ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
LCK 025A – (Nữ) Triển khai tri kiến để không liệt tuệ – Phân biệt Nhiếp tâm và An trú tâm

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

LCK 025A – (Nữ) Triển khai tri kiến để không liệt tuệ – Phân biệt Nhiếp tâm và An trú tâm

A A A

LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 025A

TRIỂN KHAI TRI KIẾN ĐỂ KHÔNG LIỆT TUỆ – PHÂN BIỆT NHIẾP TÂM VÀ AN TRÚ TÂM

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh nữ

Thời gian: 26/11/2005

Thời lượng: [46:48]

 

1- SẮP XẾP CHỖ NGỒI TRONG LỚP HỌC NGĂN NẮP, THỨ TỰ

(00:00) Trưởng lão: Chúng ta đem bài lên, nộp Thầy hết. Bây giờ, cái lớp học của chúng ta hôm nay, mấy con xếp lại. Tu sĩ ngồi theo tu sĩ. Chứ không, tu sĩ mà ngồi với cư sĩ nó lộn xộn, vậy thì nó không có ngăn nắp, mấy con. Tu sĩ thì ngồi theo tu sĩ, mà người già thì ngồi lên trên, người trẻ thì ngồi phía dưới. Còn cư sĩ ngồi một bên, mà tu sĩ ngồi một bên. Đó, vậy thì nó mới có ngăn nắp, thứ tự.

Bây giờ, những người tu sĩ, các con tu sĩ thì qua bên đây hết, qua bên nay theo Thầy, còn cư sĩ thì mấy con qua bên kia. Mà nếu hết chỗ thì các con sẽ ngồi, tuổi trẻ thì ngồi sau, lớn tuổi thì ngồi trước, mấy con. Mấy con qua bên đây đi, bên đây đổi đi con, tu sĩ thì ngồi bên đây đi con. Coi cái chỗ nào đi dễ đó mấy con. Tu sĩ mấy con lên trên này, dồn lên này hết đi con. Người lớn tuổi thì lên trên này con. Mấy con lớn tuổi lên, cô Huệ Ân lên trên này đi con, con lên cái ghế trên đó. Mấy cô lớn tuổi lên trên này hết, dồn lên trên này sát trên này, dồn lên đi mấy con, tu sĩ mấy con dồn lên. Đừng cứ nhường nhau, mấy con lớn tuổi, mấy con cứ lên trên. Rồi cái người trẻ tuổi thì ngồi dưới, mấy con.

Bên cư sĩ cũng vậy, mấy con cũng dồn lên trên, lớn tuổi thì ngồi trên, mấy con, nhỏ tuổi ngồi dưới. Mấy con ngồi lên hết, trước hết đó. Để ở sau nó trống, có cư sĩ người ta xin dự thính, người ta sẽ có cái ghế người ta ngồi mấy con. Mấy con lên trên, sát trên này hết đi, để cáo lớp học của chúng ta nó có thứ lớp. Ở ngoài nhìn vào thì chúng ta thấy cái lớp học nó hẳn hòi. Bây giờ Thầy đã phân cho chúng ta thấy mấy con tu sĩ thì theo tu sĩ, cư sĩ thì theo cư sĩ.

2- TU ĐỊNH VÔ LẬU LÀ TRIỂN KHAI TRI KIẾN

(02:11) Xong rồi, thì bây giờ Thầy xin nhắc lại về vấn đề hôm nay là cái lớp học chúng ta sẽ tu tập tới rốt ráo. Nghĩa là chúng ta triển khai cái tri kiến của chúng ta, không để nó trở thành cái liệt tuệ.

Thường thường cái danh từ ở trong kinh Phật nói “Liệt tuệ”, mà trong khi đó chúng ta không chịu khó triển khai cái tri kiến của chúng ta thì không thể nào mà gọi là giải thoát.

Bởi vì cái cuộc đời mà tu theo đạo Phật đó, cái mục đích của nó là cái tri kiến, cái sự hiểu biết của chúng ta, mà nó giúp chúng ta giải thoát, cho nên gọi là Định Vô Lậu. Cái phương pháp mà tu Định Vô Lậu là cái phương pháp triển khai cái tri kiến của chúng ta. Nó gọi là Định Vô Lậu – tức là nó dùng tư duy, quán xét, suy nghĩ làm cho cái sự hiểu biết của nó thấu suốt rõ ràng – gọi là Thiền Quán. Nếu mà đứng trong góc độ thiền định thì gọi nó là Thiền Quán, vì nó có sự tư duy, suy nghĩ.

Cho nên nó rất quan trọng, nếu mà chúng ta không triển khai được tri kiến của chúng ta thì chúng ta không bao giờ có giải thoát. Chúng ta nhìn từ xưa đến giờ, hầu hết là người ta dạy chúng ta nhiếp tâm, an trú tâm. Nhưng người ta dạy chúng ta học để chúng ta hiểu biết lời của Phật dạy, chứ chúng ta không có được triển khai tri kiến của chúng ta trở thành có sự hiểu biết của chính mình.

Cho nên tất cả những bài mà các con viết từ sự suy tư của các con, cho nên mỗi người viết đều khác nhau. Cái sự hiểu biết của các con không giống nhau, nhưng cái điểm chính của nó là mấy con quay chung quanh một cái trục của nó – mà gọi là đường đi của nhân quả. Đường đi của nhân quả thì đức Phật đã vạch ra cho chúng ta thấy rất rõ, đó là: Thập Thiện và Thập Ác.

(04:05) Chúng ta hiểu được như vậy chúng ta mới diễn tả được cái sự hiểu biết của chúng ta. Làm chúng ta hiểu được cái đường đi của nhân quả; hiểu được những cái hành động của chúng ta thiện hay là ác. Để chúng ta chuyển biến mình trở thành những con người hoàn toàn giải thoát, sống bình thường như mọi người nhưng tâm chúng ta không còn phiền não, đau khổ nữa.

Mục đích của đạo Phật là đem lại cho chúng ta một đời sống đạo đức bằng sự hiểu biết, chứ không phải bằng thiền định gì cả. Do đó nếu chúng ta không học, không hiểu biết thì chúng ta không làm sao có sự giải thoát.

Cho nên người mà không chịu triển khai cái sự hiểu biết của mình, làm cho lấy có, làm cho lấy lệ, thì những người ấy là Liệt tuệ – đức Phật dùng “Liệt tuệ”. Còn những người chịu khó học tập, tư duy, suy nghĩ để viết ra những sự hiểu biết của mình, để làm chúng ta hiểu các pháp như thật, thì gọi là Thắng tuệ – cái danh từ của đức Phật gọi “Thắng tuệ”. Thì trong Kinh Giới thì gọi là “Tri kiến giải thoát”. Còn Liệt tuệ là cái sự hiểu biết nó liệt bại, nó không có hiểu biết, nó làm cho cái người đó mù mờ.

