(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)
LCK 037C – (Nam) Quán thân vô thường (đọc bài của Nguyên Thanh)
LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 037C
QUÁN THÂN VÔ THƯỜNG
(ĐỌC BÀI CỦA NGUYÊN THANH)
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Người nghe: Tu sinh nam
Thời gian: 20/12/2005
Thời lượng: [37:39]
Bài làm:
Quán Thân vô thường (Nguyên Thanh)
1- DÀN BÀI THÂN VÔ THƯỜNG
(00:00) Trưởng lão: Còn đây là cái bài chúng ta học tới. Bây giờ nói về, bởi vì nói về Nhân quả rồi thì phải học đến cái Vô thường – Các pháp vô thường. Các pháp vô thường, thì đầu tiên mình phải – thay vì mình quán các pháp thì mênh mông lắm – mình xoáy ngay vào cái thân của mình thôi. Bây giờ, tuần sau cũng vào cái ngày này, mấy con sẽ nộp bài cho Thầy là cái bài: Thân vô thường. Các con nhớ cái đề tài “Thân vô thường”. Mấy con nói về cái thân vô thường của mấy con. Bắt đầu đây là xoáy vào để mà phá cái ngã của mấy con đây.
Cái bài này là diệt cái ngã của mấy con: “Thân này không phải là ta, không phải của ta, không phải bản ngã của ta, không phải tự bản ngã của ta”. Đây là, bắt đầu cái bài này là cái bài phá cái thân, không còn ngã mạn, không còn chấp thân nữa. Nó là cái bài mà nói để mà đi sâu vào, để mà chúng ta phá cái ngã của chúng ta. Cho nên cái bài là Thân vô thường.
Vậy thì, cái bài này của bên giới nữ đã được đọc. Thì cái bài này nó có dàn bài. Cái bài viết này nó có cái dàn bài, mấy con, để chúng ta sẽ dựa vào dàn bài này mà chúng ta làm nó không sai, do nói về cái thân vô thường.
“Bài làm Thân vô thường là dàn bài để mọi người dựa vào quán xét thân vô thường không lạc đề”. Đó là cái phần Thầy phê bình cái người mà viết cái bài này. Họ viết cái bài này là nó đúng theo cái dàn bài mà Thầy đã hướng dẫn cho họ viết. Cho nên họ viết không có lạc.
Vì vậy mà muốn cho chúng ta hiểu cái dàn bài này thì chúng ta sẽ không có lạc cái đề của nó. Thì ở đây có ai đọc giùm Thầy cái bài này không? Để chúng ta nghe rồi chúng ta biết cách để mà chúng ta làm cho nó đừng có lệch, đừng có lạc đề; mà nó xoáy vào đúng cách của nó để cho thấy được cái thân vô thường của chúng ta qua những cái hình ảnh nó cụ thể, nó rõ ràng. Chứ không khéo chúng ta nói nó không có rõ ràng. Vậy ai đọc giùm Thầy. Pháp Ngộ đọc được không?
Tu sinh Pháp Ngộ: Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Thầy, con sư Pháp Ngộ xin đọc. Dàn bài của “Thân vô thường”.
2- THẾ NÀO LÀ THÂN VÔ THƯỜNG
(02:33) Chúng ta đã là chúng sanh thì ít nhiều đều có tham vọng. Lòng tham vọng ấy bám víu chặt chẽ vào sự vật mà chúng ta đã cấu tạo, nắm bắt được. Chúng ta chỉ buông thả chúng ra sau khi trút hơi thở cuối cùng. Nói cho đúng, không phải đến phút cuối cùng chúng ta mới chịu buông thả mọi vật, chúng ta vẫn cứ muốn nắm giữ chúng mãi, nhưng chính chúng đã rời bỏ chúng ta mà đi. Chúng ta đã bất lực không còn đủ sức để nắm giữ chúng nữa, nên đành buông xuôi tay để chúng tuôn đi.
