(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)
LCK 077A – (Nữ) Thông suốt Chánh kiến – Năm cây tâm hương – Xả tâm
LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 077A
THÔNG SUỐT CHÁNH KIẾN – NĂM CÂY TÂM HƯƠNG – XẢ TÂM
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Người nghe: Tu sinh nữ
Thời gian: 01/02/2006
Thời lượng: [01:04:32]
1- THÔNG SUỐT CHÁNH KIẾN
(00:00) Trưởng lão: Hôm nay mấy con đến gặp Thầy, có gì mà không hiểu thì hỏi Thầy. Thầy sẽ hướng dẫn cho cách thức làm cũng như là để còn có ít hôm nữa là chúng ta xong cái bài này: Tâm Xả. Khi mà (bài) Xả viết xong rồi thì chúng ta bước qua một giai đoạn tu tập, thực hành trong những tri kiến mình đã hiểu biết để áp dụng vào sự tu tập. Đi đến cuối cùng là chúng ta phải giải quyết dứt điểm trong lớp học Chánh Kiến này để chuyển qua cái lớp học Chánh Tư Duy.
Bởi vì Chánh Tư Duy khi tư duy để xả tâm, chứ không phải tư duy để tư duy. Vì vậy khi mà có một vài niệm hoặc là Thầy đặt ra một đề tài để cho mình xả cái niệm đó và do đó thì mấy con bắt đầu vào áp dụng, thực hành; chứ không còn là tu tập như lớp Chánh Kiến nữa. Cho nên phải đem hết sức lực mình ra tu tập cho cái thời gian được thu ngắn lại. Còn người nào bệnh thì sẽ ở trong cái lớp của những người bệnh, người nào mà mạnh khỏe thì theo cái lớp của tuổi trẻ, còn người nào già yếu thì theo cái lớp của tuổi già. Cho nên Thầy chia ra làm ba lớp.
Bắt đầu chúng ta thực hành thật sự. Đem hết sức lực ra mà tu tập chứ không phải là tu lơ mơ, tu cầm chừng, tu cho lấy lệ. Giờ giấc nghiêm chỉnh, không có còn lúc vầy lúc khác, không có được thay đổi. Khi đặt thành thời khóa là Thầy đã nhắm vào cái sức khỏe của mọi người. Cho nên không có xin tới xin lui. Khi bước vào cái lớp tu mà đặt mình vào cái lớp tu rồi thì một là chết, hai là chứng đạo; chứ không có nói: “Bây giờ tôi tu không nổi nên xin ra”. Lượng ngay từ bây giờ, sức của mình tu được thì mình chấp nhận, còn sức mình tu không được thì đừng có vào lớp học rồi xin ra xin vô thì rất là cực khổ Thầy.
(02:10) Cho nên khi mà chọn cái lớp tu rồi, mấy con thấy mình sức yếu thì mình nên tu tập vào cái lớp của người sức yếu. Còn sức khỏe mình đầy đủ, trọn vẹn thì mình vào cái lớp tu sức khỏe trọn vẹn. Vừa rồi có hai người già ở bên nam họ xin Thầy vào cái lớp của thanh niên họ tu, họ không tu theo tuổi già. Đó là những người họ cũng lớn tuổi, chứ không phải nhỏ. Họ lớn tuổi mà già rồi nhưng họ quyết định là họ theo cái lớp của tuổi trẻ họ tu. Thầy nói giờ giấc của tuổi trẻ không phải là giờ giấc của người già, vậy thì lượng sức chứ đừng có đến đó tu rồi bỏ cuộc thế này thế khác thì làm bận tâm Thầy lắm.
Hôm nay, thì mấy con cũng lượng sức mình. Cái sức mình ở mức độ nào thì mình tu theo mức độ nấy, đừng có ham mà lên cái lớp cao rồi mình hụt hẫng khó tiến bước. Cho nên có một người cũng đến xin Thầy: “Thầy cho con học cái lớp của tuổi trẻ, đừng để cho con học cái lớp thấp hơn”. Thầy nói như thế này: “Bây giờ học thì được nhưng mà sợ cái khả năng, cái trình độ, kiến thức của mình, cái lớp Chánh Kiến mình chưa trọn vẹn mà theo lớp học thì sợ mình bị ức chế tâm”. Thí dụ như bây giờ Thầy đưa một cái niệm, như cái niệm ái kiết sử: mình nhớ gia đình của mình, cha mẹ mình. Mà nếu cái tri kiến mình chưa đủ, chưa đủ hiểu thì tức là mình quán sơ sơ thôi rồi mình tưởng cái niệm đó nó đã đi rồi. Do đó, không ngờ là mình bị ức chế cái niệm đó. Do đó không được, không giải quyết được cái sự tu tập của mình là “ly dục, ly ác pháp” được. Buộc lòng mình phải đem hết cái sự hiểu biết của mình, mình hóa giải từng cái tâm niệm đó, từng cái niệm đó thì nó mới sạch, nó mới có xả sạch được.
(04:10) Tu sinh: (Không nghe rõ).
(04:41) Trưởng lão: Cho nên hiện giờ chúng ta chuẩn bị, vì còn một bài pháp nữa là chúng ta xong. Tới hôm nay, cái bài Hỷ chúng cũng ta đã nghe trong ngày mồng 1 Tết rồi. Rồi bây giờ chỉ còn có bài Xả nữa thôi. Nếu các con không biết cách Xả thì Thầy sẽ cho đọc cái bài Xả để mấy con biết cách thức để xả tâm. “Xả”, bởi vì cái danh từ thì nói vậy nhưng mình phải biết cách thức cho mình khi mà mình gặp một cái khó khăn thì mình biết cách thức mình xả nó đi. Còn nếu mà mình không biết cách thì mình không cách biết xả. Cho nên mình không có nói trước, lý thuyết trước, cách thức trước để mình dàn giá cái mặt trận của mình ra, mình dùng cái tri kiến của mình như thế nào thì hiểu cách thức xả cho đúng; chứ nếu không mình nói lòng vòng, mình nói không xoáy vào. Cho nên vì vậy Thầy cần thấy là khi mấy con chưa hiểu, Thầy cũng gợi ý hướng dẫn để tự mấy con triển khai cái tri kiến của mình để viết cho đúng.
Chứ nhiều khi mình không biết, mình viết lòng vòng, nó không có đúng. Cho nên trong cái sự học phải có cái sự thực hành. Mà học chưa được thì tức thực hành sao được, cái lý thuyết chưa xong mà đòi muốn đi thực hành thì thực hành bị ức chế. Cho nên Thầy nghĩ rằng mấy con phải, nếu cái trình độ mình nó không đủ thì mình nên ở lại cấi lớp mình học cho đầy đủ hơn. Chứ mình vội vàng, mình ham lên cái lớp cao hơn thì mình không có đủ sức để mình xả tâm thì mình bị ức chế tâm. Bởi vì thí dụ như một cái niệm ái kiết sử, thay vì người ta quán, người ta thấu suốt được thì người ta đưa hết những cái hiểu biết người ta ra thì người ta thấy rõ ràng ái kiết sử nó không còn tác động được mình nữa. Còn trái lại mình không hiểu, do đó mình cũng quán niệm ái kiết sử bằng nhân quả thế này thế khác sơ sơ. Mình cũng cho là nó đã đi rồi, nhưng không ngờ mình quán ít như vậy thì nó sẽ bị ức chế chứ nó không có xả. Quan trọng ở chỗ mà chúng ta phải thông suốt được cái lý cho nó rõ ràng từng cái tâm niệm của chúng ta để khi đó nó có cái trường hợp xảy đến thì chúng ta xả tâm.
(06:53) Trưởng lão: Vậy thì bây giờ, mấy con còn muốn hỏi Thầy thêm những điều gì không thì mấy con sẽ hỏi Thầy. Có ai hỏi gì không con?
(07:07) Tu sinh: (Không nghe rõ).
(07:58) Trưởng lão: Ở đây thật sự ra thì mấy con sẽ bước vào cái lớp Chánh Tư Duy sắp tới, tức là áp dụng về những hiểu biết của mấy con. Thì bắt đầu những người nào mà bằng lòng theo ở ngoài mà tâm mình không có bằng lòng tức là mình bị ức chế rồi mấy con. Cho nên cái đó là cái sai mất. Ở đây tại vì chúng ta chưa có dùng cái tri kiến giải thoát rốt ráo cho nên chúng ta chưa có hóa giải được cái tâm niệm đó. Cho nên có bằng lòng thì bằng lòng ở ngoài mặt nhưng mà trong bụng thì chưa bằng lòng. Hôm nay, cái lớp học của chúng ta có nghĩa là bằng lòng, thật sự bằng lòng. Chúng ta vui lòng, chúng ta biết nhẫn nhục, chúng ta biết tùy thuận; nhưng cái bằng lòng chúng ta chưa có cởi mở được cho nên chúng ta chưa bằng lòng. Vì vậy mà cái lớp Chánh Tri Kiến này là để chúng ta hiểu tất cả những cái tâm niệm đem đến những nỗi khổ đau của chúng ta. Cho nên chúng ta sẽ từ cái chỗ hiểu biết đó, chúng ta hoá giải trên đó, hướng dẫn cái sự bằng lòng chúng ta thật sự chứ không phải một cách gượng ép bằng lòng. Đó là một cái tai hại mà Thầy gọi là ức chế tâm. Con hiểu không?
(09:02) Cho nên bây giờ đây, mình chưa vào cái lớp học đó. Tới cái lớp học đó rồi mấy con sẽ thấy bằng lòng hay không bằng lòng. Nếu mấy con không bằng lòng thì ít hôm mấy con sẽ rời khỏi, mấy con không tu tập được đâu. Bởi vì bắt buộc cái tri kiến, sự hiểu biết của mấy con nó mới xả hết tất cả những cái điều kiện. Vì vậy khi mà mấy con làm bài, cái niệm để cho mình thật sự bằng lòng mà mấy con không xả được cái niệm đó thì mấy con sẽ bằng lòng một cách gượng ép, gắng gượng chứ không có sự bằng lòng.