Thậm chí như có người lí luận: như ông Châu Lợi Bàn Đặc, ổng học ổng không thuộc, ổng không biết, ổng không thuộc kinh, không thuộc kệ – vậy sao ông ấy chứng quả A La Hán? Ổng tu pháp gì chứng quả A La Hán?

Một người liệt tuệ là một người không chịu làm việc. Còn ông Châu Lợi Bàn Đặc, ông không phải là cái người liệt tuệ mà ông là cái người không nhớ, nghĩa là ông đọc ông không nhớ. Ông đọc một cái câu kệ hoặc là bốn câu kệ, hoặc là một bài kinh ông không nhớ, không thuộc, nhưng ông rất là thông minh. Nếu ông không thông minh sao đức Phật dạy ông ngồi quét tâm mà ông biết? Mà quét tâm bằng gì? Bằng trí tuệ, bằng kiến giải của mình, bằng sự hiểu biết của mình mới quét được tâm. Còn nếu mình không hiểu biết thì làm sao mình quét được tâm?

(06:35) Khi một niệm khởi ra trong đầu của chúng ta, nếu chúng ta không thông suốt thì chúng ta biết đâu mà chúng ta quét. Cũng như trên thân của chúng ta có một cái bệnh mà chúng ta không thông suốt cái bệnh đó – cái trí tuệ chúng ta liệt tuệ, nó không hiểu – thì biết đâu mà chúng ta đẩy lui được cái bệnh. Cho nên nói ông Châu Lợi Bàn Đặc ngồi quét tâm, đâu có nghĩa là ngồi ức chế tâm, ngồi giữ tâm bất động – tức là bị ức chế.

Còn đằng này tu Tứ Niệm Xứ, ai cho phép quý vị ngồi ức chế tâm? Không ai cho phép quý vị ngồi ức chế tâm. Ngồi chơi bình thường, quan sát bốn chỗ Thân – Thọ – Tâm – Pháp, có chướng ngại trên đó, mà thấy chướng ngại thì quét. Mà quét bằng gì? Quét bằng tri kiến giải thoát. Nếu không hiểu biết, thì biết gì mà quét?

3- HỌC TẬP ĐỂ TRIỂN KHAI TRI KIẾN ĐỂ ÁP DỤNG VÀO ĐỜI SỐNG

(07:30) Cho nên đòi hỏi chúng ta có cách thức tu tập hẳn hòi, đường lối mà triển khai tri kiến giải thoát. Trong bài học hôm nay, mấy con được học về Đường đi của nhân quả và các con có người làm bài rất xuất sắc, rất hay, rất đúng và biết áp dụng. Qua sự diễn tả, biết áp dụng vào bản thân của mình. Cho nên các con có tiến bộ, Thầy thấy có tiến bộ.

Nhưng các con nhớ rằng. mình học đây không phải học để hiểu biết chơi mà học để áp dụng vào đời sống của mình, hoàn toàn làm chủ. Vậy thì làm chủ, mình phải làm chủ như thế nào? Khi mình nói chuyện, mình biết mình nói chuyện là gieo nhân gieo quả đó thì có lợi ích gì cho mình? Mình đã chọn lấy con đường tu hành, đâu còn vui chơi. Thì trong khi sống độc cư một mình mình, mình mới thấy được tâm niệm của mình, mình mới quan sát được cái lòng của mình; để rồi từ đó mình mới dùng cái tri kiến của mình học tập nhân quả mà mình xả nó.

(08:41) Nếu mình nói chuyện thì mình có thấy được nó không? Sự cô đơn mình mới thấy được tâm mình tuôn trào. Tâm tuôn trào, mình mới có đủ khả năng mình mới thấy được nó, mình mới có đủ khả năng mà quét nó. Thì như vậy tâm mới thanh tịnh, mới “ly dục, ly ác pháp”, mới lìa hết tham – sân – si. Còn nếu mình không học không hiểu thì mình biết gì mà mình ly. Cứ ngồi ức chế cho hết vọng tưởng, hay hoặc đi kinh hành để cho hết hôn, trầm thùy miên – chắc gì mà chúng ta hết hôn trầm, thùy miên?

Cho nên những điều mà mấy con nghĩ tưởng, ở trong thất mình tu, không cần phải học, chỉ mình nhiếp tâm, mình xả tâm. Nhưng mà không ngờ là mình có tri kiến hiểu biết gì mà xả tâm, mà không có tri kiến hiểu biết thì xả cái gì? Thì do đó, ức chế tâm.

Tưởng là mình ngồi đó yên tịnh, thanh tịnh. Nhưng mình xả đi, mình ra đi, rồi đụng duyên đi – thì mình coi tâm mình nó như thế nào, coi nó hết tham – sân – si chưa? Trái lại, người ta sử dụng tri kiến, người ta xả từng tâm niệm, sống từng độc cư để phòng hộ mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý. Cuối cùng, chúng ta có đủ tri kiến giải thoát hoàn toàn. Cho nên Định Vô Lậu rất là quan trọng.

Từ ngày mấy con được học lớp học này, đến nay hơn nửa tháng. Gần 20 ngày rồi, mấy con thấy tri kiến của mấy con hiểu biết về nhân quả như thế nào chưa?

(10:17) Nếu các con cố gắng học tập thì chắc chắn trong khi mấy con đụng mọi ác pháp, thì nội tri kiến nhân quả này cũng giúp mấy con được an ổn thân tâm rất nhiều. Và trên bước đường tu học về Định Vô Lậu nữa thì các con còn quán rất nhiều, còn tư duy rất nhiều, còn viết bài rất nhiều. Thậm chí như có người viết bài gần như một tập vở như thế này – mà Thầy phải đọc từ đầu chí cuối một tập vở như thế này – thì mấy con thấy, rất nhiều chứ đâu ít. Nhưng mà Thầy cố gắng Thầy đọc hết để thấy mấy con viết như thế nào, làm bài như thế nào – để giúp cho mấy con có những cái tri kiến, khai mở những cái tri kiến để cho mấy con thực hiện được sự giải thoát chân thật.

Thì cái lớp của chúng ta là lớp đào tạo để rốt ráo làm chủ sự sống chết. Nếu không có Định Vô Lậu thì làm sao chúng ta thanh tịnh được tâm? Mà không thanh tịnh được tâm thì làm sao chúng ta có Tứ Thần Túc? Mà không có Tứ Thần Túc thì làm sao làm chủ được bệnh, làm sao làm chủ được sự sống chết và chấm dứt luân hồi?

4- HỌC PHẢI QUYẾT TÂM ĐỂ CÓ SỰ GIẢI THOÁT HOÀN TOÀN

(11:43) Cho nên buộc lòng lớp này, bắt buộc mấy con phải học thật, tu thật. Nếu ai dự vào lớp học này, được Thầy hướng dẫn, được Thầy đào luyện. Mà mấy con tu trong một tháng, nửa tháng rồi đi ra đi vào, thì đương nhiên buộc lòng Thầy phải cho mấy con chỉ tham dự chứ không được vào học lớp này.

Vì cái công cực của Thầy đọc từng trang chữ của mấy con, mà rốt cuộc rồi mấy con đi ra đi vô thì mấy con phá hạnh độc cư. Mà phá hạnh độc cư thì ngàn đời mấy con tu cũng chẳng tới gì được cả. Học để xả tâm, mà xả tâm bao nhiêu lại huân vô bấy nhiêu thì làm sao mà cho đạt được.

Cho nên ở đây quyết định, là sống chết tận cùng để đạt được sự giải thoát hoàn toàn thì cái lớp học này nó mới có người chứng đạo. Nó mới có người làm chủ được sự sống chết của mình; mới nói lên được tiếng nói, mới thấy được nền đạo đức của đạo Phật – sống không làm khổ mình, khổ người – là chơn thật. Nếu lớp này Thầy đào tạo mấy con không được thì chắc chắn không bao giờ còn có duyên để đào tạo lớp khác, vì lớp này không học được thì còn lớp nào học được nữa.

(13:08) Ở đây Thầy thấy có người có những đặc cách, có thể đưa họ đi vào con đường giải thoát không khó khăn. Nhưng nếu mà không biết siêng năng học tập, tu tập, rèn luyện…​ Thầy rất thương mấy con là rất siêng năng, ngồi cặm cụi viết từng bài. Thỉnh thoảng Thầy đi ngang qua, Thầy quan sát, Thầy thấy mấy con nỗ lực, đem hết sức lực – Thầy tin rằng sự nỗ lực tu tập của mấy con sẽ đi đến nơi đến chốn.

Những bài viết của mấy con còn sơ suất nhiều chứ chưa phải là trọn vẹn. Nhưng cố gắng, một ngày nào đó mấy con sẽ có sự tư duy rất trọn vẹn và sâu sắc, thấy các pháp như thật, không còn thấy mơ hồ nữa.

Hôm nay có nhiều điều mấy con viết, đưa ra nhiều mẩu chuyện – nhiều khi lý luận quá dài dòng. Có đứa thì viết bài ngắn, gọn – đọc lên thấy dễ hiểu, và gây cho sự súc tích, cảm động khiến chúng ta không muốn làm điều ác nữa. Các con viết được những bài như vậy, vừa gây cho mình sự xúc động, vừa tạo cho mình đứng trong góc độ thiện pháp mà không tạo những điều ác pháp nữa.

Còn viết những bài khô khan – năm ba chữ, một trang, hai trang – mà trong khi đường đi nhân quả quá nhiều, trong khi nhân quả thân hành không phải ít; nhân quả khẩu hành không phải ít. Thế mà mấy con viết có mấy trang, mấy chữ thì các con quá liệt tuệ!

Vì vậy phải cố gắng, mỗi người chúng ta là con người, sanh ra không thua ai hết. Mặc dù, hiện giờ đây không phải là lớp học văn chương, kiến thức; mà là lớp học để tu tập giải thoát, không cần mấy con phải viết văn chương hay, chỉ cần các con diễn tả được cái mắt thấy tai nghe của mấy con qua hình ảnh nhân quả mà thôi.

(15:14) Ở đây có một người viết bài rất đơn giản: chỉ những việc mắt thấy tai nghe của mình, trong hiện thực đời sống của mình, nêu lên những mẩu chuyện thực tế của cuộc đời của mình. Nói lên ngắn gọn, đầy đủ ý nghĩa của nó trong nhân quả thiện ác.

Đọc qua bài thì Thầy thấy cần phải viết được như vậy, thì giúp cho chúng ta có cái hướng tu giải thoát. Vừa ngắn, vừa gọn, không nói dài dòng, mà thực tế cuộc sống chúng ta đã tiếp cận những cái sự kiện đó xảy ra. Chúng ta thấy, nghe và có từng sống ở trong những mẩu chuyện đó. Đọc qua bài thì chúng ta thấy rất là rõ ràng, cụ thể. Đó là những bài viết đơn giản, xoáy được nhân quả, không nói lòng vòng.

Hôm nay Thầy cũng khích lệ mấy con cũng nên cố gắng viết xoáy vào. Làm sao ngay cái đầu đề của chúng ta, nói thân hành thì cái thân hành đó nó một sự việc xảy ra; mà do cái thân hành đó tạo đến những cái nhân quả ác – thiện mà chính mắt mình thấy, tai mình nghe và cũng chính bản thân mình đã từng làm cái điều đó nữa. Mình cứ nói lên, đơn giản để học tập, đơn giản để biết xả tâm. Đó là điều cần thiết cho chúng ta trong Định Vô Lậu.

5- CÁCH THỨC NGƯỜI LỚN TUỔI TU TẬP

(16:36) Còn các cụ – những người lớn tuổi – Thầy cũng cho học về Định Vô Lậu, cũng quán xét, tư duy nhưng khả năng của những người lớn tuổi được xếp vào hạng tu tập những pháp khác.

Như các cụ già lớn tuổi thì nên tu tập Tứ Niệm Xứ, tu tập theo sức của mình và dùng cánh tay hoặc là dùng hơi thở để đẩy lui những bệnh tật trên thân của mình. Các cụ, người lớn tuổi sẽ được Thầy hướng dẫn riêng và cũng triển khai tri kiến của mình nhưng làm ít – tùy theo, theo như thời gian nào… trong giờ giấc các cụ lớn tuổi. khi mà…​

Thay vì phải giữ gìn đúng giờ giấc, nhưng mà lúc bấy giờ cơ thể nó muốn ngủ thì các cụ nên đi ngủ. Rồi một lúc nó không ngủ nữa thì dậy tu giữ gìn “tâm thanh thản, an lạc, vô sự”. Và cơ thể có đau nhức thì nhiếp tâm trong hơi thở hoặc là thân hành ở bàn tay của mình, để rồi tác ý đuổi bệnh.

(17:55) Nếu trong cái thời gian thức một tiếng, hai tiếng mà mỏi mệt thì các bác, các cụ nên đi nghỉ, đi nằm nghỉ cho dưỡng sức trở lại. Khi mà nghỉ nó khỏe rồi mà thấy không ngủ, thì ngồi dậy tu tập. Cho nên tu không có thời khóa. Chứ còn tu theo thời khóa thì sức khỏe không đủ sức mà chịu nổi. Cho nên ở đây Thầy đặc cách cho những người lớn tuổi, họ sẽ tu như vậy.

