(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)
LCK 027A – (Nữ) Chánh niệm tỉnh giác – Định vô lậu xả tâm – Vấn đạo An trú – Nhân quả nghề nghiệp
LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 027A
CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC – ĐỊNH VÔ LẬU XẢ TÂM – VẤN ĐẠO AN TRÚ – NHÂN QUẢ NGHỀ NGHIỆP
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Người nghe: Tu sinh nữ
Thời gian: 30/11/2005
Thời lượng: [54:05]
1- CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC
(00:00) Trưởng lão: Hôm nay, Thầy sẽ nói về cái lớp học Chánh Niệm Tỉnh Giác. Cái lớp học mà Thầy dặn mấy con ghi lại cho mình từng phút mà nhiếp tâm, để rồi an trú tâm cho được. Cái lớp này nó rất quan trọng chứ không phải là nó không quan trọng, nó cũng không thua gì chúng ta tu Định Vô Lậu – đây là Chánh Niệm Tỉnh Giác Định. Cái lớp này nó giúp chúng ta “tâm định tỉnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng”. Nếu chúng ta không học cái lớp này kỹ thì coi như là chúng ta sẽ không đạt được cái kết quả định tỉnh của cái tâm; mà tâm định tỉnh nó mới có nhu nhuyến, nó dễ sử dụng.
Thí dụ như bây giờ mình học Định Vô Lậu. Mà trước cái ác pháp đó, nó làm cho tâm chúng ta dao động; thì lúc bấy giờ chúng ta không có đủ cái sức định tỉnh đó, thì chúng ta xả cái ác pháp đó không được thì nó làm cho chúng ta có đau khổ, có phiền não. Cho nên cái sức định tỉnh đó, phải tu như thế nào để mà định tỉnh, tu như thế nào để mà nhiếp tâm và an trú tâm cho được.
Như Thầy đã nói trước kia đó, là mình phải nhiếp từng phút, từng giây. Để cho mình biết trong cái nhiếp tâm đó, mà như thế nào là kết quả của sự nhiếp tâm, như thế nào là an trú được tâm. Chúng ta phải rành được cái này, chứ nếu mà không, chúng ta không rành, chúng ta không biết. Bởi vì ở đây, chúng ta không phải thiền định; mà là tu để cái tâm nó định tỉnh, chứ không phải là ngồi tu để mà nhập vào thiền định gì cả hết.
Bởi vì cái lớp Chánh Niệm của chúng ta chỉ là lớp định tỉnh để mà xả cái tâm, để ly dục, ly ác pháp. Cho nên cái người mới vào tu mà gọi là tu thiền định, là cái người đó không có hiểu. Cho nên chúng ta đi vào con đường để định tỉnh mà để xả tâm, ly dục, ly ác pháp; mà thiếu cái sự định tỉnh thì chúng ta cũng không thể xả tâm được.
Cho nên cái sự nhiếp tâm và an trú tâm là mục đích để tâm định tỉnh. Mà tâm định tỉnh thì chúng ta mới có nhu nhuyến, dễ sử dụng. Như đức Phật đã nói: “Tâm định tỉnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng”, mà tâm chúng ta không định tỉnh thì không nhu nhuyến, khó sử dụng.
Muốn được vậy thì căn cứ vào trong cái thời gian mà tu tập của các con, thì các con ghi. Thầy ghi vào trong này như:
Hương Từ thì 5 phút an trú. Liễu Châu thì 15 phút. Nguyên Phương thì 2 phút. Tuệ Hạnh thì không có ghi phút nào hết. Liễu Huệ thì 5 phút.
Tu sinh Liễu Huệ: Con 15 phút đó Thầy ơi.
Trưởng lão: Con 15 phút hả?
Tu sinh Liễu Huệ: Dạ.
Trưởng lão: À, như vậy thì Thầy sẽ ghi 15 phút. Con có cây bút không con, cho Thầy mượn. 15 phút.
Tu sinh Liễu Huệ: Nhiếp tâm thì 20.
Trưởng lão: Ừ. Nhiếp tâm thì 20 phút.
Thầy thấy trong cái thời khóa mà ghi đó, con không có để phút nào hết.
Từ Đức thì 10 phút. Từ Hạnh thì 5 phút. Diệu Đức thì 5 phút. Liễu Nhâm thì 10 phút. Nguyệt Cảo thì không có để phút nào hết. Diệu Vân thì ghi trong đó thì 30 phút, 15 phút, 10 phút, 5 phút. Vũ Thị Sim thì 25 phút. Tịnh Hạnh thì không có ghi phút nào hết. Hạnh Từ thì cũng chưa có ghi phút nào. Mỹ Linh (Tú) thì 30 phút. Quảng Kính thì 30 giây. Quảng Đạo thì không có ghi. Quảng Trí cũng không có ghi. Diệu Hiền thì 11 phút.
Tu sinh Diệu Hiền: Dạ, dạ con 1 phút.
Trưởng lão: 1 phút. Tưởng con nhiều.
Liễu Ngọc thì 15 phút. Minh Chánh thì 5 phút. Nữ Hương thì 20 phút.
2- NHIẾP TÂM ĐƯỢC MỚI AN TRÚ ĐƯỢC
(03:42) Bây giờ Thầy nói như thế này, để Thầy phân tích cho mấy con thấy cái sự tu tập của mấy con. Để thấy từ cái 1 phút như thế này, tại sao mình phải ghi như vậy để mà sắp cái khả năng, cái trình độ của mình để khi mình nhiếp tâm.
Mình nhiếp tâm, thí dụ như bây giờ mình nhiếp tâm trong 5 phút hay là 10 phút; mà trong khi đó mình vẫn biết cái thân hành của mình, bởi vì mình nương vào cái đối tượng của mình là cái thân hành nội hoặc cái thân hành ngoại.
Thân hành nội là cái hơi thở; mà thân hành ngoại là cái hành động của thân của mình như bước đi, đưa tay hoặc là duỗi chân… tất cả những hành động của mình đó, đó là cái thân hành. Lấy thân hành làm cái đối tượng để nhiếp tâm – cái mục đích của đạo Phật. Cho nên nó có cái pháp Thân Hành Niệm đó, lấy cái thân hành làm cái niệm để nhiếp tâm.
Chứ mình không có đặt ra cái niệm mới, mà lấy cái thân hành của chúng ta mà làm cái niệm. Do đó, khi nhiếp tâm vào cái niệm, làm cho tâm chúng ta dính vào cái niệm đó, gọi là nhiếp tâm.
Cho nên khi mà cái tâm chúng ta biết cái niệm – như mình đi, mình biết cái niệm đi của mình, mình vẫn biết cái cảm nhận cái bước đi của mình. Hoặc là mình cảm nhận cái hơi thở ra – hơi thở vô, dù là có một cái niệm, dù là có một tiếng động bên ngoài tác động vô, nhưng mình vẫn không mất cái niệm, được gọi là nhiếp tâm. Thí dụ như bây giờ có cái niệm xẹt vô, chúng ta vẫn biết có cái niệm, nhưng mà chúng ta vẫn biết cái hơi thở, vẫn biết cái bước đi chúng ta, thì đó là chúng ta mới nhiếp tâm.
Còn khi an trú thì nó không có niệm, nó không có niệm xẹt ra xẹt vô; bên ngoài tác động, làm như chúng ta có nghe mà chúng ta không có lưu ý ở bên ngoài, tiếng động đó – thì đó là chúng ta an trú. Còn nếu mà chúng ta vừa nghe, vừa biết mà chúng ta không mất cái niệm thân hành của chúng ta, thì đó là chúng ta mới là nhiếp tâm mà thôi.
Phân biệt được như vậy để làm gì? Đức Phật nói: “Nhiếp tâm và an trú tâm” – tức là hai cái trình độ, chứ không phải là nhiếp tâm rồi cái nó an trú được liền đâu; mà biết được hai cái kết quả của nó cụ thể, rõ ràng, để rồi chúng ta tu.
(05:43) Khi nào chúng ta biết an trú tâm, mà khi nào chúng ta biết là nhiếp tâm? Thì trong khi nhiếp tâm, Thầy đã giải thích cho mấy con hiểu rồi đó. Như vậy, chúng ta căn cứ vào chỗ đó để mà chúng ta tu tập để cho nó có cái kết quả, mà nó không bị giậm chân tại chỗ. Thí dụ như chúng ta nhiếp tâm trong 1 phút thôi, chúng ta an trú tâm 1 phút, thì chúng ta tăng lên phút thứ hai đó để mà chúng ta tu tiến tới.
Thí dụ bây giờ chúng ta an trú được 1 phút, thì bây giờ chúng ta tu 2 phút. Thì phút thứ hai đó, nó còn có niệm xẹt vô, cho nên chúng ta đang tu để mà an trú cho được cái phút thứ hai. Mà muốn an trú cho được cái phút thứ hai thì chúng ta làm sao cho hết những cái niệm mà ở trong đầu chúng ta xẹt ra.
Bây giờ cái phút thứ nhất là chúng ta an trú được rồi, mà phút thứ hai thì chúng ta mới nhiếp tâm được thôi – nghĩa là chúng ta tỉnh thức được trên cái thân hành của chúng ta, mà còn có niệm xẹt vô.
Bây giờ chúng ta làm sao hàng phục, không có cho cái niệm đó xẹt vô mà không bị ức chế. Còn nếu chúng ta ráng cố gắng tập trung thì nó bị căng đầu, hoặc là chúng ta cố gắng tập trung thì nó lọt vào Tưởng – nó sanh ra những cái Pháp tưởng.
Do như vậy, chúng ta không muốn cho nó sanh ra Tưởng, mà không bị căng đầu chúng ta, căng thần kinh chúng ta. Do như vậy, chúng ta phải tu cách nào để mà chúng ta nhiếp phục được cái niệm? Đây là cái vấn đề quan trọng để chúng ta tiến dần tới, khi đó chúng ta tu 30 phút mà chúng ta vẫn làm chủ được; chứ không phải là lúc thì tu nó không có niệm, mà lúc tu thì có niệm.