Cho nên mấy con sẽ làm cái bài – Thầy biết liền, Thầy xác định cái bài này chưa có thật sự là mấy con bằng lòng, mấy con nói như vậy chứ chưa bằng lòng được. Mấy con phải còn diễn tả như thế nào, nghĩ như thế nào để mấy con thật sự bằng lòng, chứ không phải ở đây là cái chỗ mà gượng ép. Bằng cách là mấy con tu để giải thoát chứ không phải là tu để mấy con ức chế để chịu khổ đau. Con hiểu chưa? Cho nên tới cái lớp học đó rồi mấy con sẽ trình bày qua những tâm niệm khi mấy con xả những cái tâm để cho mấy con thật sự bằng lòng. Chứ không phải ở đây bằng lòng ngoài mặt mà trong bụng mình không bằng lòng. Như vậy coi như chúng ta tu không giải thoát mà lại càng làm cho chúng ta đau khổ hơn.
Trưởng lão: Nếu mà đó là một sự thật, ở đây cái lớp mở mang để đào tạo cho mình cách thức bằng lòng thật sự. Nếu mình không bằng lòng thì người ta sẽ thấy mình như vậy là người ta biết lớp Chánh Tri Kiến của mình chưa có đầy đủ, người ta cho mình trở lại lớp học Chánh Tri Kiến. Chứ không có được. Các con biết rằng cái lớp Chánh Tri Kiến phải học một năm. Nó rất nhiều là những bài để chúng ta phải làm chứ không phải là tới Tứ Vô Lượng Tâm rồi thôi đâu. Nó rất nhiều bài. Sau khi kết thúc cái lớp này Thầy sẽ cho mấy con thấy được những cái điều kiện mấy con cần phải làm bài rất nhiều chứ không ít. Đối với đạo Phật thì rất nhiều. Thí dụ như bây giờ mấy con chưa có làm cái bài Ngũ triền cái, Thất kiết sử chưa có, Năm hạ phần kiết sử, Năm thượng phần kiết sử mấy con chưa có, Thập nhị nhân duyên mấy con cũng chưa làm, mà tất cả những cái điều kiện đó… còn rất nhiều nữa. Bởi vì nó là một năm học chứ đâu phải là ít.
(11:09) Học tất cả, thông suốt tất cả những cách thức, phương pháp, tất cả mọi cái, từng cái tâm niệm, từng cái ý niệm của chúng ta. Mọi cái đều là chúng ta học rất thông suốt. Cho nên chúng ta còn học rất nhiều, nhưng mà Thầy tóm tắt để mà chúng ta cái thời gian không còn dài. Cái tuổi thọ này lớn mà suốt cả năm đứng lớp như thế này rồi qua một cái lớp Chánh Tư Duy nữa thì mấy con thấy cái thời gian đó, một năm lớp Chánh Tư Duy là một năm áp dụng những cái học của mình trong lớp Chánh Kiến. Mấy con thấy cái thời gian mà dài quá thì Thầy không có kéo dài được nữa cho nên Thầy mới thu ngắn, vừa đủ để cho mấy con xả tâm chứ mấy con còn phải học nhiều lắm. Bởi vì nó là cái chương trình giáo dục đào tạo, trong một năm đó nó phải có học những bài vở nào, làm những bài vở nào để triển khai cái sự hiểu biết của chúng ta như thật.
Trong Kinh Thập Thượng, đức Phật dạy rất nhiều điều kiện khiến cho một cái người mà tu theo đạo Phật phải có cái tri kiến như vậy. Các con thấy một bài kinh của Phật kể ra năm pháp này bao nhiêu, năm pháp khác bao nhiêu. Tất cả kể hàng loạt, hàng loạt mà buộc lòng chúng ta đâu phải một cái câu ngắn như thế này mà chúng ta hiểu. Chúng ta phải làm thành một cái bài để hiểu thấu triệt được cái ý của đức Phật nói. Một cái câu cô đọng để giúp chúng ta có tri kiến hiểu biết. Mà hiểu biết đó để làm gì? Hiểu biết như thật để ngay tâm niệm của chúng ta sẽ có những cái niệm đó, làm chúng ta hóa giải chứ không bị hụt hẫng ở trong tâm chúng ta, bằng cách bằng lòng ngoài mặt chứ không phải là thật sự xả tâm của mình. Cho nên vì vậy mà mấy con ở đây, tới đây Thầy dừng lại để cho mấy con áp dụng thôi chứ không còn học gì nữa hết. Con có hỏi gì thêm nữa không con?
(12:57) Tu sinh: (Không nghe rõ).
(13:15) Trưởng lão: Sau này từng cái tâm niệm của mấy con mà nó sẽ không bằng lòng, nó không xả được. Từng cái tâm niệm đó mấy con mới để cái niệm đó ra, tức là thành một cái đề tài; mấy con mới viết ra cái bài, tư duy cái bài để xả cái tâm đó. Mà nếu mấy con viết nó không đủ, thì tức là nó bị ức chế. Cho nên nó không bằng lòng thật. Còn mấy con viết là để cái bài này, mấy con cởi mở như vậy thì đúng là mấy con đã xả tâm rồi, tức là bằng lòng thật sự rồi. Nó qua một cái kiến thức của mấy con, cái sự hiểu biết của mấy con, mấy con trình bày. Thầy biết cái trình bày như vậy mà con không xả tâm, tức là con chỉ nói không thì không được, buộc lòng con nói như vậy được thì con phải áp dụng cho con được.
Khi một người mà nói thông suốt như vậy rồi thì lý đâu người ta để cho tâm người ta khổ đau, phải không? Bằng lòng thật sự thì mới giải thoát. Bằng lòng ở ngoài mặt mà trong tâm mình không bằng lòng thì tức là mình đau khổ chứ gì, chứ ai đau khổ? Mà mình đã hiểu như vậy tại sao mình lại ôm ấp trong lòng của mình như vậy. Con hiểu không? Một lần nó chưa ly thì phải tư duy thêm lần thứ hai, thứ ba để cho thấm nhuần cái lý đó thì tâm con sẽ bằng lòng.
Cho nên bây giờ chưa có học tới cái lớp đó thì mấy con, có người chưa có (bằng lòng). Bằng lòng ngoài mặt mà chưa bằng lòng trong tâm, thì cái điều đó là hẳn nhiên, Thầy cũng biết mà. Thầy không có trách, ngay bây giờ đây Thầy không trách. Vì chúng ta chưa có thực hành áp dụng được những điều hiểu biết của chúng ta vào tâm niệm. Những cái niệm ác, những cái tâm niệm mà chúng ta chưa xả được cho nên bây giờ chưa có nói đến cái lớp đó đâu. Nhưng mà tới cái lớp đó rồi thì mấy con không xả là mấy con sẽ không học ở lớp này được. Chừng nào mấy con thấy vui vẻ thật sự trong tâm, mình trình bày chứ không phải là nói suông được, mà đây là thật sự để cứu cánh, để cứu mình ra khỏi sự đau khổ của cái tâm không bằng lòng đó. Các con hiểu không?
Còn bây giờ dạy từng người thì đâu được, dạy cả một cái lớp và đồng thời cái lớp đó phải triển khai từ cái Tri Kiến cho đến cái Chánh Tư Duy đó. Bởi vì Chánh Tư Duy là suy nghĩ để cho chúng ta không còn đau khổ gọi là Chánh Tư Duy. Chứ không phải Chánh Tư Duy để suy nghĩ, để hiểu biết. Còn bây giờ chúng ta làm bài Chánh Tư Duy để hiểu biết cho nên Chánh Tư Duy trong Chánh Kiến. Các con hiểu cái tên đó chưa? Còn cái kia Chánh Tư Duy để xả tâm, Chánh – mình tư duy để mà xả tâm. Cho nên nó không còn đau khổ, nó không còn bằng lòng ngoài mặt. Do đó, nó mới xả thật sự cho nên mới Chánh Tư Duy để mà giải thoát. Con hiểu chưa? Đó mới thật sự là lớp Chánh Tư Duy.
(15:43) Tu sinh: (Không nghe rõ).
(16:00) Trưởng lão: Bởi vì ở đây, cái lớp mới Chánh Kiến thôi con, tư duy trong Chánh Kiến.
Còn khi tư duy trong Tư Duy tức là tư duy để mà xả tâm. Còn cái này là tư duy để hiểu biết. Các con thấy cái lớp Chánh Kiến của chúng ta hiện giờ tư duy để hiểu biết chứ chưa có xả tâm. Còn bây giờ mới là tới lớp cái Chánh Tư Duy trên Tư Duy. Nó là tư duy để xả tâm, tư duy để xả cái tâm niệm của mình, suy nghĩ để mà xả cho nên gọi là Chánh Tư Duy. Còn hôm rày mình tư duy để cho mình có cái hiểu biết, cho nên Chánh Tư Duy trong Chánh Kiến. Đó, nói vậy nó cụ thể, rõ ràng.
Tu sinh: Thưa Thầy vậy là hai cái khác nhau?
Trưởng lão: Hai cái khác nhau con.
Tu sinh: Một tư duy để mà xả tâm, một tư duy là để hiểu biết
Trưởng lão: Để hiểu biết.
(16:41) Tu sinh: (Không nghe rõ).
Trưởng lão: Đó, vậy đó con. Còn bây giờ mình chưa, mình ở lớp Chánh Kiến thì mình chưa có xả tâm đâu, hiểu biết chứ chưa có xả đâu. Cho nên những cái tu học của chúng ta cái lớp nào nó rành rẽ cái lớp nấy. Trong cái lớp Chánh Kiến, mấy con còn học hiểu nhiều lắm, trong Phật pháp rất nhiều để triển khai cái tri kiến của mình. Nếu không có Phật pháp thì chắc chắn chúng ta không biết đâu mà hiểu. Bởi vì chúng ta hiểu cái kiểu kiến thức huân tập của thế gian, cái hiểu nó đó đem đến cho chúng ta có nhiều kiến chấp, làm chúng ta đau khổ. Còn cái hiểu của Phật pháp nó giúp chúng ta cởi mở và xả được tâm, không còn đau khổ. Cho nên buộc lòng chúng ta phải học hiểu rất nhiều về những kiến thức của Phật pháp. Nhờ những kiến thức của Phật pháp mà chúng ta được giải thoát.
Do đó sau khi chúng ta học lớp Chánh Tư Duy trên Tư Duy thì chúng ta tư duy toàn triệt của Phật pháp. Để làm gì? Để xả được cái tâm của chúng ta. Cho nên nói Chánh Tư Duy để đưa đi đến cứu cánh giải thoát của chúng ta. Trong một cái lớp học Chánh Tư Duy một năm qua thì chúng ta thấy cởi mở tâm hồn, chúng ta không còn bị bằng lòng theo kiểu bằng lòng ngoài mặt, nó cởi mở, nó xả tâm thật sự. Đó là cái sự học của chúng ta hôm nay.
(18:01) Mà sau khi học cái lớp Chánh Tư Duy rồi thì chúng ta tiến tới cái lớp Chánh Ngữ. Bởi vì đây là tới cái hành động của ngôn ngữ, chúng ta học tới cái lớp Chánh Ngữ. Tiếp tục chúng ta học lần lượt tất cả những cái lớp học của đạo Phật, chúng ta sẽ học hết. Sẽ tới cái lớp Chánh Định thì chúng ta mới xong, mới hoàn chỉnh được tám cái lớp học. Bây giờ đang học ở lớp Chánh Kiến chứ chưa phải qua tới lớp Chánh Tư Duy.
Để rồi cái lớp Chánh Tư Duy rồi thì mấy con sẽ thấy tâm hồn mình cởi mở. Mà mình là một con người rất là thông suốt giáo lý của Phật, nghĩa là cái chỗ nào mình cũng thông suốt hết, chứ không phải không thông suốt. Cho nên các con sẽ còn lần lượt, vừa là mình ở trong lớp Chánh Tư Duy nhưng Thầy cũng vẫn cho những cái đề tài mà nó nằm ở trong phạm trù của pháp nào thì Thầy cũng sẽ triển khai cái pháp đó cho mấy con Chánh Kiến ở trên cái pháp đó. Chứ không phải nói bây giờ có nhiêu đó là không đủ đâu. Khi mà gặp một cái niệm đó, mà nội trong cái sự hiểu biết của các con được học cho tới cái bước xả tâm mà chưa đủ sức để mà xả được cái tâm của mình trong lớp Chánh Tư Duy thì Thầy biết cái niệm này cần phải học thêm cái bài gì. Thì lúc bấy giờ Thầy sẽ cho mấy con học trên cái bài đó để cho mấy con có cái kiến thức về ý niệm của cái tâm đó, để cho mấy con xả được, giúp cho mấy con rốt ráo chứ không còn cái ức chế tâm nữa. Người ta tu hành người ta rất sợ ức chế tâm, bởi vì mình nghĩ rằng mình xả, mình nghĩ mình sẽ ly nó ra nhưng mà nó không có ly. Tại vì mình chưa có thông suốt nó và mình cũng chưa biết cách như thế nào để xả nó cho nên tự nó mình đã bị ức chế.
(19:44) Cho nên vừa rồi thì cô Nghiệm đã nói, như vậy rõ ràng là chúng ta bằng mặt chứ chưa phải bằng lòng, còn bằng lòng thì thật sự chúng ta xả tâm. Ngoài mặt thì chúng ta coi tùy thuận như vậy chứ sự thật chúng ta đang bị lôi cuốn ở trong ác pháp. Bởi vì mình bằng mặt chứ chưa bằng lòng thì nó bị lôi cuốn trong ác pháp, ở trong ác pháp. Cho nên người thật, học thật, làm thật để cứu cánh cho mình chứ không cho ai. Vì vậy mà mình phải cố gắng tu hành. Bây giờ còn ai hỏi Thầy gì thêm nữa không? Có người nào hỏi gì nữa không? Tùy theo khả năng sức khỏe của mấy con. Rồi con hỏi đi, con cứ ngồi đó hỏi đi con, đừng đi mắc công lắm.
(20:25) Tu sinh: (Không nghe rõ).
(21:13) Trưởng lão: Được con, nếu mà cái nào nhớ trong Tỳ Ni Nhật Dụng mà nhớ những cái… Ở trong đó có những câu tác ý nó nhắc nhở mình trước khi mình hành động gì đó, đó là nó nhắc mình đó. Tức là mình tác ý ra rồi mình bắt đầu mình hành động. Do đó, câu Tỳ Ni tức là dạy cho chúng ta Chánh Niệm Tỉnh Giác chứ không gì hết. Con nhớ được con áp dụng từng cái hành động đó. Có những câu mà nó không hợp con bỏ cũng được. Nhưng mà nếu mà những cái mà con quên, con không nhớ, thì mình áp dụng – trước khi mình làm gì đó mình tác ý rồi mình hãy làm. Nó đúng chứ không có sao đâu. Nên áp dụng Tỳ Ni Nhật Dụng là hay nhất.
Tu sinh: Cái đó là tu tâm Từ hả Thầy?
Trưởng lão: Tâm Từ đó con. Tức là mình ngăn ngừa nó, bởi vì Chánh Niệm Tỉnh Giác. Trước khi, thí dụ như mình lấy nước mình rửa mặt thì bảo mình cầu cho chúng sanh: “Dĩ thủy tẩy thủ, đương nguyện chúng sanh” – “Lấy nước rửa mặt, cầu cho chúng sanh”. Thì trước khi đó nó nhắc cái câu đó tức là mình tỉnh thức ở trong đó, tức là tu tâm Từ đó con. Cho nên tâm Từ là nói về cái sức tỉnh thức, Chánh Niệm Tỉnh Giác – là tu Tâm Từ đó mấy con. Thực hiện Từ Tâm để tránh không làm đau khổ chúng sanh. “Cầu cho chúng sanh” – con nghe cái câu trong cuốn Tỳ Ni Nhật Dụng, mỗi mỗi cái đều là “cầu cho chúng sanh” hết.
(22:27) Tu sinh: (Không nghe rõ).
(22:37) Trưởng lão: Trước khi đó, trước khi mình đọc câu đó tức là mình tác ý câu đó ra rồi cái hành động mình theo đó mà nó tỉnh thức. Nó không có làm trong cái không chú ý mình làm. Cho nên cái câu đó là câu tác ý. Ở trong Tỳ Ni Nhật Dụng toàn những câu đó là câu tác ý. Ngày xưa quý thầy bắt buộc người tu sĩ vừa đến tu học bắt buộc phải học hết, nhưng mà hồi đó thì học thuộc để trả bài thôi chứ không có thực hiện. Bây giờ mình hiểu, mình biết rõ rồi, mình áp dụng vào thực hiện đời sống của mình, tức là Chánh Niệm Tỉnh Thức. Mà cái đó là thực hiện Tâm Từ. Để tránh không làm đau khổ chúng sanh mà hành động mình rất tỉnh thức.
Tu sinh: Thưa Thầy, ví dụ như con quên trước khi con làm con quên thì trong khi con làm con tác ý có được không Thầy?
Trưởng lão: Cũng được. Lỡ đầu tiên mình chưa tác ý mà giờ mình làm một hơi cái mình nhớ, mình tác ý mình nhắc. Để cho cái sức tỉnh mình tỉnh trên cái hành động của mình. Lúc đầu thì nó cũng hay quên, nhưng mà sau này lần lượt, nó làm gì mình cũng nhắc. Nó làm chủ được cái ý của nó rồi, nhắc riết rồi nó quen. Mấy con tập làm sao mà nó quen rồi, trước khi làm cái gì đó thì ở trong đầu nó tác ý ra rồi, nó theo cái tác ý đó mà nó làm. Thì cái đó là tu tập tâm Từ.
(23:56) Tu sinh: (Không nghe rõ).
(24:12) Trưởng lão: Được con, bởi vì cái đó ở trong Thất Giác Chi gọi là Trạch pháp giác chi. Cho nên nó có cái cách thức của đức Phật dạy cho mình Trạch pháp giác chi – tự mình chọn lấy một câu nào đó cho phù hợp với mình. Chứ không phải mình theo những cái bản – những cái Bổn – mà đã ở trong Tỳ Ni Nhật Dụng. Bởi vì trên cái đường tu tập của mình, mình tự chế ra được mà; rồi mình thiện xảo mình tự chế ra được và đồng thời mình lại nương theo cái sườn của Phật pháp đã dạy mình, thành ra mình không có lạc. Cũng như con nương vào Tỳ Ni Nhật Dụng mà con không có sử dụng cái câu ở trong này, vì cái câu trong này nó không phù hợp với cái đặc tướng của con. Con lại trạch pháp một cái câu khác nhưng cái nghĩa của nó, nó không có sai cái này. Thì cái đó được, không có sao.
2. VẤN ĐẠO ĐUỔI BỆNH
Trưởng lão: Rồi con hỏi.
(25:07) Tu sinh: (Không nghe rõ).
(26:09) Trưởng lão: Thứ nhất khi bị cảm thọ đau, con phải dùng pháp con trị. Đầu tiên con trị cỡ chừng 30 phút, rồi nếu mà thấy nó giảm rồi thì con nghỉ, rồi một lúc nữa thì con lại tiếp tục con trị thêm. Còn nếu mà nó không giảm thì con tiếp tục con trị, đừng có nghỉ. Nghĩa là mình liên tục mình trị chừng nào mà nó giảm, cơn đau đó nó giảm xuống. Nó chưa bình thường nhưng mình nghỉ một lúc rồi mình lại tiếp tục. Để cho mình lấy sức, để cho mình tác ý nó có lực mạnh hơn. Chứ không khéo mình tu riết cái lực của mình nó yếu, thành ra thành cái thói quen nó không tác dụng nhiều. Còn trái lại mình nghỉ, mình nghỉ để coi thử coi cái trạng thái giảm bớt coi nó như thế nào. Mình biết rằng nó chưa thật sạch, nó chưa chắc hết thì mình tiếp tục mình đẩy lui bệnh nữa. Mình dùng cái phương pháp mình đẩy lui bệnh. Thì như vậy con tu tập 30 phút về đẩy bệnh, khi thân có bệnh – 30 mươi phút, thì mình nghiệm xét trong 30 phút đó nó có giảm hay không.
Nếu thật sự nó không giảm – tiếp tục, tiếp tục đánh mạnh hơn nữa. Luôn liên tục đến 1 giờ, 1 giờ mình thấy nó giảm thì mình nghỉ một chút rồi đánh tiếp. Cho chừng nào cái bệnh con hết thật sự, thật sự nó hết rồi con mới trở lại cái pháp tu tập. Chứ còn khi thân mình bệnh thì coi như là chướng ngại pháp ở trên cái thân rồi, thì phải đẩy lui bệnh đó cho ra khỏi thân rồi mới tập cái pháp khác. Chứ bây giờ mình tu tập pháp gì cũng không được hết chỉ còn có đẩy lui chướng ngại pháp đó ra thôi. Cho nên còn gọi là trên Tứ Niệm Xứ nhiếp phục tham ưu ở trên thân. Bây giờ biết cái thân mình đang thọ khổ rồi, thì phải làm sao đẩy cho cái khổ đó ra khỏi cái thân của mình, làm cho cái tâm của mình nó không ưu phiền trên cái bệnh của thân. Thì như vậy mình liên tục, thí dụ như con tu 30 phút đẩy lui cái bệnh, trên thân đang có bệnh mà nó không giảm thì con tiếp tục đẩy nữa. Còn nếu mà nó giảm, nghỉ một chút; nó giảm nghỉ một chút rồi tiếp tục đánh nữa.
(28:09) Thí dụ như bây giờ 30phút mà thấy nó giảm thì con nghỉ chừng năm, ba phút, rồi bắt đầu con tiếp tục con áp dụng cái phương pháp đó đẩy lui cái bệnh của con. Cho đến khi mà 30 phút nữa, cho đến khi thấy 30 phút nữa mà cái bệnh nó hết thì thôi; mà cái bệnh nó không hết thì con nghỉ một lúc rồi con tiếp tục con đánh nữa. Chứ nếu mà con dồn sức suốt như vậy đó thì con không đủ sức. Phải lượng cái sức của mình, tùy theo cái sức của mình. Sức của con 30 phút thì con đẩy lui bệnh 30 phút, mà sức của con 1 giờ thì con tu tập trong 1 giờ. Cho nên vì vậy mà tuỳ theo cái khả năng, cái sức của con mà con tu tập trong đẩy lui bệnh. Còn cái bệnh lặt vặt, bây giờ cái bệnh mà đau quá thì con không được nghỉ, còn cái bệnh sơ sơ thì nghỉ được.
Còn cái bệnh ngặt nghèo thì ôm pháp, coi như ôm phao vượt biển. Chừng nào sóng êm bể lặng thì mới buông pháp đó ra, chứ không được buông pháp. Con nhớ, có những cái bệnh đau quá sức, thì trong khi đau quá sức, mình ôm pháp mình chịu đựng vượt qua. Chứ nếu mà trong khi cái cảm thọ đau như vậy mà mấy con đúng 30 phút rồi mấy con nghỉ thì không được. Bởi vì nó sẽ trở lại hoàn toàn, nó chưa có giảm một chút nào hết mà nghỉ là không được. Nó giảm thì mình mới nghỉ, mà nó không giảm thì tiếp tục ôm pháp.
Mình thấy rằng giai đoạn 30 phút này mà cái cơn bệnh nó vẫn còn y như cũ thì mấy con không có được lìa cái pháp, ôm chặt pháp vượt qua. Tức là đau mặc đau ôm pháp, cứ ôm pháp, cứ đưa tay ra đưa tay vô hoặc là thở ra hít vô, liên tục ôm pháp đi hoài. Chừng nào nghe nó cảm thấy cái đau nó giảm xuống, giảm xuống thì mới thôi. Còn nếu nó chưa giảm cứ ôm chặt cái pháp tiến tới. Chừng nào mà nó giảm thì mình mới nghỉ lại, mình nghỉ mình không có ôm pháp nữa, mình mới quan sát lại coi cái cảm thọ nó có giảm thật sự hay là không. Chứ còn trong khi con ôm pháp mà con ép cái bệnh của con thì nó không chín chắn lắm đâu. Mình ôm pháp, mình chỉ ôm pháp để quên bệnh. Ôm pháp cho nên nó chặt chịa, nó không có còn rời ra. Còn khi mình nghỉ để cho mình xem xét là cái bệnh của mình nó có giảm hay không. Nó giảm thật thì bắt đầu mình thấy như vậy cái pháp này hợp, cho nên mình tiếp tục trong năm phút, ba phút mình nghỉ mình quan sát nó. Thì mình thấy trên cái mặt trận này mình đã có phần chiến thắng cho nên mình ôm pháp lần thứ hai nữa là mình đẩy lui được. Đó thì phải khéo léo lắm mấy con.
(30:32) Trong cái cuộc chiến đấu này mình phải khéo léo. Khi mình áp dụng mình đánh với nó rồi, trong cái thời gian đánh với nhau như vậy thì mình thấy nó có giảm cái lực của nó đánh mình nó có giảm cái đau không? Nếu nó giảm – là cái lực của giặc sanh tử nó thua mình đó, nó thua cái pháp tác ý của mình, cái phương pháp mình làm. Còn nếu nó không giảm thì cái lực của mình với lực của nó tương đương. Khi mình nghỉ mình xem xét lại cái mặt trận mình đang đánh – tức là mặt trận cảm thọ – mình thấy nó không giảm tức là ôm chặt pháp hơn nữa chứ không có đầu hàng. Còn nếu mình đầu hàng tức là mình bỏ cuộc, mình đi uống thuốc hoặc là đi bác sĩ thì cái đó là sai lạc, không có đúng. Thì cái trường hợp xảy ra cho con đó thì con thấy con cũng giảm bớt được cái sự bệnh, chiến thắng được cái bệnh của con thì đó là cũng có cái ý thức lực rồi đó con. Con bình tâm mà con đi tiếp, tiếp tục trị cho hết rồi mới tu được con.
3- CÚNG DƯỜNG KẾT QUẢ TU TẬP VÀ TÂM TỪ
(31:32) Tu sinh: Thưa Thầy! Trong cái trường hợp như vậy thì cái đau cổ của con là cái chánh, nhưng mà cái tình huống con muốn ho dữ dội lắm. Xong rồi cái lúc những cái niệm, những cái tạp niệm tình cảm của con nó cũng dồn dập. Con nói, nhiều khi con hay có nghĩ hay là Thầy trắc nghiệm, Thầy phát bài – sao mà nó liên tục vậy đó. Mà con cố gắng con bám chặt từng hành động của thân hành, thì những cái đó cũng ra hết. Thì cuối cùng thì con có suy nghĩ là những cái thành công nhỏ nhỏ đó, con muốn kết thành một nén tâm hương để dâng lên cho Thầy. Thì con có suy nghĩ như vậy là phải tâm Từ của con đối với Thầy không?
Trưởng lão: À, thật sự ra thì đối với Thầy là nó không phụ ơn của Thầy. Mà đối với tâm Từ thì nói vậy cũng không được, mà đó là cái ơn nghĩa khi mà con muốn dâng lên cúng dường Thầy những kết quả của sự giải thoát. Bởi vì Từ với Bi nó khác, để nó nói vào cái tâm giải thoát. Còn con ráng cố gắng để thực hiện mà dâng lên cúng dường cho Thầy thì đó là con làm cái hành động tu tập hết sức mình để cho mình hết đau, đó là tâm Bi đối với con.
Bởi vì con đang đau khổ, con đang bệnh rồi con nỗ lực. Bây giờ mình nỗ lực mình tu tập cái này để mình dâng lên cái sự giải thoát này cúng dường cho Thầy để mình không có phụ ơn Thầy. Đó là cái tâm Bi đối với con để mà kính dâng lên cho Thầy những cái sự giải thoát của con. Đối với con cũng vậy, bây giờ con thấy con thoát ra cái khổ đau của con, đối với con cái hành động đó là cái tâm Bi.
Còn đối với Thầy thì nó không có tâm Từ. Tại sao? Đâu có thương Thầy đâu, phải không? Nhưng mà không phụ ơn Thầy, thì nói lên cái ơn nghĩa. Cho nên vì vậy mà bây giờ, thí dụ như các con không có tu tập được như vậy, không có dâng lên được như vậy thì mấy con phụ ơn Thầy chứ Thầy cũng đâu có đau khổ gì đâu. Con hiểu không? Mà Thầy thấy mấy con tu tập được giải thoát như vậy Thầy mừng cho mấy con thôi chứ đâu có cái gì đâu. Cho nên vì vậy mà thí dụ như bây giờ Thầy đang yên vui như thế này mà con làm cho Thầy có cái gì buồn phiền đó – là con thiếu tâm Từ. Còn cái này con cũng đâu có làm gì cho Thầy buồn phiền, nhưng mà con dâng lên cúng dường cái sự giải thoát của con để nói lên sự biết ơn của con đối với Thầy – cho nên nó cũng không thuộc về tâm Từ. Phải không, con thấy.
