ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
LCK 054B – (Nam) Đạo đức Nhân bản – Nhân quả (Chí Thiện – Thanh Quang)

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

LCK 054B – (Nam) Đạo đức Nhân bản – Nhân quả (Chí Thiện – Thanh Quang)

A A A

LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 054B

ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN – NHÂN QUẢ (CHÍ THIỆN – THANH QUANG)

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh nam

Thời gian: 10/01/2006

Thời lượng: [57:31]

 

1- NHỮNG NGƯỜI ĐẶC BIỆT NÊN CẦN ĐỊNH HƯỚNG TU TẬP

(00:00) Trưởng lão: Cho nên Thầy mong rằng trong cái cuộc đời của Thầy, Thầy cũng đã gặp nhiều người, lúc nhỏ thì có một cái thằng bạn rất thông minh. Rồi lớn lên rồi thì trong suốt cuộc đời thì hầu hết là Thầy đi ở các Tu viện, các chùa thì cái sự thông minh đó thì Thầy thấy chẳng có bao nhiêu người, chỉ có cái học thôi, học thuật thôi. Cho đến khi Thầy gặp thầy Chân Quang, tức là thầy Thông Huyễn, Thầy thấy rõ ràng là con người này cũng đặc biệt rồi. Đó là người thứ hai mà Thầy gặp ở trên cuộc đời Thầy.

Cho đến hôm nay mà Nguyên Thanh Thầy gặp, đầu tiên đến đây là Thầy thấy, Thầy trắc nghiệm qua Thầy thấy cái đầu óc lạ lùng. Đầu óc này cũng ghê gớm lắm chứ không phải không. Nếu mà những con người này mà nếu không được huấn luyện kỹ thì nó sau này nó hoạt động một góc trời thì góc trời đó nó sẽ là một màn đen u ám lắm mấy con, chứ không phải dễ đâu. Nó lôi biết bao nhiêu người không? Thì cũng chẳng khác nào như ông Long Thọ, cũng chẳng khác nào như Vô Trước, Thế Thân, Mã Minh – đem lại một bầu trời đen tối mà làm cho chúng ta hiện giờ nó đang ở trong những đám mây đen kịt đó mà chúng ta chưa biết đường.

Nếu thật sự Thầy không vén ra thì ai mà biết con đường tu như thế này mấy con? Cả đông lẫn tây chứ đâu phải ít đâu. Những cái bậc đó đều là những bậc thông minh chứ không phải là không thông minh, nhưng mà nó không có nhằm đúng cho nên nó triển khai không có ra được. May mắn là trong cái thời của Thầy thì có Hòa thượng Minh Châu, chứ Thầy có biết tiếng Pali đâu, Thầy có đi học ở đâu? Ở đây nội mà ba cái chữ Hán học muốn lòi con mắt mình rồi, còn ở đó mà đi học tiếng Pali. Phải không mấy con thấy? Vì vậy mà Thầy có biết tiếng Pali đâu, mà cỡ Hòa thượng Minh Châu không dịch thì nội trong Kinh A Hàm không, chữ Hán không thì chắc chắn loanh quanh ba cái Đại thừa ở trong đó không chứ làm sao mà ra.

Do từ cái chỗ gợi ý của Hòa thượng Minh Châu, từ cái Lời nói đầu của Hòa thượng Minh Châu cho đến những bài kinh mà Hòa thượng Minh Châu dịch làm cho cái tâm nghi ngờ của mình thấy cái Đại thừa nó như thế nào. Cái ông này ổng học tiến sĩ mà ổng nói, ai mà nghe học tiến sĩ mà nói không tin mấy con? Ông này ổng học nhiều chứ phải học ít sao.

Tu sinh: Ở Ấn Độ hả bạch Thầy?

Trưởng lão: Ở Ấn Độ, ở Nalanda. Mà cái trường Đại học Nalanda ra đời là cái trường nguy hiểm nhất đó con, mà cũng là lợi ích nhất đó. Nó ra đời nó đào tạo ba cái ông, như cái ông Cưu-ma-la-thập đó, ở trường đó mà ra đó mấy con, chứ không phải là ở đâu mà ra đâu. Cái trường danh tiếng của Ấn Độ, trường đó ghê gớm lắm, toàn là cái thứ dữ không chứ không phải thứ hiền đâu. Nếu mà cái người đến trường đó đào tạo là những người có tài đó, ít ra cái trí nhớ họ cũng ghê gớm lắm chứ không phải là ít đâu, chứ không phải học để mua cấp bằng. Còn cái số mà tu sĩ chúng ta đi học ở bên Miến Điện rồi về, có số mua cấp bằng về đó mấy con, chứ không có chắc đâu. Có người đi qua học bên Nhật Bổn, hay Đài Loan mua cấp bằng về đó, mấy ông đó dốt đặc à, nói một hơi Thầy biết liền à, mấy ông đó dốt mà. Chớ không phải nói người nào mà có bằng tiến sĩ giỏi hết đâu, có nhiều người đi mua đó, đi qua bên đó học cho lấy lệ đó, rồi đi mua về đó. Đâu phải ở bên đó nó không bán cấp bằng, nó cũng bán như thường à. Cho nên mấy con có đi mấy con biết à, nó không phải chuyện đơn giản đâu, cái thứ dốt.

Tu sinh: Trường Phật học ở Thành phố Hồ Chí Minh có một số thầy mua bằng về.

(03:17) Trưởng lão: Cũng có đó con, chứ không phải không đâu. Ở đâu nó cũng có hết chứ không phải nội Việt Nam mình vậy đâu. Cho nên sự thật ra, cái học của mình là cái đầu óc không có nhớ mà cố nhét ở trong những Tạng kinh như vậy, mấy con nhét làm sao cho vô, mà nhét không vô làm sao làm bài mà đậu. Buộc lòng thì phải mua, có gì đâu, cái chuyện đó là vậy thôi. Mà mình ngu thì cứ vậy thôi chứ còn cái người thông minh ta đâu có cần cái thứ mua đâu, vô bài nào người ta đọc lướt qua là người ta thuộc hết rồi. Cái đầu óc người ta thông minh, thì mấy cái người đó họ đậu thật sự đó. Cho nên họ thông minh lắm, mình nói bài nào là họ nhớ bài nấy hết à.

Thì mấy con sẽ đọc cái bài này, mấy con sẽ thấy cái chỗ mà Nguyên Thanh nó nhớ. Chứ còn cỡ mà nó đi lục kinh, chắc chắn là nó lục không nổi đâu. Kiểu mà đi lục mà viết ra, thiệt ra thì cả tháng không biết được cái bài đó chưa nữa.

Theo mấy nhà mà học giả, họ muốn viết cái gì đó, họ đi lục kinh sách họ đọc tan nát hết rồi họ mới ghi chép ra, họ mới viết được. Thì nó phải có thời gian chứ, còn cái đầu của người ta nó chứa cái tủ sách ở trong đó rồi. Bây giờ hễ nó móc ra cái gì thì nó nhớ cái nấy chứ nó đâu có cần, cho nên nó viết trong thời gian rất ngắn mà rất đầy đủ. Nên các con cứ nhớ rằng nếu mà bây giờ muốn đọc cái bộ sách nào đó, nếu mà đọc, ít ra Thầy nói thật sự ra nó cũng cả ngày cả buổi chứ bộ nó ít sao? Một cuốn sách nó dày vầy, mấy con đọc thử coi.

Làm sao mà chúng ta lại có cái đầu óc mà chúng ta lại nhớ hết như vậy, mà chúng ta ghi tới năm tháng ngày nó không trật. Các con cứ nghĩ nếu mà kê cái bộ sách ra mà đọc để kiếm từ năm tháng mấy con mất thì giờ vô nhiều lắm chứ đâu có ít được, mà suốt ngày đêm chứ không phải là nó đọc ít được. Cho nên nó phải là có cái đầu nhớ, nó có cái nhớ chứ còn không có nhớ thì không làm được đâu. Nhưng mà cái người có cái trí óc nhớ như vậy là cái người đó phải hướng dẫn cho họ phải thân giáo, họ phải tu chứng thì lợi ích rất lớn. Bởi vì khi tu chứng rồi cái tâm không còn tham – sân – si nữa rồi. Còn không thì cái ngã ghê gớm lắm, mấy cái người mà có đầu óc nhớ thì mấy con ngã dữ lắm chứ không phải không đâu, cái ngã kinh lắm chứ không phải không đâu.

Họ coi thiên hạ không có ra gì hết đâu. Ở ngoài mặt thì làm bộ vậy chứ ở trong bụng họ xem: “Mấy người có ra gì, mấy người đọc đâu có nhớ bằng tôi, tôi đọc qua cái tôi nhớ rồi”. Tự nhiên cái bản ngã nó từ đó nó có, mấy con. Nếu mà không có một bậc thầy mà hơn được thì nó cũng không đầu hàng đâu, những cái đầu óc đó nó không có đầu hàng ai hết đâu. Thầy nói thật sự nó khó lắm chứ không phải dễ đâu.

Cho nên thầy Thông Huyễn ổng đâu có đầu (hàng) đâu, ổng đâu có ngán gì thầy Thanh Từ chút nào đâu, Thầy nói thật sự đó. Bởi vì cái đầu óc đó nó không có ngán, nó coi huynh đệ nó không có ra cái thớ gì đâu. Nhưng mà ngoài mặt thì nó làm như nó cung kính, nó tôn trọng lắm; trong bụng nó biết nó có cái tài, nó không phục ai hết đâu. Chính cái người đó là như vậy đó. Cho nên nó ngầm ngầm, chứ mà ai mà lơ mơ là chống hết đó, không có đầu hàng ai đâu. Thầy biết rõ từng cái tâm niệm của những người đó hết chứ đâu phải không. Bởi vì Thầy đã từng tiếp xúc với những người đó, Thầy biết rõ cái bản ngã của họ nó đồ sộ dữ lắm chứ không phải nhỏ đâu. Nhưng mà khi mà họ tu được rồi thì nó lợi ích lớn.

2- ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN – NHÂN QUẢ

(06:21) Trưởng lão: Bây giờ đó thì về cái vấn đề này, thì chúng ta sẽ, đọc thì nó mất thì giờ quá mấy con, đọc để mà chúng ta… Chí Thiện, con hãy đọc thử một bài, hai bài của con. Chí Thiện đọc được không? Lên cái bàn kia ngồi đọc. Để thấy rằng cái viết… Bởi vì ở đây mấy con người nào cũng côó viết được hết. Con sẽ đọc cái bài của con, con. Một vài bài thôi, con chọn cái bài nào mà con thấy hay đó còn đọc. Chứ đọc hết nhiều quá con, mình không có thì giờ.

Tu sinh Chí Thiện: “Đạo đức Nhân bản”

Giới thiệu Đạo đức Nhân bản. Đạo đức Nhân bản là gì?

“Nhân” là người, còn “bản” là gốc. Đạo đức Nhân bản là đạo đức gốc của con người. Người mà không có đạo đức thì cũng giống như loài động vật. Tại sao? Tại vì con người cũng là một động vật cao cấp có trí khôn hơn loài động vật thấp. Từ đó lời nói hay hành động đều có ý thức, có tư duy kỹ càng; từ không làm khổ mình – khổ người nên mới gọi là con người. Còn lời nói hay hành động có tính cách ti tiện, cá nhân hay làm khổ mình – khổ người đó là người không có Đạo đức Nhân bản. Mà người không có Đạo đức Nhân bản thì so với loài động vật cũng không khác nhau mấy.

(08:10) Một gia đình thiếu đạo đức là gia đình đau khổ, người thân trong gia đình không biết thương yêu nhường nhịn lẫn nhau, không biết vỗ về tha thứ cho nhau nên khi sống gần nhau mà họ vẫn như những người xa lạ. Hoặc nếu là thành phần bị áp bức, họ chỉ còn biết chịu đựng mà thôi, cuộc sống của họ không khác gì địa ngục của trần gian. Một xã hội thiếu đạo đức là xã hội mà trong đó con người hay giả dối, tham lam, ích kỷ, hay lọc lừa tráo trở lẫn nhau; họ dùng mọi thủ đoạn móc ngoặc, đầu cơ, tích trữ, buôn gian bán lận, cân non đong thiếu, v.v.. miễn sao có lợi về phần mình.

Một xã hội thiếu đạo đức thường hay sản sinh ra những tệ nạn như: xì ke, ma túy, giới mại dâm, ma cô, du đãng, cờ bạc, cướp của giết người, hiếp dâm phụ nữ trẻ em, v.v. thường xảy ra. Cuộc sống con người luôn luôn lo sợ và bất an, đầy rẫy sự đau khổ. Một đất nước thiếu đạo đức thì đất nước đó hay xảy ra nạn binh đao, chiến tranh khói lửa, cảnh xáo thịt nồi da, tương tàn cốt nhục, người người giết hại lẫn nhau. Sự oán thù cũng tận trời xanh nên từ trường đó thường gây ra cảnh mưa không thuận gió không hòa, cuộc sống luôn chịu cảnh cơ cực lầm than, dân chúng không bao giờ được an cư lạc nghiệp, đất nước không khi nào được thịnh trị, thái bình.

Con người mà không có Đạo đức Nhân bản thì tham lam, ích kỷ thường hay nghĩ cái lợi về mình. Mục tiêu của họ là công danh, tiền bạc, châu báu, ngọc ngà; vì thế họ sẵn sàng làm những việc bất lương và vô liêm sỉ. Dù là họ là một vị vua quyền cao chức trọng; hoặc là những nhà doanh nghiệp, thương nhân giàu có; hoặc họ là những thi sĩ, nghệ sĩ lừng danh, những kỹ sư, bác học đại tài đi nữa cuộc sống của họ vẫn bất an và bất như ý như thường. Nếu họ là người không có Đạo đức Nhân bản, người thiếu Đạo đức Nhân bản là người sống trong dục, trong ham muốn nên không bao giờ được thỏa mãn.

(10:37) Đức Phật có dạy: “Người sống trong dục cũng như con chó gặm khúc xương khô”. Khúc xương khô con chó gặm đâu còn chất bổ dưỡng gì nữa đâu, nhưng nó cứ gặm mãi cho đến khi nước dãi nước miếng trào ra mà bụng nó vẫn đói khô chứ không thỏa mãn được cơn đói. Và cái dục của con người còn được đức Phật ví như: “Người cùi gần bên hố lửa”, vết lở của người cùi nó không như người bình thường – chỉ ở ngoài da thôi – mà sự ngứa ngáy đó ở sâu trong xương thịt, nên người cùi thích gần bên hố lửa để thỏa mãn cơn ngứa nhưng không bao giờ thỏa mãn được. Vì khi cái ngứa dịu đi thì cái nhức nhối của xương thịt nó hành hạ họ gấp nhiều lần, vì thế mà sự khổ đau của họ vẫn không bao giờ thuyên giảm. Cũng vậy, người không có Đạo đức Nhân bản là người có nhiều ham muốn, mà người có nhiều ham muốn – không biết đủ – là người chịu không ít nhức nhối và khổ đau. Cuộc sống hiện giờ vật chất càng thịnh hành bao nhiêu thì lòng tham con người càng tăng trưởng bấy nhiêu. Muốn thỏa mãn nó con người phải lao vào cạnh tranh làm ăn buôn bán. Vì không bao giờ biết đủ, nên ngày đêm họ thường tính toán tìm mọi cách để vơ vét của thế gian này cho thật nhiều.

Tuy là bạn đồng nghề nghiệp với nhau, giống nhau về hình thức kinh doanh buôn bán, nhưng họ vẫn âm thầm sát phạt lẫn nhau trên mặt trận thầm lặng. Họ thường tư duy tìm ra nhiều thủ thuật, thủ đoạn để hạ đối phương. Đó là những hành động thiếu Đạo đức Nhân bản, thiếu đạo đức trong kinh doanh nghề nghiệp. Trong mua bán họ còn có những hành động thiếu đạo đức như: cân non, đo thiếu, mua bán hàng giả, v.v.. Người có thủ thuật hơn, họ có thể làm lũng đoạn thị trường, họ có thể tung tiền ra mua hết một mặt hàng nào đó, hoặc hàng nông sản, hoặc hàng công kỹ nghệ, v.v để rồi khi thị trường thiếu hụt cần đến, họ sẽ tung ra bán với giá lời gấp nhiều lần. Còn vì món ăn ngon mà con người nhẫn tâm sát hại bao nhiêu loài động vật, đó là thiếu Đạo đức Nhân bản, Đạo đức Hiếu sinh. Tất cả những hành động thiếu đạo đức trên đều đưa con người đến sự khổ đau; muốn thoát ra những sự khổ đau này, chúng ta phải ham muốn ít, biết đủ và thực hành Thập Thiện.

(13:15) Thập Thiện từ đâu mà có? Cũng từ thân – khẩu – ý mà ra. Chúng ta tư duy ác, nói lời ác, hành động ác, luôn tham lam, không bao giờ biết đủ thì dù ta có lắm bạc nhiều tiền thì chúng ta vẫn cứ đau khổ như thường, vì lòng tham muốn luôn đốt cháy chúng ta. Chúng ta tư duy thiện, lời nói thiện, hành động thiện, ham muốn ít và biết đủ thì dù sống một đời nghèo chúng ta vẫn an vui, hạnh phúc. Hoặc nếu chúng ta là người có nhiều tiền của do nhân quả thiện đem lại, ta cũng trích ra một ít giúp đỡ người nghèo, kẻ cô độc; một ít ta cúng dường cho những Sa môn đầy đủ phạm hạnh. Nếu làm được như vậy, tâm tư ta luôn được an lạc và hạnh phúc.

Trong Kinh Pháp Cú, đức Phật cũng có dạy:

“Nếu người làm điều thiện,

Nên tiếp tục làm thêm.

Hãy ước muốn điều thiện,

Chứa thiện, được an lạc.”

(Câu 118 – Phẩm Ác)

Vì ước muốn làm điều thiện, trong tâm tư chứa thiện, và thường thấy việc thiện mình làm. Đó mới thật sự là chân hạnh phúc, đó mới là Đạo đức Nhân bản.

Đạo đức Nhân bản còn trong nhiều mặt khác nữa như: Đạo đức Giao thông, Đạo đức Nghề nghiệp, Đạo đức Hiếu sinh, Đạo đức Buông xả, Đạo đức Thành thật, Đạo đức Gia đình (cha mẹ đối với con cái, con cái đối với cha mẹ), Đạo đức Vệ sinh môi trường sống, v.v.. Tất cả những đạo đức trên đây đều là Đạo đức Nhân bản. Người có Đạo đức Nhân bản là người luôn không làm khổ mình, khổ người và thương yêu muôn loài có sự sống trên hành tinh này.

3- TU SINH CHIA SẺ CÂU CHUYỆN VỀ ĐỨC GIAO THÔNG

(15:04) Đức Giao thông:

Năm đó tôi khoảng 13 tuổi, trên đường đi học về tới cầu Ông Chết, Quốc lộ 1, thì có người báo tin: “Quang ơi, Trí ơi, bác Tám mày bị xe tông chết rồi”. Trí là anh tôi, tôi chở anh tôi trên chiếc xe đạp. Nghe tin đó, chân tôi như cứng lại, toàn thân tôi bủn rủn. Đến ngay hiện trường tôi thấy thi thể bác tôi vẫn còn nằm sấp trên đường, khuôn mặt úp trên chiếc nón. Ba và chú tôi đang chờ Công an làm việc, cặp mắt hai người đỏ hoe, họ đang khóc. Anh tôi tới nơi cũng khóc, tôi thì không khóc chỉ đứng nhìn mà cảm thấy xót xa. Bác gái tôi hay tin dữ ngã xuống xỉu liền và bị chấn động tâm thần hơn một tháng sau mới dần dần hồi phục. Chị đầu con bác gái tôi năm đó khoảng 16 tuổi cũng bị tinh thần khủng hoảng nhưng có phần đỡ hơn bác gái tôi.

Người ở hai bên đường lúc đó nói lại. Ông bác tôi lúc đó đi xe đạp có vác một cây tre là người rất cẩn thận, nên ông luôn đi sát lề bên phải. Một chiếc xe chở hàng của quân đội chạy qua, trên xe còn có tài xế và một người phụ nữ nữa. Vì lý do gì, vì mải mê nói chuyện hay vì cẩu thả, không ý thức được trách nhiệm của mình mà người tài xế này đã gây ra tai nạn. Hậu quả của nó là làm mất đi một người cha trụ cột trong gia đình, để lại một người vợ góa chồng cùng sáu người con thơ dại nheo nhóc. Vì sao họ phải chịu cảnh tang tóc chia ly này!

Sau đó Công an cũng làm xong hiện trường, vị thủ trưởng đơn vị của người lái xe đưa đến một chiếc hộp cùng đồ tẫn liệm. Thi thể bác tôi được đưa vào quan tài và an táng ở nơi gò mả cách đó không xa. Đám tang có vài người trong gia đình, mấy người con ông bác cùng ít người hàng xóm và vài ba ngọn đuốc leo lét. Nhìn cảnh tượng não nùng đó, chắc ít ai cầm được nước mắt. Bác gái tôi được mẹ tôi và thím dìu đi, lúc này cũng không còn biết gì nữa, chỉ lảm nhảm câu: “Anh Tám ơi, anh Tám ơi, anh đi đâu?”. Cuối cùng đám tang cũng kết thúc, người thủ trưởng đơn vị là một sĩ quan quân đội nói vài lời chia buồn rồi lên xe ra về. Hôm sau cho người tới đến nhà một bao đựng bột mì Canada, rồi từ đó không còn tới lui nữa.

(17:51) Bác trai sinh tiền là một người làm việc rất cẩn thận và khéo tay đan lát các vật dụng nhà nông và có nghề làm bún. Giờ bác đi rồi, từ đây tất cả mọi gánh nặng sẽ đổ dồn lên vai của chị tôi, hai người em kề cũng nghỉ học để phụ giúp chị lo cho gia đình và nuôi các em ăn học. Từ đây cuộc sống khó khăn sẽ đè nặng lên tâm trí của họ. Ai đã gây ra nỗi đau này? Rồi đây những nụ cười hồn nhiên sẽ không còn trên gương mặt của họ nữa. Mất đi một người cha là thiệt thòi quá lớn trong cuộc đời của họ, họ phải vật lộn với cuộc sống đầy khó khăn lúc bấy giờ để có được miếng cơm manh áo nuôi đàn em thơ dại. Thật là đắng cay!

Ai ở trong hoàn cảnh lúc này mới thấm thía được nỗi đau của họ. Vì không có người làm nên ruộng trả lại hợp tác xã, bác gái còn nằm bệnh viện, tất cả gia đình đều trông chờ vào gánh bún của chị tôi và rổ bánh bò của người em gái chị. Người em trai kế chị tuy còn nhỏ, đạp xe còn nhón gót vậy mà cũng lên rừng đốn củi chở về để phụ chị làm bún. Tiền có được vừa lo cho mẹ, vừa nuôi các em nên cuộc sống bữa cháo bữa rau qua ngày. Thật là khó khăn, cơ cực! Gia đình ba má tôi lúc này cũng túng thiếu, chúng tôi cũng đành ngậm ngùi thôi.

Ai đã gây ra cảnh đau lòng này? Những người tài xế lái xe rút ra bài học gì ở câu chuyện này? Nếu có lái xe chúng ta nên cẩn thận tối đa, phải làm chủ mình, phải làm chủ tốc độ, có thái độ nghiêm khắc đối với mình thì có lẽ không có sự rủi ro, bi đát xảy ra. Chẳng hạn khi bước lên xe, ta nên dặn lòng mình bằng câu tác ý: “Lái xe là một việc làm quan trọng, bao nhiêu sinh mạng hành khách đều nằm trong tay ta. Phải chú ý cẩn thận, đừng cẩu thả mà gây ra tai nạn”. Nếu ta thường tác ý thì sự cẩn thận sẽ ăn sâu vào tiềm thức của ta thì chắc tai nạn cũng khó xảy ra. Lúc xe nghỉ, ta phải nghiêm khắc với bản thân mình, đừng nên uống rượu; nếu lỡ uống rồi thì dứt khoát không lái xe. Để ổn định bước đường dài của nghề nghiệp cũng như chuyến xe ta đang đi, thì ngay bây giờ ta phải tập làm quen với kỷ luật bản thân mình và các chế độ ăn ngủ điều độ. Hôm sau trước khi lên xe, ta sẽ có một tinh thần ổn định, từ đó có sự đảm bảo cho ta đủ khả năng làm chủ tốc độ lâu dài thì chắc không có sự đáng tiếc xảy ra. Ta phải học kỹ luật lệ giao thông, ta phải nói lời tuyên thệ trước khi ra đường, cũng như trước khi điểu khiển một chiếc xe như: không phóng nhanh vượt ẩu, nếu là xe khách không rượt đuổi bắt khách, không được uống rượu khi lái xe, v.v.. Một người lái xe an toàn như vậy là người có hạnh phúc, có Đạo đức Nhân bản, có đạo đức cao thượng vì biết thương yêu cuộc sống của muôn người.

(21:17) Trưởng lão: Mấy con thấy cái đạo đức viết ngắn gọn nhưng mà nó đầy đủ cái ý nghĩa, và nó cũng gây cái sự xúc động cho người nghe được cái bài học khi một cái tai nạn xảy ra, nó cả một cái sự thật của cuộc đời con người. Làm cho những người lái xe khi người ta đọc đến người ta thấy cẩn thận hơn. Mấy con viết như vậy là Thầy thấy rất là hay. Nó vừa ngắn, nó vừa gọn, đừng nói dài dòng nhiều mà nói sao cho nó thu gọn lại, để rồi nó tác động được cái tâm của con người, để từ đó chúng ta thực hành được cái đạo đức tốt hơn. Đó là cách thức của chúng ta sau này, Thầy mong rằng mấy con sẽ là những người soạn thảo những cái bộ sách Đạo đức mà Thầy sẽ là người gợi ý cho mấy con viết.

Còn bây giờ thì Thanh Quang con sẽ đọc cái bài của con. Thầy thấy con chọn cái bài nào cũng được ở trong cái bài của con. Con chọn cái bài nào cũng được, cái bài mà để con thấy những cái loài vật nó rất quấn quýt với mình đó con. Trong cái bài mà “Đạo đức người và vật” đó con.

(23:11) Khi hướng dẫn đạo đức, nó không có gì hơn là mình gây cho người ta đọc được cái sự tang thương, cái sự đau khổ để rồi dẫn dắt cho họ. Kết luận của cái bài đó, mình dẫn dắt cho họ vào để họ thấy cái đó có đạo đức hay không có đạo đức. Cái đó là cái hay nhất.

4- ĐỨC HIẾU SINH NGƯỜI VÀ VẬT

(23:32) Thanh Quang: Bạch Thầy con xin phép đọc.

Trưởng lão: Con đọc đi.

Tu sinh: Cái đầu đề mục con đề là “Sự gắn bó giữa người và loài vật”. Thầy sửa lại cho là “Đức Hiếu Sinh người và muôn vật”.

Môi trường sống khái niệm ấy rộng lớn hết thảy. Nó bao trùm cả thiên nhiên, thiên nhiên chỉ là một phần của môi trường. Trong tự nhiên, ngoài những vật vô tri vô giác quy lại còn hai loài có sự sống và đặc tính khác nhau, đó là động vật và thực vật. Thật khó tưởng tượng nếu đời sống con người lại không có chim muông, cầm thú cùng sống cạnh bên. Ai đã từng sống xa quê, xa đất nước mới biết thế nào là tiếng gà gáy ban mai, tiếng lợn réo lúc chiều tà, tiếng chó văng vẳng giữa đêm thâu. Những thứ đó chính là âm thanh, là hơi thở của cuộc sống, nó đã góp phần tạo nên tâm hồn và tình cảm bản sắc người Việt. Không biết loài người nuôi thú từ khi nào, có lẽ từ thời kỳ Nguyên thủy. Trong lúc săn bắt, hái lượm, con người đã tích trữ thực phẩm để phòng khi mưa rét nhỡ nhàng, vì thế mà bắt đầu nuôi các con vật. Người có bộ óc khôn ngoan, là Chúa tể của muôn loài nên người nuôi đủ các loại. Từ loài dữ như cọp, beo, sư tử; loài to lớn như voi; nhỏ bé như chim sâu, chim yến; loài nguy hiểm như rắn độc; loài dưới nước dữ tợn như cá sấu cá mập; loài khôn ngoan như chó, ngựa, khỉ, chim. Kể sao hết những loài vật đã được người thuần hóa. Các loài vật được nuôi đều gần gũi tình cảm gắn bó, yêu quý biết vâng theo sự dạy bảo của con người.

(25:25) Có những loài vật đã trở thành thân thiết hàng ngày, sẻ chia tình cảm như người thân người bạn. Ngày ngày chúng ta ít để ý đến con sâu, cái kiến nên ta biết chúng nhưng mấy khi hiểu chúng. Song, nếu ta chịu khó quan sát, lắng tâm và gần gũi các loài, dẫu không nghe được nó nói nhưng vẫn thấy và hiểu nó muốn gì. Những con kiến đen to giống kiến càng, vẻ ngoài chậm chạp hiền lành; chúng sống theo đàn nhỏ, độ một hai chục con. Khi đào đất làm tổ, mỗi còn gặm một miếng đất nhẵn nhụi hình bầu dục tương đối đều nhau vừa bằng hạt tấm, rồi răng cắn chân đỡ đưa ra khỏi tổ. Thì ra trong đàn kiến cũng có những con thế này thế khác. Có con tính lười nhác, rất vô trách nhiệm cẩu thả, vừa ra khỏi miệng lỗ đã vất cả ngay hòn đất ở gần sát cửa tổ, vội hể hả quay vào. Có con khệ nệ bê ra tận chỗ xa rồi mới quăng xuống, chuyến đất nào nó cũng vác ra chỗ ấy. Thời gian mỗi chuyến rất đều nhau, nó làm việc một cách chăm chỉ, lặng lẽ, miệt mài. Ở đấy cũng có những con láu cá, khôn lỏi, thỉnh thoảng vất xong một chuyến là lại ra xa khỏi khu vực làm, lượn lờ nghiêng ngó, trốn việc một lúc, tự giải lao xong lại nhập đàn. Thì ra mọi chuyện cũng không khác gì trong một buổi con người lao động tập thể.

(27:00) Kiến đen này là loại hiền so với nhiều loại kiến khác, thế mà cơn sân cũng ghê gớm. Chúng thường nổi xung đánh nhau liên tục, đã đánh là cắn đến rứt chân nhau. Chỉ khi què lê lết, bấy giờ mới chịu bỏ chạy. Nhiều cuộc chúng tôi đã dùng que gạt ra, nhưng những gọng kìm răng chúng đã nghiến vào nhau thật khó gỡ. Có lần, một kiến càng, một kiến đen giao chiến bị thương nặng đang lăn lộn bò về tổ. Trên đường, gặp hai kiến nhỏ màu nâu (to hơn kiến lửa, nhỏ hơn kiến bóng), kiến nâu phát hiện thấy thời cơ liền quay ngoắt lại bám sau con mồi đang thương tích. Chỉ trong 1 phút, chúng thông tin bằng cách nào mà có thêm 3 con nữa là 5, quây chặt, chặn đầu khóa đuôi đường đi của kiến đen. Bị thương đuối sức, kiến đen không thể tháo chạy nhanh như mọi khi. Nhanh như chớp, một kiến nâu lao vào nhảy lên lưng cắn, kiến đen cuống cuồng chống đỡ; từ phía bên kia lại một con khác thoắt nhảy vào đốt thêm một đòn nữa vào bụng kiến đen. Cứ như thế chúng đánh chớp nhoáng tứ phía; kiến đen trúng nọc, không thể chạy được nữa, 5 kiến nâu xốc thẳng con mồi công kênh khiêng về tổ.

Tôi bỗng xé lòng nghĩ đến đàn kiến đen, thế là mất một con không về được tổ nữa. Rõ ràng bọn kiến nâu chúng có thủ đoạn, có chiến thuật hẳn hoi, chúng hoạt động nhanh đến mức chúng tôi không kịp kiếm que gỡ để cứu kiến. Nhỏ bé tí xíu như con kiến, cứ tưởng chúng khờ dại đến mức không hề biết và không hiểu biết một tí gì. Có phải thế đâu! Thì ra ở đây chúng biết giận dữ, biết hân hoan, biết sợ hãi, biết hốt hoảng, biết liên kết nhau vì mục đích và nết của con này khác nết của con kia. Sẽ còn bao nhiêu điều ta chưa biết nữa về chúng. Vì chúng là một sinh vật, ta cũng là một sinh vật.

(29:02) Tuy chúng không bao giờ có thể khôn được như người, chúng dại khờ, dại khờ đến bao nhiêu đi chăng nữa, chúng cũng danh nghĩa là một mạng. Ta khôn ngoan trí tuệ đến đâu cũng là một mạng. Về phương diện này, ta và chúng đều bình đẳng, đều bình quyền sống trước Mẹ môi trường. Trước nhân quả, ta nào có quyền gì khác hơn, nếu có thì đó là điều ta tự ý tự cho mình lấy mạnh hiếp yếu, lấy khôn ngoan để bắt nạt dại đần.

Hành động ấy đâu phải của người, cái đó thì chỉ có ở thú. Là con người thì phải có lòng Hiếu sinh, biết sống có Đạo đức Nhân bản – Nhân Quả. Con người khôn ngoan, trí tuệ hơn hết thảy muôn loài thì phải yêu thương, chở che, bảo vệ hết thảy muôn loài. Chứ đâu phải mang cái hơn muôn loài ra để mà sát hại, đày đọa, cai trị làm cho chúng khiếp đảm và hàng ngày mang chúng ra để ăn thịt.

Các bạn nghĩ sao về con cá voi nuôi trong công viên, nó biết nhảy lên chạm môi hôn người khi được gọi. Ta bảo đấy là phản xạ có điều kiện được huấn luyện mà thành. Thế còn những con cá voi ở biển, con người từ cổ kim đã bao lần kể chuyện thuyền bè gặp nạn giữa khơi được cá voi ghé mình đỡ cứu. Đấy có phải là phản xạ không? Nếu bản năng thì xuất phát như thế nào để có bản năng ấy?

Ta đã nghe bao chuyện cảm động về con chó biết liều mình nhảy xuống sông cứu chủ hoặc tìm báo người khi chủ nó gặp nguy. Những con ngựa khi biết chủ ở trên lưng đã chết, ngựa liền liều thân xông pha qua mũi tên, ngọn giáo đưa xác chủ về. Chúng là vật hữu tình, hữu tình là có tính tình và tính ái. Chúng cũng sân khùng như con kiến, như tất cả các loài đều có lúc sân và chỉ khác người ở chỗ động cơ sân. Chúng cũng biết đánh nhau khi bị động chạm tới quyền lợi và tham muốn; lại có lúc yêu thương trìu mến, vuốt ve nhau. Bò mẹ, chó mẹ yêu quý con, hằng ngày thường liếm thân thể cho con; khỉ ngồi bắt rận cho nhau; đôi gà, đôi chim đỗ sát nhau, cọ vào nhau bày tỏ sự âu yếm. Chúng cũng khắc khoải cất tiếng gọi tìm nhau khi xa vắng; cất tiếng líu lo khi no mồi; biết tắm nước chải lông; chao cánh lượn lờ khi gió lộng trời trong mây trắng; biết kêu thảm thiết khi bị phá tổ, bị mất con.

(31:43) Hồi nhỏ, 19 tuổi tôi hay nuôi chim. Yêu chim mà nuôi đấy là sự yêu ích kỷ hẹp hòi, yêu cho mình mà vô tình làm chết bao sinh loài. Có lần đi học, thấy chim bố mẹ tha mồi lên cây cau của một gia đình ở mãi giữa làng. Để ý điều tra, tôi biết bà ở có một mình lại không nuôi chó, trưa bà hay đóng cửa nghỉ, tôi chọn thời điểm đó để đột kích. Nhanh như mèo, thoắt cái, tay đã móc vào tổ nắm gọn mấy chú chim chích nhỏ đỏ, vẩy đút vào túi áo rồi nới lỏng tay, nghe “Xoạt!” một tiếng thế là đã tụt xuống tới tận gốc. Móc túi ra chim đã bị đè vào thân cây nát be bét, còn sống một con cho vào lồng nuôi.

Các bạn đã thấy chim bố mẹ tha mồi, dám liều mạng vào tận cửa sổ nơi người ở để mớm mồi cho con chưa? Chúng tôi đã nhiều lần nuôi chim, nhiều lần gặp chuyện bố mẹ chim kiếm mồi hàng ngày quên hết hiểm nguy, gan lì đứng ngoài lồng thò cổ vào nhả mồi mớm con. Con gà mẹ ta nuôi, gặp khi mưa gió hoặc hôm quá rét, gà mẹ đã sã cánh, tục tục gọi con; rồi mẹ nằm xuống cho lũ con chui hết vào gầm bụng, khe cánh mẹ xù lông chịu gió rét, im lặng nhắm mắt nằm che cho lũ con được ấm. Những khi gặp diều hâu, chim cắt, gà cũng cuống quýt làm vậy, hoặc không kịp gà mẹ liền liều mạng mang thân nhảy lên chặn diều hâu. Có khi vì bảo vệ con mà con người to gấp năm bảy chục thân gà, gà vẫn dám xông vào mổ.

Như loài cá, tưởng như chúng dại khờ đến mức không hề mảy may biết một tí gì, nhưng tình mẹ con của loài cá quả, cá chuối khiến ta xúc động và suy nghĩ. Khi trứng nở đàn cá con dày đặc, cá nhỏ bằng đầu tăm đi theo mẹ kiếm ăn, chúng luôn cụm tròn thành một khối như cái bát tô to. Cá con càng lớn cái cụm tròn ấy càng nới rộng, lúc nào cá mẹ cũng đi áp sát đàn con, gặp loài nào đến gần con hoặc có nguy cơ là cá bố mẹ lao vào đánh. Biết đặc tính ấy, con người khôn ngoan mới xóc con nhái, con cá chọi cờ, hoặc con tôm vào lưỡi câu nhử nhử vào đám cá con; thế là cá mắc lưỡi câu, hết mẹ rồi đến bố bị tóm sống, bỏ lại lũ cá con bơ vơ chết dần chết mòn khi thiếu bố mẹ. Những ngày còn sống, lúc đàn con quá đói, mẹ cá liều mình nhảy lên bờ nằm đến khô lớp nhớt đợi kiến đến bám đen trên mình, kiến đốt thì cố chịu. Kiến lửa mà đốt thì phải biết! Đến người đặt chân vào tổ kiến còn giật thót lên, thế mà cá vẫn chịu. Hàng chục, hàng trăm con kiến đốt bấy giờ cá mới lao xuống nước mang theo kiến làm mồi cho con.

(34:55) Bạn có thấy cảnh nhà nghèo trước kia? Bát cơm chẳng đủ ăn, bát cháo cá dành cho mẹ con con chó. Mẹ mới đẻ đói gầy xiêu vẹo, con bú chẳng ra sữa; vậy mà có cháo, chó mẹ có ăn đâu, chỉ liếm láp vòng quanh làm động tác giả, còn cháo để cho đàn con ăn. Nếu ở người, ta gọi đó là lòng cao cả, tình thương, là Đức Hiếu Sinh, là lòng mẹ – thì ở đây những hành vi ấy ta gọi là gì? Cái nằm cho kiến đốt đến gần chết, không sợ hiểm nguy vì người bắt, đấy không phải là Đức Hy sinh cao thượng, ta gọi đó là bản năng – liệu hiểu biết của ta có xứng đáng với việc làm của cá?

Nói về mẹ cha, chúng ta không còn biết dùng lời nào để bày tỏ hết lòng biết ơn, ta chỉ còn biết ví như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn không bao giờ cạn. Còn tình thương của chó mẹ và cá mẹ đối với con, hành động ấy có xứng đáng để ta so sánh với con người?

Người với người có tư tưởng nước lớn hoặc coi trọng người của mình là thông minh trí tuệ hơn hết trên thế gian; còn phân biệt da trắng, da đen, phân biệt chủng tộc. Đã có những ngày con người mang con người ra làm sản phẩm mua bán, coi người da đen như loại thú khôn ngoan huống chi là chuyện người đối xử với vật. Con người vẫn cho mình là thông minh, trí tuệ nhất. Điều đó mãi mãi là đúng. Nhưng khi nhìn nhận và đối xử với loài vật mà không hiểu đúng về chúng: nhìn nhận thiên lệch, đối xử không công bằng lúc nào cũng tư tưởng chiếm đoạt, rình rập, tìm mọi mưu mẹo bắt để ăn thịt thì sao việc ấy đồng nghĩa với thông minh, trí tuệ?

Từ ngàn vạn năm, con người đã nuôi thú vật rất nhiều, nuôi đủ loại, có loại còn nuôi nhiều hơn số hoang dã trên trái đất. Người cũng yêu thương, chăm chút, bảo vệ, chở che; nhưng đó là sự bảo vệ chở che cho lợi ích của con người. Con người làm tất cả để cho lúc lôi ra làm thịt chứ không phải đó tình yêu thương chân thật, sự thương xót từ đáy lòng của Đạo Đức Hiếu Sinh.

5- CÂU CHUYỆN CỦA MỰC LÙN VÀ CÁC LOÀI VẬT TẠI TU VIỆN

(37:21) Chuyện về loài thú thì nhiều lắm, không thể nào kể hết, tôi xin kết thúc ở chuyện con chó Mực lùn Tu viện Chơn Như. Vào khoảng năm 1994, Tu viện còn ít người lắm, không như bây giờ. Nước ăn đều là giếng đất tự đào, đây là vùng đất cát pha sét. Với những năm 1960 về trước, vẫn là rừng nhiệt đới nguyên thủy. Bấy giờ gần thất Trưởng lão Viện chủ, có một chiếc giếng. Đất vùng này cao nên giếng đào rất sâu mới có nước. Sáu vạn mét vuông đất Tu viện cây cối xanh tốt, cảnh như rừng. Để lá khỏi rụng xuống giếng, giếng được che một miếng tôn kẽm nhỏ vừa với miệng.

Hai con chó con của nhà bên cạnh Tu viện vẫn hay chui giậu sang đùa chơi. Cũng nói thêm, bấy lâu các loại chó mèo ở đâu tự kéo nhau về đây ở, có lúc rất đông kể cả chim chóc. Chúng rất dạn dĩ và quấn quýt người như đối với chủ của chúng. Hai con chó con đùa nhau rồi lên tấm kẽm che mặt giếng nằm phơi nắng, thế nào bị tụt cả hai xuống giếng. Con Mực lùn ở Tu viện đã lâu, lúc này nằm gần đấy, thấy sự vậy nó chạy đến nhìn xuống giếng. Hai con chó con chòm chọp cố ngoi lên mặt nước. Nhưng bám vào đâu, thân giếng trơn, chỗ thì cát lở, từ mặt nước lên mặt đất phải sâu trên 2 mét. Con Mực cuống quýt chạy vòng quanh giếng, rồi chợt như có ý định nào đó nảy ra. Nó liền chạy thẳng vào chỗ Trưởng lão ư ứ trong miệng muốn nói điều cầu cứu. Trưởng lão dừng công việc, dịu dàng hỏi Mực. Mực cắn gấu quần Trưởng lão dẫn ra nơi giếng. Vừa thấy hai con chó con đuối sức, chỉ còn hai mắt và cái mũi thò lên mặt nước tối um, Trưởng lão liền lao xuống giếng, hai chân bơi đứng, hai tay ôm hai con. Bơi một hồi, Ngài tựa lưng vào thành giếng nghỉ, suy nghĩ tìm cách đưa chúng và Ngài lên bờ. Ngài đặt mỗi con một bên vai rồi tính chuyện tay chân sẽ cắm vào thành giếng bám và lên.

Con Mực lùn ở trên bờ chăm chăm nhìn xuống thấy lâu quá mà Trưởng lão chưa lên được, nó hoảng hốt chạy viền quanh ra chiều lo lắng, sốt ruột, miệng há hốc cứ ứ ứ trong cổ rên rỉ. Một vài tu sinh thất ở xa, mọi người đang khép kín cửa độc cư. Mực lùn liền phóng xuống bếp sủa rối rít, rồi cắn gấu quần cô Trang cầu cứu. Là người nhanh trí hoạt bát, cô Trang biết có chuyện, cô gọi cô Đào, cô Tú cùng chạy theo Mực lùn. Nhờ chiếc thang dài các cô thả xuống, Trưởng lão đã đưa hai con chó con lên trước, Ngài đã cứu chúng thoát chết và chúng sống được cũng nhờ có Mực lùn.

(40:30) Con Mực khôn và tình nghĩa với người là thế. Nhưng sau này, Mực bị chết rất thảm thương vì bàn tay con người. Cạnh Tu viện có một thanh niên hư hỏng. Một hôm anh ta diễu qua, Mực lùn ở trong rào thò cổ ra sủa, người thanh niên ở ngoài nhanh như cắt, hai tay chịt cổ Mực cho vào bao chở ra quán chuyên bán thịt chó. Gọi Mực lùn không thấy, cô Út định tâm quán các căn duyên, cô ra đi và đụng gặp người thanh niên lúc đó đang đút tiền trong túi, chễm chệ ngồi trong quán uống cà phê. Nói ngọt nhạt dịu dàng hết lời, người thanh niên mới chịu chỉ nơi để cô Út ra chuộc tiền cứu Mực. Cô vừa cất tiếng nói với chú Sáu chủ quán thì ở trong cái vỏ bao phân hóa học, Mực nhận ra tiếng cô Út, Mực cựa giãy và ú ớ kêu. Đúng là tiếng kêu của kẻ trong cơn tuyệt vọng kề cửa tử đang hết sức bình sinh khản kêu thảm thiết. Tiếng kêu nghe xót thương đến não lòng! Cô Út hết lời nói với chủ quán xin chuộc gấp hai số tiền người đã bán. Chú Sáu hầm hầm nét mặt, nói ngắn gọn, giọng lạnh lùng như lưỡi dao: “Về tìm hai thằng bán chó ra, sẽ cho chuộc”. Cô Út vừa tạt quay đi, cô làm tất cả để cứu Mực; cô vừa bước chân, thì đằng sau mấy tiếng liền “Ịch ịch! Chát!”. Cô quay người lại, khúc gỗ trong tay chú Sáu cũng vừa lúc ngừng giáng xuống dưới vỏ bao phân hóa học, hằn lõm một vết thanh củi. Vỏ bao nằm đưỡn đườn im thít. Chú Sáu thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra, mặt tỉnh bơ vứt khúc gỗ vào xó cửa.

(42:27) Đấy là chuyện con Mực lùn. Chuyện vật và người, người và vật. Mực lùn mang thân chó, nhưng nết của Mực thì không “chó” một chút nào. Thấy hai con chó con tuy là hàng xóm, không ruột thịt máu mủ gì nhưng bị nạn, cùng là chó với nhau, Mực biết tìm người đến cứu. Khi chủ gặp khó khăn, giếng hẹp, tối tăm, lại sâu; chủ của Mực đã gần 70 tuổi, lại nhảy thẳng đứng như nhảy dù xuống giếng, mãi mà chưa lên được – Mực biết lo lắng, hoảng hốt chạy xuống nhà bếp tìm người. Đổi thử không phải là Mực, nếu là người lúc đó ta cũng làm được gì hơn thế. Trong khi là người đàng hoàng, nhưng bên trong lớp áo hai thanh niên là chiếc bao đã thủ sẵn. Bộ óc của họ đặc sệt sự độc ác, tham lam; từng tế bào lúc nào cũng nhấp nháy, loang loáng những mưu mẹo; sự tinh khôn ma quái cũng đen tối, bẩn thỉu như chiếc bao bắt chó. Thật ghê sợ khi nghĩ về khuôn mặt lầm lì của chú Sáu và thanh gỗ. Chỉ một bước chân mà toàn bộ lòng dạ đã phơi bày. Khi biết chủ đến xin, sợ mất miếng mồi, chú im lặng thủ thế gây khó khăn, ra điều kiện để đối phương không thể làm nổi.

(43:53) Thấy đối phương làm được và quyết tâm làm, thì bằng mọi giá trắng trợn cướp mồi trước, đập chết chó luôn. Chó chết, hết chuyện. Chú sống không cần lời. Chú sống bằng dùi đục, dao và thanh gỗ. Trả tiền gấp hai lần chú không chơi, chú nhẩm nhanh trong đầu, nó vẫn chưa bằng cái giá thực trên thị trường hiện tại. Khi đã ngậm được miếng mồi lợi, đời nào chú nhả. Chú không cần biết đến tình thương loài vật; (nếu) thương – chú đã chẳng làm nghề này. Chú cũng chẳng cần tình người, ở trong chú không nói đến tình người. Tình người là cái gì? Chú đâu phải là Mực lùn, chú đã quen sống chỉ cần chó chứ không cần biết chuyện về con chó.

Nhưng ở Tu viện nơi ấy, có những con chó, tối rét chúng đều được trải mền rách để nằm. Có con nằm riêng, có con ngủ chung với nhau, sống như anh em một nhà quây quần quanh cô Út, bảo vệ cô Út. Chúng yêu quý chăm sóc không rời nửa bước, đúng như tình con cái đối với cha mẹ.

Chúng tự giác răm rắp, thay nhau 24/24 tiếng đi khắp sáu vạn mét vuông để lùng sục. Hai chục con, nhưng nghe con nào cắn dù ở xa tít cô vẫn gọi ra đúng tên và biết nó cắn về việc gì. Ai đó đều có thể mở cổng sắt ra vào, nhưng nếu mó tay cầm thứ đồ gì của nhà bếp thì lập tức sẽ bị khiếp sợ, tái mặt. Còn đừng dại mà vờ quát tháo hoặc hung hăng động vào cô Út thì hãy coi chừng hậu quả. Có hôm, buổi tối cô Út đi lại công việc, cô thấy con rắn cạp nong bằng cổ tay nằm ngay mặt đường. Một con chó kịp lao tới cắn quần níu chặt không để cô đi. Chó là vậy đó!

Nói đến rắn, Tu viện rất rộng, cây cối rậm rạp có rào bao quanh, không người qua lại. Ai ở thất nào biết thất ấy, yên tĩnh và vắng vẻ nên trước đây rắn rất nhiều. Buổi tối chúng bò đi kiếm ăn, nghe bước chân tu sinh đi kinh hành trên những lối mòn, rắn nằm nép mình đợi người qua mới bò sang đường. Rắn nhiều thế nên nhiều kẻ cũng đêm ngày rình rập giăng lưới bắt trộm. Có một hôm, cô Út gặp một thanh niên mang cái lồng, trong nhốt con cạp nong rất to. Thấy cô đi qua, rắn bật lên kêu thành tiếng “khẹt khẹt” như gọi kêu cô Út cứu. Cô quay lại, người thanh niên nói là anh mua, cô trả anh gấp hai số tiền anh mua. Nhưng nghĩ sao anh chỉ dám cầm một nửa, rồi thả rắn ngay tại chỗ. Tối hôm ấy, cô gặp hai con rắn chúa to cùng một đàn nhiều con nhỏ, chúng đi theo cô ở đoạn gần đầu đường, có cả Trưởng lão cùng đi. Đến lúc cô phải dịu dàng bảo chúng: “Thôi chúng mày đi đi, trông chúng mày tao sợ lắm”. Bấy giờ chúng mới rẽ sang lối khác.

(47:10) Không những rắn mà ở đây, bò cạp hằng đêm cũng nhan nhản xung quanh thất, chúng ngược xuôi tự do bò cả vào y áo treo trên liếp. Buổi tối bật đèn đọc thạch sùng bám đầy trên vách, chúng xông cả vào trang sách đang đọc để bắt mồi. Thọ thực ngọ trai, rắn, thằn lằn đến tận sát chỗ người ngồi mắt trân trân nhìn ngóng, chực mẩu bánh vụn. Dưới tán tràm cao ba bốn chục mét, lúc ríu ran, lúc thánh thót tiếng chim rừng từ xa về đậu. Sớm chiều Tu sinh ở trong thất ngồi định, chim sẻ quạt nhảy nhót xung quanh bắt nhện. Nếu có ai trông ắt nghĩ chim nuôi. Nhiều khi buổi trưa nằm tịnh chỉ, chim còn nhảy cả qua người, nhảy động vào chân. Nếu ta thương yêu, tôn trọng sự sống của loài vật thì loài vật trở nên gần gũi sống tự nhiên, chan hòa với chúng ta, kể cả rắn độc và bò cạp. Chúng không còn sợ sệt mà phải đối phó nên thành hiền lành, dễ thương. Chúng nhận biết con người không còn là sự đe dọa nguy hiểm; ngược lại trìu mến thương yêu chúng, nên chúng lân la kéo theo đến cạnh bên, dạn dĩ như gặp các loài khác trong thiên nhiên xưa nay không hại chúng.

Nếu người và vật sống chan hòa, hiểu biết, thông cảm, thương xót nhau; cuộc sống trở nên an vui, ấm áp, tâm hồn thư thái thảnh thơi, không còn phải nơm nớp sợ nhau, gây khổ cho nhau thì ngay đó là hạnh phúc. Anh em trong nhà khênh cây gỗ, em yếu hẳn thì bảo em đứng ở chỗ ngọn, anh lớn anh nhận lấy phần gốc nặng hơn. Con người khôn ngoan, trí tuệ vượt lên đứng đầu tất cả muôn loài – con người phải yêu thương, chở che, bảo vệ sự sống cho tất thảy. Như vậy mới là Đức Hiếu Sinh, là Đạo đức Nhân bản – Nhân quả. Sống không có Đức Hiếu Sinh thì không còn là con người nữa, đó là chỗ đặc thù để người khác vật.

6- LUẬT NHÂN QUẢ

(49:22) Thế mà, không biết từ khi nào và từ đâu lại có người phát ngôn một câu, câu đó lại là ngôn từ của người có học, có chữ nghĩa hẳn hoi: “Nhân dưỡng vật, vật dưỡng nhân”. Quan điểm của họ nói toạc ra là nuôi vật để mà ăn thịt. “Nhân dưỡng vật” thì tốt rồi, nhưng sao lại “vật dưỡng nhân”? Vậy là tất cả các loài sinh ra là phải để cho người ăn thịt hay sao? Bởi con người khôn ngoan và mạnh hơn chứ gì. Nếu đó là cái lý tất nhiên, vậy thì hổ ăn thịt người là đúng; sao người không đứng lặng im, vui vẻ để cho nó ăn thịt mà lại chạy? Không thể có cái lý “vật dưỡng nhân” được đâu! Dưỡng bằng sinh mạng kẻ khác, lấy máu xương kẻ khác bồi đắp cho thân mình thì đến lúc máu thịt mình sẽ phải rút ra trả nợ lại những gì mình đã nợ.

Luật nhân quả công bằng tuyệt đối, không bao giờ quên sót dù việc nhỏ tí xíu trên đời. Dưỡng bằng máu thịt của kẻ khác, đúng là có tăng cân nhanh thật. Nhưng từ 50 kg lên 60 kg thì 10 kg ấy là cái gì? Là thịt của ta ư? Vậy của ta ở đâu lại tự có? Đó là thịt của chó, của gà, bò, lợn, dê, cá, lươn, ếch đấy chứ. Những thứ ấy vào mới thành 10 kg kia.

Thân xác lúc này đâu còn là sự thuần túy thanh tịnh ta nữa. Dòng máu trong ta đã bị pha, ta đã là chính những thứ ấy. Cái cơ thể mà cha mẹ cho ta không còn là sản phẩm của cha mẹ như xưa nữa, nó đã thành độc ác, hôi hám, uế tạp. Thân ta đã thành nghĩa địa, nơi chôn xác của đủ loài. Nghĩa địa thế gian chỉ có xác người, nghĩa địa thân ta chôn đủ loại từ con chuột, con chim, cho đến đặc sản rắn rùa, cua nhái. Ta khinh loài vật ăn bẩn nhưng chính trên Trái đất này chưa có một loài nào ăn tạp đủ loại như người. Còn bảo là ăn toàn rau không có thịt sẽ thiếu chất, sẽ yếu. Nói sai. Đó là tưởng tượng mà nói hoặc chưa nhìn, chưa thấy hết mà đã nói.

(51:47) Đức Thầy Thích Thông Lạc tu chứng quả A La Hán, quả Thánh cao nhất đã đạt đến chỗ toàn giác của đạo Phật. Thầy ăn rau liền 9 tháng, không hề trong ngày có nửa hạt cơm hoặc chất bột gì. Năm nay Thầy sắp đến lúc 80 tuổi, đi lại như thanh niên, không có chuyện ốm đau. Làm việc liên tục suốt ngày đêm, khi cao điểm nhất tới 23/24 giờ đồng hồ trong ngày, với khối lượng và chất lượng công việc mà hiện tại không ai có thể làm được.

Thôi! Xin hãy nói những người bình thường như những Tu sinh ở Tu viện Chơn Như. Mấy chục con người đều ăn chay tuyệt đối, ngày chỉ một ngọ trai chứ không phải hai, ba, bốn bữa. Họ tu tập, hoạt động liên tục trên 14 giờ đồng hồ trong ngày. Đêm từ 2 giờ đã vào tập cho đến sáng. Có những người đã đạt tới chỗ suốt đêm họ không còn ngủ nữa, liên tục đi kinh hành, và tu tập. Đầu óc họ tỉnh táo sáng suốt, người khỏe mạnh, không bao giờ chịu cầm viên thuốc hoặc phải nằm vì mệt vì đau. Còn ăn thịt các loài sẽ ngon miệng hơn ăn rau ư? Có thể đúng. Nhưng xin thưa các bạn, do thói quen mà nên cả. Đẻ ra đã cho dùng cà phê, thì lớn lên đến lúc cuộc sống không thể thiếu cà phê. Khi đã thiếu nó thì mọi thứ khác đều thành tầm thường, không thấy gì ngon bằng cà phê nữa.

Mọi sinh hoạt cá nhân và cộng đồng được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thành thói quen, thành tập quán. Mà tập quán thì khó bỏ, hạt nhân của tập quán là thói quen; mà thói quen thì các bạn nhìn người nghiện xem ma lực của nó thế nào? Thật ra ngon là cái gì? Phải đâu sơn hào hải vị, phải đâu thứ đắt tiền mới là ngon. Ngon là cái lạ miệng, là cái ta thích nhất thời. Ăn thịt mãi ngấy lên về thịt thì đến lúc đĩa dưa, ngọn rau lang luộc lại đặc biệt. Những năm gần đây người ta gọi con ốc, con cua, con ếch là đặc sản vì người ta đã quá ê hề, no say trong thịt. Những thứ ấy ngày xưa chỉ được các cụ xem là đồ cua ốc, tức thứ tầm phàm.

(54:11) Thấm đậm quan điểm “vật dưỡng nhân”, đời sống vật chất ngày càng khấm khá nên hôm nay quán ăn chỗ nào cũng mọc lên như nấm, mới sinh ra những quán ăn thật sang trọng dành cho những khách đặc biệt đến đấy uống rượu tây và ăn tiết canh chim sẻ. Nghĩa là cắt cổ cả từ con chim vừa bằng ngón tay cái, nặn từng giọt máu để dưỡng ông “nhân” vòng đai bụng như cái thùng phuy nặng bảy tám chục ký. Thật đau lòng thay! Khi con người ta say sưa khen những tay chế biến tài ba, xào xáo thịt cầy bảy món, lấy tia máu hồng máu đen, kỹ thuật thui vàng.

Những con vật hàng ngày lúc nào cũng gắn bó, tận tụy bên ta. Chúng sẵn sàng liều mình cứu chủ, trung thành, nhẫn nại đến chết vì người. Những con vật trong đời sống không thể thiếu nó. Ai cũng cần con vật để trong nhà. Đêm hôm mưa rét, ta trên chăn dưới đệm, nó thâu đêm nằm đầu hè canh cổng. Người mâm cao cỗ đầy, nó chầu chực gặm miếng quăng ra. Ta đi vắng năm mười ngày chúng biết nhớ, khi về chúng mừng quýnh chạy ra tận ngoài đường đón, quấn quýt vòng quanh. Có những trường hợp chủ chết nó bỏ cả ăn nhiều ngày thương nhớ nằm lặng một chỗ, buồn bã khác thường.

Vậy mà chỉ một bữa ăn con người liền lôi ra cắt cổ phanh thây, khen ngon khen béo. Chao ôi, nghĩ mà ghê sợ! Loài vật còn biết nghĩa tình như thế, sao ta chỉ vì miếng ăn nhất thời mà quên nghĩa quên tình? Một thành phố 4 triệu dân, mỗi người mỗi ngày chỉ cần ăn nửa lạng thịt cá thì một ngày đã hết 200 tấn thịt. Nếu trừ số ở diện còn đói nghèo không có tiền mua thịt, số còn lại khoảng 75 triệu người, một ngày sẽ tiêu thụ bao nhiêu thịt? Một ngày sự chết chóc trên hành tinh này sẽ là bao nhiêu? Đúng là xương cao như núi, máu chảy thành sông. Sự luân hồi sáu ngả hàng ngày sẽ vần vũ mịt mùng, từ trường ác thải ra đen ngòm nồng nặc máu, ngùn ngụt ác khí bầm tím, căm uất hận thù trùm khắp vũ trụ.

(56:30) Xin mọi người hãy dừng lại phút giây mà suy ngẫm. Hãy nương tay để từng phút máu bớt đổ. Hãy lắng nghe quan sát sự sống của các loài. Hãy khép nhẹ mi mắt, gắng mà nghe những tiếng kêu thét, những tiếng rên thảm thiết của loài vật vào 4 giờ sáng trước những mũi dao nhọn sáng loáng và những dòng máu nóng vọt ra đỏ tươi ngầu bọt.

Các bạn hãy cố gắng nghe đi! Để trái tim ta tỉnh táo dần, nó ngày một trong sáng, cao đẹp, ngời Đức Hiếu Sinh. Ta sẽ biết cần phải làm gì khi ta sống. Chúng ta không thể thiếu các loài vật ở bên. Để thử, đời hoàn toàn không có nó chúng ta rồi sẽ ra sao? Nhưng xin nhớ rằng, có nó và nó sinh ra không phải là để “vật dưỡng nhân”.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 25)

THÔNG TIN

☸ CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com

Email: [email protected]

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Trưởng lão Thích Thông Lạc.