ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
LCK 039A – (Nam) Định vô lậu xả tâm – Đạo đức Nhân bản – Nhân quả (Thanh Quang)

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

LCK 039A – (Nam) Định vô lậu xả tâm – Đạo đức Nhân bản – Nhân quả (Thanh Quang)

A A A

LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 039A

ĐỊNH VÔ LẬU XẢ TÂM – ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN – NHÂN QUẢ (THANH QUANG)

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh nam

Thời gian: 12/2005

Thời lượng: [37:44]

 

1- BA PHÁP ĐỂ TU HỌC: ĐỊNH VÔ LẬU, CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC, TỨ NIỆM XỨ

(00:00) Trưởng lão: Trước tiên, Thầy gởi cái quy ước lớp … trong Chánh Kiến, con. Con gởi cái này lại giùm Thầy.

Hôm nay Thầy xin nhắc lại, cái lớp học của chúng ta, thì lúc này chúng ta học Định Vô Lậu: quán xét tư duy về “Nhân quả” cho đến cái bài “Đạo đức làm người”.

Hôm nay thì chúng ta học đến “Tất cả các pháp đều vô thường”. Do chúng ta học hiểu như vậy để áp dụng vào đời sống của chúng ta.

Thì hôm nay, theo Thầy đọc những bài viết của mấy con, thì hầu như là có những cái bài mấy con viết rất là đi sâu vào cái sự áp dụng vào đời sống, để chúng ta xả tâm. Cái mục đích học Định Vô Lậu là để xả cái tâm chúng ta hoàn toàn được thanh tịnh.

Mục đích chúng ta hôm nay mà tu học thì nó cụ thể, nó rõ ràng; cho chúng ta thấy được chúng ta có ba cái pháp để tu học.

1.1- ĐỊNH VÔ LẬU

(01:02) Một cái pháp mà hiện giờ chúng ta đang tu tập, đó là lớp Chánh Kiến của chúng ta. Đó là, chúng ta học Định Vô Lậu.

Cho nên từ cái sự tư duy, quán xét, triển khai cái tri kiến chúng ta hiểu biết rất sâu; nếu mà chúng ta không hiểu biết sâu thì chúng ta không thể nào mà xả được cái tâm. Mà không xả tâm, mà tu tập không khéo thì chúng ta bị ức chế. Do cái sự ức chế đó mà chúng ta lạc vào con đường thiền mà không làm chủ được sự sống chết mà nó có xảy ra nhiều cái trạng thái.

Do muốn đạt được Chánh Định thì chịu khó “ly dục, ly ác pháp”; mà “ly dục, ly ác pháp” thì chỉ có xả tâm mà thôi. Mà nếu xả tâm không đạt được thì không thể nào có kết quả trong sự tu tập.

Nếu mà không có cái Định Vô Lậu xả tâm thì chúng ta không còn cái pháp nào khác để mà xả tâm. Bởi vì từng cái tâm niệm của chúng ta mà khởi lên trong đầu chúng ta là do tâm tham – sân – si của chúng ta mà có.

(02:07) Muốn xả được cái tâm tham – sân – si thì chỉ có Định Vô Lậu, chỉ có cái tri kiến của chúng ta. Cho nên hôm nay Thầy nhắc lại cái lời đức Phật dạy rất rõ ràng và cụ thể, nhưng chúng ta không lưu ý lời dạy đó, đó là chúng ta không hiểu. Đức Phật nói: “Tri kiến ở đâu là giới luật ở đó, giới luật ở đâu là tri kiến ở đó”.

Qua cái lời dạy này mà xét thấy quý thầy tu đúng hay là tu sai rất dễ dàng, bởi vì quý thầy đã học Định Vô Lậu tức là triển khai tri kiến của mình, cái sự hiểu biết của mình. Thế mà giới luật cứ phạm thì tức là quý thầy không có tri kiến. Còn nếu quý thầy có tri kiến thì giới luật quý thầy không sai.

Cho nên trong cái vấn đề mà tu học theo Phật giáo thì tất cả mọi cái người tu đúng là giới luật nghiêm chỉnh. Mà cái người tu không đúng là giới luật không nghiêm chỉnh. Do đó, chúng ta thấy giới luật Phật thì có cái giới luật phòng hộ mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý – tức là Độc cư.

Giới luật Phật thì có những cái giới là không ăn uống phi thời, không ngủ nghỉ phi thời. Thì như vậy rõ ràng là chúng ta phạm vào cái đời sống, cái đời sống của chùng ta: ăn, ngủ và độc cư. Mà phạm vào cái đời sống giới luật như vậy thì chúng ta tu không được.

Nhưng mà ở đây đức Phật đã bảo: “Tri kiến ở đâu là giới luật ở đó, giới luật ở đâu là tri kiến ở đó”. Vậy thì giới luật – chúng ta nhìn vào giới luật thì thấy chúng ta phạm giới. Thì như vậy tri kiến của chúng ta có ở đó không? Nếu mà tri kiến giải thoát có thì giới luật phải nghiêm chỉnh.

Cho nên ở đây quý thầy tu như thế nào thì người ta sẽ căn cứ vào giới luật mà người ta biết quý thầy có xả tâm, có làm chủ được tâm mình hay không. Mục đích của đạo Phật là làm chủ tâm. Vậy làm chủ tâm bằng cái gì? Bằng tri kiến của chúng ta chứ gì!

Mà nếu mà chúng ta làm chủ được tâm bằng tri kiến thì tâm chúng ta sẽ không có tham dục, không có sân hận, không có si mê. Nó rõ ràng và cụ thể. Mục đích của đạo Phật là làm chủ mà!

Cho nên mình làm chủ được cái ăn, cái sống, cái độc cư của mình không? Mà mình không làm chủ thì mình làm chủ được cái gì?

(04:10) Cho nên chúng ta đừng hiểu lầm rằng chúng ta ngồi thiền nhiều, ức chế tâm không vọng tưởng, sẽ đi vào Định. Cái đó không phải. Cái Định đó là tà Định chứ không phải Định của đạo Phật.

Đạo Phật nói: “Giới luật”, “Giới sanh Định”. Thì do chúng ta giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh được bằng tri kiến của chúng ta thì do đó nó sẽ có Định, chứ không phải Định do chúng ta ngồi ức chế hết vọng tưởng là Định. Cho nên từ xưa đến giờ người ta đã hiểu sai Phật pháp. Cho nên không ai tu tập mà làm chủ được sự sống chết.

Làm chủ – ở đây chúng ta tập làm chủ – thì làm chủ từ cái ăn, cái ngủ, cái độc cư. Mà làm chủ được bằng cái pháp gì? Bằng cái Định Vô Lậu, bằng cái tri kiến của chúng ta.

Hôm nay chúng ta học đúng, chúng ta có pháp Tri Kiến để triển khai, để chúng ta làm chủ được cái tâm của chúng ta. Mà làm chủ được cái tâm, mà cái tâm thanh tịnh thì nó có Tứ Thần Túc.

Nhưng bây giờ cái tri kiến của chúng ta, chúng ta hiểu biết như vậy nhưng khi chúng ta bị hôn trầm – thùy miên thì chúng ta làm sao mà phá nó đây? Không lẽ chúng ta ngồi quán, hôn trầm – thùy miên nó hết sao? Cho nên buộc lòng chúng ta phải có Chánh Niệm Tỉnh Thức.

1.2- CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC

(05:20) Mà trong Chánh Niệm Tỉnh Thức, Thầy đâu có cho quý thầy tu năm, mười phút, hay một giờ, hai giờ. Mà chỉ có một phút, một phút mà thôi. Nghĩa là nhiếp tâm và an trú tâm cho được một phút chứ đâu cần nhiều.

Một phút chắc ai cũng làm được, một phút hay dở gì Thầy nghĩ rằng cũng làm được chứ không phải khó khăn. Nhưng mà phải cố gắng tu tập! Coi nó dễ vậy chứ không phải dễ đâu. Từ một phút này cho đến một phút kia nó phải làm sao mà nhiếp tâm và an trú tâm cho được – đó là một phút căn bản nhất.

Trên bước đường tu tập chúng ta thấy chúng ta có phương pháp để tập tỉnh thức, nhiếp tâm – an trú. Như vậy chúng ta có pháp chứ đâu phải không và đồng thời, chúng ta lại còn có một pháp để chúng ta xả tâm.

1.3- TỨ NIỆM XỨ

(06:07) Xả tâm, nghĩa là chúng ta có Tứ Niệm Xứ. Trên Tứ Niệm Xứ chúng ta nhận ra được trạng thái của Tứ Niệm Xứ, tức là “thanh thản, an lạc, vô sự”.

Vậy thì hiện giờ chúng ta biết tâm chúng ta có thanh thản, thân chúng ta có an lạc và chúng ta có phải là người vô sự hay không? Chúng ta nhận thấy, biết mình rất rõ ràng, trong những danh từ này.

Khi nhận biết thì chướng ngại hoặc là tâm không thanh thản, hoặc là thân không an lạc thì chúng ta biết ngay liền. Và biết ngay liền thì chúng ta có những phương pháp sử dụng đẩy lùi tất cả những chướng ngại đó ra khỏi.

Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng chúng ta có pháp tu để đem đến sự bình an, “thanh thản, an lạc, vô sự” cho chúng ta mà không bị chướng ngại.

Như vậy, rõ ràng pháp chúng ta tu có thực, làm chủ thật, nhưng tại sao chúng ta không làm chủ? Tại vì chúng ta quá dễ dãi mà không chịu đem hết sức lực của mình để chiến thắng những cái tham vọng của mình, vì nghiệp lực của chúng ta quá nhiều.

Hôm nay được sự hướng dẫn của Thầy, thì quý thầy đến hôm nay hơn một tháng mấy rồi. Nhưng mà Thầy tin rằng hơn một tháng mấy, quý thầy đã nắm vững được cái đường lối tu tập cụ thể rõ ràng, không còn tu tập sai.

Hôm nay có nhiều người còn tu sai. Là tại sao quý vị tu sai? Tại vì quý vị hiểu sai mà tu sai. Chứ sự thật Thầy đã dạy rất rõ ràng.

Trong đây có những bài mà viết, Thầy thấy áp dụng vào đời sống chúng ta thấy rất là tuyệt vời. Như cái bài của sư Từ Quang, cái đoạn áp dụng vào đời sống thực tế rất hay mà cũng rất nhiều.

Các con thấy, quý thầy thấy, ở đây bao nhiêu trang giấy mà sư đã nói đến áp dụng vào đời sống của chúng ta. Thì chúng ta thấy một cái bài rất hay, biết cách áp dụng, biết cách sử dụng.

Và hầu hết một cái số người ở đây, chúng ta phải phân biệt được cái lối văn: cái lối văn bác học, và cái lối văn để mà… cái lối tư duy bác học; và cái lối tư duy để mà áp dụng vào Định Vô Lậu để xả tâm. Ở đây chúng ta nêu rất rõ để mà chúng ta thấy, đọc một cuốn sách chúng ta biết đây là văn bác học, cái văn mà có học thức, tích tập để viết ra.

Nghĩa là như các nhà học giả, họ nghiên cứu sách vở rồi họ viết ra, họ ghi chép lại, họ viết ra thành một cuốn sách, bằng cách họ tích tập những cái tư tưởng, bằng cái sự hiểu biết, bằng cái sự thông tin khắp mọi người trên thế giới này. Để rồi họ ghi chép lại với một đề tài với cái đề mục mà họ muốn nói, cho nên họ biến thành một cái cuốn sách.

(08:47) Thí dụ như về Thiền tông, có những nhà tiến sĩ học, có những nhà kỹ sư hay hoặc là bác sĩ, họ đều là những người có học thức rồi họ đọc kinh sách thiền. Rồi qua cái nghề nghiệp của họ, thí dụ họ là nhà khoa học, họ nghiên cứu về vấn đề gì đó rồi họ nghiên cứu sách Thiền. Thì họ ảnh hưởng cái điều kiện đó mà họ ghi chép lại thành một bộ sách mà nói về khoa học hay là vật lý học, hay hoặc là Thiền tông đã ảnh hưởng trong cái vấn đề họ nghiên cứu.

Mà những văn như vậy thì gọi là văn bác học. Nghĩa là gom góp lại tất cả những sự học của con người ở trên hành tinh này, cái nào hay thì ghi chép lại để làm, gọi là văn bác học.

Còn ở đây chúng ta, nó không phải là văn bác học mà là cái sự tư duy; văn của chúng ta viết ở đây là nhằm để thực hiện cái đạo đức vào cái sự sống của chúng ta. Cho nên rất đơn giản, người nào cũng có thể làm được, chúng ta không cần phải có cái sự học thức cao.

Nhưng với những người có trình độ kiến thức, học thức đều có thể áp dụng cái văn bác học mình vào trong cái sự tu tập của mình rất dễ dàng, không phải khó khăn. Bởi vì cái lối văn của nó để nói lên cái sự hiểu biết của mình rất rộng; là tại vì mình có học, có nghiên cứu, có nghe được tin tức những sự kiện xảy ra khắp nơi ở trên hành tinh sống của chúng ta. Chúng ta được nghe, được hiểu.

Còn một số người không được nghe, được hiểu; họ không có nghiên cứu, họ không có đọc kinh sách, họ không đọc sách báo nhiều. Cho nên họ chỉ viết ngắn gọn với đời sống của họ qua các pháp vô thường, qua nhân quả họ nói ra vẫn tác động rõ ràng, cụ thể vào đời sống tu tập của họ để xả tâm.

Điều quan trọng nhất là chúng ta dù là văn bác học hay là văn bình dân – cái sự hiểu biết bình dân của chúng ta – đều là áp dụng vào đời sống của chúng ta được giải thoát, đều là hay hết. Nhưng chúng ta cũng phải biết phân biệt cái loại văn bác học và cái loại văn bình dân của chúng ta.

(10:50) Cho nên ở đây, chúng ta đọc để mà chúng ta hiểu biết rõ, để khi đó chúng ta đi sâu vào cái Định Vô Lậu mà chúng ta tư duy. Tùy theo ở trình độ, khả năng của mọi người mà người ta sẽ hiểu biết rõ ràng, cụ thể. Chứ không khéo chúng ta nói: “À, sao người này viết hay quá!”. Sự thật hay mà không có thể áp dụng vào thì cũng không hay. Mà người này viết sao mà nghe nó dở quá, nhưng mà cái dở của người ta lại là cái thực tế của người ta để áp dụng vào đời sống giải thoát.

Cái mục đích chúng ta nhắm là làm chủ được cái tâm của chúng ta, không có cho nó tham, sân, si phiền não. Đó là cái mục đích chúng ta học cái bài Định Vô Lậu là như vậy.

Cho nên ở đây có một cái bài luận của Thanh Quang. “Bài làm Đạo đức Nhân bản – Nhân quả đầy đủ ý nghĩa nhưng đây chỉ là mới bước đầu, giới thiệu nền Đạo đức Nhân bản theo sự tóm lược để tiện áp dụng vào đời sống”. Đó là cái bài của Thanh Quang viết. Một số trang như thế này mà nói về Đạo đức Nhân bản, thì viết như thế này mà Thầy nói đây chỉ mới giới thiệu mà thôi. Mới giới thiệu vào cái nền Đạo đức Nhân bản mà thôi. Bởi vì nền Đạo đức Nhân bản nó rộng lắm, chứ không phải nó hẹp đâu.

Mà Thanh Quang viết thì mấy con biết, cây bút của Thanh Quang cũng không phải là cây bút bình dân đâu, có học thức đàng hoàng. Vì vậy mà Thầy mong rằng Thanh Quang hãy đọc cái bài này, để cho mọi người nhận xét qua cái hiểu biết và đồng thời cũng giúp cho mọi người tiến bước trên con đường tu về Định Vô Lậu.

Thanh Quang đọc cái bài, con!

Và kế tới thì mấy con sẽ đọc cái bài của Từ Quang, áp dụng vào cái đời sống. Thầy không nói cái bài của Từ Quang, cũng dài lắm, nhưng ở đây chúng ta sẽ thấy cái áp dụng.

2- ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN – NHÂN QUẢ LÀ NỀN ĐẠO ĐỨC CỐT LÕI CỦA CON NGƯỜI

(12:48) Tu sinh Thanh Quang: Đề bài: “Đạo đức Nhân bản – Nhân quả”.

Trong mọi hoạt động của đời sống con người, sinh hoạt hai mặt chủ yếu là vật chất và tinh thần. Trong hoạt động tinh thần, đạo đức có một tầm quan trọng đặc biệt bởi đạo đức có mặt và xuyên suốt trong mọi hoạt động con người. Nó là một trong những hình thái ý thức xã hội và được xếp vào kiến thức thượng tầng, vì nó tác động trực tiếp vào hạ tầng cơ sở. Nó có đặc thù riêng: vừa là kiến trúc thượng tầng, đồng thời cũng lại hạ tầng.

Đạo đức là gì? Hai từ này là từ gốc Hán đã được Việt hóa. “Đạo” dùng chỉ con đường; “đức” chỉ phẩm chất tốt đẹp của con người, ứng xử với con người và cộng đồng xã hội cũng như môi trường sống. Cho nên “Đạo đức” là con đường tư tưởng, là hành động sống của con người được thể hiện hàng ngày trong cách đối xử giữa con người và con người, con người với xã hội và thiên nhiên, môi trường sống. Nó là những vấn đề rộng rãi, bao trùm, khắp không thể diễn bày hết.

Con người từ khi còn đang sống thành bầy đàn, Đạo đức đã trở thành những điều cần thiết như đồ ăn, thức uống hàng ngày. Đi kiếm ăn, hái lượm, săn bắt đã nảy sinh các nhu cầu phải nhường nhịn, chia sẻ miếng ăn cho nhau: phải biết thương yêu không cậy mạnh hiếp yếu; không đánh đập, giết hại nhau; lớn phải nhường bé, trẻ phải nhường già và phải thân ái giúp đỡ, đoàn kết, tạo nên mặt bảo vệ nhau. Đó là những điều thiết yếu để đảm bảo cho cuộc sống được yên vui, cộng đồng sinh sống có trật tự. Những điều đó không phải là lệnh của người cầm đầu, không phải quy định, không có tính chất bắt buộc; nó xuất phát từ nơi tâm, tình yêu và trách nhiệm. Nó là cơ sở của nền đạo đức sau này.

(14:59) Xã hội loài người ngày càng phát triển vì của cải ngày càng gia tăng, nhu cầu sống càng phong phú, Đạo đức cũng ngày một phát triển, đáp ứng cuộc sống. Loài người đã trải qua các chế độ xã hội: Cộng sản Nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản và vừa qua một số nước đã bước vào thời kỳ quá độ của Xã hội chủ nghĩa.

Mỗi chế độ xã hội, người ta thiết lập một nền đạo đức phù hợp, can hệ vào phương thức sản xuất, phục vụ cho hệ tư tưởng, chính trị xã hội và quyền lợi của tầng lớp cầm quyền.

Do vậy, các nền đạo đức đều chịu sự tác động của hệ thống chính trị tư tưởng chi phối. Nó luôn vận động, phát triển và vô thường. Nó xuất phát từ mục đích quyền lợi thống trị nên mang tính dục, tính ác dù nó được coi là tiến bộ đến đâu đi chăng nữa.

Đạo đức chế độ Phong kiến nước ta là cốt lõi “Tam cương Ngũ thường”, nó ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của Khổng – Mạnh của Trung Quốc. Tam cương là quy định về ba quan hệ: vua – tôi, cha – con, vợ – chồng.

Quan hệ vua tôi là “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung”. Quan hệ của cha con là “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” hoặc “Muốn nói ngoa, làm cha mẹ mà nói”. Quan hệ vợ chồng là “Phu xướng, phụ tòng”, người phụ nữ phải Tứ đức Tam tòng: “Tại gia tòng phụ; Xuất giá tòng phu; Phu tử tòng tử”.

Hôm nay nhìn lại, ta còn thấy rõ cái vô đạo đức của một nền đạo đức đã kéo dài hàng ngàn năm với loài người. Vua chúa là tầng lớp ăn trên ngồi trốc, sống cuộc sống xa hoa, đài các trên mồ hôi nước mắt của muôn dân. Vua là Thiên tử, con của Trời. Trời là quyền lớn nhất, sau rồi đến vua. Quan là cha mẹ của dân, sinh ra để chăm sóc cho dân. Dân là quần chúng, quần chúng có nghĩa là bầy đàn, như đàn cừu, đàn ngựa chẳng hạn. Đó là quan điểm đạo đức, là sự nhìn nhận phân biệt đẳng cấp con người của chế độ phong kiến.

(17:20) Vua được gọi là bậc Minh quân, đã là vua là Minh quân nhưng thật ra triều đại nào cũng không ít hôn quân và tà quân. Trước nhất, lại là một con người, một phàm nhân, cả ba nơi thân, khẩu, ý của Thiên tử là nơi tột đỉnh quyền lực, nên cái ác phát ra cũng tột đỉnh. Thế gian coi chuyện năm thê bảy thiếp đó là bất công, lạc hậu, tội ác; nhưng những “Minh quân”, vị nào cũng vài chục mỹ nữ cung tần, ngày đêm đắm mình trong tửu sắc hoan thú mà lại bảo là: “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” thì thật là nực cười. Đâu còn là công lý, là đạo đức.

Người phụ nữ bị cột chặt vào cha – chồng – con “như xe theo trâu kéo”. Họ chỉ còn là công cụ của gia đình và xã hội. Tư tưởng đó sao được gọi là đạo đức?

Đạo đức chế độ Tư bản đề ra “cái tôi”, hô hào giải phóng “cái tôi”, nên “cái tôi” mới nổi lên cán hết cả công lý. Xã hội tư bản tất cả là tiền, mọi giá trị đều có thể đo bằng tiền: “Có tiền mua tiên cũng được”. Con người đối mặt với tiền, tham đắm trong vật chất, ngày càng trở nên lạnh lùng, băng giá. Một xã hội mà “cái tôi” được kích động phát triển tự do đến tột bực: tham – sân – si sẽ chất ngất, xung đột cá nhân, mâu thuẫn, đối kháng xã hội càng ngày càng nổ ra quyết liệt, chiến tranh, xâm lược, xâm chiếm thị trường, bóc lột, khai thác thuộc địa sẽ là tất yếu.

Tất cả những vấn đề trên cho thấy, dù bất cứ nền đạo đức nào – tuy xã hội sau tiếp thu, kế thừa và tiến bộ hơn xã hội trước – nhưng dù có tiến bộ đến đâu đi chăng nữa, nền đạo đức ấy cũng không thể là cao đẹp, chân thực, và chân lý.

Không phải chân lý vì nó vô thường, vì nó sinh ra trong tham dục, và quay lại phục vụ tham dục. Nó không phải chân lý bởi nó không vững mạnh. Nó là “cần”, là đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện tại nhưng chưa “đủ”, chưa hoàn toàn mang đến sự an vui, hạnh phúc cho con người.

(19:43) Vậy thì nền đạo đức chân lý và vững mạnh ấy ở đâu? Và nó ra sao? Xin thưa, nó ở mọi chỗ, mọi nơi, mọi lúc trong toàn bộ hoạt động đời sống hàng ngày của con người. Nó là “Đạo đức Nhân bản – Nhân quả”. Nó như vàng, vốn nằm sẵn trong đất mà bấy lâu ta không biết đường để lấy.

Vậy “Đạo đức Nhân bản – Nhân quả” là gì? “Nhân” là từ đã được Việt hoá, gốc của nó là chữ hán. “Nhân” chỉ con người, còn “bản” là gốc. Có ba nơi xuất phát hành động tốt, xấu của con người là thân – khẩu – ý. Ba nơi này đều từ con người nên được gọi là “nhân”. Nó từ chỗ ấy mà ra và lấy chỗ đó làm gốc, nên được gọi là “bản”. Góp chung lại hai khái niệm thành cụm từ “Nhân bản”.

Từ ba nơi thân – khẩu – ý, xuất phát muôn vàn hành động thiện và ác. Hành động ấy là “nhân”. Tiếp theo hậu quả của hành động ấy – khổ hay vui – thì gọi là “quả”. Các từ này liên kết nhau thành cụm từ “Nhân bản – Nhân quả”. Cái lõi chính, cái bản chất và đặc trưng của Đạo đức Nhân bản – Nhân quả là gì? Đó là: “Sống không làm khổ mình, khổ người”.

Nếu mọi người đều biết, ý thức điều đó trước khi hành động thì toàn bộ hoạt động của con người trên hành tinh này đều là đạo đức. Mọi người được sống thanh thản an vui, xã hội phồn thịnh, thế gian thành Thiên Đường. Mọi người đều sống không làm khổ mình, khổ người thì đau khổ sẽ hết, chỉ còn lại là vui. Sống không làm khổ mình, khổ người thì có chữ “không”. Đó là “không”, là phương châm, là cốt lõi Đạo đức Nhân bản – Nhân quả.

(21:32) Đơn giản như một bước đi, bước đi vội vàng không nhìn xuống, giẫm càn làm chết con sâu, con kiến. Bước chân đã gây oằn oại khổ đau, thế là bước chân thiếu Đạo đức Nhân bản – Nhân quả. Đi theo ý thức tỉnh giác, bản thân thanh thản, không gây chết chóc, đau đớn cho côn trùng là Đạo đức Nhân bản – Nhân quả. Một cái liếc mắt nhìn ngang hoặc nhìn chằm chằm gây cho người khác sự khó chịu, thế là thiếu đạo đức.

Hoặc dễ nhận ra việc làm có đạo đức hay không một khi ta biết tự hỏi mình: “Đó là việc thiện hay ác?”. Nếu không làm khổ mình, khổ người – đó là việc thiện, thuộc đạo đức. Nếu ta làm khổ người, hoặc cả hai cùng khổ là ác, tức thiếu đạo đức hoặc không có đạo đức.

Sống giữa làng xóm, cuối phố, anh A mở đài to hoặc thích nghe ca hát, vặn âm lượng hết cỡ, khiến cho bao người sống chung quanh khổ sở vì không thích nghe mà vẫn phải nghe. Họ đang cần yên tĩnh mà không được yên tĩnh. Thậm chí ốm đau đang cần được không khí, im lặng thì phải chịu đinh tai nhức óc. Thế là hành động mở đài đã trở thành hành động vô Đạo đức Nhân bản – Nhân quả.

Nhỏ như một túi nilon, bánh trái ăn xong vứt bừa bãi; làn khói thuốc lá phả ra ở chỗ đông người; một cái hắt hơi thiếu kiềm chế khiến người ngồi cạnh giật mình. Những chuyện đó nếu đem đối chiếu không làm khổ mình, khổ người thì nó sẽ hiện ra ngay như một vật đặt trước gương, có hay không có Đạo đức Nhân bản – Nhân quả.

Cũng như thế, ta xem một người thầy thuốc. Ông ta được xã hội đào tạo để thành người có nghề nghiệp; tri thức mà ông có chính là trí tuệ của bao lớp người đi trước. Tay nghề ông giỏi, chính là kinh nghiệm máu xương của bao người để lại gửi gắm cho đời sau. Ông là bác sĩ, có nhiệm vụ quay lại phục vụ cộng đồng xã hội. Bổn phận ấy ông làm chưa tốt hiệu quả chưa cao, bệnh nhân chậm khỏi. Chỉ thế thôi cũng đã là thiếu đạo đức nghề nghiệp và tinh thần phục vụ.

(23:48) Chưa nói chuyện đến khám bác sĩ, trước phòng làm việc dán khẩu hiệu to tướng: “Lương y như từ mẫu” nhưng việc làm thì ngược lại. Bệnh nhân vào bệnh viện, họ cần đến mà không có phong bì kèm theo thì lạnh nhạt, thờ ơ, sống lãnh đạm, thản nhiên trước nỗi đau đớn trước nước mắt và tiếng kêu rên thảm thiết của con bệnh.

Kẻ ốm đau là kẻ đang trong cơn hoạn nạn, thân xác đớn đau, tiền tài hao tổn, nhiều khi phải vay mượn nợ lãi trước cái chết rập rình, đe dọa. Trong lo âu, buồn khổ, lúc ấy con người mới cần, mới thấm thía sự cảm thông, an ủi của đồng loại. Họ khát khao tình thương như hòn vôi tôi khát nước, nhưng chính lúc ấy họ lại là đối tượng, là lúc làm tiền cho kẻ bất lương được mệnh danh chữa bệnh cứu người. Đó là hành vi cực kỳ vô đạo đức!

(24:49) Nhân sư bách nghệ – nghề dạy học xưa nay là nghề cao quý, nghề được xã hội tôn vinh, gọi người dạy là “thầy”. Họ là người khai sáng, mở mang trí dục – là công việc giáo dục, đào tạo con người để thành những thành viên hữu ích cho xã hội.

Nhưng hôm nay, không ít ông bà thầy trên lớp cốt dạy cho hết giờ; đầu óc tri thức, nhiệt tình thì dồn vào chỗ dạy thêm để kiếm tiền. Họ nghiễm nhiên coi đó là cơ chế thị trường. Trong khi đó mức lương ngành giáo dục đã được xã hội ưu tiên dành cho cao hơn so với nhiều ngành nghề khác. Lại còn có những trường hợp thật xấu hổ, khi trò không có điều kiện đóng góp tiền học thêm, thầy phản ứng tỏ luôn thái độ lạnh nhạt, dửng dưng hoặc “không có tiền không cho học”.

Đó là những hành động ác. Vì lợi mình làm khổ người nên không thể có Đạo đức Nhân bản – Nhân quả. Làm đúng bổn phận, làm nhiệt tình, tức là đạo đức. Thái độ sống chỉ biết mình, không cần biết đến người như những điều trên, hôm nay phổ biến ở khắp chỗ này chỗ kia trên mọi lĩnh vực cuộc sống.

Đạo đức cách mạng dạy người cán bộ phải là đầy tớ trung thành của dân. Nhưng dân có việc đến, xem chỗ nào cũng gặp những chướng ngại cửa quyền, quan liêu, hách dịch, tắc trách. Có quyền nên mới cửa quyền. Họ không cần nguyên tắc, không cảm thông nỗi khổ của người đến xin phép. Quà cáp, đút lót, phong bì đã trùm lên công lý và đạo đức. Nếu biết bỏ hết những thói xấu ăn đút lót, hết lòng phục vụ nhân dân thì như thế là sống có đạo đức.

Hôm nay, thói ác ấy cũng được thế tục hóa luôn cả ở nơi Tam Bảo. Không thiếu gì các Phật tử giàu có, cúng dường nhiều tiền thì được thầy chùa săn sóc, mời mọc, bưng ghế đon đả chào mời. Cùng lúc đó, kẻ nghèo khổ đến Tam Bảo – lễ vật đơn sơ – thì được thầy chùa lặng lẽ nhìn xuống, ai đại phước duyên mới được Thầy ban câu: “Mô Phật”.

Hành vi ứng xử ấy làm buồn, làm khổ lòng người. Làm kẻ giàu có thêm cao ngạo, vênh vang; người nghèo khổ tủi phận. Đó là những hành động ác, không có Đạo đức Nhân bản. Không làm như vậy là bình đẳng, là đạo đức.

Tất cả các hành động trên đây đều rơi vào: “vừa làm khổ mình, vừa làm khổ người” hoặc “làm khổ mình” hoặc “làm khổ người” – đều là không có Đạo đức Nhân bản – Nhân quả. Không rơi vào đó là sống có đạo đức.

(27:35) Đạo đức Nhân bản – Nhân quả là đạo đức xuất phát từ chỗ: “Không làm khổ mình, không làm khổ người”. Nó cũng được kiểm nghiệm là xem đúng hay không đúng là ở chỗ ấy – chỉ một mục đích, một bản chất duy nhất đó. Nó không hề nhằm phục vụ cho một giai cấp, một chế độ hoặc một hệ tư tưởng nào; nhưng ngược lại, bất cứ chế độ xã hội nào cũng cần nền đạo đức với những hành động mang bản chất tình thương chân thật đó.

Vì thế nó tồn tại và đi suốt thời gian, đi với loài người qua mọi chế độ xã hội, qua bao thăng trầm mà không bị đổi thay. Nó chỉ một mực không làm khổ mình, khổ người. Đấy là Đạo đức Nhân bản – Nhân quả, là chân lý. Nó tồn tại vĩnh hằng, mà cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ ra. Và đức Thầy Thích Thông Lạc, bậc A la hán, làm cho nó sống lại với loài người.

Mọi nền đạo đức được sinh ra phục vụ cho một chế độ xã hội bất kỳ, đều phải chết đi theo chế độ xã hội đó khi kết thúc. Nếu còn lại thì là những tàn dư, những mảnh rơi rớt, cũng giống như cây đã bị đánh bật gốc thì cành lá phải héo khô. Chế độ Tư bản đã kết án chế độ Phong kiến. Tư bản hò hét giải phóng con người, giải phóng sức sản xuất, đề cao vai trò cá nhân thì tiếp đó chế độ Xã hội chủ nghĩa tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân, xây dựng đạo đức “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”. Hôm nay, dù Xã hội chủ nghĩa hoặc Tư bản cũng đều không thể chấp nhận đạo đức: “Tại gia tòng phụ; Xuất giá tòng phu; Phu tử tòng tử”.

(29:26) Nhưng “Đạo đức Nhân bản – Nhân quả, không làm khổ mình, không làm khổ người” thì dù Tư bản hay Xã hội chủ nghĩa cũng không thể phủ nhận. Cho đến lúc loài người di cư lên hành tinh khác thì vẫn phải mang theo, vì tư tưởng đạo đức ấy là trí tuệ, là chân lý. Nó thực sự mang đến cho con người cuộc sống an bình, hạnh phúc, xã hội trật tự văn minh, phồn vinh và thịnh trị.

Tư tưởng đạo đức đó muôn thuở không bao giờ trở thành lạc hậu. Nó mãi mãi là mặt trời với nguồn sáng vô tận là chân lý. “Đạo đức Nhân bản – Nhân quả” thể hiện bình đẳng giữa con người và con người; không phân biệt giàu nghèo, sang hèn; không kể màu da, sắc tộc, tôn giáo; thước đo văn minh hay chậm tiến. Không chỉ thế, Đạo đức Nhân bản – Nhân quả với tinh thần “không làm khổ mình, khổ người” đã tạo nên tình thương yêu gắn bó, tôn trọng sự sống muôn loài, từ cỏ cây, chim muông, cầm thú.

Chỉ có Đạo đức Nhân bản – Nhân quả mới coi trọng, yêu thương và bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn vệ sinh môi trường sống như vậy. Cũng từ những việc đó, Đạo đức Nhân bản – Nhân quả đã thực sự nâng con người trở nên cao thượng. Con người vốn từ động vật mà ra, vốn là động vật cao cấp nhất thì vẫn còn tính vật. Trong cụm từ “con người” vẫn có một từ chỉ “con”. Loài thú bản chất là độc ác, ngu si, hung dữ, chúng sống bằng sự săn cướp mồi, bằng sự sát hại nhau. Con người thoát ra từ chỗ thú nên trong nhiều hành động vẫn mang tính thú. Muốn làm người đúng nghĩa con người, tức là hết hẳn bản chất thú. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã ân tình chỉ cho con người những tiêu chuẩn để thực sự làm người, đó là Năm giới và Mười thiện.

Mười thiện là mười hành động gốc xuất phát từ ba nơi thân – khẩu – ý trên cơ thể con người. Đấy chính là nơi sinh ra toàn bộ mọi hành vi đạo đức và vô đạo đức.

(31:36) Con người biết sống “sinh thiện, diệt ác”, biết lấy phương châm “không làm khổ mình, khổ người” soi rọi mọi hành động thì mọi hành vi đều trở nên Đạo đức Nhân bản – Nhân quả. Đó là con đường dẫn người ta vượt lên, từ bỏ, giũ sạch bản chất cầm thú và trở thành cao thượng. Ở đấy, con người sống yêu thương, chia sẻ, đùm bọc, xót thương đồng loại, biết xấu hổ, biết sửa mình, sống có đạo lý, ngày càng triển khai trí tuệ thông minh, làm chủ bản thân, vượt lên mọi sự chi phối của luật nhân quả và làm chủ sinh – già – bệnh – chết.

Đâu đó, có nơi, có lúc, có người cho rằng cuộc sống vật chất phồn vinh thì mới có hạnh phúc. Quan niệm đó là sai. Không ít người đã lênh đênh vượt biển ra đi, một sống hai chết để mong những ngày giàu sang, đầy đủ tiện nghi. Nhưng rồi chính họ đến lúc có dư vật chất mới thấm thía hơn ai hết nỗi cô đơn, lạc lõng, buồn thương, khao khát nghĩa tình. Đến lúc đó, họ hiểu thấm thía giá trị tinh thần, tình yêu quê hương Tổ quốc, mảnh đất chôn nhau cắt rốn, mảnh đất ông cha yên nghỉ, phong tục tập quán, truyền thống đấu tranh, lịch sử thấm đượm máu và nước mắt của dân tộc.

Vật chất và tinh thần là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất. Chỉ một mặt phát triển (thì) không khác gì người chỉ mọc có một chân, còn một chân khuyết tật. Đời sống đạo đức và đời sống vật chất phải phát triển song song và tương ứng. Nếu không vậy, chúng ngược chiều nhau là một thảm họa.

Gia đình, khi nghèo khó mới biết con cái có học hay thiếu học. Anh chị em trong một nhà, có đứa thân nhau đến mọi đường – chia nhau củ sắn củ khoai, tấm áo mặc chung – lớn lên mới thấy thấm đậm tình thương. Sống trong cảnh giàu có, nhung lụa, của ăn không hết, mọi cái đã có người phục vụ – lớn lên nghĩa tình không hề sâu nặng, ai cũng chỉ quen lo cho chính bản thân mình.

(33:50) Trong chiến tranh giải phóng dân tộc vừa qua, mọi người đứng tài sản đều như nhau: chỉ một chiếc ba lô, hai bộ quần áo, không dùng tiền, trước mặt một con đường sống – chết thất thường; nhưng con người gắn bó nhau như ruột thịt. Hòa bình rồi, người giàu lên, kẻ nghèo khổ; người quan tước, kẻ cùng đinh nhưng lại ngăn cách, lạnh lùng, tủi hận, tình cảm tốt đẹp tắt lịm dần.

Trong xã hội Phong kiến, một khi các triều đại suy vi, dân tình đói khổ, con người tự liên kết lại với nhau chống áp bức bóc lột, họ sống chết quên mình vì nhau. Bao cử chỉ hành động đạo đức sống cao thượng nảy sinh.

Từ nguy nan, gian khó, tình cảm đạo đức con người trở nên cao đẹp, trong sáng. Họ luôn là một khối thống nhất trong tư tưởng và hành động. Nhưng khi cuộc sống đã an bình, xã hội phân hóa thành giàu nghèo, đẳng cấp – trăm ngàn mâu thuẫn, xung đột lại nảy sinh, chia rẽ.

Cái bệnh muôn thuở của con người là tham muốn, ham muốn tột độ và cũng không bao giờ thỏa mãn tột độ. Có nhà tranh, người ta ước nhà ngói; có nhà ngói, ước nhà tầng; có nhà một tầng lại muốn nhà năm, mười tầng. Khi đi xe đạp thì ước xe máy; có xe máy, ước ô tô; có ô tô rồi khốn khổ với chuyện mốt này mốt nọ. Cuối cùng, chẳng có mốt nào thoả mãn với bản chất tham dục, chạy theo dục.

(35:33) Sống theo lối sống vật chất nên cuộc sống hôm nay ở các nước phát triển, bãi rác trở thành núi rác; núi xe cộ máy móc, thậm chí còn mới tinh, sơn nhãn còn sáng bóng đã được thải bởi thị trường loại mới vừa ra đời. Cứ như thế, đồ bãi rác được chuyển đến những nước nghèo, anh này nhả bã lại có anh khác hứng. Khi con người đã vào vòng xoáy sống hưởng thụ cá nhân, đắm trong danh lợi, tiền tài thì đạo đức ngày càng mờ nhạt, mất dần và cái còn lại sẽ là vô đạo đức.

Tư tưởng chiếm đoạt mạnh gấp trăm ngàn lần đức hy sinh, cống hiến hoặc bổn phận. Khi ấy, con người bước đến chặng huỷ diệt nhanh như hòn đá từ đỉnh núi bắt đầu lăn. Không thể có chuyện đời sống vật chất càng phồn thịnh thì con người càng hạnh phúc. Tất nhiên, hạnh phúc không đồng nghĩa với năng suất lao động thấp, nghèo đói, xác xơ. Nhưng một điều hiển nhiên, giàu có phồn vinh về vật chất mà không có đạo đức là sự phồn vinh kề bên vực thẳm. Thảm họa diệt chủng, từ hạt nhân nguyên tử, từ gốc tham – sân – si như thuốc độc cực độc đã ngầm trong túi áo của con người.

Nhưng nếu mức sống còn thấp, còn chậm tiến mà con người biết sống đạo đức, đề cao đạo đức thì cuộc sống mới an vui, hạnh phúc, thanh thản, tốt lành; và biết cách không có hận thù, chia ly, đổ máu.

Thế nên, đạo đức luôn phải được đặt lên hàng đầu cuộc sống sống xã hội và mỗi cá nhân. Từ đó, nó toả sáng điều chỉnh mọi hành vi và dẫn dắt con người trên đường tiến hóa. Nhưng đó phải là nền Đạo đức Nhân bản – Nhân quả, chứ không thể là thứ đạo đức chung chung hoặc đạo đức phục vụ cho một giai cấp hay một tập đoàn thống trị nào.

Đạo đức Nhân bản – Nhân quả mới chính là chiếc la bàn cho con người trong đêm tối, giữa cánh rừng mịt mùng và Vô minh.

Dạ hết!

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 22)

THÔNG TIN

☸ CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com

Email: [email protected]

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Trưởng lão Thích Thông Lạc.