(34:26) Còn đối với con là do cái công phu mà nỗ lực tu tập như vậy để con thoát ra cái bệnh của con, rồi con dâng lên cái sự giải thoát của con cho Thầy thì đó là tâm Bi. Tâm Bi đối với con, làm cho con giải thoát. Con tư duy suy nghĩ cái điều đó, mà con làm cho con hết cái đau khổ của con để con dâng lên con cúng dường cái sự giải thoát của chính bản thân con thì cái hành động tu tập đó để con thoát khổ, đó là tâm Bi đối với con. Còn tâm Từ thì con có làm khổ Thầy gì đâu, vì vậy mà ngăn ngừa trước, chỉ có con đem lại kết quả con dâng lên không phụ ơn Thầy thôi. Nó vậy thôi chứ không phải là tâm Từ đâu con. Bởi vì Từ, Bi, Hỷ, Xả nó nhằm cái mục đích để giải quyết: cái tâm Từ thì không làm khổ đau chúng sanh; còn cái tâm Bi thì nó giải quyết những nỗi khổ đau của mình, của chúng sanh. Đó, nó như vậy. Cho nên ở chỗ con là không phụ công ơn của Thầy thôi chứ nó không phải là tâm Từ, nhưng mà chính cái hành động của con đó là tâm Bi đối với con.
(35:32) Tu sinh: Thưa Thầy, vậy để phát triển tâm Từ đối với Thầy thì sao, thưa Thầy?
Trưởng lão: Phải phát triển như thế nào? Con phát triển cái tâm Từ đối với Thầy, đối với Thầy mà có cái tâm Từ với Thầy, thì mấy con phải sống đúng giới luật, đừng có vi phạm để Thầy rầy rà mấy con. Tức là Thầy rầy rà, Thầy cực Thầy chứ gì. Cho nên mấy con phải sống đúng giới luật, phải không? Thì đó là đúng. Chứ không phải là mấy con tu tập mà để dâng lên cái sự cúng dường cho Thầy, đó là tâm Từ với Thầy – không phải. Mà mấy con đừng có phạm giới, phá giới, sống cho đúng các hạnh, đó là mấy con dùng cái hạnh của mấy con tu cho đúng giới luật – đó là tâm Từ. Để làm cho Thầy khỏi rầy, khỏi này kia, khỏi bực mình với mấy con – cái đó là tâm Từ đối với Thầy.
Còn mấy con cứ tối ngày nói chuyện phạm giới, phá giới tức là mấy con làm cho Thầy rầy mấy con hoài thì đó là mấy con không có tâm Từ với Thầy chút nào hết. Mấy con làm cho Thầy quá cực, hiểu không? Mấy con bằng lòng ngoài mặt đó là mấy con cũng không có tâm Từ với Thầy, ở trong bụng cứ ức chế tâm không thì cái đó là không có tâm Từ. Mấy con xả tâm được là mấy con có tâm Từ với Thầy; còn mấy con xả tâm không được là mấy con không có tâm Từ. Làm cho Thầy không có rầy, không có bận tâm với mấy con – đó là tâm Từ.
4- Ý NGHĨA NĂM CÂY TÂM HƯƠNG
(37:13) Tu sinh: Thưa Thầy cho con hỏi ý nghĩa của năm cái tâm hương?
Trưởng lão: Bắt đầu năm cái tâm hương đó con. Bắt đầu đó, con thấy vào đầu: cái Giới hương, cái hương giới luật. Giới luật là cái đức hạnh mình phải khép mình trong cái khuôn khổ đức hạnh mình sống trong cái Giới hương. Rồi Định hương.
Khi mà Giới hương, mà mình sống đúng cái giới luật đó rồi thì nó mới có cái Định. Giới sanh Định, cho nên cái Giới nó sẽ “ly dục, ly ác pháp”. Mà bây giờ mấy con thấy trong cái muốn mà giữ Giới cho nghiêm chỉnh thì nó cả một cái vấn đề tu học, cho nên lớp Chánh Kiến cũng nằm ở trong Giới luật. Con thấy không? Qua cái Chánh Tư Duy là cái lớp để mình xả tâm nó cũng còn nằm ở trong Giới luật để cho mình nghiêm chỉnh Giới luật. Cho nên toàn bộ ở trong cái điều mình đang tu hoàn toàn là nằm ở trong cái Giới luật hết chứ chưa phải là…
Bởi vì mình còn những cái niệm làm cho mình đau khổ, mình còn những cái chướng ngại ở trên thân mình bệnh tật, đó là mình đang tu tập cái Giới đó. Cho nên cái lớp Giới, con thấy từ cái lớp Chánh Kiến cho đến Chánh Niệm toàn là nằm ở trong Giới hết chứ chưa phải hoàn toàn là mình đi qua được. Cho đến khi mà cái Giới thứ bảy – tức là Chánh Niệm – thì lúc bấy giờ chúng ta mới hoàn tất được cái Giới luật, tức là Tứ Niệm Xứ sung mãn đó. Đó là hoàn tất được Giới luật thì mấy con mới thấy Giới sanh Định, thì nó mới có trạng thái Tứ Thần Túc.
(38:47) Định Như Ý Túc đó, thì lúc bấy giờ chúng ta mới vào cái lớp Chánh Định. Lớp Chánh Định rồi thì mấy con thấy, bây giờ lớp Chánh Định thì Tuệ, tức Tuệ Tam Minh nó cũng nằm ở trong cái lớp Chánh Định đó. Nhưng mà nó không phải là cái lớp Tuệ đó mình phải học riêng nó đâu, mà nó nằm ở trong cái lớp Chánh Định. Khi có Định thì thực hiện Tuệ, Thầy nhập Tứ Thiền Thầy mới thực hiện Tuệ Tam Minh. Cho nên nó nằm trọn ở trong cái lớp Chánh Định.
Cho nên mình thấy tới Chánh Định thôi chứ đức Phật đâu có nói tới lớp Tuệ đâu, phải không? Nhưng mà Giới sanh Định, Định sanh Tuệ, bây giờ cái Tuệ gì đây? Thì trong khi đó cái lớp Tuệ nó không mà bây giờ đức Phật nói tới cây hương thứ nhất là Giới hương, Định hương, dữ Tuệ hương. Chữ “dữ” là chữ Hán, có nghĩa là chữ “và” – “và Tuệ Hương”. Vậy thì Tuệ Hương lúc bấy giờ là khi chúng ta toàn triệt được Tam Minh rồi, thì chúng ta có cái tri kiến sáng suốt. Chúng ta muốn sử dụng cái hiểu biết của chúng ta trong cái không gian và thời gian nó không còn có nữa thì chúng ta có cái hiểu biết cuối cùng của Tuệ Tam Minh: tức là cái Thiên Nhãn Minh, cái Lậu Tận Minh, cái Túc Mạng Minh. Ba cái Tuệ đó thì nó mới đầy đủ. Còn bây giờ chúng ta từ cái tri kiến hiểu biết để mà chúng ta huân hiểu biết cho đến khi mà chúng ta hoàn tất được cái Tuệ Tam Minh, mới gộp chung lại gọi là Tuệ.
(40:11) Trong cái hiểu biết của chúng ta đầu tiên là cái ý thức, hoàn toàn chúng ta bỏ cái Tưởng thức của chúng ta ra. Bởi vì Tưởng thức là cái ảo, còn bắt đầu cho tới cái Thức uẩn mà chúng ta triển khai được cái Tam Minh, nó là cái thực chứ không phải là cái ảo như cái Tưởng của chúng ta nữa. Cho nên từ cái hiểu biết của ý thức của chúng ta – sáu thức của chúng ta – đó là cái hiểu biết của Sắc uẩn. Mà bắt đầu triển khai cho đến cái Thức uẩn, mà khi cái Thức uẩn được triển khai thì gồm lại từ cái biết của ý thức cho đến cái Thức uẩn đó – gọi là Tuệ. Con hiểu chỗ đó chưa?
Giới là mình tu tập từ đó cho đến cái lớp Chánh Niệm là nó thuộc về Giới để cho giới thanh tịnh hoàn toàn, không còn vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào, đó là thuộc về Giới. Nhưng mà Giới thanh tịnh thì nó mới có cái Định, tức là Bất động tâm; mà Bất động tâm thì nó có Tứ Thần Túc; mà có Tứ Thần Túc thì nó mới có Định Như Ý Túc; Định Như Ý Túc thì chúng ta mới nhập được Bốn định tức là Bốn thiền đó. Nhập được Bốn thiền này rồi thì ở trong Tứ Thiền chúng ta mới thực hiện được Tam Minh. Thì thực hiện được Tam Minh – đó là cái Tuệ. Đó là cái Tuệ cuối cùng của chúng ta, tức là một phần ở trong – từ cái ý thức cho đến cái Tuệ Tam Minh – nó mới gồm lại nó mới gọi chung là Tuệ. Nó mới dùng cái tên của nó, gọi là Tuệ. Cho nên Giới, Định, Tuệ. Bây giờ chúng ta có Tuệ rồi thì chúng ta mới có sự giải thoát, mới có cái tri kiến giải thoát.
Cho nên vì vậy mà, các con nè: Giới, Định, Tuệ, rồi Giải thoát, Tri kiến giải thoát hương. Bây giờ chúng ta sống trở lại bình thường, là cái tri kiến hiện giờ mà Thầy nói là cái tri kiến giải thoát. Cho nên những cái gì mà tác động vô Thầy thì cái tri kiến đó nó chặn đứng hết. Nó không có còn tác động. Còn bây giờ mấy con bị tác động rồi mấy con tu; rồi tác động rồi xả – tu, xả – tu. Mấy con chưa có đủ cái tri kiến giải thoát, bởi vì mấy con đang học để thực hiện được cái tri kiến giải thoát đó. Cho nên mấy con thấy, cây hương Tri kiến giải thoát đó là cây hương cuối cùng.
Một con người mà tu xong rồi thì họ sống bình thường như mọi người thì cái hiểu biết để mà họ được giải thoát đó gọi là tri kiến giải thoát. Còn đầu tiên mấy con thấy tới cái Tuệ là nó gồm cả cái ý thức của mấy con, cái biết của ý thức cho đến cái biết của Tam Minh, những cái biết này gồm lại gọi là Tuệ. Vì vậy mà trong khi cái cây hương mà Tuệ đó, mấy con được 3 cây hương rồi cho nên nó giải thoát. Bắt đầu nó Giới hương, Định hương, dữ Huệ hương, Giải thoát, Giải thoát tri kiến hương. Bây giờ mấy con mới có cái Tuệ giải thoát, nhưng mà Giải thoát tri kiến hương nó lại lặp lại một lần cuối cùng.
(43:07) Bây giờ các con đã gồm đủ cái Tuệ của các con – nó gồm lại – nó là Giải thoát hương, rồi Tri kiến giải thoát hương. Bây giờ mấy con mới sống vào cái tri kiến của mấy con, như bình thường như mọi người. Cây hương cuối cùng là cái sự sống bình thường của mấy người như mọi người, không khác. Nhưng nó hoàn toàn hoàn nó chỉnh được cho nên không có gì mà tác động được cho nên gọi cây hương cuối cùng là Giải thoát tri kiến hương. Các con hiểu chưa?
Còn đầu tiên là Giải thoát hương tức bây giờ cái Tuệ chúng ta có rồi thì bắt đầu chúng ta mới có cái sự giải thoát hoàn toàn. Cho nên năm cây hương rõ ràng: Giải thoát hương, Giải thoát tri kiến hương là cây hương cuối cùng của nó. Nghĩa là bây giờ mình mới trở về đời sống bình thường, còn hồi đó mình gồm được cái Tuệ rồi thì mình có sự giải thoát rồi. Cho nên cái sự giải thoát đó hoàn toàn mình làm chủ được sanh – già – bệnh – chết của mình rồi. Cho nên nó gọi là Giải thoát hương.
Rồi Giải thoát tri kiến hương bắt đầu bây giờ sống ở trong cái tri kiến, mà cái tri kiến đó không bao giờ có một cái ác pháp nào tác động. Cho nên nó đủ năm cây hương nên bây giờ Thầy trở về Thầy sống với con người bình thường rồi. Còn hồi Thầy tu thì nó Giải thoát hương, tức là Thầy thấy rõ ràng là Thầy làm chủ hoàn toàn rồi nhưng mà Thầy hoàn toàn là ở trong cái giai đoạn Thầy đã tu. Con hiểu không?
(44:22) Tuệ hương là gồm cái hiểu biết của Thầy, từ cái hiểu biết của ý thức cho đến cái hiểu biết của Tam Minh, nó gồm lại nó gọi là Tuệ. Chứ không phải Tuệ là chỉ có Tam Minh không Tuệ đâu. Nhưng có Tam Minh gồm lại mới gọi là Tuệ, mà thiếu Tam Minh thì mấy con chưa gọi là Tuệ mà gọi là tri kiến giải thoát thôi, hay là tri kiến thôi chứ không Tuệ. Khi mà gồm lại được cái Tuệ rồi, nó đủ hết rồi đó thì mấy con mới thấy hoàn toàn giải thoát.
Cây hương mà con nhìn lại con quan sát lại thì con thấy con hoàn toàn được giải thoát rồi. Ra khỏi cái sự sanh tử, vượt ra khỏi quy luật của nhân quả rồi, đó là cái hiểu biết gọi là Giải thoát hương. Rồi Giải thoát tri kiến hương, bây giờ trở về cái tri kiến – hoàn toàn nó chủ động rồi, nó không còn muốn gì hết. Muốn Tam Minh nó có Tam Minh; mà không muốn Tam Minh thì nó ở đây, nó tri kiến. Hoàn toàn nó hoá giải hết tất cả ác pháp không còn tác động nữa. Cho nên năm cây hương này dâng lên tức là cúng Phật; mà con thiếu một cây hương thì mới có dâng được ba cây, hai cây, một cây thì mấy con phải tập cho đến đủ năm cây hương này mới đúng nghĩa là thắp năm cây hương lên: Giới hương, Định hương, dữ Huệ hương, Giải thoát, Giải thoát tri kiến hương.
Ở trong cái câu kinh nó như vậy đó, thì mấy con thấy đủ năm cây hương này. Cho nên phải hiểu nghĩa, mà nếu không hiểu nghĩa thì mấy con không rành. Mấy con nghĩ tưởng Tuệ chắc có lẽ là “Định sanh Tuệ”, là cái Tuệ Tam Minh. Không phải, nó gồm luôn cả cái tri kiến hồi mình học cái lớp Chánh Kiến, rồi Chánh Tư Duy đó. Những cái đó đều hoàn toàn là cái sự hiểu biết của ý thức của mấy con hết rồi, nó gồm cái hiểu biết đó tới cái Tuệ Tam Minh nó thực hiện ra được Tam Minh. Thì nó gồm, nó gọi chung là cái tên Tuệ chứ không phải Tuệ là có cái hiểu biết của Tam Minh không.
(46:00) Nó cả từ cái thấp cho đến cái cao nó gồm lại. Mà nó nhằm vào đó nó mới thành ra một cái tri kiến giải thoát… ủa, nó nhằm vào cái Giải thoát hương; Giải thoát hương rồi mới tới Tri kiến hương. Bởi vì nó gồm cả cái Tuệ nó gồm như vậy, nó gồm cả cái sức giải thoát đó. Thì bắt đầu cây hương Giải thoát, chúng ta nhìn thấy mình giải thoát hoàn toàn, làm chủ cả thân tâm một cách cụ thể rõ ràng – đó là Giải thoát hương. Rồi Giải thoát tri kiến hương, bây giờ chúng ta mới sống bình thường như mọi người trong cái tri kiến của chúng ta, đó là cái hiểu biết của chúng ta hoàn toàn nó trọn vẹn rồi lúc nào chúng ta cũng sử dụng một cách dễ dàng – gọi là Giải thoát tri kiến hương.
Tu sinh: Như vậy đó là mục tiêu để tụi con hướng tới trên con đường tu tập không?
Trưởng lão: Đúng rồi. Đó là mình phải nhắm đó con, nhắm vào cái mục tiêu đó để mà mình hoàn tất được con đường tu của mình là 5 cây hương đó. Để dâng lên cúng Phật đó, để đền đáp ơn Phật. Nhờ có con đường của đạo Phật mà chúng ta mới được được giải thoát như thế này, cho nên mình thắp 5 cây hương đó là 5 cây hương cúng Phật, dâng lên cúng Phật, không phụ ơn Phật đó. Con hỏi đi.
Tu sinh: Con kính bạch Thầy, cái Giải thoát tri kiến hương theo con hiểu, theo con hiểu là có phải nó là “Đại viên cảnh trí” ở trong Duy thức học không?
(47:26) Trưởng lão: Cái đó là trong Duy thức học thì nó nói cái tên đó như vậy chứ không có gì hết, nó hoàn tất rồi đó con. Coi như Giải thoát tri kiến hương là nó hoàn tất mà nó ở trong cái tri kiến của nó, chứ nó không phải là ở trong cái Định. Con thấy không? Nó đâu có ở trong cái Định. Khi nó xong thì nó ở trong cuộc sống bình thường của mọi người nhưng mà nó giải thoát hoàn toàn.
(47:46) Tu sinh: (Không nghe rõ)… Thưa Thầy trong lúc tu, con tu con bị co rút cơ, trong lúc con bị rút cơ thì con ngồi con tác ý thì nó đi và nó khỏi. Thế nhưng khi nó khỏi rồi thì con bạch Thầy là đến vài ngày sau nó lại biểu hiện cái đấy thì trong cái thời gian từ hôm nay cho đến ngày hôm đấy thì các buổi tu của con, con có cần phải tác ý đuổi không hay đến lúc đấy thì con mới đuổi?
Trưởng lão: Không. Con biết là cái bệnh của con nó chưa phải hết. Bữa nay thì thấy nó bình thường vậy chứ một lát nữa nó co nó rút cơ bắp con đau nhức. Do đó thì con phải biết là cái bệnh của con nó chưa phải bình thường đâu. Cho nên con tác ý. Cứ hễ bắt đầu vào tu cái pháp nào đó thì con cũng tác ý về cái cơ bắp của con, đừng để nó co rút. Nó co rút nó nhức, phải không? Do đó thì con phải tác ý. Chừng nào mà con thật sự con thấy nó không có hiện tượng đó xảy ra nữa thì mới hết; chứ còn nó còn, nó chưa. Bởi vì nó co rút, lúc thì nó đau nhức, rồi lát nó tản dần ra nó hết. Thì mình tưởng là nó hết nhưng mà buổi chiều hay buổi khác nó lại có nữa thì như vậy là cái bệnh con nó chưa hết đâu.
Cái bệnh đó nó chưa hoàn tất đâu, cho nên con còn đang phải đối trị với nó. Vì vậy mà trước khi tu cái pháp nào – mặc dù bây giờ thân con không có nè, nhưng mà con biết nó có nè, nó sẽ xảy trong giờ nào không biết chừng – cho nên vì vậy mà tác ý trước nó đã. Bảo cái bệnh đó phải đi đi – cái bệnh co rút chân của con đó, co rút cơ đó. Nó gồng lên nó cứng ngắc phải không con? Cái cơ đó con.
Tu sinh: Có hết các cái chân lên với các cái bắp này.
Trưởng lão: Nó nhức lên, nó cứng ngắc.
Tu sinh: Nó cứng mãi như thế.
Trưởng lão: Cơ bắp đó nó cứng lại. Nó cứng lại thì con bị rút cái chân con lên nó làm nhức ở trong đó đó. Thì lúc bấy giờ con biết là cái bệnh con nó thường hay xảy ra như vậy. Rồi một hơi, nếu mà con lấy tay con chà nó một hơi hay hoặc con để yên một hơi thì bắt đầu nó tản lại, nó hết. Nhưng mà con, cái bệnh của con rồi – cái bệnh cơ bắp rồi – cho nên con luôn luôn phải tác ý. Tác ý chừng nào con thấy hiện tượng đó nó không xảy ra nữa thì nó hết; còn nó còn thì… Bây giờ nó không có chứ một lát nữa nó có không chừng. Cho nên vì vậy bây giờ con phải đối trị với nó, là trị chừng nào hết thôi. Dùng pháp mà trị. Cứ tác ý trước. Mặc dù bây giờ không có mình cũng tác ý, mà có thì mình cũng tác ý. Mình ôm pháp mình vượt qua. Thí dụ nó có như vậy thì con tác ý cái pháp rồi, con đưa tay ra – đưa tay vô như thế này. Thì chừng nào nó hết thì thôi. Thì một chút nó hết chứ không có gì nhưng mà cái bệnh nó còn, nó chưa hết đâu. Rồi tác ý hoài, cứ tới chừng nào con thấy cái hiện tượng mà nó xảy ra nó hết, nó bây giờ nó không co nữa rồi – tức là nó đã hết rồi – thôi, không cần tác ý nữa.
5- XẢ TÂM
(50:41) Tu sinh: Con bạch Thầy con có một câu hỏi, con bạch Thầy con hỏi Thầy ví dụ như là con có một cái ác cảm với cô Liễu Châu chẳng hạn. Lúc đầu con chưa hiểu cô ấy, con nghe được một cái từ gì đấy họ nói cô ấy nói con thế này, thế này thì con có ác cảm, con để ý. Nhưng sau khi con tư duy, con quán xét trong nhân quả, trong cái lý vô thường thì con thấy dần dần nó bớt đi. Mà khi con quán như thế tự nhiên người con vui vẻ hẳn lên, nó có niềm vui mà khi con trông thấy cô ấy con thấy vui, mừng, con thấy rất là thoải mái. Như thế thưa Thầy là mình đã xả được cái ấy chưa hay là nó vẫn còn như cô ấy nói, kiểu “bằng mặt mà không bằng lòng” thì Thầy cho con biết cái đấy.
Trưởng lão: Bắt đầu con cũng quán, tư duy. Nhưng mà khi nào con thấy thật sự cái tâm Từ, tức là cái tâm Bi mà con thấy cái sự thật ra con đối với, con thấy cô đang ở trong cái ác pháp đó cô mới nói ra những cái lời nói đó. Thì chừng nào con thấy cái tâm Bi con đáng thương cho cô chứ không phải đáng ghét nữa thì nó mới xả thật. Con xét qua tâm con thấy: tội nghiệp cô, cô nói như vậy là cô đang ở trong ác pháp, mà mình đáng thương chứ không đáng ghét. Mà thật sự ra mình xét mình thương cổ thật, thì đó là con đã xả. Mà thương miễn cưỡng thì mình chỉ nói thương chứ sự thật ra còn ghét thì chưa phải. Đó là bằng mặt chứ chưa bằng lòng.
Cho nên vì vậy mà sau khi tu tập về vấn đề Chánh Tư Duy này, quán xét rất kỹ về cái tâm niệm của chúng ta. Khi có một cái niệm nào, nó không ưa một cái gì đó thì mình quán xét cái niệm đó rất là kỹ. Coi thử coi mình xả cái chỗ mực nào, cái đó nó xả hết hay nó còn e ấp, nó còn gượng gạo thì mình lột trần ra hết chứ không được để nó trong cái chỗ gượng gạo đó, thì coi như mình bị ức chế. Tới chừng mấy con học lớp Chánh Tư Duy rồi, Thầy sẽ hướng dẫn cho mấy con cách thức xả, chứ không khéo mấy con cũng quán tư duy mà mấy con chưa có xem xét được cái tâm niệm của mình. Cho nên đức Phật nói “trên thân quán thân, trên tâm quán tâm”, đó là mình tu trên Tứ Niệm Xứ.
(53:07) Trong khi áp dụng vào cái Tứ Niệm Xứ mà ở trên Chánh Tư Duy rồi đó thì khi đó mình xét. Mình xét nét rất kỹ coi thử coi mình xả thật sự hay là không xả đây, hay là còn nói sơ sơ đây. Mình tưởng là nó đã xả chứ sự thật ra chưa con. Cho nên “bằng mặt, không bằng lòng”, như cô Nghiệm đã nói đó. Do đó khi đó mình xét kỹ, mình ở trên Chánh Tư Duy mình kỹ lắm. Tu tập đi rồi áp dụng vào cái tâm trạng của mình để giải thoát mình, đâu có để cho nó mắc mứu một cái gì ở trong đó được đâu. Xả thật sự mà, đem hết sức lực ra mình tu, mình xả. Cho nên đòi hỏi cái tri kiến của mình phải quan sát rất kỹ, coi cái tâm mình còn hay không? Chứ sự thật ra mình còn nhưng mà mình lờ qua, làm như là mình không buồn không giận. Sự thật ra nó chưa đâu, nó đụng cái nó lòi cái tướng nó ra liền. Còn cái này người ta quan sát rất kỹ cái tâm niệm của mình mà, mình xả từng cái tâm niệm. Cho nên Thầy nói khi mấy con tu lớp Chánh Kiến rồi mấy con sẽ thấy – không có còn cái chuyện mà “bằng mặt, không bằng lòng” đâu. Không còn cái chuyện này đâu, vạch trần cái mặt của mình ra hết. Những cái ác pháp nằm e ấp ở trong lòng của mình đều là vạch trần ra hết.
Cái Chánh Tư Duy của chúng ta vạch ra hết để nó lộ cái mặt thật của nó ra chứ không có được che đậy nó ở trong đó. Cho nên mấy con tu tới đây rồi cái tâm niệm nào, cái hành động nào – thí dụ như người ta phê bình, người ta nói mình cái hành động đó như vậy đó – cái bắt đầu mình bực mình. Như vậy mình đem cái niệm đó ra, mình phanh nó ra coi cái sự bực mình nó ở chỗ nào, cái chướng ngại nó ở chỗ nào mà nó ra đây. Mình phanh ra hết, còn cái chỗ nào mình phanh ra không được thì Thầy trợ giúp cho phanh ra để vạch cái mặt thật của nó ra.
(54:37) Tu sinh: Thưa Thầy cho con hỏi kỹ lại, con thì chưa được học Tư Duy để xả nhưng mà con hướng, ví dụ như con học Chánh Kiến này con tự áp dụng Chánh Kiến. Con thấy nhân quả thì con thấy cô ấy như này con thương, tự nhiên con không có ác cảm. Nhưng mà không còn ác cảm, trong tâm con thấy vui vẻ phấn khởi rồi, có niềm vui. Mà khi con gặp cô con lại thấy vui, con thấy vui vẻ thì con muốn hỏi Thầy…
Trưởng lão: Cái đó là con xả rồi…
Tu sinh: Con đã xả rồi, không phải là ức chế chứ ạ?
Trưởng lão: Không phải ức chế bởi vì mình vui thật.
(55:08) Tu sinh: Con nghĩ nếu mà ức chế tức là bằng mặt mà chưa bằng lòng, tức là tôi trông thấy cô tôi cười nhưng thật ra trong lòng tôi vẫn … thì cái đấy con hiểu, con rất là bình tĩnh. Ngoài đời gọi là che đậy cái bề ngoài chứ còn tâm mình thật ra vẫn còn tâm địa độc ác bên trong. Con muốn hỏi Thầy cái chỗ là khi con đã hiểu cái Chánh Kiến, con áp dụng cái Chánh Kiến con xả để một mặt khi con đã xả được nên con thấy vui mừng, và khi con đã xả được rồi con gặp cô con thấy vui, thấy phấn khởi đối với cô ấy, không còn có cái ngăn cách giữa hai người. Con nghĩ đấy là…
Trưởng lão: Đấy là xả rồi. Cái đấy là xả hoàn toàn rồi. Cái đó mình xét qua mình rất rõ. Bởi vì cái Chánh Tư Duy khi mình dùng cái Chánh Kiến, ở trong cái Chánh Kiến là cái hiểu biết đó – mình áp dụng vào Chánh Tư Duy mình thấy thật sự mình cởi mở hoàn toàn rồi, mình xả rồi, đâu còn gì nữa đâu. Đó là chính là cái lớp học của mấy con tới đây đó, nó là như vậy đó. Mình phải hiểu rõ mình như thật. Nó không còn che giấu một cái gì ở trong tâm của mình hết. Mình thấy cái người đó sai quấy cái gì đó mà cứ ôm ấp ở trong bụng. Mình cứ thấy họ sai, họ bậy, họ ác pháp đồ không mà cứ để trong bụng mà không có cởi mở mình được thì lúc bấy giờ đó mình phải phanh phui cái tâm niệm của mình ra hết để cuối cùng mình thấy. Bởi vì đứng trong nhân quả thì người ta làm ác, làm sai thì người ta chịu chứ tại sao mình cứ ôm ấp trong mình: “Cái người này kỳ cục, cái hành động gì mà không tốt”. Mình đừng có nghĩ như vậy, mình nghĩ đó là cái nhân quả của người ta, người ta làm thì người ta chịu. Mình chưa có đủ khả năng để cho mình cảm hoá họ để cho họ sống được cái thiện nhưng mà mình phải xả cái tâm mình, đừng có thấy người ta chướng. Thấy người ta ở trong ác pháp đó mình cứ chướng, con hiểu không.
(56:53) Vì vậy mà mình xả cái chướng ở trong tâm mình, còn cái ác pháp đó mình đứng trong góc độ nhân quả mình thấy cái người đó làm cái điều đó là họ sẽ trả cái quả họ thì họ ráng chịu. Nhưng mình chưa có đủ khả năng mình lôi họ trở về cái thiện pháp được thì mình làm thinh nhưng mà mình phải cởi mở cái tâm mình. Chứ cái hành động họ, ở cái hành động đó ác, mà cái ác đó nó lại đối với mình. Thí dụ như người ta nói xấu mình đi, mình không có chuyện đó mà người ta nói xấu thì mình thấy cái người này ác quá rồi, phải không; mà mình ghét cái người đó tức là mình không có đúng. Thì làm sao mình khởi sự mình tu tập, xả tâm. Mà mình thấy cái người này đang ở trong cái nhân quả ác cho nên cuối cùng mình xả, mình cởi mở mình thấy thương họ chứ sự thật mình không ghét họ.
(57:30) Thì đó đúng là chúng ta đã tu học cái lớp Chánh Tư Duy rồi đó, để mình xả rốt ráo rồi. Cho nên Thầy trang bị cho mấy con rất là đầy đủ những cái tri kiến nhưng mà nó còn nhiều quá mấy con, Thầy cho học chắc mấy con học một năm mà sợ cũng không hết nữa chứ đừng nói, để cho nó đủ cái sức để mà xả tâm. Cho nên mới đầu mấy con thấy mấy con vô mới làm những cái bài như là Nhân quả đó, đó là cái giai đoạn đầu để mà thấy nhân quả của người ta đặng cho mình ngăn chặn cái tâm của mình đừng có hờn giận, đừng có buồn người ta.
Người ta đang ở trong ác pháp mà cứ dồn dập hoài thì mình cũng ở trong ác pháp luôn sao, cuối cùng mấy con xả cái đầu tiên nhưng mà chưa rốt ráo đâu. Tới chừng mấy con học tới tâm Từ, tâm Bi rồi mấy con mới thấy xả, mấy con mới xả được – cái lòng thương yêu của họ thật sự rồi. Nhưng như vậy mà chưa hẳn đâu mấy con, còn tới cái tâm Hỷ, tâm Xả của mấy con cuối cùng đó mấy con mới thấy được cái rốt ráo. Nhưng mà trang bị cho mấy con vừa đủ kiến thức để cho cái hiểu biết đó, để cho mấy con xả tâm. Nhưng mà nó còn nhiều lắm, nó còn rất nhiều điều, nó mắc mứu lắm chứ nó không phải là như vậy đâu. Coi vậy chứ chúng ta nói “Từ, Từ chứ chưa chắc Từ”, mà “Bi, Bi chứ chưa chắc Bi đâu”. Nó nói nó che đậy mình dữ lắm, nó nói “Tôi Từ rồi, tôi thương rồi”, nó làm bộ nó nói vậy chứ ở trong bụng nó chưa thật, nó khó lắm. Cái tâm của con người nó ngoắt nghéo lắm chứ nó không phải dễ đâu. Cho nên vì vậy đức Phật trang bị cho chúng ta cái kiến thức để hiểu biết về Phật pháp để xả tâm. Nó rất nhiều.
(58:53) Các con đọc kinh Thập Thượng – trời ơi, đức Phật đưa ra những cái bài – Thầy nói: Bốn pháp, Ba pháp, Hai pháp, Một pháp, Năm pháp, Bảy pháp. Cần phải thấm nhuần, hiểu nghĩa của những pháp này để mà xả tâm. Nghĩa là nói “Hai pháp” thì có hai pháp mà bao nhiêu cái hai pháp chứ không phải. Rồi nói “Năm pháp” thì nó bao nhiêu cái năm pháp. Mà nói “Bảy pháp”, nó bao nhiêu bảy pháp. Nói “Mười pháp” là bao nhiêu cái mười pháp. Mà bây giờ Thầy đưa ra mấy con học thì chết người đó chứ nó không phải dễ. Cho nên Thầy tóm lược lại cái giáo trình mà tu học của mình nó ngắn gọn một chút chứ để không khéo. Thầy nói có tuổi trẻ như Nguyệt Cảo hay Tuệ Hạnh thì bắt nó học dữ tợn chứ già già như mấy con mà bắt học thì chắc chịu hết nổi. Cho nên học gọn lại để cho mình tu tập xả tâm; chỉ có tuổi trẻ học đầy đủ.
Có gì không con, con hỏi Thầy.
(59:40) Tu sinh: Thưa Thầy, con có cái phần này. Ví dụ như trước cái ác pháp thì có khi con xả được liền, nhưng mà cũng có khi… Trước mặt thì con cũng bình thường, cũng ít chướng ngại nhưng mà sau đó một thời gian con về thì thường thường nó không tác dụng. Sau cái ác pháp đó nó đến nhưng mà mình cũng thản nhiên. Cái tự nhiên, cũng như đến tối về là nó bắt đầu nó trỗi dậy, nó cứ nghĩ ngợi miết rồi con xả tâm miết nó mới xong. Như vậy có phải là, nói về Bát thức đó, thì cái đó nó phải là Mạt-na thức không, Thầy?
Trưởng lão: Ờ, ở trong đó nói về Duy thức đó con, cho nên nó phân tích rất kỹ.
(01:00:42) Tu sinh: Cái đó là cái phần nhận định và kiến nghĩ của con.
Trưởng lão: Cho nên vì vậy mà nhờ cái tri kiến của mình, nhờ cái Chánh Tư Duy bươi móc nó ra hết. Bởi vì chính cái Chánh Tư Duy đó mà các Tổ mới bươi móc ra thành cái Duy thức học đó con. Nó mới chia chẻ rất nhiều cái tâm của chúng ta ra đó, cho nên bây giờ chúng ta không có học cái Duy thức học đâu. Chúng ta chỉ ở trên cái Chánh Tư Duy để mình tư duy, mình hoá giải được những cái tâm niệm của mình một cách rất cụ thể rõ ràng. Coi như là chia chẻ nó ra những cái ẩn núp của nó ở chỗ nào chúng ta cũng bươi móc nó ra hết. Cho nên nó mới hoá giải được chứ không khéo nó hoá giải không được.
Cho nên vì vậy mình thấy mình như bình thường rồi nhưng mà nó vẫn nằm ở trong đó chứ chưa phải đâu. Rồi nó sẽ sống dậy nó nhắc. Bởi vì nhất là cái người nào mà chuyện mình không có mà người ta nói oan ức mình đó, thì lúc bấy giờ mình thấy như mình xả rồi chứ nó nằm trong đó đó. Nó tức nó nằm trong đó chứ nó chưa lộ mặt đâu. Rồi nó chờ cái dịp nào nó lộ mặt ra, nó khó lắm. Cái mình không có mà người ta nói oan mình, nó chôn vùi trong đó. Mình nói thôi mình cũng tha thứ mình cũng thấy nhân quả họ làm ác thì kệ họ, đó là mình ức chế đó chứ không phải là không đâu.
(01:02:00) Mình chưa có đi vào cái tâm niệm của mình chi li trong đó. Nó ẩn đó, nó che đậy, nó khéo che đậy. Nó nói đó là nhân quả, họ làm thì họ chịu đó. Mình nói vậy đó, mình biện luận vậy đó chứ nó núp ở đó, nó chôn ở trong cái tâm của mình. Nó chờ một lúc nào mà cái người nói xấu mình có cái chuyện gì đó, cái mình nói: “Đáng cái đời!”. Không, tự nó trả thù như vậy đó con. Nó không làm chứ nó vẫn có cái ghét vậy đó. Nó chôn vùi trong đó mà để đến chừng mà gặp tai hoạ gì của người ta đó: “Đáng đời, ở ác ráng chịu”. Không, nó nói vậy đó đặng nó hả cơn giận.
Cái tu tập của chúng ta, chúng ta bươi móc ra, bươi móc hết cho thật sạch ra thì nó mới hết cái mặt nó. Cái tâm lý của chúng ta ghê gớm lắm chứ không phải, nó ác ghê lắm chứ không phải. Nó chôn vùi đó, nó ở ngoài nó nói thương thương chứ sự thật ra nó đậy đó. Nó làm một cái lớp đạo đức giả của nó, nó che trong đó, nó chưa thật đâu. Cho nên con người chúng ta coi vậy, bởi vậy Thầy nói con người ghê lắm, sợ lắm, nó ác lắm. Nó ở ngoài nó làm thiện lắm nhưng mà trong bụng nó – trời ơi, gươm đao không đó. Nó chờ mình có cơ hội gì nó: “Đáng đời!”…
Tu sinh: Như vậy là con bị cái đạo đức giả… Mạt-na thức là đạo đức giả hả Thầy?
(01:03:15) Trưởng lão: Đạo đức giả đó con, chứ không phải. Nó là đạo đức giả, nó ngoài hình thức là vậy. Nó nói như nó giải thoát vậy. Mà nó che đậy chính cái bản thân, nó che đậy cái người đó luôn. Cái tâm nó che đậy cái người đó luôn chứ không phải là nó che đậy mọi người ở bên ngoài đâu. Mà chính nó, nó che đậy nó. Nó làm như nó thánh thiện lắm, nó làm nó hay lắm. Nhưng mà có chuyện gì thì nó lộ cái mặt nó ra như quỷ sứ vậy. Thầy nói mấy con xét, con người của mình nó ghê gớm lắm chứ không phải không.
Tu sinh: Khi con xả tâm được rồi thì con suy nghĩ là khi ác pháp đến với mình để mình lộ diện cái mặt đạo đức giả của nó ra, con phải cảm ơn ác pháp đến với mình, con lấy cái đó con tác ý.
Trưởng lão: Đúng rồi, có nhiều cái mặt để cho mình xả cái tâm lắm con chứ không phải là một mặt mà nó xả hết. Cho nên tới cái lớp Chánh Tư Duy rồi mấy con mới là những cái người bươi móc, bươi móc tâm mình ra. Kêu là con gà mẹ bươi móc tìm thực phẩm cho con ăn, nó bươi móc sạch ra hết, nó không còn chừa chỗ nào. Thì dùng cái tri kiến của mấy con để bươi móc.
HẾT BĂNG
Đang trực tuyến: 11 | Lượt truy cập: Hôm nay: • Tổng: | Lượt xem trang: Hôm nay: • Tổng:


