ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
LCK 079A – (Nam) Pháp độc nhất – Ba giai đoạn xả tâm – Sự liên hệ giữa Thập thiện và Tứ vô lượng tâm – Tâm xả

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

LCK 079A – (Nam) Pháp độc nhất – Ba giai đoạn xả tâm – Sự liên hệ giữa Thập thiện và Tứ vô lượng tâm – Tâm xả

A A A

LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 079A

PHÁP ĐỘC NHẤT – BA GIAI ĐOẠN XẢ TÂM – SỰ LIÊN HỆ GIỮA THẬP THIỆN VÀ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM – TÂM XẢ

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh nam

Thời gian: 02/02/2006

Thời lượng: [40:02]

 

1- PHÁP ĐỘC NHẤT TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

(00:00) Trưởng lão: Hôm nay, Thầy xin nhắc lại Tứ Vô Lượng Tâm – tâm Từ, tâm Bi, tâm Hỷ, tâm Xả – là những cái Pháp độc nhất. Cho nên nó, khi mà viết về cái tâm Từ thì nói tâm Từ, đừng có nói lộn xộn tâm Bi ở trong đó. Vì vậy mà nó là Pháp độc nhất – nó không phải mình tu tâm Từ rồi mình phải Bi, rồi phải Hỷ, phải Xả – nó không có lộn xộn vậy được.

Từ là mình sống trong cái lòng Từ của mình, lúc nào mình cũng tỉnh thức để cho mình không có làm đau khổ chúng sanh, vật gì hết. Để cái pháp đó đi tới cái chỗ mà cứu cánh giải thoát cho mình. Chứ không khéo cái Từ của mình cái nó xen Bi. Cho nên dường như mình cứ thấy là khi mình tu tâm Từ thì nó có tâm Bi ở trong đó, có tâm Hỷ, rồi tâm Xả như vậy mình mới xả, không phải. Mình hiểu như vậy là hiểu chung chung.

Nó không có thể hiểu chung chung vậy được mà hiểu độc nhất. Nếu mà tu tâm Bi thì luôn luôn thực hiện cái lòng Bi của nó chứ không có lộn xộn cái tâm Từ, tâm Hỷ, tâm Xả trong đó. Cho nên đến cái giai đoạn này để mà học tập cái pháp là Pháp độc nhất. Hễ mình chọn lấy tâm Bi thì tu tâm Bi, mình chọn lấy tâm Từ thì tu tâm Từ chứ không có lộn xộn ở đó phải có Xả; mặc dù là nó có xả nhưng điều kiện nó không phải là cái pháp của nó, nó không có phải. Nó chỉ riêng của nó thôi, mình chỉ thực hiện cái lòng Từ của mình, hay hoặc lòng Hỷ, lòng Xả. Cho nên đến khi Xả – có nhiều người Thầy tin rằng mấy con sẽ viết cái bài Xả – hễ mình Xả thì mình phải có Hoan hỷ, mà mình Xả mình phải có tâm Từ, mình Xả mình phải có tâm Bi. Không có phải vậy!

(01:34) Như vậy nó lộn xộn rồi, nó không phải là Pháp độc nhất của đạo Phật. Trong Kinh Bát Thành nói “Pháp độc nhất”, tức là cái pháp đó chuyên nhất vào cái đó để mà chúng ta đi đến cứu cánh, chứ không có xen cái pháp nào vô lộn xộn trong đó hết. Nhớ như vậy thì các con sẽ làm đúng cái bài pháp mà chúng ta sẽ bắt đầu áp dụng. Cho nên trong cái sự tu tập phải lưu ý vấn đề này.

Vừa rồi Thầy có đọc một cái đoạn của tu sinh viết về tâm Xả. Nhưng mà Thầy thấy hễ xả cái niệm đó rồi thì lại có Hoan hỷ, rồi lại thực hiện thấy cái lòng Từ của mình, thương thì mình mới xả, còn không thương thì mình không xả, mà không Hoan hỷ thì làm sao xả. Đó là chung chung, không phải!

Ở đây Xả là Xả, tôi không cần Hỷ, không cần gì hết. Nghĩa là tôi không biết Hỷ, không biết gì hết. Nghĩa là tôi biết Xả đó thôi, Xả đem lại cái tâm chúng ta hoàn toàn bất động. Có vậy thôi thì mới đúng pháp của chúng ta đang tu. Nhớ như vậy thì chúng ta sẽ làm đúng.

Cái này Thầy photo cho con, của thầy Minh Thành.

Tu sinh: Con cảm ơn Thầy.

(02:56) Trưởng lão: Ở đây, Thầy photo có ba bản à.

Cho nên hôm nay các thầy muốn thưa hỏi một cái điều gì thì cứ thưa hỏi. Rồi đến ngày thứ Ba thì bắt đầu nộp bài cho Thầy, Thầy sẽ chấm bài rồi chúng ta tiếp tục chúng ta làm cái tâm Xả.

Xả có hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên, chúng ta tu tập là chúng ta xả cái tâm phàm phu của chúng ta. Kế đến chúng ta xả cái cao hơn, là như trong Tứ Thánh Định. Thì Tứ Thiền, đức Phật nói “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh”, nghĩa là chúng ta xả hơi thở của chúng ta đó. Thì nó có, khi mà tu tập như vậy thì chúng ta phải biết cách xả hơi thở chứ không phải là tập nín hơi thở mà tập xả hơi thở.

Như vừa rồi Thầy dạy cô Huệ Ân, thì Thầy dạy cổ tu tập xả tâm, xả cái hơi thở. Để khi mà bức bách của cơ thể – cái nghiệp – thì cổ biết cách để mà cổ làm chủ sự sống chết của mình, cổ ra đi. Cho nên đó là cách thức tập xả nhưng vì cái trường hợp cổ chưa có – cái tâm chưa hoàn toàn thanh tịnh – nói chung là Tứ Niệm Xứ chưa sung mãn. Nhưng vì tuổi tác của cổ quá lớn, mà nếu không tập như vậy đến khi cái nghiệp đến thì cổ không đủ sức, không đủ sức để ra đi tự tại thì rất là đau khổ. Cho nên Thầy có hướng dẫn cổ cách thức làm chủ hơi thở. Khi muốn chết thì mình sử dụng phương pháp để tịnh chỉ được hơi thở mà ra đi thanh thản.

Hôm nay thì Thầy xin nhắc lại, là vì cái lớp của chúng ta: cái người già thì nên tu theo cái tuổi già, để thời khoá Thầy thành lập cho nó hợp với cái tuổi già. Còn người trẻ thì phải nên tu theo cái tuổi trẻ để thời khoá nó có nhiều thời giờ để tập luyện hơn, vì cái sức khoẻ của người trẻ phải tu như vậy chứ không thể nào mà tu sai được. Và tri kiến giải thoát chưa đủ thì chịu khó ở lại chứ không thể lên lớp mà cái tri kiến mình chưa đủ thì mình chưa đủ sức để mà xả tâm. Mà chưa đủ sức tri kiến, chưa đủ sức xả tâm thì mình sẽ bị ức chế tâm.

(05:38) Cho nên từ cái trình độ mà Thầy đã đọc qua các bài tức là sự tư duy quán xét trên Chánh Tri Kiến. Người nào có đủ khả năng tri kiến để xả tâm thì được lên lớp tu tập, còn người nào chưa đủ thì ở lại lớp để mà triển khai tri kiến của mình. Người nào có sức khỏe thì tu thời gian dài hơn, người nào thiếu sức khoẻ thì tu thời gian ít hơn. Đừng lên đó mà rồi gục tới gục lui – rồi cố gắng sẽ bị ức chế thân tâm, tu tập chẳng giải thoát mà càng thêm khổ.

Cho nên sự tu tập càng phân chia lớp, tu tập rõ ràng hơn thì kết quả sẽ dễ dàng hơn. Còn để tu tập lu bù người nào cũng như người nấy thì sự tu tập không thể có kết quả. Cho nên vì vậy mà bắt đầu chúng ta gần xong cái lớp Chánh Tri Kiến thì chúng ta sẽ bắt đầu qua cái lớp Chánh Tư Duy. Chánh Tư Duy tức là áp dụng sự hiểu biểu của chúng ta để xả tâm.

2- BA GIAI ĐOẠN XẢ TÂM

(06:59) Trưởng lão: Mà xả tâm chúng ta có bốn phương cách xả tâm.

Xả tâm thứ nhất là chúng ta dùng tâm Từ. Người nào hợp với tâm Từ thì chúng ta dùng tâm Từ mà xả tâm. Người nào hợp với tâm Bi thì dùng tâm Bi mà xả tâm. Người nào hợp với tâm Hỷ thì dùng tâm Hỷ mà xả tâm. Cách thức luyện tập tâm Từ như thế nào?

Cách thức luyện tập tâm Bi như thế nào? Và tâm Hỷ, tâm Xả như thế nào? Để chúng ta biết áp dụng một Pháp độc nhất để đi đến cứu cánh giải thoát hoàn toàn.

Đó là chương trình Giáo dục đào tạo chúng ta trở thành những Bậc Giải Thoát, chứng đạt chân lý. Cho nên phải học tập đúng và trình độ chúng ta phải biết học được lớp nào và chưa học được lớp nào thì chúng ta đừng vội vàng, đừng ham thích. Để rồi lên lớp trên mà chới với không học được, không tu được mà lại còn thêm chướng ngại, bệnh tật là khác nữa.

Tới đây thì cái sự càng quyết định hơn là vì chúng ta có cái mục đích. Tu là phải giải thoát, phải làm chủ hẳn hòi, chứ không thể tu nhiều đời nhiều kiếp, tu cầm chừng, tu lấy có thì không thể được. Thà không tu thì thôi mà đã tu thì nhất định là phải giải thoát, nhất định là phải thực hiện nhập Bốn Thiền, thực hiện Tam Minh, hoàn toàn làm chủ sự sống chết của chúng ta, chấm dứt luân hồi, hoàn toàn chúng ta biết rất rõ. Chứ không phải tu lơ mơ, tu cầm chừng như từ lâu đến giờ.

(08:43) Đã là vào cái lớp học đào tạo để chúng ta chứng đạt được chân lý giải thoát hoàn toàn thì không thể nào từ chối trên sự tu tập. Nhưng chúng ta tùy theo khả năng, trình độ, sức khoẻ mà được sắp xếp vào những lớp học. Nếu ai muốn vào lớp học cao thì phải cố gắng nhưng cố gắng thấy cái sức của mình được, thấy cái khả năng của mình được thì mình mới ở lớp đó mình tu còn nếu thấy không được thì xin trở về. Chứ không nên vội vàng mà rồi mình sẽ không đạt được kết quả thì rất là uổng, uổng phí. Tu không phải tu hình thức mà đây tu để được giải thoát hoàn toàn.

Cho nên phải cố gắng nỗ lực hết mình, Thầy đem hết sức lực Thầy dạy cho mấy con. Nghĩa là cuộc đời của mấy con hôm nay mà vào tu không phải còn kéo dài cái thời gian nữa; vì tuổi đời của mấy con, có nhiều người lớn tuổi, không có còn lâu nữa. Và những người tuổi trẻ còn nhỏ, không có nghĩa là chúng ta tu cầm chừng như vậy, chúng ta làm sao đủ thân giáo để mà hướng dẫn người. Chúng ta thân giáo là chúng ta phải làm chủ sanh – già – bệnh – chết, chúng ta phải chấm dứt luân hồi, chúng ta phải có đủ thiền định, chúng ta phải có đủ Tam Minh thì chúng ta mới đủ khả năng mà hướng dẫn người. Nếu chưa đủ điều kiện đó mà chúng ta hướng dẫn người là chúng ta tự giết mình và tự giết người trong danh lợi.

(10:40) Hôm nay phải tu thật chứ không phải tu giả nữa; không phải tu cầm chừng nữa mà có sự quyết liệt. Cho nên bắt đầu từ ngày nay cho đến hết tháng Giêng này thì ai có điều kiện gì – gia đình, bạn bè, thân hữu muốn giải quyết điều gì – thì ngay bây giờ về trụ xứ của mình giải quyết cho xong rồi trở lại đây. Chúng ta sẽ nỗ lực tận cùng mà không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt ở trong Tu viện này nữa.

Theo đúng quy ước mà quý thầy và quý cư sĩ đã đọc thì nhất định là không được vi phạm trong quy ước này nếu ai quyết định tu tập để được giải thoát. Và đồng thời cuối cùng Thầy sẽ kiểm lại cái bài cuối cùng là cái bài Đức Tâm Xả để chúng ta biết cách xả tâm như thế nào đúng, như thế nào sai. Xả từ tâm phàm phu cho đến xả tâm từ Thiền Định để đạt được Tam Minh. Nó có hai giai đoạn Xả như Thầy nói.

Xả từ tâm phàm phu của chúng ta rồi đến Xả tâm của Thiền Định, như trong Tứ Thánh Định thì “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh”. Đó là Xả tâm Thiền Định, chứ không phải đem cái Xả tâm Thiền Định đó mà đem ra áp dụng xả tâm phàm phu.

Tâm phàm phu chúng ta thường dính mắc rất nhiều, đủ thứ dính mắc. Cho nên vì vậy mà bài tâm Xả là cái bài cuối cùng. Người nào làm đúng sẽ được đọc cho tất cả Chúng nghe. Còn người nào làm chưa đúng thì cố gắng tập làm cho đúng, hiểu cho biết, cho rõ ràng. Vì mục đích của đạo Phật “ly dục, ly ác pháp” thì tâm Xả là cần thiết. Mà thường Thầy nói trên Tứ Niệm Xứ còn quét tâm tức là xả tâm chứ không có gì. Xả tâm ở trên Tứ Niệm Xứ có nghĩa là xả thọ: xả các cảm thọ của thân, của tâm; và phòng hộ: mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý. Tức là ngăn chặn các pháp, không cho tác động vào Tứ Niệm Xứ. Con đường tu tập như vậy mới có thể hoàn thành được sự giải thoát nếu không tu tập đúng như vậy thì không bao giờ có sự giải thoát chân thật của Phật giáo.

(13:13) Hôm nay, chỉ còn một thời gian ngắn nữa mà chúng ta bước đầu vào lớp Chánh Tư Duy, tức là lớp thực hành. Thầy nhắc lại để cho biết cái lớp thực hành của chúng ta như thế nào đúng, như thế nào là sai.

Vào lớp thì chúng ta sẽ xếp tất cả các bàn ghế này lại, không còn ngồi ghế nữa; và chúng ta sẽ ngồi hai hàng hai bên và nhiếp tâm – an trú tâm trong “tâm thanh thản, an lạc, vô sự”, tức là Tứ Niệm Xứ.

Thầy sẽ dạy cách thức nhiếp tâm và an trú tâm trên Tứ Niệm Xứ. Nghĩa là chúng ta không phải ngồi để mà tập trung vào một cái đối tượng nào mà chúng ta là cái người ngồi bán già, kiết già, ngồi bình thường – tất cả các tư thế ngồi đều được cả. Nhưng chúng ta lúc nào cũng tâm tỉnh thức. Khi thân chúng ta có cảm thọ thì chúng ta sử dụng pháp đẩy lui các cảm thọ đó ra khỏi tâm. Khi tâm có niệm thì chúng ta đưa thành một đề tài của Định Vô Lậu, tất cả các bài học chúng ta đã học trong Chánh Tri Kiến đều áp dụng vào cái niệm đó để xả tâm. Thì có như vậy chúng ta mới thực hiện được rốt ráo, còn nếu không thì chúng ta sẽ bị ức chế. Khi chúng ta nghĩ rằng cái niệm đó là nhân quả, là ái kiết sử rồi chúng ta tác ý suông thì chúng ta sẽ bị ức chế.

Nó có ba giai đoạn để tu tập xả tâm.

2.1- Giai đoạn thứ nhất

(14:56) Khi có một cái niệm thì chúng ta quan sát cái niệm đó, xem xét cái niệm đó. Rồi xem cái niệm đó nó ở trong cái tâm niệm nào chứ không phải thấy cái niệm là lo mau nghĩ cái này, nghĩ cái kia mà phải quan sát rất kỹ cái niệm. Rồi chúng ta biết cái niệm đó nó thuộc về nhân quả, thuộc về ái kiết sử, thuộc về một ác pháp nào thì chúng ta lại sử dụng…​ sử dụng các hiểu biết của chúng ta để áp dụng vào hoá giải niệm đó bằng những cái phương pháp hiểu biết, kiến thức của chúng ta để xả nó.

Xả nó bằng tâm Từ, xả nó bằng tâm Bi, xả nó bằng tâm Hỷ, xả nó bằng tâm Xả. Đó như vậy chúng ta mới biết cách áp dụng để triệt để mà không bị ức chế cái niệm đó. Cho nên khi chúng ta xả rồi thì tâm hồn chúng ta “thanh thản, an lạc và vô sự”. Đó là giai đoạn thứ nhất.

2.2- Giai đoạn thứ hai

(16:02) Mà nếu chúng ta áp dụng vào một tâm Từ, tâm Bi, tâm Hỷ, tâm Xả thì mỗi niệm đó đều áp dụng vào tâm Từ nếu chúng ta lấy tâm Từ. Nếu chúng ta lấy tâm Bi thì áp dụng vào tâm Bi mà xả. Xả bằng cái tri kiến của chúng ta, viết ra thành một cái bài luận để chúng ta hiểu biết rằng đó là chúng ta xả đúng hay là sai. Sau khi Thầy còn xem xét lại cái bài luận của quý vị để biết giúp đỡ cho quý vị thêm những cái tri kiến để mà xả tâm.

Cho nên trong vấn đề tu tập của Phật giáo, mà nếu không chịu rèn luyện cực khổ như vậy thì không bao giờ xả hết.

2.3- Giai đoạn thứ ba

Và kế tiếp, chúng ta sẽ sử dụng các pháp tri kiến giải thoát để xả thì chúng ta thấy chưa đủ, xả như vậy chưa đủ, chúng ta còn phải dùng pháp Như lý tác ý. Đối với cái niệm đó tuy rằng thông suốt như vậy, nếu chúng ta không dùng pháp Như lý tác ý hàng lúc, hàng giờ, hàng phút nhắc nó thì chắc chắn nó sẽ trở lại, không bao giờ nó xả đâu. Cho nên chúng ta còn áp dụng pháp Như lý tác ý.

Nếu chúng ta chưa thông suốt cái niệm đó mà chúng ta tác ý để đuổi cái niệm đó thì chúng ta bị ức chế. Còn trái lại chúng ta dùng Định Vô Lậu quán xét, thông suốt cái niệm đó, bắt đầu chúng ta dùng pháp Tác ý. Mà không phải tác ý một lần mà tác ý suốt cả thời gian chúng ta ngồi tu hoặc là suốt trong ngày hôm đó hoặc là đôi ba ngày để mà thấm nhuần, để mà đuổi thật sự. Cũng như thân chúng ta có đau nhức thì chúng ta dùng pháp Tác ý và câu hướng dẫn cho thân chúng ta đừng đau bệnh thì chừng nào bệnh chúng ta hết, chúng ta mới nghỉ.

(18:03) Còn cái tâm của chúng ta có một chướng ngại, có một cái niệm chướng ngại nào đó thì chúng ta cũng sử dụng; chừng nào cái niệm đó hoàn toàn không tới lui với chúng ta nữa thì chúng ta mới thôi. Nghĩa là cái niệm đó chúng ta đã quan sát. Nó rất quan trọng, nó đem đến cái đời sống cho chúng ta – vì tham, sân, si – có những chướng ngại sẽ làm cho chúng ta phiền não. Cho nên chúng ta phải sử dụng pháp Như lý tác ý mà đẩy lui, đẩy lui thật sự, là không còn cái niệm đó nữa thì mới thôi.

Đó là cách thức chúng ta sẽ áp dụng sau này. Còn bây giờ, qua cái điều kiện cần thiết hiện giờ, cần hiểu những điều gì thì xin quý thầy, quý cư sĩ hỏi kỹ lưỡng để chúng ta làm bài triển khai tri kiến chúng ta đúng cách, không được triển khai sai. Nhiều khi chúng ta viết lầm lộn, không theo cái dàn bài, viết không đúng cách.

Thí dụ như tâm Từ đối với bản thân, đối với người khác; bởi vì tâm Từ phải đối với mình, rồi đối với người. Nhưng mà đối với mình thì không được xen kẽ trong đối với người, cho nó rõ ràng. Đối với mình như thế nào? Khi tâm Từ, tức là mình phải thực hiện cái pháp tâm Từ đó để cho thân tâm chúng ta không xảy ra những sự đau khổ, đó là tâm Từ. Tâm Từ đối với người thì luôn luôn lúc nào cũng phải tỉnh giác như thế nào để không đem đến sự đau khổ của người khác. Tâm Từ đối với chúng sanh, đối với loài vật, thì chúng ta luôn luôn tỉnh giác như thế nào. Như bài pháp của thầy Chơn Thành đã nói qua cái hành động luôn lúc nào nhớ tác ý để giữ gìn sự tỉnh thức của chúng ta, sức tỉnh thức đó là tâm Từ. Nhớ những điều này để chúng ta áp dụng thực hiện tâm Từ qua cái sức tỉnh thức của mình.

(20:06) Còn tâm Bi thì lúc nào nếu chúng ta có duyên với đặc tướng tâm Bi thì lúc nào chúng ta cũng thực hiện lòng Bi của chúng ta. Thường thường nhắc, bây giờ hiện trước mặt chúng ta chưa có một người nào đau khổ, chưa một con vật nào đau khổ thì chúng ta phải tu tập tâm Bi như thế nào để tâm Bi thực hiện khi có sự việc xảy ra, có sự đau khổ thì ngay đó những hành động của chúng ta an ủi, xoa dịu những vết thương đau của vật, của người, của loài cỏ cây, đất đá thì lúc bấy giờ chúng ta phải thực hiện cái hành động đó.

Như vậy chúng ta mới thực hiện được tâm Bi. Chỉ chuyên nhất vào tâm Bi mà không nói tâm Từ. Chứ không phải giữa Từ, giữa Bi có lẫn lộn nhau thì không đúng như trước Thầy đã nói.

Tu tâm Hỷ cũng vậy và tâm Xả cũng vậy. Lần lượt những bài nào chọn thấy đủ tiêu chuẩn để tu tập thì Thầy sẽ cho đọc những bài đó để chúng ta huân tập những kiến thức hiểu biết, những điều kiện cần thiết để trên con đường tu tập của chúng ta có đủ sức để mà xả tâm. Để làm chủ được thân tâm của mình, để đem lại sự bình an, thanh thản, an lạc và vô sự cho Tứ Niệm Xứ của mình. Thì điều đó là điều lợi ích trên con đường tu tập của chúng ta. Và cuối cùng thì chúng ta đầy đủ đạo lực Tứ Thần Túc để thực hiện sự làm chủ sống chết của chúng ta.

Đến đây Thầy xin chấm dứt buổi nói chuyện hôm nay và quý thầy, quý Phật tử có chỗ nào thưa hỏi thì cứ thưa hỏi Thầy để được trọn vẹn trong buổi học hôm nay. Ngắn gọn, hỏi ngay điều mà chúng ta học, chúng ta làm, để rồi chúng ta còn về để lo làm bài, để lo tư duy, suy nghĩ đúng cách vì sắp sửa đến những ngày chúng ta tu tập áp dụng vào phương pháp học tập của chúng ta. Đến đây quý thầy còn ai có hỏi gì thì cứ hỏi Thầy.

3- SỰ LIÊN HỆ GIỮA TỨ VÔ LƯỢNG TÂM VÀ THẬP THIỆN

(22:11) Tu sinh Chơn Niệm: Kính thưa Trưởng lão, con xin có câu hỏi. Ví dụ bây giờ con cho một ví dụ về tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả. Con có thể ví dụ đó là một hợp âm gồm có bốn nốt nhạc. Con có thể ví dụ như vậy được hay không?

Trưởng lão: Không được! Đây là Pháp độc nhất. Đây là Pháp độc nhất, không thể dùng một cái hợp âm mà bốn cái nốt nhạc. Cho nên khi mình bấm nốt này thì nó phải hoà nhạc với mấy nốt kia thì đây không được. Đây là Pháp độc nhất. Đức Phật đã dạy trong Kinh Bát Thành thì đây là một Pháp độc nhất cho nên mình không có hoà âm như vậy.

Tu sinh Chơn Niệm: Câu hỏi thứ hai nữa, kính mong Trưởng lão hoan hỷ giải cái sự liên hệ và khác nhau giữa Thập Thiện và Tứ Vô Lượng Tâm như thế nào?

Trưởng lão: Thập Thiện và Tứ Vô Lượng Tâm. Thập Thiện là con đường đi của nhân quả của con người tức là Thập Thiện. Mà đó là cái dàn bài để chúng ta biết đường đi của nhân quả. Còn Tứ Vô Lượng Tâm là khác. Nó Pháp độc nhất để chúng ta ôm một pháp trong bốn pháp này mà đi đến cứu cánh giải thoát hoàn toàn chứng đạt chân lý “tâm thanh thản, an lạc và vô sự”.

Hai cái này khác xa. Bởi vì khi mà chúng ta dùng Thập Thiện mà để xả tâm của mình thì Thập Thiện nó chỉ ở trên cái nhân quả mà thôi. Bởi vì đường đi của nhân quả con người, tức là Thập Thiện. Cho nên…​

Thí dụ như bây giờ, chúng ta tu chung chung, là bây giờ chúng ta muốn xả mà chúng ta thấy rằng cái đường đi nhân quả của chúng ta – nói ra một lời nói, hoặc là một cái hành động, hoặc là cái suy nghĩ nào đó – nó là ác pháp, nó đem đến cái khổ cho mình, cho người. Thì trên con đường đi nhân quả chỉ mới giai đoạn tập đạo đức làm người “không làm khổ mình, khổ người” thì nên đi trên con đường đi nhân quả này thì chúng ta thực hiện được Đạo đức Nhân bản – Nhân quả mà thôi, không thể đi đến cái chỗ rốt ráo được.

(24:24) Cho nên Thập Thiện thì không thể đi đến cái chỗ rốt ráo. Vì vậy đức Phật nói: “Tiêu chuẩn để làm Trời”, chứ không phải tiêu chuẩn để chúng ta được giải thoát, chấm dứt luân hồi.

Cho nên hai cái khác xa, không có giống nhau. Một đằng thì thực hiện Đạo đức Nhân bản – Nhân quả trong giai đoạn đầu, đó là Thập Thiện. Còn Tứ Vô Lượng Tâm là một đằng đi tới cuối cùng. Đầu tiên thì chúng ta dùng Thập Thiện để mà chúng ta xả hoặc là dùng Thập Thiện để mà chúng ta căn cứ vào mười điều kiện này mà chúng ta thực hiện tâm Từ không bị vướng mắc vào cái thập ác. Cho nên nó chỉ nương vào, nhờ vào để mà chúng ta giữ gìn, để mà chúng ta thực hiện cái tâm Từ.

Nhưng mà cái pháp thực hiện tâm Từ thì nó không nằm ở trên Thập Thiện. Tại sao vậy? Tại vì tâm Từ là chúng ta tập tỉnh thức từng hành động, cái hành động thân – khẩu – ý của chúng ta, nó không phải để khởi sự không làm điều ác này hoặc làm điều thiện kia, nó không vậy. Mà nó giữ tỉnh thức để cho nó không xảy ra một cái điều vô tình mà nó làm phạm phải đến sự đau khổ của chúng sanh. Nên nó khác.

Thí dụ như bây giờ Thầy đi kinh hành, Thầy không nghĩ rằng Thầy làm cái điều thiện – tránh cái sự giẫm đạp chúng sanh. Nhưng mà Thầy nghĩ rằng cái sức tỉnh thức của Thầy để khởi cái lòng thương yêu của Thầy để Thầy tránh giẫm đạp chúng sanh chứ không phải Thầy ở trên thân hành để làm cái điều thiện đó. Không phải!

Ở đây cái mục đích của Tứ Vô Lượng Tâm – tâm Từ đó – là cái mục đích tập tỉnh thức để thực hiện cái lòng từ của mình, tránh giẫm đạp lên chúng sanh, lỡ vô tình mà chúng ta làm cho chúng sanh đau khổ.

Cho nên nó là cái lòng Từ của Tứ Vô Lượng Tâm, là lòng Từ để thực hiện đến rốt ráo đến cuối cùng. Nó hoàn toàn nó đi đến cái chỗ giải thoát hoàn toàn. Đó là cái tâm Từ.

4- ĐỨC VÀ HẠNH TRONG THẬP THIỆN VÀ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Tu sinh Chơn Niệm: Kính thưa Trưởng lão, con có một câu kết luận như thế này. Tức là Thập Thiện là thuộc về ý thức, ý thức thiện, nó thuộc về giới hành. Còn Tứ Vô Lượng Tâm thuộc về giới đức. Còn bây giờ, nhưng mà nếu thực hiện được Tứ Vô Lượng Tâm thì con sẽ dùng giới hành để con đánh thức những tình cảm sâu xa trong tâm hồn mỗi con người, tức là Tứ Vô Lượng Tâm hay không? Con có thể kết luận như vậy?

(26:57) Trưởng lão: Không phải! Để Thầy nhắc lại ở chỗ cái giới đức và cái giới hành.

Giới đức là Thập Thiện. Nó là đức. Thí dụ như bây giờ nói không giết hại chúng sanh, là Đức Hiếu Sinh. Nhưng mà cái Tứ Vô Lượng Tâm nó biến ra cái hành động rồi. Nó là cái hạnh, chứ không thể. Bởi vì cái hạnh là mình phải tập tỉnh thức từng cái hành động của mình, từng cái lời nói của mình, từng cái suy nghĩ của mình ở trên thực hiện cái tâm Từ.

Bây giờ thí dụ như Thầy thực hiện cái tâm Từ, Thầy tỉnh thức, Thầy bước đi Thầy chú ý trên bước đi, Thầy tránh Thầy không giẫm đạp chúng sanh. Đó là cái hạnh rồi, chứ không phải cái đức.

Nhưng mà khi chúng ta biến thành cái hành động để mà tu tập cái đức tâm Từ. Cái tâm Từ của chúng ta là cái đức nhưng mà cái hành động đó, cái hành động mà tu tập để mà có cái hành động như vậy là cái hạnh. Cho nên gọi là đức hạnh của tâm Từ.

Còn bây giờ chúng ta nói cái lòng thương yêu của chúng ta. Bây giờ Thầy nói Thầy thương con kiến, con vật ở dưới chân Thầy, Thầy không có đi, cố gắng Thầy thực hiện bước đi của Thầy tỉnh thức – tức là cái đức tâm Từ. Cái đức tâm Từ, nói cái lời thương của mình là đức tâm Từ. Nhưng mà cái hành động đó là cái hạnh của tâm Từ. Các con phân biệt cho rõ.

(28:18) Cái biến ra cái hành động là cái hạnh. Còn cái mình nói ra: “Tôi vì thương chúng sanh, cho nên tôi cố gắng tôi thực hiện cái hạnh của tôi để tôi không giẫm đạp chúng sanh”. Cái mà tôi nói tôi thương yêu chúng sanh, do cái lòng thương yêu đó mà tôi biến ra cái hành động của tôi thì cái mà tôi nói đó là cái đức tâm Từ. Phân biệt được cho rõ cái chỗ này.

Còn bây giờ tôi nói cái đức tâm Từ mà tôi không hành động cái tỉnh thức của tôi mà tôi đi tôi giẫm đạp lên chúng sanh, thì cái người đó mới nói được cái đức chứ không có nói được cái hạnh. Còn cái này là đức và hạnh nó hợp nhau lại, cho nên trong cái Từ Tâm nó là đức hạnh.

Cũng như bây giờ chúng ta nói Thập Thiện. Chúng ta nói Đức Hiếu Sinh, thì Đức Hiếu Sinh tức là tâm Từ của chúng ta chứ không có gì khác hơn hết. Đức Hiếu Sinh – cái lòng thương yêu sự sống mà, lòng thương yêu sự sống cho nên chúng ta biến ra cái hạnh, cái hạnh đó cho nên chúng ta phải tỉnh thức. Thiếu tỉnh thức thì chúng ta sẽ làm đau khổ chúng sanh.

Cho nên mình nói đến Thập Thiện thì nói về không sát hại chúng sanh, không ăn thịt chúng sanh thì chúng ta biết đó là cái Đức Hiếu Sinh, cái lòng thương yêu sự sống. Mà lòng thương yêu sự sống tức là tâm Từ của chúng ta chứ không gì hết. Nhưng mà nó không đi qua ở bên cái góc độ của Thập Thiện. Cho nên nó không nói cái đó là cái Đức Hiếu Sinh mà nó lại nó đó là tâm Từ. Cho nên vì vậy cái danh từ để chỉ cái tâm Từ thì nó biến cái hành động của nó cho nên nó là cái hạnh chứ không thể nào mà nói cái đức suông được.

Nó cộng cả cái đức, cả cái hạnh nhưng bây giờ ở trên cái này thì như con vừa nói là cái đức của tâm Từ chứ gì, Đức Từ Tâm. Thì con nói có một góc thôi, nó chưa đúng. Nó chưa trọn vẹn của cái tâm Từ. Cho nên cái tâm Từ, thường thường là nó sống nó phải tỉnh thức thôi. Đó là cái hạnh của nó rồi. Cho nên nó có đức mà có hạnh ở trong đó, chứ nói nó đức không thì không được, mà nói hạnh không thì cũng không được. Còn cái này bên Thập Thiện thì mình nói cái đức thì mình nói được, nhưng mà khi mình thực hiện qua cái hành động của nó thì nó trở thành… Nếu mà muốn có Đức Hiếu Sinh thì mình làm sao? Thì nó trở thành Tứ Vô Lượng Tâm rồi; nó trở thành tâm Từ rồi, mấy con.

(30:35) Mình phải hiểu, bởi vì nó thực hiện qua cái hạnh mà ở bên kia thì nó không nói cái hạnh mà nó nói Đức Hiếu Sinh. Nó nói Giới Cấm “không giết hại chúng sanh” – tức là nó cấm. Mà nói về cái đức của nó thì Đức Hiếu Sinh, nó Đức Hiếu Sinh thôi; mà nó chưa nói được cái hạnh. Bởi vì bây giờ nói qua hạnh thì nó nói hạnh Từ Bi rồi, hạnh Từ. Cho nên nó phải tỉnh thức, cho nên nó có cái sự liên hệ nhưng mà nó liên hệ mà nó lại là độc nhất. Cho nên bước qua tâm Từ là bắt đầu qua cái thực hành rồi, chứ không còn nói suông như là ở bên Thập Thiện nữa.

Cho nên bên Thập Thiện chỉ là sử dụng Chánh tri kiến mà thôi, để mình hiểu biết. Nhưng mà khi mình áp dụng, cho nên bây giờ Thầy cho mấy con học: học Nhân quả, học quán Thân vô thường, quán Các pháp vô thường, quán Thân bất tịnh, quán Các pháp bất tịnh. Rồi bây giờ mấy con học làm bài Tứ Vô Lượng Tâm – tâm Từ, tâm Bi, tâm Hỷ, tâm Xả.

Bắt đầu bây giờ nó mới trở thành để mà, khi mà viết như vậy, mấy con viết ra những cái hành động tức là viết ra những cái hạnh của nó rồi. Bắt đầu bốn cái pháp cuối cùng này là nó sẽ trở thành cái phương pháp để mà chúng ta áp dụng tu tập. Áp dụng tu tập cho nó cụ thể, nó rõ ràng hơn. Nó biến ra cái hành động rồi cho nên nó trở thành các hạnh, chứ nó không còn ở trên cái đức nữa, ở trên cái lời nói suông nữa. Cái đức mà thực hiện thì nó là cái hạnh.

Hễ khi mà mình nói đức, bây giờ: Đức Hiếu Sinh, Đức Buông Xả, Đức Chung Thuỷ, Đức Thành Thật – thì cái Đức Thành Thật đó khi mà nó biến ra cái hành động thì cái hành động đó nó trở về tâm Từ của nó rồi. Nghĩa là mình biến ra cái hành động của mình thì mình rất là tỉnh thức từ trong cái lời nói của mình; mình nói cái lời nói này là nói dối, nói không thật. Không thành thật thì mình đã tư duy, suy nghĩ không được cho cái lời nói này ra. Mà cái lời nói này thấy hại mình, hại người thì nhất định là chết bỏ, nhất định là không nói. Đó là thuộc về tâm Từ rồi mấy con. Các con hiểu chỗ này chưa?

(32:29) Đó, như vậy rõ ràng là từ cái chỗ Thập Thiện, nó đi dần đến cái chỗ tâm Từ để mà thực hiện cái pháp rốt ráo. Nếu mà không có Tứ Vô Lượng Tâm này thì chúng ta không có cái hạnh, không có cái pháp hành đâu. Vì vậy khi mà chúng ta hành ở bên Thập Thiện thì nó trở về cái Tứ Vô Lượng Tâm hết. Không thuộc về tâm Xả thì cũng tâm Hỷ, không thuộc về tâm Hỷ thì cũng tâm Từ, không thuộc về tâm Từ thì cũng phải tâm Bi. Nó không thể nào trật.

Bởi vì Tứ Vô Lượng Tâm là cái pháp hành, cái Pháp Hành Độc Nhất; nó là hành độc nhất đi đến cứu cánh chứ nó không phải lý thuyết suông, nó không có nói suông nữa. Cho nên con hỏi như vậy để cho nó rõ. Chứ còn không khéo thì mình lầm chỗ cái đức với cái hạnh thì nó sai.

Cũng như mình cho nó toàn bộ Tứ Vô Lượng Tâm là toàn cái đức không – không được! Nó là cái phận sự, Đức Từ Tâm nó có đó nhưng mà nói Đức Từ Tâm thì chúng ta biết nó là ở trên cái Thập Thiện rồi. Nó không có sai cái Thập Thiện được! Bởi vì nó sai Thập Thiện thì nó đi vào thập ác. Cái tiêu chuẩn của Phật giáo đã hướng dẫn cho mình rất rõ ràng. Trong mười cái điều lành của Thập Thiện, nó là cái tiêu chuẩn chứ nó vô lượng lận, nó vô lượng cái điều lành ở trên đó.

Một cái hành động, một cái lời nói, một cái sự suy nghĩ của chúng ta thì ở trong này, nó gọn cho chúng ta biết. Cũng như bây giờ lời nói thì nó có bốn cái điều ác; mà cái hành động của thân thì nó có ba; và cái hành động của ý nó có ba – cho nên vì vậy mà nó gọi là Thập Thiện. Nhưng mà đó là những phương pháp gốc của nó mà từ cái gốc đó nó sanh biết bao nhiêu là pháp thiện, bao nhiêu pháp ác ở trên cái gốc đó – cái gốc Thập Thiện đó.

(34:16) Cho nên đó là những cái phương pháp gốc. Mười cái điều lành này nó là cái phương pháp gốc, nó sẽ sanh ra vô lượng lành. Cho nên Tứ Vô Lượng Lành thì nó tới Tứ Vô Lượng Tâm. Cho nên nó gọi Tứ Vô Lượng Tâm tức là từ ở chỗ gốc Mười cái điều thiện này nó sẽ xuất phát ra rất nhiều cái điều thiện, nó thuộc về cái loại gốc. Cho nên ở trên bốn cái gốc này thì nó bước qua cái sự thực hành thì nó trở thành Tứ Vô Lượng Tâm – bốn cái pháp vô lượng của tâm mình, không có kể hết được.

Bốn cái pháp này không thể kể hết được. Cho nên nó nhiều lắm, cho nên nó gọi là Tứ Vô Lượng Tâm mà. Từ Vô Lượng Tâm – lúc nào cái lòng Từ của mình cũng vô lượng, không có kể hết được cái tâm Từ này – nó không phải gồm ở trong Thập Thiện đó không đâu mà nó vô lượng lận. Cho nên Tứ Vô Lượng Tâm mà, nó rất nhiều. Cho nên sự tu học nó rất nhiều như vậy đó thì mới gọi là Tứ Vô Lượng Tâm. Mà Tứ Vô Lượng Tâm nó lại biến ra cái hành động tức là cái hạnh của nó rồi, nó biến ra hành động giải thoát chứ nó không phải còn ở trong cái đức suông không.

5- MỐI LIÊN HỆ GIỮA TỨ VÔ LƯỢNG TÂM VÀ TỨ NIỆM XỨ

(35:20) Trưởng lão: Cho nên trong cái sự tu tập chúng ta tới đây thì chúng ta sẽ biết, lần lượt chúng ta sẽ áp dụng vào cái Tứ Vô Lượng Tâm này. Hoàn toàn mấy con nếu mà ở trên Tứ Niệm Xứ mà không có Tứ Vô Lượng Tâm thì mấy con không tu Tứ Niệm Xứ được. Mấy con áp dụng trên đó, toàn bộ ở trên đó. Nếu mà không có Tứ Vô Lượng Tâm thì mấy con không thành tựu được.

Cho nên vì vậy mà hôm nay, cái bài Tứ Vô Lượng Tâm là cái bài gạn hết tri kiến của mấy con để mấy con thực hiện được sự giải thoát hoàn toàn. Thì như vậy mới thật sự là mình mới tu, chứ còn nếu không thì không giải thoát. Cho nên hiện giờ là Thầy chọn cái đặc tướng của mấy con. Người nào hợp với tâm Bi thì tu tâm Bi, người nào hợp với tâm Từ là tu tâm Từ. Nhưng mà Thầy thấy cái tâm Từ nó dễ hợp với mọi người hơn hết. Là vì nó phải tập tỉnh thức, nó tập tỉnh thức từng hành động để biến ra cái hạnh của nó đó – hạnh từ. Đó là nó biến ra từng hành động và nó có cái phương pháp tập.

Còn tâm Bi thì chúng ta cũng tập được nhưng mà người nào hợp với tâm Bi. Chúng ta luôn luôn chúng ta có cái sự tha thiết, thương yêu trước sự đau khổ của loài vật khác thì cái người đó nên thực hiện tâm Bi.

(36:29) Còn cái tâm Hỷ, tâm Hỷ cũng độc nhất riêng nó chứ không phải được kết hợp với mấy cái kia đâu. Nó dường như nó có cái sự kết hợp nhưng mà chúng ta tách lìa ra một cái tâm Hỷ, chúng ta rõ ràng là chúng ta phải thực hiện cái tâm Hỷ. Từ cái tâm hỷ của phàm phu cho đến cái tâm Hỷ của sự tu tập. Tâm Hỷ của sự tu tập thì mấy con phải hoàn toàn “ly dục, ly ác pháp” mới nhập Sơ Thiền – “do ly dục sinh hỷ lạc”, thì cái Hỷ đó mới thật sự là Hỷ của giải thoát. Chứ còn cái hỷ phàm phu – chúng ta cười, chúng ta vui – đó là cái hỷ theo dục lạc. Cho nên phải phân biệt được cái chỗ này. Nhưng mà đi từ cái chỗ vui phàm phu này để đi lần đến cái chỗ giải thoát này để tới cái chỗ “ly dục, ly ác pháp” mới có Hỷ.

Còn Xả thì hoàn toàn là từ cái chỗ thấp – từ tất cả những cái nhà cửa, của cải, tài sản, vợ con, từ nghề nghiệp, danh lợi, từng cái tiếng khen tiếng chê…​ tất cả những cái này đều Xả. Xả nó rộng rãi, nó bao la vô cùng lận, nó Vô Lượng Tâm mà, Vô Lượng Tâm Xả mà.

Cho nên vì vậy mà viết một cái bài Xả là phải viết rất nhiều chứ không có ít. Nhưng mà đây mới xả một giai đoạn của chúng ta – xả ở cái giai đoạn thế gian, chứ chưa phải là xả đến rốt ráo. Còn xả đến rốt ráo là “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh” – tức là xả hơi thở của chúng ta đó. Nó không còn một cái gì đó, gọi là Xả.

Mà nếu chúng ta bây giờ: “Nhờ tôi nhờ có xả mà tôi mới thấy tôi hoan hỷ” thì mấy còn còn dính hoan hỷ đó, thì chưa phải xả đâu. Còn bây giờ: “Tôi nhờ tôi xả mà tâm tôi thấy tâm tôi thương yêu” thì mấy con bị dính thương yêu rồi thì nó không phải xả đâu. Cho nên vì vậy nói: “Tôi nhờ tôi xả mà tôi có hoan hỷ, tôi thấy tôi làm cái điều đó tôi thấy tôi hoan hỷ” thì tôi bị dính kẹt một cái khác rồi, thì không xả đâu.

Nghĩa là Xả – hoàn toàn không có gì. Mà không phải Xả mà chúng tôi trở thành cây đá, không biết gì đâu, thì chúng ta lại lầm lạc qua Đại thừa hết rồi, chúng ta lại tu sai rồi, không đúng! Ở đây Xả hoàn toàn, chúng tôi biết rất rõ ràng, đàng hoàng. Chúng tôi xả từng tâm niệm, xả từng cái pháp ở trong tâm chúng tôi biết rõ ràng chứ không phải Xả mà tôi không biết tôi Xả. Tôi biết nhưng mà vì tôi không dính mắc vào cái chuyện mà hỷ lạc hay hoặc là tất cả mọi cái. Nếu mà tôi còn biết dính mắc ở trong đó là tôi chưa Xả.

(38:40) Cho đến đây, hôm nay Thầy nhắc về cái tâm Xả để mà thấy, để mà học cho được; và đồng thời cách thức để mà tập luyện để mà xả, chứ chưa chắc mình đã biết xả đâu. Cho nên nó có rất nhiều những cái điều kiện cần phải tu học nhiều để… Trước khi mình muốn làm một cái điều gì thì ít ra mình cũng phải có một cái kiến thức về việc làm đó. Kiến thức tức là mình hiểu về cái việc làm đó. Còn sự tu tập cũng vậy, mình phải có kiến thức hiểu biết về cái sự tu tập của mình thì mình mới tu được. Còn nếu mình không có cái kiến thức hiểu nó thì mình sẽ tu sai.

Còn mình hiểu chung chung thì làm sao mình làm cho được, mình xả làm sao được. Mà mình hiểu chung chung thì mình xả là bằng cách mình bị ức chế. Và mình ức chế thì coi như cuộc đời tu hành chẳng đi tới đâu hết. Nó còn làm khổ cho mình thêm nữa, nó không giải thoát.

Cho nên hôm nay thì mấy con lần lượt mấy con thấy càng lúc mấy con học càng thấy khó khăn, nó không dễ. Nó không tưởng, tưởng như ngày nào đến giờ mình hiểu như vậy là nó đủ rồi – không đâu, không đủ đâu! Mấy con học mấy con còn thấy nó rắc rối và mắc mứu ở trong đó rất nhiều. Vì vậy mà trong cái thời gian đã qua rồi, mấy con tu mà thật sự mấy con nói xả chứ thật sự mấy con ức chế, toàn bộ ức chế chứ chưa phải xả đâu.

Hôm nay mới thật sự Thầy cởi mở để cho mấy con thật sự xả. Một cái trạng thái hỷ lạc mà sanh ra trong tâm của mấy con, mấy còn còn dính mắc kia thì mấy con biết cái gì mấy con xả.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 9)

THÔNG TIN

☸ CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com

Email: [email protected]

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Trưởng lão Thích Thông Lạc.