Chứ nếu còn hơi thở, chúng ta vẫn còn muốn nắm lại và lưu giữ một cách tuyệt vọng những gì đã nắm được. Suốt đời chúng ta vẫn lặp đi lặp lại mãi cái cử chỉ nắm bắt, giữ gìn ấy. Và suốt đời, biết bao nhiêu lần chúng ta đã đau khổ, thất vọng vì mọi sự vật ở đời không bao giờ chiều theo ý muốn của chúng ta, mà chịu ở yên một chỗ. Mỗi sự vật đều luôn luôn chuyển đổi, mỗi sự vật đều luôn luôn biến đổi, biến chuyển, đổi thay, nay đây mai đó như một dòng sông, như một đám mây, như một vó ngựa. Thời gian trôi qua như thế nào thì mọi vật cũng trôi qua như thế ấy. Nói theo danh từ nhà Phật, thì sự chuyển biến, đổi thay ấy gọi là định luật vô thường.
(05:03) I- Thế nào là định luật vô thường?
Đức Phật dạy: “Tất cả những gì trong thế gian đã biến đổi hư hoại đều là vô thường – một sự thay đổi để lớn và một sự thay đổi để chết”.
Vậy “vô thường” nghĩa là không “thường” – không mãi mãi ở yên trong một trạng thái nhất định, luôn luôn thay hình đổi dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến đi rồi tan rã.
Đạo Phật gọi là những giai đoạn thay đổi của một vật là Thành – Trụ – Hoại – Không, hay gọi là Sanh – Trụ – Dị – Diệt. Như một làn sóng, khi mới nhô lên gọi là Thành, khi nhô lên cao nhất thì gọi là Trụ, khi hạ dần xuống thì gọi là Hoại, khi tan rã thì gọi là Không. Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ như hạt cát đến lớn như trăng sao đều phải tuân theo bốn giai đoạn ấy cả, nên gọi là vô thường.
Để có một ý niệm rõ ràng hơn về sự vô thường, chúng ta hãy quan sát, suy nghĩ ngay cái Thân của chúng ta, cái Tâm của chúng ta và hoàn cảnh của chúng ta đang sống, thì sẽ biết.
3- DIỄN BIẾN CỦA THÂN VÔ THƯỜNG
(06:39) II- Thân vô thường
“Thân tôi mạnh khỏe luôn trẻ đẹp mãi và đời tôi là cả một bài thơ”… ấy là quan niệm nông nổi của một số nam nữ thanh niên quá yêu chuộng thân thể.
Họ sống một cách vô tư, cứ tưởng thân thể họ trẻ mãi, hay nếu có già thì cũng còn lâu lắm.
Không ngờ rằng nó già, nó chết từng giây từng phút. Câu thơ sau đây của người xưa thật đã nói lên sự thay đổi mau chóng của thân ta.
“Quân bất kiến
Cao đường minh kính bi bạch phát,
Triêu như thanh ti, mộ thành tuyết.”
Dịch là :
“Anh không thấy
Cha già soi gương buồn tóc bạc,
Sớm còn như tơ xanh, tối đã trắng như tuyết.”
Khoa học đã chứng minh rằng trong thân thể ta, các tế bào thay đổi luôn và trong mỗi thời kỳ bảy năm, là các tế bào cũ hoàn toàn đổi mới. Sự thay đổi ấy làm cho thân người chóng lớn, chóng già và chóng mệt. Thân năm trước không phải thân năm nay, thân ban mai không phải thân buổi chiều. Mỗi phút giây trong thân ta đều có sanh và có chết.
Sau đây là phần trình bày của Thân vô thường rất có ý nghĩa để chứng minh sự vô thường của thân xác.
(08:29) 1- Thân vô thường trong thai mẹ sanh ra: Do sự giao hợp giữa người cha và người mẹ nên đã thụ thai. Người sanh và cả người bị sanh đều đau khổ cả. Khi người mẹ mới có thai đã bắt đầu biếng ăn, mất ngủ, nôn ọe, dã dượi, bần thần. Thai nhi mỗi ngày mỗi lớn, co đạp thì người mẹ mỗi ngày mỗi mệt mỏi, nặng nề, đi đứng khó khăn, làm lụng chậm chạp. Đến khi gần sanh, sự đau đớn của người mẹ không sao nói hết. Dầu được thuận thai đi nữa, mẹ cũng phải chịu nhơ uế nhiều ngày, yếu đuối nhiều tháng. Vì tinh huyết hao mòn, ngũ tạng suy kém. Còn rủi bị nghịch thai, thì mẹ phải bị mổ xẻ đau đớn nhiều nữa. Có khi sau một lần sinh bị giải phẫu, người mẹ phải chịu bệnh tật suốt đời.
Còn đứa con thì sao? Từ khi mới tượng hình cho đến lúc ra chào đời cũng phải chịu nhiều điều khổ sở. Trải qua chín tháng mười ngày, đứa con bị giam hãm trong khoảng tối tăm, chật hẹp còn hơn cả lao tù. Mẹ đói cơm khát nước thì đứa con ở trong thai bào lõng bõng như bong bóng phập phều. Mẹ ăn no thì con bị ép như bòng bột bị đè dưới thớt cối, khó bề cựa quậy.
Đến kỳ sinh sản, thân đứa con phải chen qua chỗ chật hẹp như bị đá ép bốn bề, nên khi vừa thoát ra ngoài thì cất tiếng khóc vang: “khổ a, khổ a!”. Thật đúng như hai câu thơ của nhà thơ Ôn Như Hầu (Nguyễn Gia Thiều) nói: “Thảo nào lúc mới chôn nhau / Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.”
(10:50) Thân vô thường từ lúc 1 tuổi đến 10 tuổi: Từ lúc sinh ra, đứa bé đã phải tự điều chỉnh cơ thể của nó để có sự thích nghi với đời sống ở bên ngoài chứ không giống như trong bào thai mẹ. Đứa bé được bú sữa mẹ; còn khi ở trong bào thai…
(Nội dung đọc bị sót một trang).
… Giới tính đã phát triển đầy đủ. Bây giờ, là một thiếu nữ biết suy nghĩ, biết vui, biết buồn, biết giận hờn khi có chuyện không vừa ý xảy ra với nó.
Cơ thể phát triển ở độ tuổi này rất sung mãn, người xưa có nói: “Tuổi mười bảy là tuổi bẻ gãy sừng trâu”. Rất mạnh khỏe: mắt sáng, tai thính, hàm răng chắc chắn, cơ thể dẻo dai, có sức chịu đựng rất tốt, ít bệnh tật, nếu có bệnh thì cũng rất mau lành. Vì còn trẻ, cơ thể có sức đề kháng mạnh, tóc đen nhánh, trí nhớ rất sáng suốt, mau nhớ. Đi đứng mạnh bạo, nhanh nhẹn, da dẻ hồng hào, xương tay, xương chân đều vững chắc. Tính tình vui vẻ, thoải mái, ăn nhiều, ngủ nhiều. Đó là sự chuyển đổi của thân vô thường từ một đứa bé mới sinh với sự thay đổi của thời gian mà nay đã thành một thiếu phụ mạnh mẽ.
(12:27) Từ tuổi 50 đến 70 tuổi, cơ thể cũng có sự thay đổi theo nhân quả của mỗi người đã tạo tác từ phía trước. Cho nên ở tuổi này, có người đã già, có người vẫn khỏe mạnh, có người đã chết. Cho nên, chúng tôi chỉ trình bày những phần đại cương thôi chứ không đi vào chi tiết cụ thể, vì phần đó chúng tôi sẽ trình bày trong bài Nhân quả về con người.
Ở lứa tuổi 50 – 70 này, cơ thể cũng có sự thay đổi nhưng vẫn còn khỏe mạnh. Sự dẻo dai không bằng độ tuổi 20, vì cơ thể mỗi ngày bị hao mòn lần lần. Ở độ tuổi này, tất cả mọi sự hoạt động trong thân đều đã có bị giảm sút.
2- Thân vô thường khi về già
Ca dao Việt Nam có câu nói rằng:
“Già nua là cảnh điêu tàn,
Cây già cây cỗi, người già người suy.”
Con người đến lúc già, thân thể hao mòn, tinh thần suy kém nên khổ cả thể xác lẫn tinh thần.
(13:57) Từ 80 đến 90 tuổi, càng già khí huyết càng hao mòn. Bên trong, ngũ tạng lục phủ càng ngày càng mỏi mệt, hoạt động một cách yếu ớt. Bên ngoài, các giác quan dần dần hư hoại như mắt lờ, tai điếc, mũi nghẹt, lưỡi đớ, trí nhớ kém, răng rụng hết, ăn ít, ngủ khó. Về già, thân hay có bệnh, nhưng nếu có bệnh thì cũng rất lâu lành vì sức đề kháng trong thân đã giảm. Tính tình cau có, hay giận dữ. Xương tay và xương chân đều giòn và mau gãy. Sức chịu đựng của thân rất yếu, tay chân run rẩy, đi đứng khó khăn, việc gì cũng phải nhờ vả kẻ khác.
Đã vậy, mỗi khi thời tiết xoay trở, thì cảm nhiễm theo khí hậu mà đau ốm. Như trời mới nắng thì đã sốt, trời mới mưa thì đã rét, không chút gì gọi là vui thú cả.
Người xưa có nói: “Đa thọ đa nhục”. Thật thế, tuổi nhiều, nhục lắm! Càng già thân thể càng suy kém, thì trí tuệ cũng càng lu mờ. Do đó, sanh ra lẫn lộn, quên trước quên sau, hành động như kẻ ngây dại. Ăn dơ, uống bẩn, nói năng giống người mất trí. Ăn rồi bảo chưa ăn, chưa ăn bảo ăn rồi, có khi lại còn chửi bới, nói nhảm nhí, làm trò cười cho lũ trẻ con. Và chỉ một lực tác động mạnh ở bên ngoài như bệnh tật hoặc tai nạn thì đưa tới thân hoại diệt rất nhanh theo như quá trình của sanh, già, bệnh, chết.
3- Thân vô thường khi có bệnh: Khi về già, thì thân có bệnh hành hạ xác thân con người, làm cho nó khổ sở không gì hơn là cái đau. Đã đau bất luận là đau gì, từ cái đau lặt vặt như đau răng, nhức đầu đến cái đau trầm trọng như ho lao, viêm ruột đều làm cho con người phải rên xiết khổ sở, khó chịu. Nhất là những bệnh trầm kha (lâu ngày khó chữa) thì lại càng hành hạ xác thân: đắng cơm nghẹn nước, cầu sống không được, cầu chết cũng không. Oan oan ương ương, thật là khổ não!
Thân đã đau mà tiền lại hết. Có nhiều người sau một trận đau, chỉ còn hai bàn tay trắng. Cho nên, ngạn ngữ có câu: “Không đau, làm giàu mấy chốc”.
Ngoài ra, bệnh tật lại còn làm cho lục thân, quyến thuộc buồn rầu, lo sợ. Mỗi lần trong nhà có người đau thì cả gia quyến đều rộn rịp, băn khoăn ngồi đứng không yên, quên ăn, quên ngủ, biếng nói, biếng cười, bỏ công ăn việc làm. Thật đúng là bệnh khổ!
(17:46) 4- Thân vô thường chết: Trong bốn hiện tượng của vô thường: sanh, già, bệnh, chết, thì chết là cái làm cho chúng sanh kinh hãi nhất.
Con người sợ chết đến nỗi ở trong hoàn cảnh sống thừa, đáng lẽ không nên sống làm gì nữa; thế mà nghe nói đến cái chết cũng sợ, không dám nghĩ đến. Những người xấu số khi bị bệnh nan y: ung thư, bệnh hủi – sống thêm một ngày là khổ thêm một ngày – thế mà những người bạc phước ấy cũng vẫn muốn sống mà thôi.
Chết làm khổ con người như thế nào mà ai cũng sợ hãi thế?
Về thân xác: Có mục kích một người chết khi hấp hối, khi bị hành xác rồi mới biết cái chết là đáng sợ. Người sắp chết: mệt ngột, không ngừng trợn mắt, méo miệng, giựt gân, chuyển cốt, uốn mình, vặn tay, bẻ chân. Trong lúc ấy: tai hết nghe, mắt hết thấy, mũi hết thở, miệng hết nói. Rờ thử vào (người) chết thì lạnh ngắt như đồng, thân cứng đơ như gỗ, xác chết dần dần sình lên trông rất ghê tởm. Nếu để lâu ngày lại nứt ra, chảy nước tanh hôi, khó chịu vô cùng.
Về tinh thần: Khi sắp chết, tâm thần rối loạn, sợ hãi vô cùng. Phần xót thương cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái từ đây đoạn tuyệt; phần lo cho mình một thân cô quạnh bước sang thế giới mịt mù xa lạ. Thật không còn gì đau khổ bằng phút chia ly vĩnh viễn này. Tóm lại, cái chết làm thân thể tan rã và các hành động do thân, khẩu, ý tạo tác sẽ liên tục tái sanh luân hồi. Đó là sự chuyển đổi của thân vô thường. Từ một thai nhi nằm trong bụng mẹ với thời gian thay đổi của định luật vô thường, nay trở thành một bà lão chết vì bệnh tật và đã đi theo đúng luật quy trình của thân vô thường: sanh, già, bệnh, chết.
(20:29) Phần trình bày ở trên chứng minh cho chúng ta thấy: từ khi sanh cho đến khi chết, thân ta đã không biết bao lần thay đổi; và cái xác khi người ta đặt vào quan tài thật không còn gì giống với cái thân khi mới sơ sinh.
Dòng nước hôm qua của con sông Đồng Nai chẳng hạn, ngó bề ngoài thì không khác gì dòng nước hôm nay. Nhưng nước hôm qua bây giờ có lẽ đã hòa với nước mặn ở ngoài đại dương, nước hôm nay chính là nước khác ở nguồn mới chảy về đây. Thân người cũng vậy: “Hằng chuyển như bộc lưu” (chảy luôn như nước lũ).
Nhưng khổ thay, có phải nó thay một cái này để đổi lấy một cái khác giống y như cái trước đâu?
Một tế bào này mất đi, một tế bào khác thế lại, nhưng tế bào trước trẻ hơn tế bào sau, tế bào sau già hơn tế bào trước kế tiếp. Và cứ như thế mà thân người đi từ trẻ đến già, từ sống đến chết.
Hãy nhìn những làn sóng khởi lên rồi dập xuống. Mỗi lần sóng khởi lên rồi xuống khiến cho một làn sóng kế tiếp được khởi lên. Rồi làn sóng này lại rơi xuống để làn sóng khởi lên một làn sóng kế tiếp.
Chúng ta khó mà chỉ đích được đâu là ranh giới giữa hai làn sóng, chỗ nào là chỗ diệt xuống của một làn sóng trước và chỗ nào là khởi điểm cho làn sóng sau. Mỗi một làn sóng như chìm sâu vào làn sóng kế tiếp và làn sóng kế tiếp nữa.
Như vậy, thân vô thường giúp chúng ta ý thức được con người và sự vật luôn luôn thay đổi, biến dịch. Tuy thay đổi nhưng chỉ thay đổi trạng thái, không mất hẳn, hay diệt hẳn; và giữa hai trạng thái liên tục không có một ranh giới rõ rệt…
(Nội dung đọc bị sót một trang).
(23:07) … Vì muốn được thích khẩu, bổ thân mà lắm người đành tay giết hại những con vật yếu hèn và hành hình những con vật vô tội trước khi chết một cách rùng rợn.
Đọc lịch sử, nghe Tần Thủy Hoàng ăn óc khỉ sống, ta cảm thông được nỗi đau lớn của những con vật bị giết. Thế mà người dự tiệc vẫn vui cười sung sướng, không đoái hoài đến tiếng rên xiết, kêu la, vùng vẫy của chúng thì thật là độc ác đến chừng nào. Lòng trắc ẩn của người ở đâu? Hỡi ôi, hung ác và thâm hiểm thay! Lòng dạ của con người thật là như con rắn độc hiểm ác!
Vì tham lam làm vẩn đục, tối tăm lương tri nên con người không thấy rõ được lý vô thường của thân xác và mới nỡ tâm làm điều tàn ác như thế.
Như trên chúng ta đã thấy, luật vô thường ở khắp mọi nơi. Chẳng những thân, tâm là vô thường mà hoàn cảnh sơn hà đại địa cũng vô thường nữa. Sách thường có câu: “Thương hải tang điền” (“bãi biển nương dâu”). Câu ấy mới nghe như là một hình bóng bẩy về văn chương, nhưng thật ra đó là một nhận xét rất đúng trong thực tế.
.(24:47) Chúng ta thường lầm tưởng chỉ có sinh vật là biến đổi và mau già chết; chứ những vật lớn lao như núi, sông, đất, cát thì muôn đời cũng vẫn ở yên một chỗ. Nhưng chúng ta đã lầm, sông núi cũng có cái già cái trẻ, đất cát cũng có khi lở khi bồi. Không có vật gì là vĩnh viễn tồn tại.
Tục ngữ ta có nhiều câu nói lên được sự vô thường của sự vật rất thâm thúy như là: “Vật đổi, sao dời” hay “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Thật thế, một đời của chúng ta đã chứng kiến biết bao nhiêu sự thăng trầm, vinh nhục, lên voi xuống chó giàu nghèo, sang hèn tiếp tục diễn ra trước mắt chúng ta như một bức tranh vân cẩu, như một khúc phim trong rạp chiếu bóng.
Bao nhiêu người trước đây nào dinh thự nguy nga, ruộng vườn cò bay thẳng cánh thế mà sau một cơn binh lửa sự nghiệp bỗng tan tành như mây khói.
Bao nhiêu người quyền cao chức trọng, hống hách, nghênh ngang thế mà một phút sa cơ thất thế bỗng trở thành những kẻ tha phương cầu thực hay vướng cảnh tù đày.
Sự vô thường đã sờ sờ trước mắt, thế mà có biết bao nhiêu người vẫn chưa tỉnh ngộ, cứ đeo đuổi bám víu vào những cái hào nhoáng nhất thời ấy.
Kẻ bán tước, người mua quan, kẻ tham danh, người hám lợi gây biết bao trò cười cho khách bàng quan và bày ra lắm cảnh nhọc nhằn cho người trong cuộc.
Vô thường tạm bợ giả tạo như thế mà người đời cứ cho nó là trung tâm vũ trụ, bám víu vào nó, nhân danh nó để tham lam vơ vét tài sản, danh lợi ở chung quanh. Và dù có giẫm đạp lên hạnh phúc của kẻ khác, gây bao đau thương cho người đồng loại cũng mặc. Thật mê mờ lắm thay!
(27:37) III- Đặc tướng của thân vô thường:
Tùy theo hành động do thân, khẩu, ý tạo tác mà có cái thân này. Cho nên, đặc tướng của thân vô thường tùy theo mỗi người: người cao, người lùn, người ốm, người mập. Ví dụ như: anh Một đi cái tướng khòm lưng như thế này; anh Hai đi cái tướng nghiêng tay như thế kia; anh Ba có tướng chột một con mắt và hay đa nghi; chị Tư có khuôn mặt rất dễ thương và khả ái; chị Năm có khuôn mặt với cái mũi bị gãy; chị Sáu có hàm răng cười rất duyên dáng; chị Bảy có hàm răng bị xỉ cười xấu ơi là xấu, ma chê quỷ hờn. Chị A hay tức giận mặt đỏ, cau có, nói năng hung dữ; chị B có tức giận nhưng làm chủ được cái giận nên nét mặt bình thường. Đó là đặc tướng của thân vô thường.
IV- Đặc tính của thân:
Là tùy theo mỗi hành động, do thân, khẩu, ý tạo tác mà con người có tâm tánh khác nhau. Ví dụ như: chị A có tính vui vẻ, cười cười, gặp ai chị cũng cười nhưng tính tình không như vậy, vì hay nói lời chia rẽ, làm cho mọi người không đoàn kết. Chị B ít cười nhưng tính tình rất tốt, không nói lời chia rẽ, gặp ai cũng chân thành giúp đỡ. Anh C có tính hay đa nghi và hay nói lỗi của người khác. Cái tính đó, cái ác nhiều hơn cái thiện, vì đã tự làm khổ mình khổ người. Đó là đặc tính của thân vô thường.
V- Duyên hợp của thân vô thường:
Vì có sự giao hợp giữa cha mẹ nên thụ thai. Do sự ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và chăm sóc chu đáo nên bào thai được phát triển tốt. Đến ngày sinh thì gặp được duyên lành, có bác sĩ đỡ đẻ, có thuốc thang đầy đủ nên mẹ tròn con vuông. Rồi khi đứa bé được sinh ra và nhờ sự chăm sóc cẩn thận, chu đáo của người cha, người mẹ – đứa bé lớn nhanh…
(Nội dung đọc bị sót một trang).
4- SỰ CHUYỂN ĐỔI CỦA THÂN VÔ THƯỜNG
(30:30) … mà thôi. Bản chất của đời là vô thường, là đau khổ. Là một biển đầy mồ hôi nước mắt. Trong ấy chúng sinh đang bơi lội, lặn ngụp chìm nổi, trôi lăn. Đó là sự thật. Nhưng sự thật ấy không ai nhìn thấy được cách tường tận và nói lên một cách rõ ràng như đức Phật đã nói lên trong bài pháp vô thường, khổ đau của con người.
Thật thế, mỗi một chúng sinh tự mình đã là nạn nhân của bao nhiêu cái khổ, cái xấu xa. Thân thể là một bầu thịt xương dơ bẩn. Nếu một vài ngày không chăm sóc, rửa ráy thì thối tha không thể chịu được. Hơn nữa, cái thân ấy cũng không bền chắc mà trái lại mong manh: khát nước độ 3 ngày, ngạt thở độ 5 phút, đứt một mạch máu bị nhiễm một số vi trùng độc – thế là mạng vong. Lại thêm cái khổ, sống chết bất ngờ mà con người không làm chủ được. Còn nhiều cái khổ khác nữa chất chồng không làm sao tránh khỏi được như bệnh tật, đói khát, bão lụt, hỏa hoạn, chiến tranh, áp bức, sưu cao, thuế nặng.
Vì vậy muốn chuyển đổi ta phải thấy cho rõ được định luật vô thường đang chi phối chung quanh ta.
Thực tế, vạn vật trong vũ trụ đều bị luật vô thường chi phối, không tồn tại mãi được. Cứng rắn như sắt đá lâu năm cũng mục nát. To lớn như trái đất, mặt trăng, mặt trời lâu ngày cũng tan rã. Yếu ớt, nhỏ nhen như thân người thì mạng sống lại càng ngắn ngủi, phù du. Cái búa tàn ác của thời gian đập phá tất cả! Mỗi phút, mỗi giây ta sống cũng là mỗi phút, mỗi giây ta đang bị hủy hoại. Và dù ta có sức mạnh bao lâu, quyền thế bao nhiêu, giàu có…
(Nội dung đọc bị sót một trang).
5- ÁP DỤNG THÂN VÔ THƯỜNG VÀO BẢN THÂN
(32:51) … tự ngã của tôi?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Do vậy, này các thầy, thân năm uẩn này dù ở quá khứ, hiện tại, vị lai hoặc ở trong thân hay ở ngoài thân, thô hay tế, thắng hay liệt, xa hay gần cần phải được như thật quán với chánh trí như sau: “Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
Lời dạy trên chính là câu đáp trọn vẹn và khái quát nhất cho tất cả mọi nghi vấn phát xuất từ ý thức chấp thủ và bảo vệ tự ngã.
Tuy nhiên, cần hiểu “vô thường, khổ và vô ngã” theo tinh thần của giáo lý duyên khởi. Trong đạo Phật, một giáo pháp trùm chứa tất cả các giáo pháp khác và tất cả giáo pháp sống nằm ở trong tâm thức mỗi người. Do vậy, trong thực tại của thế giới, hiện tượng vô thường cũng chính là vô ngã khi đứng về phương diện thời gian để thẩm định.
Và khổ đau thật sự không phải nằm trên bình diện hiện tượng sanh tử thành hoại của con người và thế giới mà phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của con người đối với tính vô thường, vô ngã của vạn sự, vạn vật.
(34:35) Nhận thức đúng hay có Chánh Kiến đối với các hoạt động tâm – sinh – vật lý của bản thân là có cái nhìn thật rõ về pháp “vô thường, khổ, vô ngã” của Năm uẩn. Vậy, giáo lý vô thường đem lại niềm tin cho mọi nỗ lực sáng tạo và phát triển của con người. Vô thường là đặc tích thực của sự sống.
Thiền sư Vạn Hạnh, cố vấn vua Lý Thái Tổ, sư đã giáo…
(Nội dung đọc bị sót một trang).
6- KẾT LUẬN VỀ THÂN VÔ THƯỜNG
… thân, tâm cho đến mọi hoàn cảnh. Hiểu lý vô thường, chúng ta đã có một phương thuốc thần diệu để trừ tham ái, mê mờ. Chúng ta đã đau khổ vì màu sắc tốt xấu; vì tiếng dở hay; vì mùi vị ngọt bùi, cay đắng; vì vật thích, thân vừa ý. Nay chúng ta uống thuốc “Giáo lý vô thường” để trừ bệnh tham ái và tiến tới sự an định của tâm hồn.
Biết được thân vô thường, con người dễ giữ được bình tĩnh, thản nhiên trước cảnh đối thay bất ngờ và có thể lạnh lùng trước cảnh ân ái chia ly.
Biết vô thường, con người dám hi sinh tài sản, sanh mạng để làm điều nghĩa.
Biết vô thường, con người mới chán ngán với những thú vui tạm bợ, giả trá và sáng suốt đi tìm những cái vui chân thật, thường còn.
Vì thật ra, cái vui chân thật thường còn, cái tánh chân thường vẫn có; nhưng nó nằm bên trong cái lớp giả dối, tạm bợ vô thường của cõi đời này nên chúng ta không thể thấy được. Khi chúng ta đã cương quyết gạt bỏ cái giả dối ấy thì tất nhiên cái giá trị chân thật, cái hạnh phúc chân chính, cái tâm “thanh thản, an lạc, vô sự” ấy chắc chắn đó muôn đời sẽ hiện ra.
Ngày 10/12/2005.
Bài viết của Nguyên Thanh.
Trưởng lão: Tới đây, dựa vào cái đó mấy con sẽ viết cái bài Thân vô thường.
Bây giờ Thầy xin…
HẾT BĂNG
Đang trực tuyến: 5 | Lượt truy cập: Hôm nay: • Tổng: | Lượt xem trang: Hôm nay: • Tổng:


