ác pháp, các thiện pháp, các cảm thọ gì cũng phải xả hết”, con nhắc nó vậy. Nhưng mà nó đụng tới cái nó xả, nó không phải ở trên Tứ Niệm Xứ mà tại vì đụng tới cái pháp Xả nó xả.

Tu sinh: Như vậy thì con đâu có biết làm sao để con làm Xả Tứ Vô Lượng Tâm đâu, bạch Thầy.

Trưởng lão: Bởi vậy. Bây giờ con mới lý luận nè. Bây giờ thí dụ như có một người chửi mình mà mình tu tâm Xả, người ta chửi mình mà mình tu tâm Xả. Thì bây giờ muốn xả nó thì mình phải hiểu cái gì đây? Mình dùng cái Định Vô Lậu mình hiểu. Tại vì trong đầu của mình mình có học về Vô Lậu rồi, mình thấy: “Đây là nhân quả”. Phải không? Mình thấy nó là nhân quả thì ngay đó nó đã xả, đó là xả cái giai đoạn đầu. Con hiểu chưa? Mà thay vì mình tu cái tâm Từ thì mình thấy đây là cái lòng Từ của mình, mình phải thương mình, mình đừng có làm cho mình giận. Nó khác con, nó khởi một cái ý khác ở trong đó. Còn nó khởi cái ý Xả là nó không có nghĩ thương, mà nó chỉ cần hiểu cái đó thì nó thấy cái đó nó không có tác động được nó. Tức là có nghĩa là tâm Xả là cái tâm không dính mắc, không có chấp đắm, không dính mắc thôi.

Các con hiểu cái chữ “dính mắc” và “chấp đắm” không? Chấp đắm, dính và mắc vào một cái gì đó; còn cái xả thì nó không có dính mắc vô. Bây giờ người ta chửi nó nó không sân thì đó là nó xả.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 9)

THÔNG TIN

☸ CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com

Email: [email protected]

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Trưởng lão Thích Thông Lạc.