Còn tuổi trẻ thì giờ nào ra giờ nấy, cái giờ nào phải ra giờ nấy. Thí dụ như mười giờ đi ngủ là đúng mười giờ, mà chín giờ rưỡi đi ngủ thì không được. Đó là cái người tuổi trẻ phải chiến thắng giặc sanh tử của mình.

Còn người già sức yếu rồi, không thể đủ sức chiến thắng với giặc sanh tử; mà tu để giải thoát cho mình từng phút, từng giây.

Thí dụ như, bây giờ giữ tâm mình “thanh thản, an lạc, vô sự” – từ 7 giờ đến 8 giờ, mà giờ bắt đầu 8 giờ 1 phút, 8 giờ 2 phút bắt đầu buồn ngủ – thì người cái già được ngủ, không sao hết. Tại vì cái sức khỏe nếu, mà không nghỉ lại thì sức cái khỏe nó không đủ sức để mà tu tập tới nữa.

Mà sau khi 8 giờ đi ngủ, 9 giờ hay hoặc 10 giờ thức dậy thì cái người già họ thức dậy, thì nên siêng năng liền, đừng nên nằm đó mà không chịu tu tập. Đừng nằm đó mà nghĩ rằng: “Tôi sẽ tu thế này thế khác” mà phải ngồi dậy hẳn hòi đàng hoàng, rồi tập luyện đàng hoàng, đúng cách.

(19:25) Ngồi lên, bởi vì mình đã nằm nhiều, mình nghỉ rồi thì mình phải ngồi. Ngồi lên thì mình giữ “tâm thanh thản, an lạc, vô sự” và quan sát bốn chỗ Thân – Thọ – Tâm – Pháp của mình. Không chướng ngại, mà có chướng ngại thì sử dụng pháp Định Niệm Hơi Thở. Như thân không an, có đau nhức chỗ nào đó, thì nhắc “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Còn nếu tâm bị động, khởi niệm này niệm kia, lo lắng thì dùng trí tuệ của mình được học, quán xét xả niệm. Còn nếu mà không xả niệm được thì tác ý “An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh tâm hành tôi biết tôi thở ra”, rồi hít vô thở ra theo phương pháp giúp cho tâm mình an ổn. Đó là cách thức của người già.

Và đồng thời, Thầy sẽ kiểm tra lại cái người lớn tuổi để họ nhiếp tâm “thanh thản, an lạc, vô sự”, coi thử coi cách thức nhiếp tâm được hay không. Trong một hôm nào đó, Thầy cho biết những người lớn tuổi đến đây học riêng để Thầy kiểm tra lại cái người lớn tuổi để giữ tâm “thanh thản, an lạc, vô sự” của mình. Trong đó tu sĩ có, cư sĩ có những người lớn tuổi.

Còn những người có thân bệnh thì trong cái ngày mà Thầy kiểm tra cho những người lớn tuổi. Thì các con có thân bệnh, dù là người trẻ mà có thân bệnh, cũng nên vào cái ngày đó được gặp Thầy để Thầy kiểm tra lại xem coi – bệnh nặng, bệnh nhẹ, hay hoặc là những cái loại bệnh mà khó trị, hay hoặc những loại bệnh nào – để mà Thầy biết được Thầy giúp đỡ cho cái phương pháp để chặt ôm một cái pháp để đẩy lui cái bệnh cho mình hết. Vì có thân bệnh rất là khó tu, có thân bệnh khó tu lắm.

Cho nên vì vậy cần phải đẩy lui được bệnh, khiến cho thân mình được mạnh khỏe, để cho mình tu tập mới được. Do như vậy thì người bệnh, người già thì sẽ được Thầy cho một cái ngày nào đó. Thì lúc bây giờ, những người lớn tuổi sẽ vào cái Tổ đường này, sẽ học riêng để Thầy dạy riêng cái phần cho người lớn tuổi.

(21:43) Còn người trẻ tuổi thì giờ giấc nghiêm chỉnh, sống độc cư trọn vẹn. Và người lớn tuổi cũng vậy, cũng nên cố gắng sống độc cư để phòng hộ mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của mình – để đi tới chỗ rốt ráo hoàn toàn. Nếu không sống độc cư thì không thể nào đi tới chỗ rốt ráo.

Ở đây, hôm nay thì lẽ ra Thầy muốn mấy con sẽ đọc lại những cái bài của những người mà làm đơn giản, nhưng Thầy thấy mất thì giờ. Bây giờ để chúng ta kiểm tra lại về cái phần Chánh Niệm Tỉnh Giác. Đó là bắt đầu cái phần thứ hai.

Về nhân quả, các con đã viết đến cái bài này, Thầy thấy cái bài Đường đi của nhân quả và Nhân quả thân hành, khẩu hành, ý hành đều là mấy con làm được cả. Nhưng có nhiều người thì nó lý luận dài dòng; nhưng có nhiều người thì rất đơn giản.

Do đó Thầy muốn cho đọc lại những cái bài, nhưng mà vì thời giờ chúng ta không có nhiều, cho nên về mấy con sẽ đọc lại cái bài của mình. Cái người nào mà khá, mấy con tiến tới, mấy con cố gắng để mà làm. Còn những người nào mà Thầy ghi nó chưa có đầy đủ thì mấy con làm thêm. Cho nên qua cái bài này, thì Thầy xin trả cho mấy con những cái tập vở này cho mấy con. Vậy thì Liễu Huệ phát giùm Thầy.

6- PHÂN BIỆT NHIẾP TÂM VÀ AN TRÚ TÂM

(23:23) Vừa rồi đó, thì Thầy có nhận được về cái Chánh Niệm Tỉnh Giác. Thì có hai người gửi cho Thầy về Chánh Niệm Tỉnh Giác, cho nên Thầy có ghi vào cuốn sổ. Cô Hương Từ thì nhiếp tâm trong 5 phút, còn Nguyên Thanh nhiếp tâm trong 45 phút. Cho nên cái sự kiểm tra lại, thì Thầy sẽ kiểm tra lại chặt chịa hơn, để giúp cho mấy con đạt được cái chất lượng của sự nhiếp tâm và an trú.

Bây giờ Thầy phân biệt cho mấy con thấy, để cho vững vàng hơn. Là nhiếp tâm như thế nào, mà an trú tâm như thế nào?

Cái phần mà nhiếp tâm là khi mà chúng ta nhiếp tâm trong cái thân hành như chúng ta đi kinh hành, như chúng ta hít thở, như chúng ta đưa cánh tay ra vô như thế này. Đó là nhiếp tâm trong thân hành chúng ta. Nghĩa là chúng ta biết cái hành động đưa ra – đưa vô thế này, mà trong đầu chúng ta nó có khởi ra một cái niệm; nhưng mà khởi ra một cái niệm mà cái cảm giác, cái nhận ra hành động hơi thở, hoặc là cánh tay chúng ta đưa ra đưa vô, hoặc là bước chúng ta đi tới đi lui đó. Thì đó mới gọi là nhiếp tâm. Còn khi mà cái niệm nó khởi ra mà chúng ta lại quên cái hành động của chúng ta thì đương nhiên là chúng ta chưa nhiếp được.

Cho nên chúng ta căn cứ vào cái thời gian mà nhiếp tâm được là nó mấy phút? Thí dụ như bây giờ nó là 5 phút; mà trong 5 phút đó có một, hai niệm xen vào mà chúng ta không quên được cái thân hành của chúng ta – còn nhớ cái thân hành, nhưng cái niệm nó vẫn xen vào – đó là người nhiếp tâm được năm phút. Còn nếu ngoài 5 phút đó ra, mà chúng ta có ngủ gục, ngủ quên thì là chúng ta không nhiếp tâm được. Quên mà làm sao nhiếp được, do đó không nhiếp được. Hoặc là có một cái niệm khởi ra rồi chúng ta suy tư theo, tư duy cái niệm đó mà chúng ta quên cái thân hành chúng ta đi, thì đó là chúng ta nhiếp tâm chưa được. Còn trái lại, vừa biết cái thân hành vừa có niệm khởi trong tâm chúng ta, thì lúc bấy giờ là đang nhiếp tâm được. Đó là cái giai đoạn thứ nhất, nhiếp tâm được.

(25:33) Cho nên có người nhiếp tâm được cái thời gian dài nhưng mà an trú tâm chưa được. An trú tâm cho được là nó không có một cái niệm nào hết – không có hôn trầm, thùy miên, không có một vọng tưởng nào xen vô trong đó hết – tức là nhiếp an trú. Còn chưa an trú được – thì đương nhiên là chúng ta có tỉnh thức bấy nhiêu đi nữa – thì nó cũng vẫn là mới nhiếp tâm mà thôi.

Phân biệt cho rõ sự nhiếp tâm và sự an trú thì chúng ta mới biết được con đường tu tập của chúng ta; chứ nếu không thì chúng ta sai, không đúng.

Như vậy thì Thầy sẽ sắp xếp cái lớp. Ví dụ như bây giờ, mọi người trong lớp học của chúng ta, người nào mà 5 phút thì Thầy sẽ sắp cái lớp 5 phút. Người nào mà tu 45 phút hay 30 phút nhiếp tâm và an trú…

Cho nên ở đây, ở bên quý thầy, người ta ghi rất rõ, là nhiếp tâm được mấy phút, rồi an trú tâm được mấy phút. Thí dụ như: “Con nhiếp tâm được 5 phút, mà con an trú được 1 phút”. Nghĩa là an trú là không có niệm gì hết, an hoàn toàn, chỉ còn có biết có cái thân hành của mình không, tức là an trú ở trong cái thân hành. Cho nên, nó không có cái niệm gì, không có cái gì mà xen vô trong đó, gọi là an trú.

Cho nên vì vậy mà, có người thì ghi cho Thầy là: “10 phút nhiếp tâm được; mà chỉ có 1 phút an trú thôi. Mà cái phút đó là trong thời nào con tu, con cũng làm chủ được như vậy”. Đó là người an trú. Vì vậy cho nên mấy con ghi kĩ để mà Thầy phân lớp của mấy con về cái lớp Chánh Niệm Tỉnh Giác.

7- TU TẬP SONG SONG CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC VÀ TÂM ĐỊNH TĨNH

(27:12) Bởi vì cái lớp này nó cũng rất quan trọng. Nếu chúng ta không định tĩnh, không bình tĩnh trước một cái sự kiện, trước một cái hoàn cảnh, trước một cái ác pháp nó đến với chúng ta – mà nếu chúng ta không tập định tĩnh này thì cái tâm chúng ta không bình tĩnh; mà không bình tĩnh thì cái tri kiến của chúng ta nó không có còn quan sát, sáng suốt mà nó quán xét được để mà xả tâm.

Cho nên cái tu tập này, nó định tĩnh để làm cho cái tâm cỉa chúng ta bình tĩnh trước các ác pháp, nó không bị rối, nó không có bị dao động. Do đó khi mà nó không bị rối, không bị dao động thì lúc nào chúng ta cũng sống trong thiện pháp. Còn nó bị dao động, nó bị rối thì lúc bấy giờ miệng chúng ta sẽ nói lời ác, mà thân chúng ta sẽ làm ác, mà ý chúng ta nghĩ điều ác, không thể nào mà chúng ta chạy khỏi.

Cho nên cái phương pháp mà Chánh Niệm Tỉnh Giác nó rất cần thiết để giúp tâm chúng ta định tĩnh. Mà như các con thấy đức Phật nói: “Tâm định tĩnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng”, khi mà nó định tĩnh rồi thì nó nhu nhuyến, cho nên vì vậy mà nó hoàn toàn nó ở trong thiện pháp chứ nó không ở ác pháp.

Còn tâm nó không định tĩnh, nó bị dao động, nó mất bình tĩnh thì lúc bấy giờ nó phải ở trong ác pháp, chứ không cách nào khác hơn hết. Lúc bấy giờ , cái tri kiến giải thoát của chúng ta thì nó không còn là tri kiến giải thoát nữa, bởi vì nó mất bình tĩnh, nó không còn.

Cho nên bình tĩnh là cái gốc để mà chúng ta soi vào những cái ác pháp mà chúng ta hóa giải. Cho nên hai phương pháp này chúng ta phải tu song song, không thể tu pháp này trước rồi tu pháp kia sau.

Cho nên các con thấy như, như người ta hiểu lầm, hiểu lầm như Thiền Minh Sát Tuệ. Người ta nhiếp tâm trên cái cơ bụng phình xẹp để cho nó an trú, nó nhiếp trên đó, đừng có niệm khởi. Mà khi mà đừng niệm khởi thì bắt đầu từ đó về sau họ “minh sát” ra.

Còn ở đây chúng ta khai triển cái tri kiến – Định Vô Lậu. Đồng thời chúng ta tu tập đến cái mức định tĩnh, không được ức chế tâm. Còn cái kia nhiếp tâm ở trên cái cơ bụng chúng ta, phình xẹp để ức chế tâm. Cho nên cuối cùng thì người ta thấy những cái Định tướng của nó hiện ra, nhưng mà không ngờ họ lại lạc vô trong “Định Tưởng”. Cái tướng, cái sắc tướng nó hiện ra – nó hiện ra thì họ ngỡ đó là cái Định tướng của họ, họ ôm cái Định tướng đó. Không ngờ sau đó thì họ dùng Minh Sát – họ tuệ, họ quán ra. Thì tức là họ quán ở trên cái Tưởng chứ không phải là cái tri kiến giải thoát

(29:45) Còn chúng ta hiện giờ đâu có ức chế tâm chúng ta đâu. Cho nên, chúng ta dùng cái tri kiến, cái ý thức của chúng ta hiểu biết, triển khai nó có sự hiểu biết như thật. Như các con làm bài như thế này, đó là dùng tri kiến. Và đồng thời chúng ta tập nhiếp tâm và an trú tâm trên thân hành, đến cái mức nó vừa đúng để nó định tĩnh được tâm của chúng ta thôi. Chúng ta không có đi xa hơn để cho nó rơi vào Định Tưởng, thì đó là chúng ta đã tu sai.

Cho nên ở đây được sự hướng dẫn của Thầy, thì Thầy không để cho mấy con lọt vào định Tưởng mà các con phải nhiếp cho được tâm mình. Trong cái thời gian nhất định, nhiếp cho được tâm bằng cách làm chủ, chứ không phải là giờ này nhiếp được mà giờ kia nhiếp không được. Không phải. Lúc nào chúng ta muốn nhiếp là chúng ta nhiếp được.

Cho nên vì vậy mà căn cứ vào cái thời gian ngắn nhất của khả năng mấy con nhiếp tâm. Thí dụ như mấy con nhiếp tâm được 3 phút, hay là 5 phút mà an trú được 1 phút, hay nửa phút thì cái điều đó là điều cần kiểm tra lại kỹ lưỡng. Để rồi hướng dẫn mấy con đi tới cái chỗ mấy con nhiếp tâm, để mấy con được định tĩnh. Do cái sự định tĩnh đó mà mấy con mới “Tâm nhu nhuyến, dễ sử dụng”. Cuối cùng, “nhu nhuyến, dễ sử dụng” thì mấy con sẽ nhập được các định và các con sẽ làm chủ được sự sống chết của mình.

Như vậy ở đây mấy con ghi cái phần mà nhiếp tâm, còn cái này là cái bài về Định Vô Lậu. Còn cái phần này là cái phần mà tu để định tĩnh để nhiếp tâm, an trú tâm. Đây là cái phần mấy con ghi. Mấy con ghi đúng, chứ mấy con ghi sai rồi mấy con sẽ hổng chân đó.

Thí dụ như cái sức của mấy con nhiếp tâm và an trú được 5 phút, mà mấy con ghi 30 phút thì mấy con hổng chân, mấy con chịu đó. Nếu mà Thầy đưa đi đến nữa thì mấy con sẽ tu giậm chân tại chỗ, thì mấy con sẽ không tiến bộ.

Mà mấy con ghi với cái khả năng của mình nhiếp đúng, thì Thầy sẽ hướng dẫn mấy con sẽ đi đến đúng. Là vì Thầy biết đưa mấy con đi đến cái chỗ mà hoàn toàn định tĩnh cái tâm của mấy con – bình tĩnh để trước các ác pháp để cho nó vững vàng, mà nó không bị dao động tâm – do sức tu tập tỉnh thức này.

(32:07) Ở đây thì mấy con ghi cho Thầy với cái khả năng mấy con thử lại. Cái này là mấy con đã trắc nghiệm lại mình đúng hết rồi đó. Nghĩa là từng phút, từng giây mấy con đã suy nghiệm từng cái thời buổi sáng, buổi chiều, buổi tối, buổi khuya. Là mấy con đã ghi đúng theo cái tiêu chuẩn của mình đã đạt được nhiếp tâm và an trú. Nghĩa là an trú mấy phút và nhiếp tâm được mấy phút, thì Thầy căn cứ vào đây mà Thầy lập cái lớp học cho mấy con. Cái lớp đó, thì dụ như mấy con là 1 phút thì Thầy sắp cho mấy con 1 phút với nhau – để sự điều hành hướng dẫn cho nó dễ dàng đối với Thầy. Còn mấy con 15 phút thì sắp xếp cho mấy con ở cái mức 15 phút.

Còn mấy con như Nguyên Thanh, nhiếp tâm được 45 phút thì nó quá cái sức, kêu là quá cái thời gian định tĩnh. Quá cái thời gian định tĩnh thì như vậy nó sẽ lọt trong Tưởng. Cho nên nó chỉ cần 30 phút an trú mà thôi. Còn nó quá thì nó có thể rơi vào Tưởng, mà rơi vào Tưởng thì cái tâm nó không bình tĩnh. Nó bị, nó cũng dao động, nó sẽ dễ dàng…​ Cho nên vì vậy mà nhiếp được như vậy thì dừng lại, kêu là an trú lại. Nếu mà an trú được 45 phút thì dừng lại, chỉ cần được 30 phút thôi, không nên tăng lên, mà tăng lên thì có thể bị Tưởng, bị Tưởng nó ra.

(33:28) Do như vậy mấy con nhớ cứ đúng 30 phút, còn nếu tăng lên thì mấy con không nên tăng lên. Chừng nào mà Thầy cho mấy con tăng lên thì mấy con tăng mà không có cho thì thôi. Là vì Thầy xét qua tâm mấy con không bị Tưởng thì Thầy sẽ cho lên, mà tâm có bị Tưởng thì Thầy không cho lên. Nhưng mà nhiếp tâm được như Nguyên Thanh như thế này thì rất tốt; nhưng để kiểm tra lại, rồi Thầy mới xác định được cái sự nhiếp tâm đó là không bị Tưởng hay có bị Tưởng.

Còn mấy con còn ở 15 phút thì mấy con còn phải nhiếp tâm, an trú tâm cho được 30 phút. Đó là cái tiêu chuẩn để đạt được. Thì mấy con ghi kĩ để rồi Thầy sẽ hướng dẫn cáo phần mà tu tập tỉnh thức này cho nó cụ thể, rõ ràng hơn. Đó là cái phần mà tỉnh thức.

Còn hôm nay thì mấy con làm cái bài về Định Vô Lậu. Người nào mà đã làm bài “Đường đi của nhân quả của con người”, đã làm bài đó rồi thì sẽ làm “Nhân quả thân hành” – nghĩa là nói về cáo thân hành của chúng ta. Mà thân hành thì nó có ba cái điều ác và ba cái điều thiện. Từ ba điều ác, ba điều thiện gốc đó, suy ra nó vô cùng những cái điều ác, điều thiện khác.

(34:47) Và nếu mà mấy con đã làm Thân hành rồi thì các con làm Khẩu hành. Khẩu hành có bốn điều thiện gốc và nếu suy ra thì nó rất nhiều điều thiện ở trong khẩu hành. Mà quan trọng nhất là cái vấn đề các con viết làm sao để nói lên được cái ái ngữ của nó, để nó phá đi cái ác ngữ của nó. Bởi vì nói về khẩu hành thì nó có cái lời nói ôn tồn nhã nhặn, mà cũng có lời nói thô lỗ, hung dữ. Cho nên khéo mà viết về Nhân quả khẩu hành.

Mà nếu người nào đã viết được Nhân quả khẩu hành xong rồi, đã có bài viết được Nhân quả khẩu hành thì viết về “Nhân quả ý hành” – Nhân quả ý hành. Và đồng thời nếu viết bài mà nó dài dòng, thì khi các con suy tư cái lý luận của mình, nó dài dòng quá thì mấy con bớt, ngắt gọn lại, làm chúng ta có một bài luận rất là đơn giản, nhẹ nhàng. Đưa ra một mẩu chuyện xảy ra do chính bản thân mình trực tiếp trên mẩu chuyện đó. Hoặc là một mẩu chuyện mà mình nghe thấy, ngắn gọn, đầy đủ, không được dài dòng, không được kể lê thê lết thết, mà ngay xoáy vào cái sự việc của nhân quả. Rồi cái đó, chúng ta viết như vậy để cho chúng ta khi sự kiện nó xảy đến, chúng ta áp dụng vào thân chúng ta một cách nhanh chóng, nó dễ dàng hơn. Do như vậy chúng ta sẽ được hoàn toàn giải thoát qua tri kiến giải thoát của chúng ta.

(36:19) Nhớ làm bài kĩ lưỡng như vậy. Đồng thời người nào mà viết dài nhiều, thì phải cố gắng xem xét lại những bài viết của mình mà cô đọng lại. Còn những người nào mà viết cô đọng, đầy đủ ý nghĩa rồi, thì những người đó tiến tới làm bài khác nữa.

Thay vì Thầy sẽ cho mấy con học về “Nhân quả vũ trụ”, thì Thầy thấy cái trình độ của mấy con chưa nắm, chưa hiểu biết được Nhân quả vũ trụ, Nhân quả thời tiết. Vì vậy mà “Nhân quả của con người” mấy con thông suốt cũng là được giải thoát cho bản thân của mấy con rồi.

Chúng ta không học mênh mông mà chúng ta học vào sự giải thoát, gọi là tri kiến giải thoát. Bây giờ, những người đã làm xong Thân hành, Khẩu hành, Ý hành rồi; nếu mà chúng ta cần phải viết lại thì càng hay, làm cho cái bài của chúng ta càng lúc càng sâu sắc, ngắn gọn, đầy đủ.

Cho nên Thầy mong các con nên làm lại một lần nữa: Thân hành; rồi đến bài kế là Khẩu hành; rồi Ý hành – ngắn gọn, đầy đủ ý nghĩa chuyển biến những nhân quả. Để nhắc nhở khuyên răn mình cần phải sống thiện, đúng đức hạnh. Còn nếu mấy con thấy bài mình đã làm đủ, không cần phải làm lại thì mấy con tiến tới làm bài “Thân vô thường”, các con làm bài nói thân vô thường.

(37:59) Bây giờ qua cái bài khác, không còn Nhân quả nữa mà nó Thân vô thường. Trước khi nói Thân vô thường thì các con nên cái viết bài “Các pháp vô thường”. Nghĩa là mọi vật xung quanh chúng ta đều là vô thường, có cái sự thay đổi, không thường hằng, không có pháp gì thường hằng hết. Chỉ pháp nào cũng sự vô thường mà thôi. Do đó mấy con nên viết bài “Các pháp vô thường”.

Người nào về thân hành, khẩu hành, ý hành, chưa xong thì nên viết bài thân hành, khẩu hành, ý hành; còn bài viết mà người nào đã làm xong thì hãy viết bài “Thân vô thường” – nói về thân chúng ta vô thường.

Thân vô thường, Thầy xin gợi ý, sự thay đổi từ khi cha mẹ sanh ra cho đến khi già cho đến khi chết thì sự thay đổi của trên thân chúng ta như thế nào thì mấy con viết ngắn gọn, đầy đủ sự vô thường đó. Khéo léo để diễn tả làm sao cho người ta thấy sự thay đổi đó một cách cụ thể. Rồi đến khi vô thường, mà mỗi chặng vô thường nó mang đến sự đau khổ nào cho chúng ta.

Thí dụ như một đứa bé sanh ra, khi nó sắp mọc răng hoặc là nó có sự như thế nào đó; thì trải qua cái sự thay đổi của cơ thể đó để nó – mọc được một cái răng, hai cái răng thì nó lại bị nóng, bị ấm đầu, bị sốt. Đó là trạng thái nó vô thường.

Mỗi khi mà chúng ta lớn lên một chút có những hiện tượng xảy ra trên thân chúng ta, như cái cơ thể chúng ta phát triển lớn theo sự vô thường thay đổi đó, thì nó có những hiện tượng nó sanh ra ở nơi thân chúng ta, có những cái cảm giác đau, như mụn nổi, bạc đầu…​ Tất cả những cái đó đều là sự phát triển của cơ thể mà nó sanh ra những cái đau khổ đó, bệnh tật đó.

Thì trải qua một cuộc đời tới khi lớn tuổi, thì các con cũng biết rằng cái sự vô thường nó xảy ra cho thân chúng ta thọ lấy những cái cảm thọ đau, bệnh tật này, bệnh tật kia… đều là sự vô thường.

(40:24) Cho nên đến khi mà chúng ta sắp sửa già, sắp sửa đi xuống thì nó cũng thay, cái cơ thể nó già, nó đi xuống, nó lần lượt nó yếu đuối. Thì mỗi lần nó muốn suy sụp một chút gì đó để nó yếu hơn thì nó phải có một cái cơn đau, cái cơn bệnh nó làm chúng ta khổ sở. Rồi cái sức của chúng ta kém dần xuống qua cái cơn đau đó.

Cho đến khi mà cái thân chúng ta bỏ chết đi thì cái sự thay đổi, và sự tan rã cuối cùng thì chúng ta thấy cái sự vô thường đó đem đến cái sự khổ.

Cho nên chúng ta lúc mà sắp chết chúng ta trăn trở, cơ thể nó rã rời, nó không còn cái chỗ nào là không đau nhức, không khổ sở. Đó là cái sự vô thường đem đến sự thọ khổ của chúng ta.

Cho nên chúng ta nói vô thường từ đứa bé mà lớn lên. Thấy chỉ gợi ý cho mấy con thôi. Khi nó mọc cái răng thôi, nghĩa là nó sanh ra thì nó chưa có răng cho nên nó lớn một chút xíu nó mọc được cái răng, thì nó bị nóng đầu, nó bị sốt, nó này kia. Đó là cái hiện tượng nó vô thường nó thay đổi.

Mà vô thường là khổ, các pháp vô thường đều khổ, thân vô thường là khổ. Cái ự thay đổi đó nó mang đến cái khổ cho chúng ta. Chứ không phải nói: lớn là, nó lớn nó bình an nó đâu, nó muốn lớn lên một chút là nó có sự thay đổi của nó. Cơ thể chúng ta phát triển, dậy thì thì nó có sự thay đổi; mà sự thay đổi đó nó mang theo cái khổ, cảm thọ khổ của nó.

(41:48) Cho nên chúng ta nhớ nhắc vô thường là nhớ nhắc nó khổ. Để làm gì? Để chúng ta biết rằng tất cả các pháp vô thường thì tất cả các pháp đều khổ, không có gì mà vui đâu!

Cho nên nhờ đó mà chúng ta thấm nhuần, thấm nhuần để mà chúng ta không còn dính mắc ở trong các pháp nữa. Nhớ kỹ, làm bài như vậy chúng ta mới có thấy cái giá trị của sự giải thoát của nó.

Chứ nếu mà chúng ta làm sơ sơ thì chúng ta không thấy cái giá trị giải thoát. Cho nên ở đây Thầy muốn triển khai cái sự hiểu biết của mấy con tường tận như thật. Chính mấy con triển khai tri kiến mấy con hiểu biết nó như thật, nó không thể nào mà sai đi sự thật. Nó sai đi sự thật thì tức là chúng ta, cái niềm tin chúng ta chưa sâu. Và niềm tin chưa sâu thì chúng ta chưa chuyển hóa được nhân quả của chúng ta, chưa chuyển hóa được cái tâm hiểu biết của chúng ta, làm cho chúng ta còn đau khổ.

Bây giờ các con ghi, những người nào đã làm xong “Đường đi nhân quả của thân” rồi thì mới làm. Còn người nào chưa, thì chưa làm cái bài “Vô thường”: “Các pháp vô thường” hay là “Thân vô thường”. Các con nhớ kỹ điều đó. Do cái người nào đã làm xong…

(42:55) Hầu hết Thầy khuyên mấy con nên làm lại cái bài “Nhân quả của con người”: Thân hành, Khẩu hành, Ý hành. Làm sao mà Thầy đọc những bài của mấy con, mà Thầy thấy: “À, như vậy là mấy con tiến bộ”, Thầy sẽ – do những bài luận của mấy con – mà Thầy sắp xếp cho mấy con, mà Thầy đặc cách cho những người nào đã viết đúng, làm đúng sẽ ở trên cái lớp. Và đồng thời đưa họ đi đến cuối cùng, là họ chứng đạt được cái chân lý trong vòng thời gian ngắn nhất.

Còn mấy con mà liệt tuệ, mấy con không chịu làm việc, mấy con không chịu làm đúng thì mấy con được sắp xếp những cái lớp ở phía sau, không được nâng. Bây giờ ở trong cái số bài của mấy con, thì Thầy sẽ sắp xếp được một số người trên ở lớp của mấy con rồi đó; còn một số cái người thì mấy con sẽ được ở cái dạng trung bình; và cái số người thì lại ở cái hạng quá thấp. Ở đây, cái lớp của mấy con, bên nam cũng vậy, mà bên nữ cũng vậy

Cho nên có một số người làm bài rất là xuất sắc, đầy đủ ý nghĩa. Còn một số người được sắp xếp cái hạng mà gọi là – Thầy nói liệt tuệ đó – nghĩa là trí tuệ không làm việc, nói sơ sơ, coi như là liệt tuệ.

Nhưng mà những người đó, sau cái thời gian tu Định Vô Lậu này mà cái tư duy như vậy thì Thầy sẽ cho họ vào một cái lớp riêng để giúp đỡ cho họ tu, để an ủi họ hơn là họ tu tới rốt ráo được. Nghĩa là làm sao giúp cho cái đặc tướng của họ tu cách gì cho đúng với cái đặc tướng của họ, với cái khả năng của họ. Nếu là một người liệt tuệ, phải cho tu cái pháp gì với khả năng; chứ bắt họ theo cái lớp này thì họ theo không kịp, họ sẽ không đạt được.

Bởi vì bây giờ chúng ta thấy ở trong cái lớp chúng ta là 30 người hay là 40 người ở đây, mà nếu mà cứ người nào cũng tu chứng hết thì chắc là không có đâu. Bởi vì qua những cái bài làm của mấy con rồi, thì Thầy đã biết rằng cái số người mà để đạt được thì nó không nhiều đâu.

(45:00) Cho nên vì vậy mấy con cố gắng, cố gắng mày mò triển khai cái tri kiến của mình. Thì cái sự mà triển khai cái tri kiến của mấy con được, thì Thầy sẽ nâng lên cái trình độ của mấy con dần lên. Mà nếu mà các con không triển khai cái tri kiến của mấy con thì buộc lòng phải đặt cho mấy con vào một cái vị trí để hướng dẫn cho mấy con sống theo cái đặc tướng của mấy con. Nhưng mà cái sự rốt ráo để đi đến khi mấy con làm chủ sự sống chết của mấy con thì chẳng được.

Nhưng có thể mấy con sẽ sống được cái “Đạo đức không làm khổ mình, khổ người”, nhưng ở cái mức độ thôi cũng giúp cho mấy con được giải thoát. Nhưng mà đi tới nữa thì mấy con không đủ sức đi tới đâu. Bởi vì mấy con đã sanh ra một con người mà không chịu làm việc bằng cái tri kiến của mấy con thì Vô lậu không có; mà Vô lậu không có thì làm sao chứng được đạo quả của đạo Phật.

Bởi vì cái Định Vô Lậu là từ cái tri kiến của chúng ta mà ra chứ không phải từ thiền định mà ra, mà do cái tri kiến của chúng ta mà ra. Còn thiền định chẳng qua là định tĩnh mà thôi, để giúp chúng ta bình tĩnh trước các đối tượng. Mà không có tri kiến thì nó định tỉnh như vậy nó chịu đựng – tức là ức chế

Cho nên vì vậy mà nó định tĩnh được thì cái tri kiến nó mới hoạt động. Nó làm việc nó đem lại cái sự bình an cho chúng ta. Nó có hai phần nó rõ ràng. Vì vậy mà các con nghĩ rằng mình dốt: “Thôi mình cứ ngồi im lặng mình giữ tâm mình bất động là đủ”. Sự thật ra các con sẽ trở thành cây đá mất, mà không phải là một con người. Con người phải có một cái sự linh động của cái sự hiểu biết.

Cho nên sự linh động hiểu biết đó, từ cái hiểu biết “Vô minh” mà đi đến cái hiểu biết “Minh”, thì giúp cho mấy con được giải thoát. Các con nghe “Mười hai nhân duyên” – sau này các con sẽ quán Mười hai nhân duyên mà.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 33)

THÔNG TIN

☸ CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com

Email: [email protected]

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Trưởng lão Thích Thông Lạc.