Cho nên vì vậy mà chúng ta căn cứ vào cái sức của chúng ta hiện giờ có. Thí dụ như tu 30 giây, Thầy không nói là cái người tu 30 giây mà dở, mà từ cái căn bản của 30 giây đó nó được an trú thì Thầy tăng lên cho họ tu 1 phút. Thì trong khi họ tu 1 phút, thì họ tu 30 giây sau đó là họ tu để an trú cho được trong 30 giây sau, để cho họ an trú luôn cả 1 phút. Như vậy thì 30 giây đó họ phải đạt được sự an trú; mà đạt sự an trú không có nghĩa là ức chế tâm, mà là đạt được sự an trú đó bằng cách thức chúng ta xả tâm.
3- ĐỊNH VÔ LẬU XẢ TÂM
(07:45) Vậy thì hôm nay chúng ta học những cái bài Định Vô Lậu để làm gì?
Bởi vì những cái tướng niệm mà nó khởi ra, nó đều là nằm ở trong cái lậu hoặc; mà cái lậu hoặc đó thì nó nằm ở trong cái nhân quả. Cho nên cái Định Vô Lậu mà chúng ta tu học hiện giờ, chúng ta đang tu học đó – đó là chúng ta tu học Đường đi của nhân quả con người, để chúng ta áp dụng vào đời sống của chúng ta. Khi có một cái niệm khởi ra, thì chúng ta áp dụng vào cái đời sống chúng ta để chúng ta hóa giải, làm cho cái tâm chúng ta không bị ức chế cái niệm đó, mà được xả cái niệm đó – gọi là xả.
Vậy thì chúng ta áp dụng như thế nào?
Hiện bây giờ, như chúng ta đang tu hơi thở để chúng ta an trú ở trong cái hơi thở đó, được 1 phút đi; mà bây giờ chúng ta mới có được 30 giây an trú, còn 30 giây không an trú. Muốn được 1 phút an trú thì chúng ta 30 giây sau đó chúng ta tu.
Thí dụ như giờ này, bây giờ Thầy tu 1 phút, Thầy hít vô – thở ra, Thầy tu 1 phút. Nhưng Thấy biết rằng trong 30 giây đầu thì Thầy an trú không có một niệm gì hết, nhưng 30 giây sau sẽ có niệm. Thì khi 30 giây sau, Thầy tiếp tục tu 1 phút đó, thì 30 giây sau sẽ có niệm xen vào. Và khi cái niệm xen vào đó, khi Thầy biết cái niệm đó hiện vào thì Thầy đặt cái niệm đó thành một cái đề tài của quán vô lậu – của Định Vô Lậu. Thì cái đề tài của Định Vô Lậu hiện giờ chúng ta đang học cái nhân quả thân hành của chúng ta, khẩu hành, ý hành. Chúng ta học cái nhân quả đó – khi cái niệm đó mà khởi ra thì chúng ta hiểu được cái lý của nhân quả, thì chúng ta xét qua, chúng ta mổ xẻ cái niệm mà khởi ra trong đầu chúng ta qua cái nhân quả.
Mà qua cái nhân quả thì chúng ta thấy có cái sự mà duyên hợp của nhân quả, thì nhân quả này nó có thiện và ác. Và đồng thời chúng ta chuyển biến cái nhân quả đó, chúng ta thấy nó thiện – ác như thế nào thì chuyển biến cái nhân quả đó trở thành toàn thiện. Nó không còn cái nhân ác, nó không còn thọ quả khổ nữa, để nó chuyển.
Do như vậy, chúng ta khi mổ xẻ mà chúng ta hiểu nó là nhân quả rõ ràng rồi, thì kèm theo đó là chúng ta chuyển hóa cái nhân quả đó bằng cái thiện. Và chúng ta nghĩ nhớ lại, cái niệm này nó đã xảy ra trong cái lúc nào mà nó cứ nó tới lui, tới lui hoài?
(10:05) Thí dụ như bây giờ ái kiết sử, nó khởi cái niệm nhớ gia đình của mình thì mình đưa ra mình quán nhân quả: “Đây là cái chùm nhân quả, cha mẹ cũng là do nhân quả. Mình có nhân duyên mình tương ưng cho nên mình mới làm con của những người này và những người này quá là cực khổ nuôi mình lớn khôn. Và hôm nay, mình được biết Chánh pháp thì cái ơn nghĩa đó, không có nghĩa là mình quên ơn của cha mẹ, mình cắt đứt, mình không thương yêu cha mẹ. Mình thương, nhưng mà thương sao cho đúng nghĩa; chứ không phải bây giờ thương cha mẹ là về phải làm có tiền, có bạc, nuôi dưỡng, cung cấp, cuối cùng ông bà sẽ chết trong cái đau khổ. Cho nên vì vậy mình nghĩ rằng cái Ái kiết sử như vậy, mình thương nhớ cha mẹ mình, mình muốn trở về, nhưng mình nói trở về đây làm gì? Mình phải nỗ lực mình tu, tu cho đạt được để độ cha mẹ mình tu hành; hoặc là cha mẹ mình lỡ có mất đi, mình còn truy tìm được cha mẹ mình để độ, những cái người ơn mà sanh mình ra trong kiếp này”.
Cho nên mình càng gặp Ái kiết sử như vậy thì mình càng nỗ lực tu hơn, càng giữ gìn giới nghiêm chỉnh hơn. Vì vậy mình nhắc nó, thì cái Ái kiết sử đó nó bị hóa giải đi, cái niệm đó nó bị hóa giải đi, nó không có còn tới lui nữa, nó làm chúng ta bình an để chúng ta thực hiện tu tập. Mà chúng ta thực hiện tu tập trong cái tinh thần thương yêu cha mẹ, nỗ lực tu để mà cứu độ cha mẹ!
Thì như vậy rõ ràng, đứng trên nhân quả mà chúng ta thấy rất cụ thể, do đó chúng ta chuyển hóa cái nhân quả. Từ cái nhân quả Ái kiết sử này nó sẽ bị bẻ gãy đi, nó không còn làm chúng ta ngồi đây mà thương nhớ nữa.
(11:28) Như vậy rõ ràng là chúng ta tu đâu có ức chế. Nghĩa là bây giờ chúng ta tu trong 1 phút, mà 30 giây sau mà nó có niệm. Mà cái niệm đó nó thuộc về Ái kiết sử thì chúng ta đưa cái đề tài nó ra trở thành nhân quả. Rồi chúng ta quán xét mổ xẻ nó ra, mổ xẻ nó ra rồi từ đó chúng ta chuyển biến mình trở thành nỗ lực, năng nổ tu hành hơn nữa. Để trợ giúp cái nhân quả của mình, để đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của mình. Đó là cái hay của chúng ta tu tập.
Cho nên vì vậy mà từ cái chỗ đó mà chúng ta xả được thì chúng ta tiến tới chúng ta tu phút thứ hai. Mà phút thứ hai chúng ta đạt được cũng do xả thì chúng ta tiến tới phút thứ ba. Cách thức chúng ta tu tập đâu có ức chế, mà chúng ta xả chứ.
Đó thì các con lắng nghe trong cái vấn đề. Từ nào tới giờ mấy con tu tập phần nhiều là mấy con cố gắng tu tập làm sao cho hết cái niệm. Rồi có nhiều khi cái niệm nó đến, thì cái sức mà hiểu biết về cái tri kiến hiểu biết về Nhân quả, hoặc là về Ái kiết sử, hoặc về Thân ngũ uẩn, hoặc về tất cả mọi cái điều kiện mà xảy ra thì các con chưa thông suốt.
Qua cái làm bài tập về Định Vô Lậu mà nhân quả, thì thật sự ra Thầy thấy mấy con chỉ hiểu một cách cạn cợt và hiểu nó chung chung, nó không có sâu. Cho nên vì vậy mà các con chưa xả được tâm của mình là như vậy. Cho nên tu từ nào tới giờ, mà hễ có đụng chuyện thì có phiền não, có buồn, có tức, có bất toại nguyện trong lòng của mình – do cái sự tu không đúng cách.
Tu thì cái danh từ, nói “Định Vô Lậu” thì chúng ta hiểu biết đó như vậy. Nhưng mà khi đi sâu vào thì chúng ta không sâu, quán cạn cợt, do đó chúng ta quán lấy có.
Còn tu về Chánh Niệm Tỉnh Giác, để được định tỉnh thì chúng ta lại tu bằng cách ức chế, cho nên lọt vào những cái Tưởng. Vì vậy mà cuối cùng chúng ta cũng chẳng – có khi thì được tốt, có khi không được tốt. Nhưng mà rõ ràng đó là do cái phần ức chế, cho nên nó có lúc được mà lúc không.
Còn cái này chúng ta tu là đạt được, chúng ta làm chủ mà, làm chủ cái tâm của chúng ta. Chúng ta muốn nhiếp tâm trong hơi thở là nó bắt đầu nó an trú trong hơi thở, nó không có một niệm nào, đó là cái sức của chúng ta tu tập. Còn nếu mà chúng ta không có đủ cái sức vậy, thì chúng ta làm sao có đủ cái sức làm chủ. Cho nên ở đây đó, chúng ta đi trở lại, đi hết trở lại.
4- NHIẾP TÂM VÀ AN TRÚ PHẢI VỮNG CĂN BẢN
(13:35) Bây giờ các con cứ nghĩ rằng, các con sẽ ghi cái số thời gian của các con từ 30 phút, 15 phút, 20 phút, 25 phút, 10 phút… các con ghi như vậy. Đến khi mà Thầy kiểm tra trở lại mà mấy con, thí dụ như mấy con ghi là 5 phút, mà Thầy kiểm tra trở lại coi thử coi trong 5 phút các con nhiếp tâm – an trú tâm coi có đúng không. Bởi vì khi mà nhiếp tâm – an trú tâm nó không có niệm, trong 5 phút mà mấy con có niệm, tức là mấy con bị cái lỗi, mấy con có cái lỗi là nói không thật.
Bởi vì từ khi mà Thầy dặn các con ghi cho Thầy biết, để từ cái căn bản của các con mà Thầy nâng lên để cho các con có cái sức tự chủ – nhiếp tâm và an trú tâm mình – để lợi ích, để làm cho các con có cái sức định tỉnh. Mà bây giờ các con ghi sai thì các con sẽ khó – cái niệm ra, cái niệm vô hoài – thì các con mất căn bản rồi. Nếu ráng nữa thì mấy con bị ức chế.
Cho nên, Thầy mong rằng mấy con ghi nó đúng cái thời gian. Dù là mấy con ghi 30 giây, Thầy thấy 30 giây mà căn bản mấy con thật sự. Buổi sáng, mấy con tu nhiều thời trong cái buổi sáng – 30 giây; mà lúc nào con tu 30 giây, con vẫn an trú được trong đó. Đó là cái tốt của mấy con, cái căn bản nhất của mấy con. Rồi từ đó Thầy sẽ cho tăng lên 1 phút. Rồi 1 phút mấy con đạt được, an trú được, Thầy cho tăng lên 1 phút 30 hay hoặc là 2 phút. 2 phút được – Thầy cho tăng lên 3 phút, 4 phút, 5 phút; lần lượt mấy con có căn bản.
Hễ không tu thôi, mà hễ tu nhiếp tâm vô hơi thở hoặc là trên bước đi của các con thì các con sẽ chủ động mấy con dẫn cái tâm của mấy con vào cái pháp. Không có phải buổi sáng tốt, buổi chiều xấu; hay là buổi tối tốt, buổi khuya xấu – không phải vậy, lúc nào nó cũng tốt hết. Nghĩa là thời tiết có thay đổi (thì) cách thức nhiếp tâm nó chỉ một mực. Nhưng mà thời tiết thay đổi thì tâm của chúng ta nó cũng theo đó mà nó thay đổi. Nhưng chúng ta vẫn làm chủ – nhiếp là được, không nhiếp thì thôi mà nhiếp là được. Đó là cách thức chúng ta tu, để mà chúng ta xả cái tâm.
Khi mà tâm chúng ta ly dục, ly ác pháp hết thì lúc nào - bây giờ trời mưa chúng ta cũng nhiếp được, mà trời nắng nhiếp cũng được. Thời tiết thay đổi như thế nào, lạnh nóng như thế nào chúng ta vẫn nhiếp được hết hoàn toàn, bởi vì tâm chúng ta ly dục, ly ác pháp. Còn tâm chúng ta chưa ly dục, ly ác pháp thì thời này chúng ta tu tốt, thời kia chúng ta tu không tốt. Thì như vậy, chúng ta chưa phải là tu biết cách làm chủ.
Cho nên khi mà phân lớp này nó cần thiết là đúng với cái đặc tướng, đúng với cái khả năng của mấy con nhiếp tâm. Thì khi mà đúng rồi thì Thầy sẽ sắp xếp cho mấy con hẳn hòi, rồi Thầy kiểm tra lại, rồi Thầy dạy cách thức. Thí dụ như bây giờ các con đi kinh hành nè, các con đi, lúc bấy giờ có cái niệm thì bắt đầu mấy con không có đi nữa, mấy con không có đi theo cái kiểu mà tư duy. Bây giờ tu tập kỹ, chúng ta ngồi xuống, khoanh chân đàng hoàng, đặt niệm trước mặt; lấy cái niệm đó mà đặt trước mặt, để rồi chúng ta tư duy, hóa giải nó. Khi hóa giải xong rồi, chúng ta đứng dậy, chúng ta tác ý: “Tôi đi kinh hành, tôi biết tôi đi kinh hành”.
Đó là cách thức hiện giờ, có cái sự hướng dẫn của Thầy để mấy con đạt được tâm định tỉnh. Và khi đạt được tâm định tỉnh thì các con sử dụng cái Định Vô Lậu – các con hóa giải từng tâm niệm, xả từng tâm niệm của các con – thì lúc bây giờ tâm các con sẽ nhu nhuyến và dễ sử dụng.
Đó, cách thức tu tập như vậy để đưa đi đến cái chỗ mà những cái danh từ đức Phật kết hợp trở lại: “Tâm định tỉnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng” – dễ sử dụng thì nhập Bốn Thiền không có khó khăn, không có mệt nhọc; thực hiện Tam Minh cũng không có khó khăn, không có mệt nhọc.
5- PHÁ VÔ MINH LẬU
(17:04) Cho nên, đối với thiền định chúng ta không quan trọng lắm; nhưng mà đối với giới luật là rất quan trọng. Vì vậy, hôm nay mấy con được học tu, mấy con nhớ giữ giới rất là quan trọng. Bởi vì đây là cái lớp đào tạo. Thầy nghĩ rằng với cái vấn đề mà tu học để được giải thoát, để được tâm vô lậu không phải khó. Thời gian đức Phật xác định là “Bảy ngày, bảy tháng, bảy năm”; nhưng chúng ta thấy rằng 7 ngày thì đối với chúng ta thì chưa có người nào được đâu; nhưng mà 7 tháng thì chắc chắn là chúng ta cũng chưa chắc đã là đạt được. Nhưng trong vòng 7 năm, nhưng mà không phải suốt 7 năm – 1 năm hoặc là 2 năm – chúng ta thành công. Theo Thầy thiết nghĩ, lớp chúng ta tu học thì cũng khoảng 2 năm là chúng ta đã tốt nghiệp hết rồi.
Như vậy, tại sao mà Thầy dám chắc chắn như vậy? Tại vì khi mấy con đã học Định Vô Lậu rồi, thì các con biết được ác pháp và thiện pháp. Mà ác pháp thì đem đến cái sự đau khổ cho chúng ta, vì vậy mà các con biết rõ – các con còn sống trong ác pháp sao?
Chắc chắn là các con sẽ không sống trong ác pháp. Cho nên đức Phật nói: “Bờ bên nay, bờ bên kia” – bờ bên kia là thiện pháp, là Niết Bàn; mà bờ bên nay là ác pháp. Mà chúng ta đã hiểu cái thiện pháp và ác pháp rồi, tức là chúng ta đã hiểu “bờ bên kia” và “bờ bên nay” rồi. Lý đâu mà chúng ta đã hiểu cái bờ bên nay là bờ khổ đau, mà bờ bên kia là bờ giải thoát mà tại sao chúng ta không chịu ở bờ giải thoát, mà lại đi qua bờ không giải thoát này mà ở?
Cho nên đức Phật nói có hai con đường: “con đường thiện và con đường ác”. Vậy thì ai mà muốn đi con đường ác bao giờ? Con đường đó đem đến sự đau khổ cho chúng ta, vậy chúng ta hãy đi con đường thiện.
Mà con đường thiện hiện giờ chúng ta đã triển khai, cái tri kiến của chúng ta đã hiểu biết – hiểu biết con đường nào thiện và con đường nào ác. Vậy thì chúng ta hiểu biết rồi – tức là chúng ta Minh rồi, chứ không còn Vô minh. Còn trước kia chúng ta chưa hiểu cho nên chúng ta còn Vô minh.
Cho nên Vô minh – nó mù mờ, nó làm chúng ta không biết cái thiện và cái ác. Cho nên chúng ta cứ nhầm lẫn. Vì vậy mà cứ tạo khổ: tạo cho mình, tạo khổ cho người. Đó là cái chỗ mình còn Vô minh.
Cho nên Vô minh lậu có cái nghĩa rất rộng: một cái điều kiện mà chúng ta làm có khổ mình, khổ người – đó là chúng ta bị Vô minh lậu.
Cho nên ở đây, phá cái Vô minh lậu đó, thì chúng ta bằng cách là chúng ta phải tư duy, quán xét ở trên cái Định Vô Lậu – làm cho tri kiến chúng ta hiểu. Nhưng vì chúng ta không có sức định tỉnh, cho nên chúng ta bị dao động, vì vậy mà chúng ta không thể đẩy lui được cái ác pháp.
Do đó, chúng ta phải tập định tỉnh. Để từ trên cái nền tảng định tỉnh đó thì cái tri kiến giải thoát của chúng ta nó hóa giải tất cả những ác pháp, nó không cho tác động vào thân tâm của chúng ta, tức là chúng ta giải thoát. Mà giải thoát thì tức là chúng ta chứng chứ có gì đâu, chứng đạt được chân lý của nó chứ gì. Đó là giải thoát.
Mục đích của đạo Phật dạy chúng ta để tu tập giải thoát, chứ không phải là tu tập để có thần thông, phép tắc. Có bao giờ đức Phật nói chúng ta tu bây giờ có Tam Minh, có này kia đâu. Tại vì trên con đường tu tập tâm thanh tịnh, nó phải có như vậy thôi. Chứ cái mục đích của đạo Phật là tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ – nó không có dao động. Cho nên bờ bên nay và bờ bên kia nó rõ ràng.
Cho nên vì vậy mà chứng quả A La Hán không phải khó. Khi chúng ta hiểu rồi là chúng ta Minh rồi, thì Minh rồi thì làm sao có những cái Vô minh xen vô được? Đã Minh thì làm sao còn Vô minh? Hễ cái này có, thì cái kia không.
Cho nên ở đây chúng ta rèn luyện Định Vô Lậu để chúng ta triển khai cái tri kiến Minh của chúng ta; mà cái tri kiến Minh này nó gọi là tri kiến giải thoát. Vì nó Minh – nó mới giải thoát; còn nó Vô minh – nó mới đau khổ, nó mới không giải thoát. Cho nên mục đích chúng ta học rất rõ ràng: học và tu rất rõ ràng, cụ thể; nó không sai chút nào hết. Nếu chúng ta không nỗ lực học, tu kỹ lưỡng thì chúng ta không làm gì được hết.
6- NHỮNG BÀI HỌC ĐẠO ĐỨC SỐNG ĐỘNG
(20:42) Vì vậy mà hôm nay triển khai, Thầy thấy có nhiều bài mà mấy con viết nó trở thành một cái bài học Đạo đức Nhân bản – Nhân quả được.
Như cái bài của cô Diệu Vân, cái bài của con thì con nên làm thành sách Đạo đức Nhân bản – Nhân quả giúp cho người khác đọc để họ sống thiện. Khi mình viết thì mình thường nhắc lại những cái nhân quả của mình trong khi mình làm thiện – làm ác, mình nhắc lại – nó trở thành cái bài học đạo đức sống động.
Đầu tiên thì mình đưa ra những cái chuyện ở ngoài xã hội, nhưng cuối cùng để mà kết luận lại thì chúng ta đem lại cái bài học. Tức là chúng ta được học ngay cái đạo đức ở trên thân của chúng ta, cái sự kiện đã xảy ra cho cái đời sống của chúng ta.
Rất nhiều đạo đức – chúng ta làm thiện, làm ác; chúng ta tạo những đau khổ cho mình, cho người. Chúng ta nói ra, nói ra hết – tức là chúng ta vô lậu. Coi như chúng ta biết rất rõ những cái điều mà sai, những cái điều mà không thiện của chúng ta; rồi chúng ta biết những điều mà chúng ta đã làm thiện.
Cho nên vì vậy mà chúng ta viết nó trở thành một cái tập sách Đạo Đức để cho mình. Và đồng thời những người nào mà có duyên với mình, mình trao cho họ đọc tập sách Đạo Đức này, thì giúp cho họ được sống đạo đức, họ cũng biết được.
(22:03) Bởi vì những cái hành động mà sống như mình thì có những người nó cũng tương ưng, nó cũng giống nhau. Cho nên khi mà họ đọc, họ thấy đây là một cuốn sách Đạo Đức rất là tuyệt vời! Nó thực tế, nó cụ thể cho cái cuộc sống của mọi người chứ nó không có nói cái chuyện cao siêu, huyền bí, xa lạ.
Cho nên, tất cả những cái điều mà mấy con viết nơi bản thân của mấy con thì nó thực tế. Và nó cũng là chuyển biến cái nhân quả cho mấy con từ hiện tại cho đến tương lai – mấy con sẽ không làm cái điều ác nữa, không làm cái sự đau khổ nữa.
Bởi vì khi mà con viết ra, là mấy con đã nhắc nhở mấy con; và mấy con thông sâu trong nhân quả, nhân quả của chính bản thân của mấy con. Ban đầu mình mới viết, viết cái bài nhân quả thân hành, nói về cái thân hành của mọi người, sau đó mình nói về thân hành của mình, để kết luận được cái nhân quả của chính bản thân mình.
Mình móc ra, tức là mình cởi mở, mình giải trừ ra được những cái ác, cái thiện của mình. Để cho mình chiếu soi lại, mình thấy những điều làm tốt; và những điều làm xấu của mình – để gây những buồn đau cho mình, cho người. Thì đây là một tập sách Đạo Đức.
Và các con có nhiều người viết – trở thành những cái tập sách Đạo Đức rất hay. Cho nên mấy con cố gắng, cố gắng để xoay trở vào trong, để nói lên những cái điều đạo đức thật sự mà con người chúng ta được duyên học Phật pháp mà học được những cái bài Đạo đức Nhân bản – Nhân quả này.
Thì do mấy con là tác giả đã viết nên các tác phẩm này; và mấy con chính là nhân vật ở trong cái tác phẩm này mà viết ra, thì nó có cái giá trị rất lớn. Thầy có cái tác phẩm của Thầy, các con có cái tác phẩm của các con. Vì đời sống của các con nói lên nhân quả chứ không có gì hết.
Các con bị chi phối trong nhân quả, mà từ đó chúng ta triển khai ra thì chúng ta trở thành một cái người Minh, chứ không phải là Vô minh nữa. Do vậy mà khi mình có Minh, thì mình phá cái Vô minh lậu, nó không còn cái lậu hoặc ở trong chúng ta nữa, do đó chúng ta được giải thoát.
7- CHỌN PHÁP TU TẬP ĐỊNH TỈNH THEO ĐẶC TƯỚNG
(24:00) Vì vậy mà tâm tập định tỉnh để nó trợ giúp cho cái nền tảng Minh này, để hoàn toàn nó có cái chỗ tựa mà nó chuyển hóa hết tất cả ác pháp. Còn nếu mà chúng ta không định tỉnh thì chúng ta sẽ không có điểm tựa; và không có điểm tựa thì cái trí tuệ chúng ta nó không có dựa chỗ nào, thì nó không có làm sao đẩy lui tất cả những ác pháp tác động xung quanh ta.
Cũng như bây giờ, thân chúng ta đang bị đau nhức ở chỗ nào đó, mà nếu mà chúng ta không an trú được ở trên cái thân hành của chúng ta, tức là không định tỉnh được – thì tâm sẽ dao động trên cái cơn đau, chúng ta chỉ còn rên la và uống thuốc mà thôi.
Còn trái lại, tâm chúng ta định tỉnh – không bao giờ mà dao động tâm. Thì lúc bấy giờ, chúng ta nương tựa vào cái thân hành của chúng ta, an trú vào đó thì chúng ta tác ý, thì chúng ta đẩy lui được cái bệnh của chúng ta ra khỏi thân.
Thì sự an trú đó nó có nhiều phần trên tâm định tỉnh. Cái phần thứ nhất là chúng ta tu tập, chúng ta nương vào cái thân hành của chúng ta – thân hành nội là hơi thở; mà thân hành ngoại là cái hành động thân của chúng ta: bước đi hay đưa tay, duỗi chân. Còn một cái định tỉnh nữa là trên cái “tâm thanh thản, an lạc, vô sự” của chúng ta, chứ không phải riêng có thân hành của chúng ta – mà chúng ta định tỉnh trên trạng thái của Tứ Niệm Xứ. Cho nên cái người nào mà nó hợp duyên với trạng thái của Tứ Niệm Xứ, tức là trạng thái với cái “tâm thanh thản, an lạc, vô sự” thì nên nhiếp tâm vào cái đó, để căn cứ vào chỗ đó để biết được cái nhiếp tâm của mình trong khoảng thời gian bao lâu.
Thì như vậy, chúng ta có ba chỗ mà chúng ta nương vào để mà chúng ta định tỉnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Ba chỗ nương: chỗ thứ nhất là chúng ta nương vào hơi thở; chỗ thứ hai là chúng ta nương vào cái bước đi kinh hành của chúng ta. Đó là hai chỗ. Và chỗ thứ ba là nương vào cái tâm bất động của chúng ta – “thanh thản, an lạc, vô sự” – tức là nương vào Tứ Niệm Xứ.
Vậy thì chúng ta có ba chỗ, nhưng người nào hợp chỗ nào. Thí dụ như bây giờ mấy con nhiếp vô hơi thở thì mấy con bị rối loạn hơi thở, mấy con bị mệt, bị tức – do dó mấy con không cần nhiếp vào hơi thở mà mấy con nhiếp vào bước đi. Mấy con thấy đi mấy con an trú được, và đồng thời mấy con thấy hoàn toàn mấy con an trú được, nhiếp tâm và an trú tâm được trên bước đi, thì mấy con dùng bước đi mà mấy con sử dụng.
Còn bây giờ mà, nếu mà mấy con thấy rằng, bây giờ bước đi mấy con thấy nó không an trú được, nó cứ có niệm hoặc có những chướng ngại gì đó, nó mỏi chân hay hoặc là nó như thế nào đó. Thì mấy con thấy nó không được thì mấy con nhiếp tâm – an trú vào “tâm thanh thản, an lạc, vô sự”.
(26:22) Nhưng mà khi mấy con nhiếp tâm vào “tâm thanh thản, an lạc, vô sự” đó thì một lúc thì mấy con bị ngủ gục, phải không, các con hiểu. Bởi vì nó đâu có đơn giản được. Cái nào nó cũng có cái khó!
Thí dụ như con đi kinh hành thì nó mỏi chân, phải không? Nó làm con thấy uể oải, mệt nhọc, lười biếng, rã rượi – đi hoài nó rã rượi mà. Do đó, cho nên vì vậy mà con thấy nhiếp trong bước đi không được, cho nên vì vậy mà con nhiếp vô trong cái Tứ Niệm Xứ – “tâm thanh thản, an lạc, vô sự”.
Nhưng mà nhiếp trong Tứ Niệm Xứ thì nó có cái chướng của nó là nó bị hôn trầm, thùy miên. Bởi vì nó không có pháp; nó không có cái đối tượng để cho mình ôm chặt cho nên mình bị hôn trầm, thùy miên. Nhưng mà mình biết cách. Bây giờ mình bị hôn trầm, thùy miên thì mình có cách thức để cho mình ngồi tại chỗ mà phá chứ khỏi đi. Bởi vì mình đi thì mình tu không hợp rồi, mà mình đi nữa thì không được, cho nên vì vậy mình có pháp phá nó. Phá nó bằng cách nào đây?
Do đó mình biết cách phá, bởi vì để cho hôn trầm, thùy miên của mình nó không trở lại – cho nó tỉnh táo nó ở trên chỗ “thanh thản, an lạc, vô sự” của nó. Thì bắt đầu mình sử dụng cái đề tài của Định Niệm Hơi Thở, mình nhắc: “Với tâm định tỉnh, tôi biết tôi hít vô. Với tâm định tỉnh, tôi biết tôi thở ra”. Mình chỉ nương vào cái hơi thở của mình ra – vô để cho nó định tỉnh, thì trong khi mình ngồi tại chỗ để mình giữ tâm thanh thản.
Hoặc là trong khi mình bị hôn trầm, thùy miên thì mình chuyển qua cái bước đi của mình, mình đi chừng nào nó hết buồn ngủ thì mình xả ra. Rồi mình trở về với tâm thanh thản của mình. Đó là mình mượn nó để mình phá thôi, chứ mục đích của mình là mình ôm cái “tâm thanh thản, an lạc, vô sự” của mình để cho mình nhiếp tâm và an trú tâm, chứ không phải nhiếp ở trên cái bước đi của mình.
Nhưng mà khi bị hôn trầm thì bắt buộc mình phải sử dụng nó. Hoặc là mình đứng tại chỗ mình sử dụng pháp Thân Hành Niệm để cho mình phá cái hôn trầm của mình thôi. Mà khi cái hôn trầm, mình thấy mình tỉnh rồi thì thôi, không tu cái này nữa.
Không phải là tôi nhiếp tâm ở trong cái pháp này, mà tôi mượn cái pháp này để mà tôi đẩy lui. Còn mình ngồi tại chỗ thì mình mượn cái hơi thở, chứ không phải là mình tu cái hơi thở. Cho nên mình không bị rối loạn hơi thở, tại vì mình mượn nó để mình đẩy lui được. Cho nên các con có ba chỗ để tu tập.
(28:20) Vậy từ đây về sau thì mỗi người mà các con tu về bước đi, tức là Chánh Niệm Tỉnh Giác đi kinh hành: thì mấy con ghi cho Thầy biết là mấy con đi kinh hành, mấy con nhiếp tâm – an trú đó. Còn mấy con tu về hơi thở: chứ mấy con cũng ghi đi kinh hành, rồi cũng hơi thở – Thầy không biết là mấy con tu cái pháp nào để nhiếp tâm, an trú. Cái nào mấy con cũng ghi hết thì coi như là Thầy không biết cái pháp nào là cái mấy con chọn được cái pháp chuyên môn cho mình để cho mình được làm chủ.
Do bây giờ đó, các con chọn lấy. Bây giờ đi kinh hành, các con thấy hợp với đặc tướng của mình thì chọn lấy kinh hành. Mà các con thấy hơi thở mà mấy con nhiếp tâm được thì mấy con sẽ chọn lấy hơi thở. Để từ đó Thầy hướng dẫn cho mấy con theo hơi thở mà tăng lên.
Rồi bây giờ mấy con thấy hai cái pháp này mấy con không hợp, mà mấy con lại thích tu Tứ Niệm Xứ. Do đó Thầy lấy Tứ Niệm Xứ mà hướng dẫn mấy con để cho mấy con nhiếp tâm được trên cái thời gian nào, đúng cái thời gian nào đó thì mấy con dừng lại chứ không được tu nữa, để chúng ta thực hiện được cái sự giải thoát.
Khi mà các con tu đến cái thời gian, thí dụ như bây giờ Thầy cho mấy con tu tới 30 phút thôi, thì 30 phút Thầy biết các con sẽ ở trên 30 phút đó các con sẽ đẩy lui được những cái chướng ngại ở trên thân của con. Thì bắt đầu con trở về với vị trí là tu Tứ Niệm Xứ của mấy con.
Thì do như vậy là mấy con sẽ dùng Định Vô Lậu này mà quán xét mà xả ly hết tất cả các niệm. Cái Định Vô Lậu là cái gốc để xả ly. Vì vậy mà trong khi mình định tỉnh được ở trong 30 phút là mình đủ sử dụng cái Định Vô Lậu này.
Các con sẽ dùng cái tri kiến, tức là cái Minh để mà con xả tất cả các cái niệm trong tâm con. Cho nên hoàn toàn con ly dục, ly ác pháp là bằng cái Định Vô Lậu chứ không phải bằng cái Định Chánh Niệm Tỉnh Giác đâu. Nhưng mà Chánh Niệm Tỉnh Giác để cho con có cái chỗ tựa, cái điểm tựa để mà con dùng cái Định Vô Lậu mà con đẩy lui tất cả những ác pháp ra khỏi thân tâm của các con, để đem lại sự bình an, cái sự giải thoát cho mấy con.
Đó, các con hiểu cái đường lối của đạo Phật để giúp chúng ta ly dục, ly ác pháp hoàn toàn, giúp cho tâm chúng ta thanh tịnh, cho nên nó hoàn toàn bất động. Và khi nó hoàn toàn bất động, tức là chúng ta đã chứng quả A La Hán – tức là chứng đạt chân lý, mấy con.
8- KHÔNG XẢ TÂM DỄ BỊ AN TRÚ TRONG TƯỞNG
(30:23) Vậy thì hôm nay, thì đến đây thì mấy con đã hiểu rồi. Vậy thì mấy con ghi kỹ lại cho Thầy biết, người nào tu tập, trong khi mấy con ghi thì có lúc mấy con ghi hơi thở, rồi đi kinh hành – nó lung tung. Mấy con ghi những phút, giây cho Thầy biết như vậy.
Cho nên ở đây, mấy con tu được 30 giây thì mấy con ghi 30 giây, Thầy không cần mấy con tu nhiều đâu. Thầy không cần mấy con tu mà 30 phút, hay là 1 giờ, 2 giờ mà nhiếp tâm – an trú tâm được cái giờ cao đó đâu. Thầy sợ cái giờ cao của mấy con lắm.
Tại vì mấy con tu 30 phút là coi chừng mấy con bị Tưởng rồi, mấy con nhiếp tâm ở trong Tưởng thôi. Chứ bây giờ rõ ràng là cái tâm của mấy con chưa có xả, chưa có ly; mà mấy con lại tu tập nhiếp tâm được, an trú được như vậy thì Thầy biết là an trú trong Tưởng mất rồi, các con hiểu chưa?
Cho nên khi một người thầy mà hướng dẫn thì người ta biết được mấy con lúc này chưa ly dục, ly ác pháp mà tại sao an lại trú được 30 phút, định tỉnh 30 phút? Là định tỉnh bằng cách nào đây? Chỉ còn có nước Tưởng thôi, chứ không cách nào khác hơn hết. Tức là mấy con sẽ được cái sự an trú, mà sự an trú đó nó ở trong Tưởng.
Mà an trú trong Tưởng thì nó có cái hỷ lạc của Tưởng, chứ không phải là cái hỷ lạc của “Do ly dục sanh hỷ lạc” đâu. Còn bắt đầu mình phải tu tập như thế nào để mình ly dục, ly ác pháp; để “Do ly dục sanh hỷ lạc” mới là ở trong cái định tỉnh của ly dục, ly ác pháp mới được. Mà mình chưa có đủ cái Định Vô Lậu, chưa đủ cái tri kiến giải thoát làm sao mình xả được cái tâm của mình mà gọi là ly dục, ly ác pháp? Như kiểm điểm lại những cái bài vở của mấy con viết như thế này thì làm sao mấy con đủ sức để mà ly dục, ly ác pháp đâu? Cái tri kiến của mấy con làm sao đủ để ly dục, ly ác pháp?
Bởi vì những cái niệm tham – sân – si của mấy con nó phải hiện ra những cái niệm của nó chứ sao. Nó còn ham muốn thì nó phải khởi ra cái niệm ham muốn; nó còn tức giận thì nó phải khởi ra cái niệm phiền não. Các con thấy nó rõ mà, những cái hiện tượng mà nó khởi trong đầu của mấy con thì tức là còn những cái niệm đó.
Mà muốn đạt được thì tức là mấy con phải tu cái Định Vô Lậu này còn nhiều, nữa chứ không phải ít được. Để trang bị cho chúng ta đủ cái tri kiến giải thoát để mọi tâm niệm của chúng ta, mọi sự tham – sân – si, mọi cái tướng tham – sân – si nó hiện ra thì chúng ta đủ sức khắc phục, đủ sức chuyển biến nó, hóa giải nó, nó không còn nữa, đủ sức để mà ly, để mà ngăn và diệt nó.
(32:40) Cho nên chúng ta phải có cái phương pháp ngăn, diệt. Chứ bây giờ trong Tứ Chánh Cần nói “Ngăn ác, diệt ác; Sanh thiện, tăng trưởng thiện”. Nhưng chúng ta lấy cái gì mà chúng ta ngăn, chúng ta diệt đây?
Nếu chúng ta tự dùng cái pháp Như Lý Tác Ý, mỗi cái ác pháp, mỗi này kia chúng ta tác ý chúng ta ngăn thì chẳng qua chúng ta giống như Thiền Đông Độ – biết vọng liền buông, thì như vậy chúng ta bị ức chế mất đi. Cho nên chúng ta chưa có đủ cái tri kiến giải thoát, chưa có đủ cái sức của Định Vô Lậu mà chúng ta ngăn – diệt làm sao được.
Cho nên trong cái phương pháp mà tu về Tứ Chánh Cần “Ngăn ác, diệt ác; Sanh thiện, tăng trưởng thiện”, nó có bốn loại Định, trong đó có cái Định Vô Lậu. Mà cái Định Vô Lậu là cần thiết nhất để ngăn ác và diệt ác.
Còn những cái Định kia như Chánh Niệm Tỉnh Giác, như Định Niệm Hơi Thở, như Định Thư Giãn (như Định Sáng Suốt đó) thì tất cả những cái Định này nó giúp cho chúng ta định tỉnh mà thôi, chứ không có gì hết.
Còn cái Định Sáng Suốt là tại vì chúng ta tu tập nó mệt nhọc, chúng ta phải xả nghỉ, thư giãn. Đó là cách thức thư giãn để xả nghỉ.
Còn cái Định Niệm Hơi Thở là nhiếp tâm để an trú, để giúp cho chúng ta định tỉnh, để khi mà có những cái ác pháp gì tác động vô thì chúng ta nhờ cái tác ý đó để mà cho nó lui ra, để mà chúng ta được định tỉnh ở trong cái hơi thở mà thôi.
Cho nên cái pháp đi kinh hành Chánh Niệm Tỉnh Giác và Định Niệm Hơi Thở là chẳng qua cái pháp để tu tập định tỉnh. Còn cái Định Vô Lậu này mới chính là cái Định của đạo Phật để dạy chúng ta “tâm vô lậu” để chứng đạt quả A La Hán.
A La Hán là vô lậu. Cho nên vì vậy mà muốn “vô lậu” thì chúng ta phải tu Định Vô Lậu. Cho nên vì vậy mà triển khai cái tri kiến của chúng ta, chúng ta mới không còn Vô minh lậu nữa, nó mới hết.
Đó thì các con thấy, những cái điều mà đức Phật dạy nó cấu kết, nó cụ thể, nó rõ ràng chứ không phải. Trên cái pháp hành, trên cái pháp học nó rõ ràng, nó phải từ đó mà triển khai.
(34:19) Cũng như bây giờ các con thấy, hồi nào tới giờ mấy con hiểu nhân quả, nhưng nếu mà nói một con người sanh ra nhiều người thì mấy con bán tín bán nghi. Mặc dù rằng lời nói của Phật đi, mấy con cũng vẫn bán tín bán nghi nữa! Nhưng mà bây giờ so sánh lại cái nhân quả của thảo mộc thì mấy con đâu còn sinh nghi nữa. Tại vì nó cụ thể rồi, nó rõ ràng rồi, bởi vì trước mắt các con đã nhận thấy rồi.
Vì vậy mà cho nên khi mà triển khai được cái tri kiến chúng ta bằng cái thấy chính của chúng ta – thấy như thật. Còn thấy chưa như thật thì chúng ta bán tín bán nghi – dù đức Phật nói chúng ta cũng vẫn bán tín bán nghi chứ chưa hẳn! Chúng ta tin cái lời của đức Phật nói là chúng ta tin Phật, nhưng mà chúng ta không hiểu thì chúng ta phải nghi. Có cái điều kiện cần thiết như vậy, chứ không phải là hoàn toàn chúng ta tin hết đâu.
9- VẤN ĐẠO AN TRÚ
(35:00) Hôm nay thì Thầy sẽ trả lại cho mấy con những cái bài của mấy con. Và trước khi trả, Thầy sẽ trả lời, có những câu hỏi của mấy con.
Trưởng lão: Diệu Đức hỏi Thầy: “Kính bạch Thầy! Có cách nào để an trú tâm được lâu không?”
Có chứ, có cách chứ, có cái phương cách đàng hoàng chứ, đâu có lại không có phương cách mà không bị ức chế đó. Như Thầy nói các con là khi mà chúng ta tu tập, chúng ta dùng cái Định Vô Lậu, bởi vì muốn được an trú mà không có niệm khởi trong tâm chúng ta, mà bây giờ chúng ta tu hoài mà cứ có niệm hoài, thì không hết.
Bây giờ mới hỏi Thầy câu hỏi: “Có cách nào để an trú tâm mình được lâu không?”, nghĩa là an trú.
Thầy nói thật sự, khi mà mấy con nhiếp được 30 phút rồi, bây giờ mấy con muốn nhiếp bao lâu cũng được hết, nó cũng không có niệm hết. Bởi vì mình biết cách rồi và đồng thời mình xả hết tâm rồi thì nó cũng không còn niệm đâu. Mình ly dục, ly ác pháp thì nó hết niệm rồi. Còn bây giờ nó đang còn những cái niệm tham, sân, si của nó cho nên nó vẫn còn niệm. Và vẫn còn niệm thì mình muốn nó không niệm thì phải xả nó thôi. Nó có cái cách xả nó chứ.
Thì Định Vô Lậu – đây là cái phương pháp xả những cái niệm đó chứ có cái gì đâu khác. Cho nên vì vậy mà các con càng triển khai cái Định Vô Lậu thì các con càng xả cái niệm để tâm con an trú được lâu dài hơn. Đó là cách thức để dùng nó xả tâm.
“Và an trú tâm có lợi ích gì? Con nghĩ tâm an ổn thì thôi, sao phải an trú?”
Trưởng lão: Con biết an trú – khi mà mình chưa an trú được thì ác pháp nó bật mình, đánh gốc mình ra, nó làm cho cái tâm mình bị dao động liền tức khắc. Còn mình an trú thì nó không có đánh gốc mình ra được, cái ác pháp nó tác động nó không đánh gốc. Bởi vì an trú, tức là như hồi nãy Thầy nói: “tâm định tỉnh”, mà nếu có an trú được thì nó mới có lợi ích, nó mới nhu nhuyến, dễ sử dụng; còn không định tỉnh thì nó không nhu nhuyến, dễ sử dụng. Cho nên đức Phật đã nói mà: “Tâm định tỉnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng”.
Con thấy, ba cái danh từ kép này nó kết hợp thành một cái đường đi của nó rõ ràng: “Tâm định tỉnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng”. Nhưng mà mình an trú không được thì tâm không định tỉnh. Cho nên nó mới có những cái phương pháp để cho chúng ta biết cách để mà chúng ta an trú cho được tâm mình và đồng thời mình phải tu, mình an trú cho được.
Thì ở đây, những câu hỏi này thiết thực để mà chúng ta hiểu cho rõ cách thức tu tập.
(37:12) “Và an trú tâm có lợi ích gì?”
Trưởng lão: Đó là cái câu hỏi để biết cách thức an trú. – An trú tâm để có tâm định tỉnh.
“Con nghĩ tâm an ổn thì thôi, sao lại phải an trú?”
Trưởng lão: Nếu mình không trú thì mình bị ác pháp đánh bật gốc ra; còn mình trú được thì nó đánh mình không bật gốc ra. Con hiểu không?
Cho nên mình trú, cũng như bây giờ, thí dụ như cái cơn đau mà con không an trú được trong hơi thở con; con không an trú ở trong thân hành con; con không an trú trong cái bất động tâm của con – tức là “thanh thản, an lạc, vô sự” – thì cái đau đó nó sẽ lôi con theo cái đau, nó đánh bật gốc con ra liền. Còn con an trú – con dính vô đó, nó không bật gốc ra, cho nên cái đau nó giảm xuống liền tức khắc, làm cho con được an ổn, cho nên gọi là an trú.
Bởi vì cái nghiệp lực, nó có cái sức lực rất là mạnh. Cái cơn đau, chúng ta lấy tay ngắt chúng ta cái như vầy – đau rồi nó hết. Nhưng mà có cơn đau nó dai dẳng, mà nó đau càng ngày cái lực nó đau tăng lên đến cái mức độ của nó, cái lực của nó đến mức độ đó nó mới hết đau. Nhưng đến mức độ mà cuối cùng của cái sự đau, thì Thầy thấy phần nhiều là con người bò càng hết!
Nghĩa là, thí dụ như cái cơn đau bụng thôi, mà mấy con thấy ghê gớm! Thầy thì không biết cái người đau bụng đẻ như thế nào nhưng mà mẹ Thầy thì nói lại: “đau bụng đẻ, đau dữ lắm!” Không biết đau như thế nào nhưng mà nghe mẹ Thầy nói đau ghê gớm lắm – thì chắc cũng đau lắm! Cho nên cái người đau đó, họ gồng mình lên – họ chịu đựng.
Còn cái đau mà ung thư đó, Thầy thấy như thầy Sắc Tứ ở đây, thầy có đến đây thầy ở mà. Khi mà đau thầy gồng tay, gồng chân lên thầy chịu đựng cái cơn đau, thầy cắn chặt răng thầy chịu đựng. Nó đau, chắc có lẽ đau lắm! Thấy cỡ mà người ta gồng mình, người ta trân mình lên chịu đựng cái cơn đau thì Thầy nghĩ rằng cái cơn đau nó cũng có cái lực ghê gớm lắm! Nếu mà chúng ta an trú không được thì cơn đau đó nó sẽ lôi chúng ta, nó không có còn cái chỗ nào mà cho chúng ta trú.
Cho nên vì vậy mà chúng ta tập an trú, để cho nó an trú được. Khi mà ác pháp nó tác động đến thân tâm, cái nghiệp nó tác động như vậy thì cứ như vậy chúng ta an trú vô; hoàn toàn an trú thì cái cơn đau đó nó sẽ bị giảm xuống dần bởi vì cái nghiệp của nó, nó sẽ bị chuyển. Cho nên khi mà chúng ta an trú nó có lợi ích rất lớn. Còn tâm an ổn – nó chỉ là nhỏ mà thôi!
“Khi an trú, có dùng câu pháp hướng không?”
Trưởng lão: Nói chung, an trú thì không còn dùng câu pháp hướng. Nghĩa là mình an trú rồi, nghĩa là trú trong đó thì không có dùng câu pháp hướng. Còn đang dùng câu pháp hướng tức là còn dẫn tâm, tức là mình chưa an trú – mình đang dẫn nó vô an trú.
Cho nên, thí dụ như bây giờ Thầy muốn an trú trong cái tâm thanh thản của Thầy, Thầy nhắc: “Tâm thanh thản, an lạc, vô sự”, rồi Thầy trú ở trong thanh thản đó một chút cái Thầy sợ nó sẽ bung ra, cho nên Thầy lại nhắc, tức là còn tác ý là mình còn tập an trú chứ chưa phải an trú.
Cũng như Thầy đi kinh hành, Thầy nói: “Tôi đi kinh hành, tôi biết tôi đi kinh hành”, rồi Thầy đi đây tới cửa, tức là Thầy tập nó an trú từ đây tới cửa, Thầy biết cái bước đi của Thầy. Nhưng mà Thầy sợ rằng nếu mà nếu đi từ đằng kia mà đi trở lại đây thì nó sẽ bị có một cái niệm hay hoặc có cái gì làm cho chướng đi, nó sẽ mất cái an trú của Thầy, cho nên Thầy nhắc một lần nữa – tức là Thầy còn dẫn nó, dẫn nó để an trú.
Cho nên cái tác ý còn, cái pháp hướng còn thì nó còn đang tập; còn khi mà an trú rồi thì không còn hướng nữa – hết. Khi mà an trú rồi thì coi như an ổn ở trong đó, không còn tác ý nữa – thì như vậy mới gọi là an trú thật sự.
(40:25) “Khi con ngồi theo dõi hơi thở thì chỉ được có 10 phút, có lúc được 15 phút, có khi có 5 phút?”
Trưởng lão: Như vậy rõ ràng là 10 phút, 15 phút là không lấy, mà lấy 5 phút. Lấy cái chót của nó đó, tức là mình an trú được ở trong 5 phút. Nhưng mà có những lúc được, rồi có khi không được; nhưng mà cái 5 phút này là cái chuẩn, lúc nào chúng ta cũng đạt được hết. Thì đó là 5 phút.
Mà nếu mà nói 5 phút, có khi tôi còn có 3 phút thì sụt xuống 3 phút. Mà có khi tôi còn có 1 phút thì lấy có 1 phút chứ không có được lấy 3 phút, lấy 5 phút. Vì đó là cái chuẩn của chúng ta, cái căn bản của chúng ta để đi lên trên cái sức định tỉnh của nó để mà an trú.
“Khi ngồi tập trung lâu, con thấy dễ rơi vào vô ký lắm?”
Trưởng lão: Đúng rồi, tập trung lâu thì nó dễ rơi vào vô ký và nó dễ rơi vào cái định Tưởng nữa, chứ không phải là vô ký không đâu. Cho nên ở đây chúng ta tu tập là luôn luôn lúc nào chúng ta cũng có pháp, đang tu tập mà. Còn khi tu tập xong thì an trú là không bao giờ có rơi vào vô ký được hết, mà không bao giờ hôn trầm đánh vô được, bởi vì mình an trú.
Cho nên mình không còn dùng pháp nữa mà mình trú vào trong cái hơi thở hoặc là trú vào trong bước đi của mình, thì hoàn toàn nó an ổn trong đó. Cho nên cái pháp tác ý nó không còn có nữa, cho nên nó là an trú. Mà an trú được thì không bao giờ mà có vô ký; mà an trú chưa được tức là sẽ có vô ký, hôn trầm sẽ đánh vô chỗ đó, và Tưởng cũng sẽ đánh vô chỗ đó.
“Kính xin Thầy chỉ dạy cho con được rõ, con chưa rõ vấn đề an trú tâm này lắm?”
Trưởng lão: Đó, cách thức mà Thầy dạy cho mấy con, cách thức an trú đó. Bây giờ mình lấy căn bản của mình, đi từ cái căn bản, chứ nhiều khi mấy con cứ nghĩ là tu 30 phút là các con tu hết 30 phút rồi chuyển qua pháp khác tu. Còn cái căn bản mà để an trú đó, có lúc thì được 20 phút, có lúc thì được 15 phút, có lúc 10 phút, có lúc 5 phút, có lúc 3 phút – thì như vậy mấy con tu hoài là nó cũng vậy thôi, chứ nó cũng không có hơn gì hết. Các con thấy, nó đâu có căn bản đâu.
Cho nên phải nắm cho được cái căn bản. Cái sức của chúng ta nhiếp cái tâm của mình và an trú tâm mình được ở cái mức nào, mình lấy cái chỗ đó mình làm cái chuẩn để mình đi lên.
Mình biết cái kết quả hàng ngày, hàng tuần mình có thể mình tiến lên được, mình thấy rõ ràng và khi mình tiến lên được thì mình không có giậm chân tại chỗ nữa. Và cuối cùng, mình tiến đến cái mức độ cuối cùng của nó thì mình lấy cái chỗ đó làm cái chuẩn thời gian của nó. Rồi từ đó mình mới sử dụng để cho mình xả tâm, mình ly dục, ly ác pháp cho sạch – cách thức của mình trú tâm để cho mình định tỉnh, mình nằm ở đó mà mình xả.
Cho nên mấy con thấy, trước tiên, nếu mà quán ly tham, quán ly sân, quán ly si; quán từ bỏ tâm tham, quán từ bỏ tâm sân, quán từ bỏ tâm si qua Định Niệm Hơi Thở – thì các con thấy, phải an trú thân và an trú tâm. Các con thấy, an trú cái thân mình và an trú được tâm. Cho nên “An tịnh thân hành, tôi biết tôi hít vô. An tịnh thân hành, tôi biết tôi thở ra”. Rồi bắt đầu mới dạy: “An tịnh tâm hành, tôi biết tôi hít vô. An tịnh tâm hành, tôi biết tôi thở ra”. Và tất cả những cái đề mục sau thì “quán ly tham”, “quán ly sân”, “quán ly si”. Mấy con thấy rõ ràng, từ cái chỗ an tịnh được, an trú được rồi thì bắt đầu mình sử dụng cái Định Vô Lậu này là mình xả hết, mình ly dục, ly ác pháp hết, hoàn tất được con đường tu mình rất dễ dàng.
Và khi mà mình đã triển khai được cái tri kiến giải thoát của Định Vô Lậu rồi, thì mình thấy mình có cái phương pháp để xả ly. Và đồng thời trong khi mình triển khai thì mình đã xả ly, mình đang xả ly rất nhiều cái ác pháp, rất nhiều cái tham, cái sân của mình.
(43:36) “Nếu an trú không cho niệm thiện – niệm ác khởi lên thì có rơi vào Thiền Đông Độ không?”
Trưởng lão: Nghĩa là mình “an trú mà mình xả tâm” chứ không phải là “an trú ức chế tâm”, con nhớ phân biệt đó. Mình an trú mình xả tâm là khi mình… bây giờ Thầy tu được 1 phút là an trú rồi, cái khả năng của Thầy nhiếp là an trú được 1 phút, bây giờ phút thứ hai là Thầy xả đây. Thầy tiếp tục Thầy tu phút thứ hai mà có một cái niệm nào xẹt vô, Thầy tu bình thường chứ Thầy đâu có nhiếp tâm, phải cố gắng mà giữ thì bị ức chế.
Cho nên Thầy cũng vẫn tu bình thường, Thầy cũng như là ở trong cái rất là nhẹ nhàng, không cố gắng mà tập trung, do đó thì cái niệm nó sẽ khởi ra. Mà cái niệm khởi ra thì nó biến thành cái đề tài vô lậu của Thầy rồi, Thầy đi qua cái vô lậu Thầy xả nó ra. Và khi mà Thầy xả hết cái niệm đó rồi thì Thầy trở về với cái hơi thở mà Thầy nhiếp tâm, Thầy an trú trong hơi thở trở lại.
Thì khi mà cái sức mà Thầy nhiếp tâm ở trong 1 phút đó, thì nó đạt 1 phút đó thôi, chứ phút thứ 2 thì nó sẽ bị có niệm. Mà nếu mà cái giờ này nó không niệm, buổi sáng Thầy tu, bây giờ Thầy tu 2 phút, buổi sáng có nhiều khi nó không niệm – nó không niệm thì tốt thôi, không cần nói gì hết; mà buổi chiều nó có niệm đó mấy con. Hay hoặc là bây giờ nó không niệm, mà lát nữa Thầy tu về hơi thở mà Thầy an trú đó, thì nó sẽ bị niệm đó.
Mà nó niệm thì được cái cơ hội để mà Thầy dùng Định Vô Lậu Thầy xả, Thầy dùng cái tri kiến giải thoát này Thầy xả cho nên Thầy có cái phương pháp mà Thầy xả. Chừng nào nó xả hết rồi thì bắt đầu nó an trú luôn, mà nó an trú được ở trong cái sức mà an trú đó – do cái sự tu tập của chúng ta thì nó an trú trong 2 phút. Mà 2 phút thì chúng ta tăng lên, mà nó có niệm thì chúng ta sẽ dùng cái Định Vô Lậu mà chúng ta xả nữa. Mà nó không niệm thì chúng ta tăng lên 3 phút, 4 phút.
Có thể khi căn bản chúng ta 1 phút mà đạt được rồi; thì phút thứ hai, chúng ta đạt được rồi; thì phút thứ ba, thứ tư nó lên 5 phút không chừng. Nó lên nhanh lắm mấy con, chứ không phải là, bởi vì mình xả nó rồi cho nên nó lên nhanh lắm, nó tự nó thanh tịnh rồi nó lên.
Cho nên khi mà, thí dụ chừng 5 phút hay là 10 phút mà mấy con đạt được mà mấy con thấy không có niệm: sáng tui tu cũng không niệm, buổi chiều tui cũng không niệm, mà 5 phút nó không niệm, buổi tối nó không niệm, buổi khuya nó có niệm – thì tôi dừng đó tôi xả. Rồi bữa khác thì buổi sáng nó lại có niệm, mà buổi tối nó không niệm, nó thay đổi, nhưng mà hễ nó lọt vô trong cái vòng của mình, trong cái cái vòng thời gian mình tu, thì lúc bây giờ nó lọt vô trong đó là bao giờ mình cũng xả hết, mình cứ dùng cái Định Vô Lậu mình xả. Và cuối cùng thì nó đã bị xả hết rồi thì nó không còn niệm nữa.
(46:00) Không còn niệm nữa thì bắt đầu từ 5 phút đó, mình cứ tăng lên 10 phút, 30 phút rất dễ dàng, không có khó khăn bởi vì nó căn bản – nó không niệm, nó hết niệm luôn.
Đó, thì mấy con thấy cái sự tu tập nó căn bản thì nó không bao giờ nó còn niệm. Mà trái lại, mình thiếu căn bản, mình cứ tu chung chung đó, tu cái thời gian mà mình quy định là mình phải tu 30 phút – thành ra nó có niệm xẹt ra, xẹt vô, xẹt ra… Rồi có khi mình nhiếp tâm nó an trú được thì nó lọt trong Tưởng, nó lọt trong Tưởng mất đi. Do đó mình tu hoài mà không có kết quả.
Còn ở đây, mình có cách thức mình tu rồi. Và từ lâu tới giờ mình chưa triển khai cái Định Vô Lậu cho nên khi có cái niệm đến – thường mình tác ý, mình ức chế giống như Thiền Đông Độ. Cho nên mình cũng bị lọt trong Tưởng nữa, cho nên nó sai.
Còn bây giờ đó, mình triển khai được cái tri kiến của mình rồi. Do những cái hiểu biết về Vô lậu, do những hiểu biết về Thập nhị nhân duyên, do hiểu biết về Thân ngũ uẩn – mình hiểu biết như thật mà, do hiểu biết Các pháp vô thường, Các pháp vô ngã. Do cái sự hiểu biết đó bằng cách là mình đã từng triển khai cái tri kiến của mình cho nên nó thấm nhuần rồi. Cho nên mỗi cái ác pháp, mỗi cái tâm tham – sân – si chúng ta hiện ra, tức là Dục lậu, Hữu lậu, Vô minh lậu mà nó hiện ra là chúng ta phá hết rồi, chúng ta đập hết rồi. Cho nên nó không còn tác động đến thân tâm chúng ta thì nó thanh tịnh; mà thanh tịnh thì chúng ta an trú chứ có gì đâu.
À, con hỏi Thầy: “Có mấy cách an trú tâm? Kính xin Thầy hoan hỷ chỉ dạy!”
Trưởng lão: Đó, nãy giờ Thầy nói có 3 cách: cách thứ nhất – hơi thở; cách thứ hai – đi kinh hành; cách thứ ba – là “thanh thản, an lạc, vô sự”. Nó 3 cách an trú tâm.
“Lúc này con ít có trạng thái phải ngồi thiền; nhưng hơi thở của con nhẹ, thông suốt và mát lạnh”.
Trưởng lão: Nếu mà cái hơi thở con nó như vậy thì con sử dụng hơi thở để an trú. Đó là một cái duyên của mình nó có với cái hơi thở, tức là cái đặc tướng của mình với hơi thở. Mình thở mà không rối loạn này kia thì mình dùng cái hơi thở mình “nhẹ, thông suốt và mát lạnh” để mình sử dụng trong những cái đề mục.
Về hơi thở, nó có những cái đề mục rất cần thiết. Khi mà chúng ta an trú được cái thân và tâm của chúng ta được rồi thì coi như là có ác pháp gì – chúng ta nương vào đó mà chúng ta đẩy lui rất dễ dàng, tác ý rất dễ dàng, không có khó khăn. Đó là trả lời về câu hỏi.
Còn cái gì mà mấy con thấy chưa hiểu đó, thì hỏi thêm Thầy con! Diệu Đức có thấy gì còn chưa hiểu không?
10- NHÂN QUẢ NGHỀ NGHIỆP
(48:04) “Con thưa Thầy, Thầy cho phép con hỏi, nghề nghiệp có phải là nhân quả không?”
Trưởng lão: Các con nghe ở trong Bát Chánh Đạo đó, thì nó có cái Chánh Nghiệp. Cái Chánh Nghiệp là cái nghề chân chánh, mấy con. Cho nên vì vậy mà có 6 cái nghề mà đức Phật cấm – không có cho chúng ta hành những cái nghề đó.
Mà cái nghề tức là cái hành động làm cái việc đó để kiếm tiền sống. Nhưng mà cái nghề đó mà làm kiếm tiền bằng cách là tham lam, bằng cách là ác pháp, bằng cách làm đau khổ cho người khác để cho mình có được tiền đó – thì cái nghề đó không phải là Chánh Nghiệp.
Cho nên ở đây, con hỏi đó: “Thầy cho phép con hỏi, nghề nghiệp có phải là nhân quả không?”.
Nhân quả đó con! Nó là nhân. Con làm cái nghề ác, bây giờ làm nghề ăn trộm đi, thì mình đi lấy của người ta – đó là cái hành động ăn trộm đi.
Bây giờ Thầy làm cái nghề lương thiện chứ gì – Thầy làm một cái điều nó không làm khổ mình, khổ người. Cái nghề đó nó vừa nuôi sống Thầy, mà nó vừa lợi ích cho người khác, thì cái đó là cái nghề nghiệp tốt, nghề nghiệp thiện. Tức là cái nghiệp thiện, nó thuộc về nhân quả.
Nghĩa là nói trong thân của chúng ta mà hoạt động một cái gì là có nhân quả hết, không có gì. Chúng ta ngồi im như vầy thì nó không nhân, không quả; thanh thản – nó không nhân quả. Chứ ngồi im mà cái đầu nghĩ tầm bậy cái nó cũng là nhân quả trong đó rồi.
Cho nên chúng ta động dụng gì nó cũng có nhân quả hết. Đừng có động dụng nó thôi, tức là đừng có Hành. Mà hễ nó Hành mà nó Vô minh thì nó là ác pháp; mà nó Hành mà nó Minh thì nó là thiện pháp thôi. Các con hiểu chưa?
Cho nên, nói về cái thân của chúng ta mà nói về nhân quả thì nó là thân nhân quả rồi. Cho nên hễ động dụng một cái là nó có nhân, có quả liền tức khắc!
Bây giờ con hỏi về nghề nghiệp, để ví dụ cho con một vài cái nghề nghiệp. Như Thầy nói cái nghề ăn trộm, nghề đi lấy của, cướp giật người ta – đó là cái hành động làm cho người khác đau khổ.
Rồi bây giờ Thầy nói cái nghề nữa, cái nghề như cái nghề mà cái người cảnh sát họ đứng họ gác đường. Bắt đầu bây giờ có người đó họ chạy xe, họ lạng lách hay hoặc là họ không có đúng cái luật lệ giao thông, họ thiếu đạo đức giao thông. Mà cái ông cảnh sát này thổi cái “quét”: “Đứng lại”; cái ông kia ổng đưa cái luồn tiền. Thì cái ông này – cái nghề nghiệp xấu chứ đâu có nghề nghiệp tốt – ăn lo hối lộ. Thay vì phải phạt cái người này; thay vì cái người này để như vậy họ sẽ gây tai nạn giao thông, chết, làm khổ người, khổ mình – biết bao nhiêu cái chuyện không? Cho nên vì vậy mà người cảnh sát này phải cảnh giác, phải không nhận tiền ông này. Mà ông này lỗi về luật lệ giao thông thì phạt liền tức khắc để chừa cái tật này, thì vậy người ta mới ớn chứ. Còn không – chỉ cần có đưa tiền ông ta, ông đút túi ông – cái rồi cứ đi. Thì như vậy là: “có tiền là có thể”. Vì vậy mà ông này chạy lạng nữa – “Mình có tiền mà, đâu có sợ!”. Do đó mà gây ra những cái đau khổ cho người khác. Đó là cái nghề mà làm cảnh sát là cái nghề không tốt. Mà cái nghề của người cảnh sát hoàn toàn không lo ăn hối lộ, như vậy đó, thì cái nghề cảnh sát đó là nghề tốt.
Đó, cái nghề mà con! Đem một vài cái ví dụ để con thấy cái nghề.
(50:46) Bây giờ Thầy nói cái nghề tốt. Cái ông bác sĩ là cái nghề rất tốt. Nhưng mà khi người ta có tiền thì ổng mới trị, còn không có tiền thì ổng để cho bệnh nhân đó chết bỏ thôi – thì cái ông bác sĩ đó, là cái nghề đó không tốt! Các con thấy không?
Một ông thầy giáo cũng vậy, cho bài học trò rồi thì phải kiểm coi nó có copy với nhau không? Mà cái này ngồi ở trên đó, lật cái tờ báo coi, thì như vậy là ông thầy có trách nhiệm, hết trách nhiệm không? Thì ông thầy đó, cũng là cái nghề nghiệp làm thầy, mà xấu! Các con thấy cái xấu không? Cái ác pháp không? Trách nhiệm của mình làm không hết, đó là ác pháp.
Một cái ông giám đốc mà ổng lừa công nhân của ổng. Nghĩa là ổng bắt người ta làm cái giờ đó để mà ông ăn riêng, hay hoặc là ổng bớt đi cái số lương của công nhân, để ổng lợi hưởng. Mỗi người công nhân ông chỉ lợi hưởng 1 đồng, 2 đồng thôi; mà 1 ngàn, 2 ngàn thì bao nhiêu cái tiền của người công nhân? Thay vì ổng phải trả cho đúng cái sức lao động của người ta. Thì cái ông giám đốc đó, cái nghề mà làm giám đốc đó – nó không lương thiện. Tức là cái nghề đó không Chánh Nghiệp. Tức là cái nghề – nhân quả đó, nó xấu đó.
Đó là một vài ví dụ. Cho nên vì vậy mà khi nói về nhân quả, các con nói về nghề nghiệp là rất hay. Nó thành cái đạo đức nghề nghiệp, mấy con. Bởi vì mình nêu cái nghề đó, cái hành động đó ác thì phải có cái hành động thiện rồi.
Cho nên các con nghe tại sao mà Thầy viết về Đạo đức con người không? Đạo đức con người thì nói qua nhân quả chứ có cái gì khác hơn. Mà nói đạo đức nghề nghiệp thì tức là nói về cái nghề nghiệp, để người ta làm ra tiền người ta sống.
Nhưng mà trong cái nghề nghiệp đó nó tốt, cái nghề nghiệp thì tốt nhưng mà con người hành cái nghề nghiệp đó xấu – là tại vì người ta tham lam. Người ta do cái lòng tham lam, muốn cho mình được nhiều cho nên người ta mới hành động đó mà bóc lột kẻ khác, làm hại người khác, để đem lại cái sự lợi nhuận nhiều cho mình. Đó là xấu.
Cũng như bây giờ cái người buôn bán, mấy con thấy họ buôn bán. Nhưng mà thay vì họ bán thì họ phải kiếm lời, nhưng mà không được cắt cổ người ta. Mà không được đo thiếu, không được cân non. Mà cái này mấy con cân non, đo thiếu; mà hàng xấu – thấy người ta bơ bơ không biết, nói hàng tốt, bán cho được tiền. Do đó, là những người hành cái nghề buôn bán đó xấu. Cái nghề nghiệp đó nó có cái nhân quả ác của nó.
Cho nên đồng tiền mà làm ra đó, thì trong gia đình đó thì có những đứa con nó sẽ lấy cái đồng tiền đó nó phá sạch, cho nên cũng khó mà làm giàu. Hoặc là một cái trận hỏa hoạn nó thiêu sạch, nó cũng không để – bị vì những người đó là những người xấu.
Cái nhân thì phải quả chứ! Mình cướp giật bằng mồ hôi, nước mắt của người khác; bằng lừa đảo người ta như vậy. Cái nghề nghiệp của mình lừa đảo như vậy thì cái đồng tiền của mình sẽ giữ không được. Một là con cái ở trong nhà mình nó sẽ phá, nó sẽ trộm cắp, nó sẽ lấy nó đi chơi hoặc là này kia; nó trở thành những đứa con hư thân mất nết, nó xài tiền cha mẹ nó như vậy. Còn không thì hỏa hoạn, còn không thì lũ lụt, nó xảy ra cho chúng ta. Hoặc là những người trong gia đình chúng ta có người đau trầm trệ, hoặc là xảy ra để bao nhiêu tiền của chúng ta đem vào nhà thương, bệnh viện hết.
Đó là những cái đồng tiền, làm ra cái nghề nghiệp, cái hành động đó – thiện, ác. Cho nên nhân quả đó nó phải trả.
Ở đây con muốn hỏi Thầy: “Có những điều kiện mà con không hiểu nhân quả, cho nên con muốn hỏi Thầy để Thầy xác định cho rõ cái nhân quả”.
Trưởng lão: Và ở đây, nó có những cái điều kiện mà mình xác định không được rõ, cái nhân quả mình không biết ở chỗ nào.
HẾT BĂNG
Đang trực tuyến: 5 | Lượt truy cập: Hôm nay: • Tổng: | Lượt xem trang: Hôm nay: • Tổng:


