(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)
LCK 022B – (Nam) Định vô lậu – Chánh niệm tỉnh giác – Nhiếp tâm và an trú – Ức chế tâm
LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 022B
ĐỊNH VÔ LẬU – CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC – NHIẾP TÂM VÀ AN TRÚ – ỨC CHẾ TÂM
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Người nghe: Tu sinh nam
Thời gian: 11/2005
Thời lượng: [47:45]
1- ĐỊNH VÔ LẬU
(00:00) Trưởng lão: Hôm nay, thì Thầy cũng nói với cô Út là giúp đỡ cho các bác ở trong thất có một cái bàn đó. Bởi vì mình là những người học trò, phải có cái bàn viết, chứ không khéo Thầy thấy để trên giường, ngồi dưới đất này mà viết. Thấy tội quá!
Rồi bắt đầu bây giờ, các bác lớn tuổi có rồi thì lần lượt rồi mấy con, lần lượt Thầy cũng sẽ xin Phật tử cho mấy con mỗi thất một cái bàn. Khi mấy con cần đi kinh hành thì mấy con xếp nó dựa vô trong vách, nó gọn lắm con, không có gì mà chật chội, bởi vì cái bàn này bàn xếp.
Và Thầy, hôm nào đó, Thầy sẽ nói với Mật Hạnh với Thanh Trí đi Thành phố, tìm coi cái loại bàn nào mà nó xếp cái tay này xuống, cái mặt bàn này nó được xếp xuống vầy. Để làm gì mấy con biết không? Nó gọn cho chúng ta ở trong cái lớp học.
Nếu mà trong lớp học của chúng ta mà được những cái bàn như vậy, thì chúng ta thay hết mấy cái bàn này; và mấy cái bàn này gửi về cho mấy con, mỗi người một cái. Còn cái bàn đó để trong lớp học, đặng khi mình chưa có viết thì mình xếp nó bên hông – nó thành ra một cái hội trường mà chúng ta có cái chỗ ngồi, người này ngồi mà không có cái bàn. Phải không mấy con?
Còn nếu mà để như thế này, thì mình xếp không được thì nó như là cái phòng học, lớp học thôi. Còn nó bỏ xuống thì nó là cái hội trường, khi mà chúng ta nói chuyện gì đó mà cần viết chúng ta kéo nó qua, là chúng ta viết. Đó là cách thức để tiện lợi cho đời sống tu học của chúng ta, để cái thời gian đó nó không bị mất. Chúng ta rất tiếc thời gian!
Các con có nghe bài kệ mà Phật đã dạy:
“Tấc bóng thời gian, một tấc vàng
Tấc vàng tìm được không gì khó
Tấc bóng thời gian khó hỏi han”.
Có phải không mấy con? Vì vậy mà mình làm sao cho tiện lợi, đừng phí thì giờ của mình là tốt nhất.
Bây giờ về cái phần mà trả bài. Con sẽ trả bài giùm Thầy, con! Rồi, còn cái này, Thầy thu lại. Mấy con nhớ, mấy con đừng có góp mà nó lát chạy đưa Thầy một bài, lát chạy đưa Thầy một bài – rồi Thầy để mất đi. Các con làm xong rồi thì các con để lại thất của mấy con. Rồi mấy con đọc đi đọc lại; rồi mấy con suy tư, suy nghĩ, các con chỉnh lại cho cái bài rất chỉnh. Tới cái ngày mà Thầy trả bài, mấy con đem nộp cái bài hết, mọi người đều đem nộp hết, không có người nào mà không nộp. Phải không, mấy con làm như vậy mới đúng. Chứ lát mấy con làm bài, chạy nhờ Thầy đọc, lát làm một bài nhờ Thầy đọc. Thầy mất thì giờ nhiều lắm!
(02:27) Tốt hơn, mấy con làm đi, rồi mấy con suy nghĩ những cái ý mà Thầy gợi rồi đó, mấy con làm, rồi mấy con suy nghĩ. Bởi vì Định Vô Lậu nó bắt buộc chúng ta triển khai cái tri kiến của chúng ta bằng cách tư duy, suy nghĩ. Mà càng suy nghĩ, càng tìm tòi thì mấy con mới có cái triển khai nó được.
Chứ nhiều khi mấy con, cũng như có một thiền sinh nói với Thầy như thế này: “Con không biết làm sao hết! Nói về thảo mộc, con mới chạy ra ngoài vườn cao su, con nhìn lên trời, con nhìn lên cây cỏ, rồi con nhìn xuống dưới con tìm kiếm. Bỗng dưng con thấy được con viết”. Đó, đó mấy con. Đó là mình phải quan sát, phải đi tìm chứ. Các con hiểu không? Đó là cái công của chúng ta để triển khai cái tri kiến của chúng ta. Chúng ta mới thấy cây cỏ này vầy, cây cỏ kia khác; thấy cái cây này lá nó khác, thấy cái cây kia lá khác. Tức là chúng ta nói lên được đặc tướng của nó.
Vì vậy mà, trong khi tu học về cái Định Vô Lậu, chúng ta tự triển khai, tự triển khai rất nhiều khi mà chúng ta muốn viết điều gì đó. Rồi chúng ta đọc lại cái bài viết rồi, chừng nào mà chúng ta bí hết, không còn biết viết nữa thì chúng ta mới nộp lại Thầy. Rồi Thầy đọc, Thầy gợi ý cho. Mà khi mà chúng ta truy tìm hết sức mà không hiểu, Thầy gợi ý ra một cái nó sáng, nó sáng suốt vô cùng! Phải không? Thầy gợi ý một cái là mấy con bừng sáng ra liền tức khắc, thấy cách thức viết, cái lối mà mình viết nó rõ ràng. Còn mấy con không chịu suy nghĩ, không gì hết, Thầy nói nó lướt qua thôi mấy con, không có sâu sắc.
Cho nên một cái điều mà chúng ta làm rồi, chúng ta làm mà cứ làm không được thì bắt đầu có một người họ nói sơ cái mình biết liền. Đó, đó là cái vấn đề thực hành thật sự, là thiền quán mà, chúng ta đang quán thật sự. Cho nên cái lớp học của chúng ta là cái lớp học rất là thực tế, mấy con.
(04:18) Nhưng mà nhờ cái vị Thầy – cái vị Thầy đó khéo léo, người ta gợi ý mình. Người ta không nói rõ, người ta không giải thích rõ để cho mình copy lại cái ý đó; mà người ta gợi ý cho mình triển khai ra, để cho mình trở thành một con người tự mình mà viết ra. Cái đó là cái khéo léo của một vị Thầy. Người ta đào tạo bằng cái hiểu biết do chính mình, chứ người ta không làm một cái mẫu.
Đó, bây giờ Thầy nói “Hành Thập Thiện”, đó là cái mẫu. Như hồi nãy Thầy nói, cụ chép vô – nó cũng đường đi của nhân quả, nó sự thật, nhưng mà mình copy nó, không phải là của mình. Nhưng mà bây giờ mình chưa biết thì mình dựa vào cái ý của Phật, mình làm ra. Mình đọc sơ qua mình thuộc rồi, mình nhớ rồi, tức là mình mượn cái ý đó. Rồi bắt đầu đó, mình đừng có chép từng bài, từng bài trong đó. Thầy nói Hành Thập Thiện làm sao – chép hết trong đó thì thôi, nó dở lắm mấy con.
Nhưng mà nó đúng, cái đường đi nhân quả thì đúng đó chứ không có sai đâu. Bởi vì mình chép vô đó đều đúng hết, bởi vì đức Phật dạy đâu có sai được. Rồi Thầy triển khai ra cái Hành Thập Thiện nó đâu có sai mấy con, phải không? Nhưng mà bây giờ Thầy gợi ý cho mấy con, nó lại còn hay hơn cuốn “Hành Thập Thiện” nữa.
2- ĐƯỜNG ĐI NHÂN QUẢ CON NGƯỜI
(05:31) Bây giờ, mấy con đi vào từng cái phần của thân hành, rồi khẩu hành, rồi ý hành. Rồi mỗi bài mấy con áp dụng vào những cái mẩu chuyện. Rồi từ mẩu chuyện, mấy con bình luận trên mẩu chuyện đó ra – kê ra để thấy được cái nhân, cái quả, rồi cái đạo đức của nó như thế nào? Rồi cái pháp hành của cái nhân quả đó, để chuyển biến nhân quả.
Các con thấy, một bài ghê gớm lắm chứ! Đó, Thầy gợi ý cho mấy con thôi. Rồi bây giờ mấy con viết sai thì lại sửa, viết sai Thầy nhắc. Viết sai Thầy nhắc, cứ cái nào mà nó không đúng Thầy nhắc. Làm riết rồi bắt đầu cái đầu óc của mấy con – một cái đầu, kêu là một cái đầu chữ nghĩa, một cái đầu hiểu biết đó, chứ nó không còn một cái đầu mà lơ mơ nữa.
Người nào cầm cây bút viết nói về nhân quả là mấy con vanh vách, không có người nào mà viết sai. Nghĩa là lớp học này, Thầy đào tạo mấy con một năm là mấy con sẽ đạt được kết quả đó, không phải không làm được. Bởi vì mới đầu, mấy con lúng túng nhưng mà sau đó mấy con biết cái ý, biết cách thức hành văn của mấy con như thế nào, biết gợi ý của mình như thế nào để xoáy vào cái đề tài như thế nào. Lần lượt mấy con quen đi rồi mấy con biết hết, không có người nào mà làm sai đâu. Còn cái hay, cái dở là do cái sự viết văn của mấy con. Còn cái sâu sắc hay là không sâu sắc là do cái sự suy nghĩ của mấy con, truy tìm của mấy con nhiều hay ít, thì đó là sự sâu sắc của mấy con.
3- THẦY XẾP LỚP BẰNG THỜI GIAN NHIẾP TÂM
(06:52) Bây giờ, mấy con sẽ ghi lại. Bây giờ bắt đầu qua Chánh Niệm Tỉnh giác rồi mấy con. Đây là cái phần mà mấy bữa rày Thầy kiểm điểm qua cái thân hành của mấy con đi Thân Hành Niệm hoặc là đi Chánh Niệm Tỉnh giác để xem xét cái sự đi kinh hành của mấy con, các đặc tướng của mấy con. Thầy nắm vững rồi.
Nhưng bây giờ mấy con sẽ ghi cho Thầy. Nghĩa là cái người nào tu 1 phút mà nhiếp tâm – an trú tâm trong 1 phút thì ghi 1 phút, nửa phút thì ghi nửa phút, còn 15 phút thì ghi 15 phút, 1 giờ thì ghi 1 giờ.
Thí dụ, bây giờ mà con nhiếp tâm trong hơi thở hít vô – thở ra, rồi trong hơi thở như vậy 1 phút nhiếp tâm, sáng – trưa – chiều – tối mấy con nhiếp không có một niệm nào xen vô. Tức là nhiếp tâm trong đó, và an trú trong đó trong 1 phút thì mấy con ghi cho Thầy. Rồi Thầy sắp xếp cái lớp của các con. Thí dụ như người 1 phút thì sắp theo 1 phút hết, mà người 2 phút Thầy sắp theo 2 phút, mà người 30 phút Thầy sắp theo 30 phút. Thầy sắp cái lớp đó để mà Thầy hướng dẫn mấy con đi nó căn bản hơn.
Chứ bây giờ Thầy dạy cho mấy con, cái người 1 phút với người 30 phút làm sao dạy được? Người ta nhiếp 30 phút rồi, bắt buộc người ta phải tu tới cái gì? Còn bây giờ mấy con mới có 1 phút mà bắt mấy con tu theo cái người 30 phút làm sao được?!
Mấy con nhiếp vô chừng 2 phút là vọng tưởng; 2 phút là nó ngồi đây nó trạo cử, nó lúc lắc mình mẩy. Rồi mấy con nhiếp đến 15 phút là bắt đầu Tưởng mấy con nó rung lên cầm cập rồi, Thầy làm sao? Cho nên vì vậy mà các con kê ra cho Thầy.
Rồi mỗi đặc tướng nó có khác nhau. Mấy con ở trong cái nhiếp tâm như vậy, nó sẽ đạt được cái gì, nó có cái trạng thái gì – thì lúc bây giờ Thầy kiểm tra. Bởi vì cái phương pháp Chánh Niệm Tỉnh Giác nó khó lắm, nó không phải là Định Vô Lậu.
4- CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC
(08:33) Các con thấy Định Vô Lậu nó cũng khó, là triển khai làm sao cho mấy con có cái sự tư duy, suy nghĩ, nó xoáy vào một cái đề tài, nó xoáy vào để nó hiểu rất là rõ, rất là cụ thể. Nó cũng khó chứ không phải dễ, nhưng mà nó không có những cái trạng thái có thể điên khùng, nó không có làm cho mấy con điên khùng.
Còn trái lại, cái Chánh Niệm Tỉnh giác nó sẽ làm cho mấy con trở thành điên khùng. Nếu mà không kiểm tra chặt chịa, để bắt buộc mấy con phải ức chế tâm mấy con đi vào cái chỗ mà không niệm thì nó sẽ lạc vào trong Tưởng. Cho nên cái này nó khó hơn, nó làm cho hệ thần kinh của các con bị rối loạn.
Còn cái này, nó triển khai cái hệ thần kinh của mấy con, nó sẽ triển khai cái tri kiến của mấy con, nó không bị điên. Bởi vì con người chúng ta vốn nó có nhiều động, mà bây giờ mình động nữa thì nó không có đến đỗi mà điên.
Còn bây giờ bắt buộc nó không động, nó không động thì nó phải có cái sự thay đổi khác. Hồi nào tới giờ, ngồi đâu nó nghĩ cái này, nó nhớ cái kia, nó lo, nó buồn, nó rầu. Thì bắt đầu bây giờ mình dạy cho nó nghĩ, nhớ mà không có buồn rầu, lo lắng. Có cái phần đó, nó xả cái ác pháp thôi chứ nó không có diệt cái không nghĩ, không nhớ đó.
Còn trái lại, cái này hoàn toàn nó đi, hướng qua một cái góc độ là nó đi ngược lại với con người chúng ta. Con người chúng ta là con người động, bởi vì nhân quả nó do Hành – “Vô minh nó sanh Hành”. Hành nó mới có cái động, nó mới duyên hợp được. Cho nên, cái con người chúng ta sanh ra, nó vốn cái động mà bây giờ nó trở về cái im lặng, cái bất động là nó sẽ rối loạn liền tức khắc.
Cho nên vì vậy mà trong cái vấn đề hướng dẫn về cái vấn đề mà nhiếp tâm và an trú tâm là nó quan trọng lắm. Nó không khéo là nó lọt trong các Định Tưởng, nó không khéo nó rối loạn thần kinh, nó điên khùng. Cho nên vì vậy nó khó cho một cái người hướng dẫn chứ không phải dễ.
Vì vậy mà các con biết từ xưa đến giờ, người ta tu hành, người ta bị lọt trong thiền Tưởng hết. Đó là bằng chứng mà chúng ta đã thấy mà. Cho nên ở đây, cái lớp chúng ta dạy Chánh Niệm Tỉnh giác hoặc là Thân Hành Niệm, hoàn toàn chúng ta sẽ tránh những cái tai họa này. Thầy hướng dẫn mấy con là Thầy không để mấy con sẽ xảy ra.
(10:39) Cho nên vì vậy mà các con thấy, khi mà thầy Chơn Thành hoặc là thầy Thiện Thảo hoặc là quý thầy mà nỗ lực thức đêm mà tu, Thầy lo lắm! Cho nên Thầy lo, Thầy phải đi chăm sóc, Thầy đi tới đi lui để xem xét coi mấy con nó như thế nào? Chứ còn mấy con mà có trạng thái gì bất thình lình thì Thầy kịp thời Thầy gỡ rối cho mấy con.
Cho nên mấy con thấy, tu mà về Định Vô Lậu – Thầy không lo. Mà tu Chánh Niệm Tỉnh Giác, tu định tỉnh là Thầy lo, nó sẽ lọt vào… Bởi vì hầu hết từ xưa đến giờ, các thầy Tổ chúng ta tu mà không có người biết hướng dẫn, cho nên đều lọt vào thiền Tưởng hết. Họ đi đến đâu đây? Họ bị Tưởng hết rồi, còn gì đâu!
Cho nên đây là một cái điều mà cân nhắc để mà Thầy hướng dẫn cho mấy con. Hướng dẫn cho mấy con để sức định tỉnh của mấy con, để nó phá đi cái hôn trầm, thùy miên của mấy con một cách dễ dàng hơn. Đó, nhớ rồi phải không?
Như vậy thì cái lớp học của chúng ta thì đến đây chúng ta về, mấy con sẽ ghi lại. Hay bây giờ, hiện giờ mấy con có giấy không? Có giấy thì mấy con ghi lại cho Thầy ngay giờ để không mất thì giờ. Ghi lại: mình nhiếp tâm được 1 phút thì ghi 1 phút, 2 phút thì ghi 2 phút. Viết cho thành thật để rồi tới chừng mà Thầy kiểm lại mà Thầy thấy nói sai là Thầy phạt quỳ hương đó, Thầy không có tha người nào đâu! Chẳng hạn bây giờ nói 1 phút, mà 1 phút nhiếp tâm mà Thầy xem xét mà thấy ở trong đầu có cái niệm khởi ra – Thầy bắt quỳ hương đây liền đó! Các con nhớ đó, chứ không phải Thầy không kiểm tra đâu.
5- NHIẾP TÂM VÀ AN TRÚ TÂM
(12:08) Tu sinh Pháp Ngộ: Bạch Thầy! Nhiếp tâm được mà an trú chưa được, bạch Thầy.
Trưởng lão: Nhiếp tâm được, an trú tâm chưa được thì cũng được, Thầy sẽ tha thứ. Còn nói tôi nhiếp tâm, tôi an trú được 1 phút – nghĩa là không có niệm khởi trong 1 phút đó – thì đó là tu 1 phút. Nhưng nếu nói 1 phút, mà sau này Thầy kiểm tra lại, mà 1 phút mà có niệm trong đó – đừng nói Thầy không biết nghe. Mà có niệm trong đó Thầy bắt quỳ hương đó. Nói láo, cái tội nói láo đó.
Tu sinh 2: Bạch Thầy! Ví dụ mình an trú được ít mà mình nhiếp tâm được nhiều thì mình có ghi cái phần nhiếp tâm không?
Trưởng lão: À, cái phần nhiếp tâm ít phải không con?
Tu sinh 2: Nhiếp tâm được nhiều mà an trú ít.
Trưởng lão: À, an trú ít. Thì cái phần an trú, con được bao nhiêu con ghi. Còn nhiếp tâm nhiều thì con ghi nhiếp tâm để mà Thầy phân biệt được hai cái phần đó con. Nhiếp tâm khác mà an trú khác.
Con nhiếp tâm là con gom, con biết được cái thân hành con, dù là có niệm khởi nhưng mà vẫn không mất – đó là nhiếp tâm được. Còn an trú là không niệm đó con. Đó, thì con viết hai phần, như vậy để mà Thầy dễ hướng dẫn hơn.
Tu sinh 3: Da bạch Thầy! Con không biết nhiếp làm sao… (không nghe rõ).
Trưởng lão: Cái phần mà con thấy, nó nhiếp tâm được là như thế này: là lúc bấy giờ con nhiếp tâm 1 giờ thì con ghi 1 giờ, mà khi con nhiếp 2 giờ hay 3 giờ thì con được cái nhiếp tâm 2 giờ, 3 giờ đó. Mà trong khi nó đánh con vào hôn trầm một cái thì con ngủ, con không còn nhiếp tâm được chứ gì? Mất rồi, mất cái nhiếp tâm con rồi. Nhiếp thì phải tỉnh, phải không? Bây giờ, nhiếp tỉnh là vì con nhiếp mà nó có cái niệm nào xẹt vô thì đó là con mới nhiếp thôi. Còn nó không có cái niệm nào hết là con an trú. Cái phần của con đó.
Tu sinh 3: Có nghĩa là suốt ngày suốt đêm, không có một niệm nào xẹt vô?
Trưởng lão: Không có một niệm nào hết thì đó là con đã an trú được. Còn có 1 niệm, 2 niệm, 3 niệm, hay 10 niệm thì con mới nhiếp tâm được mà thôi. Còn nếu hôn trầm đánh vô con thì coi như là con mất luôn cả nhiếp tâm và an trú tâm luôn.
Tu sinh 3: (Không nghe rõ).
Trưởng lão: Nhưng mà nó vẫn còn đó con. Thì như vậy là nhiếp tâm cũng mất mà an trú cũng mất. Bởi vậy, cái hôn trầm, thùy miên nó đánh vô là con mất. Dù là trong 1 phút, 2 phút hay 5 phút cũng vẫn bị mất. Tức là vẫn còn nó thì cái đó là mình nhiếp tâm cũng không được nữa. Nghĩa là cái khoảng thời gian mà con nhiếp, con chủ động đó, con cứ lấy cái thời gian thôi: là 1 giờ hoặc 2 giờ, 3 giờ – con ghi vô.
6- THẦY DẠY CÁCH XẢ KHI QUEN NHIẾP VÀO HƠI THỞ
(14:36) Tu sinh 3: Rồi bây giờ nó chuyển qua hơi thở nhiều. Như con thường con thấy, con không có chuyển hơi thở mà nó nhiếp vào hơi thở không à. Lúc con đi nó cũng nhiếp hơi thở, con ngồi nó cũng nhiếp hơi thở, toàn bộ giờ nó chuyển qua hơi thở. Lúc mà con đi kinh hành thì nó ít nhiếp lắm. Thành ra nên con giờ chưa tính xin Thầy là tập hơi thở…
Như Thầy nói, trong bước đường tỉnh thức thì chỉ đi cho tỉnh thức chứ không có thiền định gì hết, nên con không có ngồi. Con chỉ đi với lại con ngồi con làm bài, con không có ngồi luyện hơi thở. Lúc con ngồi nó cũng vô hơi thở, lúc đi toàn là cũng vô hơi thở.
Trưởng lão: Tức là nó nhiếp vô hơi thở, phải không con?
Tu sinh 3: Dạ!
Trưởng lão: Như vậy đó, là trên cái phần con, cái tâm con nó luôn luôn nó nhiếp hơi thở. Phải không?
Tu sinh 3: Dạ!
Trưởng lão: Thì như vậy là nó nhiếp vô hơi thở, nó tỉnh táo ở trong hơi thở, nó biết hơi thở. Đúng vậy con. Nó nhiếp trong hơi thở. Do như vậy, con cũng đều ghi: tâm con nó nhiếp trong hơi thở mà con thấy hơi thở không rối loạn – tức là không mệt nhọc, không gì hết. Con ghi rõ về vấn đề này, để mà Thầy lấy cái điều đó mà Thầy hướng dẫn.
Sau khi mà con đi kinh hành, con đi kinh hành con bỏ hơi thở ra, nếu mà nó còn nhiếp vô hơi thở, con bảo: “Biết bước đi, không có biết hơi thở!”. Tức là con phải chủ động nó để cho nó biết bước đi, chứ đừng có để mà nó vừa biết bước đi mà vừa hơi thở nữa thì – không được. Còn không thì nó nhiếp vô hơi thở mà nó không biết bước đi.
Do đó, khi mà con đứng dậy con đi kinh hành, con bảo: “Biết bước đi, không được biết hơi thở!” để cho nó thay đổi. Chứ không khéo nó sẽ quen hơi thở, con. Nó quen hơi thở rồi cái hành động khác nó làm không được.
Tu sinh 3: Vậy con xin Thầy, giờ con có nên tu Định Niệm Hơi Thở không Thầy?
Trưởng lão: Tu chứ con. Định Niệm Hơi Thở rất là quý à con! Người mà không rối loạn hơi thở là Thầy sẽ dạy hơi thở đó.
Tu sinh 3: Dạ! Vậy là sắp tới con xin tu Định Niệm Hơi Thở.
Trưởng lão: Ờ con!
Tu sinh 3: Vậy là con về con tập cỡ một bữa, hai bữa rồi con thưa tiếp.
Trưởng lão: Rồi, rồi! Con sẽ coi thử coi cái thời gian mà con nhiếp trong hơi thở nó được 1 giờ, hay hoặc 2 giờ?
Căn cứ chỗ đó, Thầy sẽ dạy về cái phương pháp tỉnh thức để cho đến khi mà nó không bị một cái trạng thái Tưởng nào hết mà trong tỉnh thức an trú trong đó, để dùng nó mà đẩy lui tất cả những chướng ngại pháp. Tức là trên Tứ Niệm Xứ mà có được cái pháp hơi thở, mà an trú được rồi thì con, tất cả những cái chướng ngại mà đánh vô Thân – Thọ – Tâm – Pháp đều là con quét ra rất dễ. Đó, sử dụng cái đó để mà quét những chướng ngại pháp; để mà ly dục, ly ác pháp chứ không có gì. Nó có hôn trầm, thùy miên, con nhiếp vô một cái là hết hôn trầm, thùy miên liền, nó tỉnh lại liền.
7- VẤN ĐẠO ỨC CHẾ TÂM
(17:19) Tu sinh 3: Dạ, con xin hỏi Thầy! Bây giờ con bị muỗi cắn con không đau, con để cắn tự nhiên.
Trưởng lão: Tức là mình nhiếp vô đó.
Tu sinh 3: Thứ hai nữa, hôm qua bò cạp nó cắn con sưng bàn tay, nhưng mà nó vẫn không đau, bữa nay nó xẹp xuống.
Trưởng lão: Tức là mình nhiếp vô, mình nhiếp tâm vô thì nó quên đau. Đó, cái nhiếp tâm đó nó khá, con cứ ghi lại cho Thầy. Cái phần nhiếp tâm, chắc con là con đứng đầu lớp với thầy Chơn Thành đó. Tức là con với thầy Chơn Thành đứng đầu lớp nhiếp tâm. Phải không?
Còn ai không có giấy không con?
Tu sinh 3: Cho con xin hỏi Thầy! Giờ cái tay con cũng như toàn bộ cơ thể con, tự nhiên nhéo nó không có đau nữa là sao Thầy? Ít có đau.
Trưởng lão: Nhéo mà nó không đau hả con?
Tu sinh 3: Ít có đau, Thầy!
Trưởng lão: Nghĩa là con xả ra bình thường, cũng như bây giờ vậy đó, mà con nhéo không đau hả?
Tu sinh 3: Dạ, cũng đau, mà đau ít à Thầy!
Trưởng lão: Đau ít? Như vậy là con bị rối loạn thần kinh rồi con! Nó rối loạn thần kinh, nó không có cảm giác đau như người ta.
Tu sinh 3: Dạ, có cảm giác nhưng mà ít đau.
Trưởng lão: Thì nó tới chừng mà nó thật sự nó không cảm giác đó thì thôi, con trở thành da cây mất rồi. Tiêu rồi đó! Bây giờ nó còn cảm giác ít, đó là nó báo động là nó sẽ là như da cây rồi đó. Nó cũng nguy hiểm đó!
Cái hệ thần kinh mà cảm giác nó dừng đó con. Nó dừng, nó làm cho mình không cảm giác. Đó là cái sự tu tập của con nó sai, nó lạc. Vì cái hệ thần kinh mà nó cảm giác ở trên da của mình nó bị dừng. Bây giờ coi như là nó 10 phần, nó dừng 5 phần rồi. Bây giờ con còn thấy cảm giác ít ít, tới chừng đó rờ da con như da cây vậy đó thì thôi rồi, tiêu rồi! Con không biết gì nữa hết, mất cảm giác đó.
Cho nên, tu coi chừng sai – nó đi lạc đó! Cho nên vì vậy mà Thầy lo cho mấy con lắm! Bởi vì nó rối loạn thần kinh mà! Mà thần kinh các con có cái thần kinh cảm giác ở trên da chứ đâu phải không, mà nó không chịu làm việc, nó ngưng đi. Do cái chỗ mấy con ức chế quá nó phải ngưng làm việc. Con hiểu không? Đó là một cái tai hại chứ không phải là cái tốt nghe. Cho nên vì vậy mà giữ lại bình thường, y như người – người người ta vừa đụng vô da mình là biết liền. Còn cái này rờ con khắp đầu hết mà không biết gì hết, thì như vậy là mất cảm giác rồi.
Tu sinh 3: Lúc trước, lúc mà con chưa tu suốt ngày, suốt đêm đó, thì con nhéo là nó đau cũng như bình thường. Nhưng mà con nghĩ là Thầy nói là: “Lúc mình tu qua một giai đoạn mà đi kinh hành xong, để muỗi cắn thử, mình nhiếp vô là không đau”. Thì con để muỗi cắn thử, con vẫn biết, nhưng mà con nhiếp vô là nó không có đau. Có nghĩa là giờ con để con nhiếp, với con nhéo nó không đau.
Trưởng lão: Như vậy là nó bất lợi rồi đó con! Bây giờ đó, sửa lại bình thường đi, để cho nó sống bình thường lại. Rồi con cứ ghi đi rồi Thầy sẽ chỉnh đốn lại cái vấn để mà tu tập Chánh Niệm Tỉnh giác, con. Để cái sức tỉnh, sức nhiếp tâm của con nó không bị rối loạn.
Cái thần kinh cảm giác của con, nó bị mất cái cảm giác đó, trời đất ơi, tu riết rồi bắt đầu bây giờ da mình trở thành da cây, đụng không biết nữa. Tiêu đó!
(20:17) Bởi vì đây là cái lớp học thật sự, lớp tu của chúng ta. Có những cái gì mà xảy ra đều là Thầy biết trước những cái điều đó để mà Thầy chỉnh đốn lại để cho mấy con không còn sai nữa.
Cho nên vì vậy mà hễ mấy con mà thức khuya, thức đêm nhiều thì Thầy lo. Mà cái tướng các con ngồi xẹo, cúi đồ đó thì Thầy cũng lo. Bởi vì cái con người mà ý thức chúng ta ngồi thì nó thẳng như thế này, nó không có bao giờ nó cúi, nó khòm vầy đâu – thì nó đúng. Mà nó cúi, khòm là nó cũng sai rồi. Nó có một cái trạng thái gì thu hút mấy con, làm cho mấy con phải khòm vậy. Đó là sai rồi, phải thẳng thớm đàng hoàng.
Bởi vì đức Phật nói: “Phải thẳng lưng” mà. Còn này sao mà khòm lưng? Mà thiền định gì mà lạ lùng? Khòm vậy thì cái tượng này cũng phải khòm xuống chứ sao lại nó ngồi thẳng? Phải không, mấy con thấy không? Nó sai rồi.
Cho nên, vì vậy mà những cái điều này được Thầy sửa lại hết, chứ không phải là mấy con thấy nó hỷ lạc ở trong đó rồi mấy con muốn tìm cách nào mấy con ngồi cũng được. Hỷ lạc ma, Thầy sẽ lật ngửa lên coi nó hỷ lạc còn hay không nữa chứ không được để.
Bây giờ tới cái lớp này là lớp Chánh Niệm Tỉnh giác, nhiếp tâm – an trú tâm. Cho nên buộc lòng nó rất khó đó, mà Thầy phải chịu đựng cái sự mà hướng dẫn cho mấy con. Nó nhiều cái cam go, khó khăn, chứ không để tự mấy con làm được đâu. Thầy thấy nếu mà mấy con làm được, nó không sai thì không có những người mà loạn thần kinh. Và hôm nay, nếu mà làm được thì mấy con đã đi tới rồi, cho nên chưa có cái người nào được. Vì vậy buộc lòng cái khóa này dạy triển khai tri kiến, dạy mấy con nhiếp tâm và an trú tâm cho được.
Bổn phận Thầy là giúp cho mấy con tới đây để cho mấy con đạt được cái kết quả giải thoát của mấy con. Mấy con phải ráng!
Nhất định là: một là chết, hai là chứng đạo. Đời mình không còn gì nữa hết! Thế gian này các pháp đều vô thường, có cái gì là của mình nữa đâu mà ở đây mà nắm níu, mà tiếc? Một là chết, hai là chứng đạo. Có vậy thôi! Làm chủ sự sống chết, chấm dứt luân hồi. Đó là cái mục đích của cái lớp học này.
Dù là người 80 tuổi, hơn 80 tuổi mà được học cái lớp này – nhất định là: một là tôi chết, hai là tôi chứng đạo; chứ tôi không có phạm giới, tôi không có phá giới. Đó, mấy con quyết định như vậy cho Thầy thì Thầy dẫn dắt mấy con tới. Chứ mấy con còn ham sống một chút, thôi Thầy đầu hàng luôn! Rồi, bắt đầu mấy con ghi rồi đưa cho Thầy.
(22:41) Tu sinh 4: Kính thưa Trưởng lão! Mình có ghi về cái hơi thở dài, hơi thở ngắn, hơi thở vừa vô trong đó không thưa Thầy?
Trưởng lão: Con muốn tu hơi thở thì con cứ ghi cho Thầy biết, để mà Thầy biết được cái hơi thở đó, có thể hướng dẫn con tu hay là không tu. Con cứ ghi: dài – ngắn, chậm – nhẹ.
Tu sinh Pháp Ngộ: Kính bạch Thầy! Đây là mình làm chủ, bạch Thầy! Mình làm chủ trong lúc mình nhiếp tâm, khi mình nhiếp tâm là nó vào trong được bao nhiêu phút phải không, bạch Thầy? Chứ còn lúc được, lúc không – thì không nói?
Trưởng lão: Không được! Cái lúc được, lúc không – không nói.
Tu sinh Pháp Ngộ: Nhiều khi lúc được nó tới cả nửa tiếng, mà lúc không được nó…
Trưởng lão: À! Có lúc không được, nó mới có 1, 2 phút mà nó cũng không được luôn thì cái đó không được. Chỉ có mình nhiếp làm sao, mình chủ động làm sao đó mà trong 1 phút mà mình làm chủ. Mình nhắc: “Nhiếp vô cho được!”. Đó là mấy con ghi. Còn cái mà có lúc được, lúc thì 30 phút, lúc thì 1 giờ, mà lúc thì 1 phút nó cũng không vô thì cái đó là không được.
Tu sinh Pháp Ngộ: Không tính phải không, bạc Thầy?
Trưởng lão: Không tính cái đó.
Tu sinh 3: Dạ, con xin bạch Thầy! Cho con hỏi là con tu cái đề mục nào Thầy?
Trưởng lão: Đề mục Chánh Niệm Tỉnh Giác hả con?
Tu sinh 3: Đề mục hơi thở đó Thầy!
Trưởng lão: Đề mục hơi thở là cái đề mục đầu tiên: “Hít vô, tôi biết tôi hít vô; thở ra tôi biết tôi thở ra” – cái đề mục đó đầu tiên.
Tu sinh 3: Dạ, vậy một đề mục con tu hoài hay sao Thầy?
Trưởng lão: Không, Thầy sẽ kiểm tra chứ đâu hoài được.
Tu sinh 3: Tại lúc trước con tu tới đề mục thứ 5, thứ 6 rồi.
Trưởng lão: Bây giờ không được, Thầy kiểm tra trở lại, bắt đầu đi lại căn bản. Cũng như mà Thầy dạy Định Vô Lậu, thì bắt đầu vào Nhân quả của thảo mộc, chứ không có được mà nói: “Hồi nào tới giờ tôi cũng biết nhân quả rồi, thôi tôi không tu, tôi tu cái nhân quả khác”. Không được, phải đi lại căn bản.
Bây giờ tu hơi thở, thì bắt đầu Thầy kiểm tra mấy con lại. Đầu tiên là đề mục thứ nhất, không có đề mục thứ 2, thứ 3 được nữa. Rồi chừng nào mà được rồi Thầy sẽ cho lên, phải không?
Tu sinh 3: Vậy là đang mấy hơi thở con tác ý một lần Thầy?
Trưởng lão: Con cứ nhớ, hiện giờ thì căn cứ vào 5 hơi thở, mấy con tác ý một lần. Nhưng mà tu 1 phút thì mấy con cứ trình cho Thầy 1 phút.
8- THẦY DẠY VỀ VÔ KÝ VÀ AN TRÚ
(24:32) Tu sinh 5: Thưa Thầy! Thầy làm ơn cho con biết: tình trạng vô ký với tình trạng an trú nó sao Thầy?
Trưởng lão: Tình trạng vô ký là con quên mất, con không nhớ, không biết gì hết. Nó vô ký là nó quên đó con, nó quên tức là nó không nhớ gì hết, đó gọi là vô ký. Còn tình trạng an trú thì nó biết, mình trú vô hơi thở…
Tu sinh 5: Lúc tối con thức mà sao con tỉnh bơ à?
Trưởng lão: Con tỉnh bơ, nhưng mà cái đối tượng của con, con biết rất rõ. Vì con thức nhưng mà nó còn có cái đối tượng.
Như bây giờ, con đi kinh hành thì con biết cảm nhận cái bước đi kinh hành con mà không có một niệm gì xen vào trong bước đi kinh hành – đó là con an trú. Còn nó còn một niệm nào xẹt vô nhưng mà con biết một niệm, và cái bước đi con cũng không mất – đó là con nhiếp tâm được trong bước đi. Phải không?
Còn cái mà vô ký là lúc bây giờ, con đang ngồi vầy, con biết hơi thở ra – hơi thở vô, rồi bỗng dưng con không thấy hơi thở nữa, mất tiêu. Rồi một chút con choàng con thấy được cái hơi thở con lại. Thì lúc cái thời gian mà con bị vô ký đó, con không thấy hơi thở nữa, con mất. Mà con thấy con không phải ngủ, nó tỉnh bơ chứ nó đâu có giống như cái người buồn ngủ. Nhưng mà đó là vô ký, con.
Còn cái vô ký nhanh nữa, là con đang ngồi con thấy hơi thở vậy, nó giật mình cái, tức là nó vô ký như chớp mắt. Nó giật mình đó là con bị vô ký rồi. Còn không nó lặng mất một chút: nửa phút hay 1 phút hoặc 5 phút, 10 phút… cũng ở trong trạng thái vô ký. Thì cái vô ký là nó quên, nó không có biết gì nữa. Nó quên luôn cả hơi thở, nó quên luôn bước đi. Đó là nó vô ký.
Tu sinh Pháp Ngộ: Con kính bạch Thầy! Hồi nãy Thầy nói: “Lúc giờ khuya là tu tập dễ bị ma nó nhập, bị Tưởng nó nhập vô”. Nhưng mà con cũng cảm nhận là lúc giờ khuya lại là giờ tu tập là tốt nhất.
(26:22) Trưởng lão: Đó, nó dễ vô nó mới tốt nhất đó! Ở đây mình làm chủ, mình dẫn. Mình đi vào cái pháp là mình làm chủ, mình dẫn pháp.
Còn cái giờ khuya này, mình nhiếp vô sao lại nó dễ yên ổn, mà dễ thanh tịnh, dễ tốt. Thì thật sự ra, những cái người mà luyện thần thông ngoại đạo thì họ thích tu giờ khuya. Bởi vì tu giờ đó giờ ma nó dễ nhập, nó làm có thần thông. Mà Thầy nói: “Tưởng – nó dễ nhập giờ đó!”, hiểu không?
Cho nên vì vậy mà cái người mà tu trong những giờ mà khó nhất, mà người ta dùng ý thức người ta dẫn vô, người ta dẫn cái tâm người ta vô. Bây giờ, vô hơi thở, thì biết hơi thở ra – vô; mà có cái trạng thái gì mà hễ an ổn nhất, thì giờ khuya con thấy nó vô dễ cái sự an ổn này. Có phải không?
Khuya mấy con tu thấy nó dễ, nhiếp tâm dễ, nhưng mà sự thật nó không phải đâu. Nếu mà khuya nhiếp tâm được vậy, thì sáng – trưa – chiều, những thời khác cũng phải nhiếp tâm được vậy. Còn cái này, tại sao nhiếp tâm không được mà khuya lại được? Làm cái này dễ hơn – thì cái này bị ma! Con hiểu không?
Mình tu, mình làm chủ chứ sao lại có lúc được, lúc không vầy? Mà lại giờ khuya lại tốt chứ? Mà tu những giờ khác lại không tốt? Giờ khác ma không nhập, mà giờ khuya ma nhập. Cho nên Thầy nói, mấy con lưu ý cái phần Thầy nói, là có một cái kinh nghiệm ở trong đó rõ ràng.
9- ĐỊNH VÔ LẬU LÀ QUAN TRỌNG NHẤT
(27:40) Tu sinh 6: Dạ mô Phật! Lúc khuya con đem kinh ra con đọc được không Thầy?
Trưởng lão: Được chứ đâu có sao đâu con. Bởi vì lúc đó, mình coi cái giờ khuya đó, mình cho nó là cái Định Vô Lậu để mình triển khai, mình đọc để mình tìm hiểu những cái lý của Phật dạy, để cho mình thâm sâu được, để khai triển cái tri kiến hiểu biết của mình. Cái đó được, không có gì đâu.
Nhưng mà cái thời gian đó là cái thời gian mình đặt thành cái thời gian đó. Thí dụ như, khuya 12 giờ con vẫn lấy cái thời gian đó con tu thì con cho nó là Định Vô Lậu. Thì lúc bấy giờ con đưa ra cái đề tài, con quán, đưa ra cuốn kinh con đọc vẫn được hết.
Bởi vì, về vấn đề Định Vô Lậu nó rộng rãi, mênh mông lắm. Khi đó, từ cái sự suy nghĩ trong đầu của con, từ đọc để tìm hiểu của con, thì cái đó là cái Định Vô Lậu rồi. Con hiểu không?
Tu sinh 6: Cái thành công nhất là đọc Định Vô Lậu nhiều hả Thầy?
Trưởng lão: Ừ, cái thành công của chúng ta – bởi vì nó vô lậu mà con. Mà cái mục đích của đạo Phật là Tâm Vô Lậu, mà lại cái Định này vô lậu. Cho nên con thấy, cái này là quan trọng nhất mà, nó quan trọng nhất! Cho nên triển khai cái tri kiến của chúng ta mà thành tựu được là chúng ta đã chứng đạt được cái Vô Lậu đó.
Tu sinh: Bạch Thầy! Cho con làm lại cáo bài Thân hành. Bữa trước Thầy cho làm bài Khẩu hành rồi, giờ làm lại bài Thân hành.
Trưởng lão: Làm lại nó càng hay chứ không có gì đâu. Bởi vì các con làm riết, rồi những cái bài đó, cái bài nào mà cuối cùng mà Thầy nói “Cái bài này đó, mấy con sẽ kết vô, làm thành bộ sách Đạo đức của chính con”. Vừa là cho mình mà vừa sau này để lại cho mọi người, ai cũng học. Nó lợi ích!
Tu sinh Pháp Ngộ: Bạch Thầy! Cái này đề nhiếp tâm tới 2 giờ, bạch Thầy!
Trưởng lão: Dữ vậy!
Tu sinh Pháp Ngộ: Minh Hiền. Không hiểu, bạch Thầy.
Trưởng lão: Chắc không hiểu. Rồi, để rồi Thầy sẽ kiểm tra. Rồi, để Thầy sẽ kiểm lại.
10- LÀM CHỦ GIỜ TU KHI KHỞI NIỆM ĐỊNH VÔ LẬU
(29:29) Tu sinh 2: Dạ, mô Phật! Bạch Thầy!
Ví dụ như: đến cái giờ tu Chánh Niệm Tỉnh giác mà tự nhiên nó khởi niệm để suy nghĩ những cái bài pháp mà Thầy dạy chúng con để làm Vô lậu đó Thầy. Nó khởi lên hoài, con không tu cái kia được, con chuyển sang cái Định Vô Lậu con làm bài có được không?
Trưởng lão: Được chứ, con cứ làm. Con cứ làm cái bài Vô Lậu. Rồi bắt đầu tới cái giờ mà con tập mà để đi kinh hành nhiếp tâm, con hoàn toàn nó có hiện ra: “Dừng lại! Đây là cái chỗ… ”. Bởi vì con làm chủ mà, con phải tập làm chủ.
Cho nên cái giờ mà tu Chánh Niệm Tỉnh giác này, con tu ít lại để cho cái giờ này mình triển khai cái tri kiến của con. Chứ không khéo mình triển khai, nó động rồi. Vừa đi, nó chợt nhớ ra: “Trời ơi, cái này hay quá!” – vô lấy viết viết. “Không! Dẹp xuống! Giờ này không phải giờ mày, mày để lát nữa mày sẽ làm cái đó”.
Tu sinh 2: Vậy là mình phải dừng nó lại hả Thầy?
Trưởng lão: Phải dừng lại. Dừng lại hoàn toàn, tác ý dừng lại cái Vô Lậu: “Giờ này không phải là giờ Vô Lậu! Phải làm cái nào ra cái nấy!”. Coi như là giờ giấc nghiêm chỉnh đó con.
Tu sinh 2: Con thấy nhiều khi làm xong, tới giờ ra đi chút xíu cái nó khởi niệm nó nhớ cái đoạn này, đoạn kia y như Thầy nói, con chạy vô con ghi vô nháp.
Trưởng lão: Không được. “Cái giờ này là cái giờ mày Chánh Niệm Tỉnh Giác, mày không có lộn xộn nghe! Hèn chi cái bài mày làm nó lộn xộn là do cái chỗ này nè!”. Đó, con nói nó: “Vậy thì giờ này Chánh Niệm Tỉnh giác, biết bước đi hẳn hòi. Mày mà còn trật nữa, tao bắt quỳ gối đó!”. Phải không? Mình hăm dọa nó đi! Rồi lần lượt con thấy con làm chủ nó, cái giờ nào ra giờ nấy.
Cho nên nó dồn, khi mà vô cái giờ mà con Định Vô Lậu đó, con ngồi con tư duy nó sáng suốt lắm. Con đi mà con giữ được bình an, con giữ đừng có niệm gì xẹt, tức là nhiếp tâm và an trú. Rồi con ngồi lại con làm – nó hay hơn là con để mà cứ lát nó xẹt vô, cái con chạy vô viết mấy chữ, lát chạy vô viết mấy chữ – nó không có hay đâu. Con cứ làm sao mà cái tâm con nó bình an, an trú được rồi. Rồi bắt đầu con tới cái giờ đó con cầm cây bút lên con thấy cái sự bình an đó.
Thầy viết văn cũng vậy mà. Khi nào nó mỏi mệt, để cho nó nghỉ, bình an, nó “thanh thản, an lạc, vô sự” nó kéo dài 1 giờ, 2 giờ. Bắt đầu vô ngồi, trời đất ơi, sao mà nó viết nó sáng suốt vô cùng lận!
Còn cứ để nó lăng xăng hoài, nó không có sáng đâu. Cái tâm nó phải được nghỉ ngơi, rồi nó làm việc về Vô Lậu này nó mới sáng. Chứ mà con bắt nó không được nghỉ ngơi, mà nó cứ đi một hơi nó nhớ, đi một hơi nó nhớ – cái tâm con nó mệt lắm! Con hiểu không?
Nhớ như vậy thì con mới làm được. Và Thầy nhắc, khi mà mình đi kinh hành Chánh Niệm Tỉnh giác hoặc ngồi hít thở để cho nó an trú ở trong đó, để cho nó nghỉ ngơi đó con, thì mấy con sẽ làm cái này nó rất hay, bài vở con rất khá. Nó sẽ nhớ hết. Nhớ chưa!
11- CÁCH LÀM BÀI ĐỊNH VÔ LẬU
(32:10) Tu sinh Pháp Ngộ: Dạ, riêng con thì con mà viết bài Định Vô Lậu là con phải làm hết cả buổi luôn.
Trưởng lão: Được! “Bây giờ coi như là, bắt đầu cái giờ Định Vô Lậu này, mà tao làm chưa xong, mà tao cứ ngồi tao làm hoài. Tới chừng mà hết rồi, tao xả nghỉ, tao đi kinh hành. Xong, tao nghỉ”.
Tu sinh Pháp Ngộ: Làm từ sáng đến trưa luôn. Ăn cơm xong là xả nghỉ rồi lúc đó mới tu Chánh Niệm Tỉnh giác.
Trưởng lão: Tu Chánh Niệm Tỉnh Giác! Thì đâu có gì đâu con.
Tu sinh Pháp Ngộ: Bạch Thầy, nhiều khi nó không xong, con làm luôn cả ngày được không, bạch Thầy?
Trưởng lão: Cũng được nữa! “Tao dồn hết cái Định Vô Lậu, tao cho tất cả các giờ này vô cái Định Vô Lậu”.
Tu sinh Pháp Ngộ: Nhiều khi lại viết, không phải viết cái bài không. Mà viết nháp rồi lại sang qua, rồi viết nháp; rồi không vừa ý lại còn sang qua nữa.
Trưởng lão: Đúng rồi đó! Đúng rồi. Các con làm như vậy nó lần lượt nó triển khai thêm. Thí dụ bây giờ mình viết cái nháp rồi, mình đọc lại, bắt đầu mình đọc theo đó mình làm lại cái bài, mình viết lại, thì mình thấy cần thêm gì mình thêm vô. Phải không? Nó nhiều cái, khi đọc tới đó, hồi đó mình viết thì cái chỗ đó nó thiếu, bây giờ mới đọc lại, mới viết lại cái bài nữa. Thấy cái chỗ này, tới cái chỗ này thấy thiếu rồi thêm vô; mà thấy cái chỗ này thừa, gạt bỏ ra. Nó làm chỉnh đốn lại cái bài của mình. Lần lượt mấy con làm như vậy thì cái bài văn của mấy con rất hay và nó đầy đủ cái ý của nó.
Rồi bắt đầu, cái bài này xong rồi chứ chưa đâu, chưa hẳn đâu. “Lát tới giờ mà Định Vô Lậu tao đem ra tao đọc, tao làm lại bài nữa”. Cho nên mấy con mà nộp được cho Thầy một bài chắc mấy con cũng phải viết ba, bốn bài rồi đó chứ.
Tu sinh Pháp Ngộ: Dạ, viết nhiều, bạch Thầy. Nháp nhiều!
(33:24) Trưởng lão: Thầy biết mà! Bởi vậy, cái đầu của mấy con nó không thể viết một lần được đâu mà mấy con phải cần viết nhiều lần đó mấy con. Như vậy nó mới triển khai được cái sự hiểu biết của mấy con nó thâm sâu, chứ không khéo nó cạn lắm, nó cạn lắm.
Định Vô Lậu gì mà, trời đất ơi, mấy con! Cái bài đầu tiên đó, thật sự ra Thầy nói: “Trời đất ơi! Mấy con này quán vô lậu cái kiểu này thì thôi. Đâm bên nay mà xỉa bên kia, cạn cạn không, không có đi sâu vô được”. Nhờ cái sự học này mấy con có thêm.
Tu sinh 3: Dạ bạch Thầy! Bài đầu chúng con cũng chưa hiểu. Nói về Vô Lậu, chúng con nói nhiều khi tới đoạn mà nói, nghĩ nghĩ Thầy coi tới năm bảy chục bài Thầy mệt chứ đâu có nói chi nhiều. Sau này tụi con mới hiểu được là phải quán chiếu, phải nghĩ: khổ nó phải như thế nào; rồi cái quả như thế nào? Cho nó ra cái nét của nó – có nhân mới có quả. Sau con mới hiểu, chứ ban đầu nghĩ làm nhiều quá Thầy coi không hết .
Tu sinh 3: Bạch Thầy! Mình cho ví dụ mẩu chuyện, mình luận cái mẩu chuyện đó luôn – thiện ác luôn – hay mình để hết mình mới luận?
Trưởng lão: À! Con cho cái mẩu chuyện đó, con thuật cái mẩu chuyện đó cho mọi người người ta nghe cái chuyện nhân quả. Nhưng mà mình chưa có nói nhân quả gì trong cái mẩu chuyện đó đâu. Sau khi bình luận mới vạch ra cái nhân: cái hành động mà anh chàng này làm như vậy là cái hành động nhân; và cái quả anh ta phải gánh như thế nào? Thì cái bài mình đã thuật trên đó, mình xuống, mình lôi những cái đoạn đó mình chứng minh trong cái bài bình luận, con. Mình xác thực, rồi mình dựng lên, mình nói về cái đạo đức ở trong đó nữa thì nó tuyệt vời cái bài. Hiểu không?
Đó! Đó là cái cách thức để hướng dẫn mình làm, mà trở thành cái bài học đạo đức nó cụ thể. Và đồng thời mấy con lại đưa cái pháp hành, pháp tác ý, đưa những cái pháp hành để nó trở thành nhắc nhở chúng ta phải thực hiện cái đạo đức đó bằng cái đó để chuyển. Cái pháp hành là cái phương pháp chuyển nhân quả của con người mà.
12- DIỆT TẦM TỨ VÀ TÂM VÔ NIỆM
(35:36) Tu sinh 7: Bạch Thầy! Con muốn hỏi, nếu mà nhiếp tâm – an trú thì có phải là vô niệm không?
Trưởng lão: Cái nhiếp tâm mà an trú thì nó là vô niệm rồi con, chứ nó có niệm thì nó đâu có an trú được.
Tu sinh 7: Như vậy trong trường hợp mà con nghĩ rằng: thấy không Tầm – không Tứ có phải cũng là vô niệm không?
Trưởng lão: À, “không Tầm, không Tứ”, mà cái cái chỗ “không Tầm Tứ” tức là sáu căn con bị ngưng hoạt động – nó mới gọi là “không Tầm, không Tứ”. Còn cái chỗ này chúng ta còn cái Tứ hẳn hòi, đàng hoàng. Tức là chúng ta còn thấy biết rõ ràng thì nó có Tứ rồi, chỉ chúng ta tác ý ra cái có à. Mà chúng ta không tác ý – nó có Tứ, nó còn biết. Còn cái “không Tầm, không Tứ” là nó diệt, nó vào trong cái trạng thái của Tưởng mất rồi. Cho nên nó diệt Tầm Tứ mới nhập Nhị Thiền, con.
Tu sinh 7: Con muốn hỏi để phân biệt hai cái chỗ đó. Bởi vậy nếu mà nói vô niệm, thành ra…
Trưởng lão: Nó vô niệm là nó không niệm, nhưng mà nó còn cái Tứ đó con. Cái tỉnh thức – mình biết, là cái Tứ đó.
Mình vô niệm, là cái ý niệm mình nó không có khởi cái niệm; mà có một con vật gì đi ngang nó biết, tức là nó Tứ được. Con hiểu cái chỗ đó, nó còn Tứ. Nó không có cái niệm mà nó không có sự suy nghĩ – nó không có Tầm, nhưng mà Tứ nó còn. Cho nên vì vậy mà nhập Sơ Thiền đó – nó ly dục, ly ác pháp – nó nhập Sơ Thiền. Nó còn Tầm, còn Tứ. Con hiểu không? Nó khởi suy nghĩ được. Nó còn Tứ, tức là nó thấy mọi vật đi qua lại nó biết, tức là nó Tứ – nó tác ý đó.
Tu sinh 7: Cái Sơ Thiền, nó còn có Tứ. Còn cái Nhị Thiền nó không còn Tứ nữa?
Trưởng lão: Đó, nó còn, con. Còn cái diệt Tầm Tứ là nó hoàn toàn nó ngưng hoạt động hết, sáu căn nó ngưng hoạt động.
Cho nên nói diệt Tầm Tứ, Tầm Tứ không còn nữa. Tức là Tứ không còn nữa, tức là nó không thấy nữa, nó không nghe nữa. Cái lỗ tai nó hết nghe, con mắt hết thấy, cái ý không suy nghĩ được nữa, gọi là diệt Tầm Tứ. Cho nên nó là Nhị Thiền.
Vì vậy mà nó gọi là “Định sanh hỷ lạc”; tức bây giờ đó, nó ở trong trạng thái nó sanh ra cái hỷ lạc. Đó gọi “Định sanh hỷ lạc”.
Còn cái kia “Do ly dục sanh hỷ lạc”, cho nên nó còn Tầm Tứ. Con thấy không? Nó rõ ràng. Hai cái thiền định này mình thấy: cái Sơ Thiền với cái Nhị Thiền nó khác, nó khác xa.
Tu sinh 7: … Con có đọc qua cái bài của Hòa thượng Thanh Từ đó, nói về vô niệm, Ngài cho rằng cái đó là Tối Thượng Thừa rồi. Nhưng mà nếu như vậy thì nó mới có tương ưng với cái Nhị Thiền?
Trưởng lão: À, cái vô niệm của Hòa thượng Thanh Từ, nó còn cái biết – cái Tứ. Nó chỉ tương ưng với cái Sơ Thiền mà thôi, cái sơ Thiền. Nhưng mà cái thiền của Hòa thượng nó không ly dục, ly ác pháp – mà bị ức chế, nó không niệm thôi. Cho nên nó còn cái biết đó thôi, mà cái biết nó là Tứ rồi. Nhưng mà điều kiện là người ta nghĩ nó là Tối Thượng Thừa, chứ nó là cái ý thức của chúng ta. Cho nên nó sai.
(38:42) Tu sinh 8: Thưa Thầy! Từ hồi còn nhỏ đến giờ thì con có một cái tánh. Mà thậm chí đến làm bài mà khi đã nộp cho Thầy rồi, thì khi ra người ta hỏi, con không biết đến nữa, rồi con phải gạch gạch lại để làm lại cái giáo án với cái khung đó. Con đi chợ mua, mua ra thì xách trên tay, người ta hỏi: “Bao nhiêu?” con cũng không biết nữa. Nhưng về nhà con ghi lại thì con biết số. Bạch Thầy, như vậy là con…?
Trưởng lão: Cái tâm mà hay quên của con đó, tức là vừa mua rồi, hỏi: “Anh mua bao nhiêu?” – “Không nhớ, giờ có giấy đây coi chứ tui không nhớ!”, thì cái tâm của con như vậy là cái trí nhớ nó không có, con! Mà cái trí nhớ như vậy, không có, là rất tội cho con đó! Nếu mà nói tôi tu, tôi quên như vậy đó, như là Thiền Đông Độ đã nói “Vô phân biệt” – “Hồi nãy tôi mua, giờ tôi không biết gì nữa hết!”. Đó là tôi hết phân biệt rồi. Thì như vậy, chắc chắn là mấy người này lẫn rồi đó con. Con tu kiểu đó là lẫn mất rồi!
Tu sinh 8: Bạch Thầy! Về nhà thì con ghi lại đủ, nó không quên. Mà làm bài nộp cho Thầy rồi, con gạch gạch lại, rồi con nhẩm lại, nó không quên hẳn.
Trưởng lão: Nó không quên là tại vì con có ghi đó, nó mới nhắc con nhớ. Cũng như Hòa thượng Phước Hậu đó, ổng tu đến cái chỗ mà ổng quên đi. Rồi ổng đi qua sông, ổng cởi quần áo ổng đưa cho chú thị giả. Tới chừng lên sông, ổng quên mặc, ổng đi luôn. Chú thị giả kêu: “Hòa thượng, Hòa thượng! Mặc quần áo chứ!” – đó là quên đi. Thì con có người nhắc thì nó nhớ, cho nên con ghi nó mới nhớ. Con cái kiểu cũng là trên đầu nó còn có chữ “Như” không đó.
Tu sinh Pháp Ngộ: Bạch Thầy! Cái chỗ vô niệm, bạch Thầy. Bên chỗ các cái Thiền Đông Độ thì người ta cũng vô niệm, nhưng mà chỗ Thầy nói Chánh Niệm Tỉnh Giác thì nó cũng đến cái chỗ vô niệm. Như vậy, hai cái vô niệm này có giống nhau không hay là một bên ly dục, một bên không ly dục?
Trưởng lão: Nó khác nhau. Một bên không ly dục mà do ức chế mà vô niệm; còn một bên thì do ly dục mà nó vô niệm. Nó khác. Hai cái phương pháp tu cũng khác.
Cho nên cái này, người ta hoàn toàn người ta bất động, cho nên mọi cái chuyện xảy ra thì, người ta vô niệm – trong khi người ta thanh thản, nó không niệm. Nhưng có cái ác pháp tác động tới thì người ta có niệm. Còn anh kia: nó vô niệm luôn. Cho nên vì vậy mà ảnh chẳng biết gì hết; mà nếu ảnh biết thì ảnh bị phân biệt – ảnh “vô phân biệt” mà.
(41:08) Còn cái này, mình có phân biệt đàng hoàng: “Cho nên tui tỉnh vậy đó, chứ mà mọi ác pháp đến là tri kiến của tui nó chiếu hết, nó soi hết, nó không có để tác động vô”. Còn anh này vô niệm mà không có dám tác động ra. Mà hễ tác động ra thì tác động sân dữ hay hoặc là phiền não luân – thì nó sai, nó không đúng. Cho nên, chỉ còn ở trong cái thiền đó mà để chịu đựng thôi. Chứ hoàn toàn ngoài cái thiền, thì anh rời ra ngoài cái thiền mà anh sống bình thường như tụi tui không được. Còn tụi tui là sống cuộc sống bất động rồi.
Cho nên tụi tui không niệm, mà không niệm trong cái chỗ bất động chứ không phải là không niệm theo cái kiểu mà anh ở trong thiền định. Tui không ở thiền định, mà tui ở chỗ tâm bất động cho nên “thanh thản, an lạc, vô sự”. Nhưng mà anh động tới tui là nó có niệm liền tức khắc, nó đối chiếu, nó phản xạ, nó chống bằng cái tri kiến, nó chặn anh ngoài đường liền tức khắc, không có vô được cái thân tâm nó đâu. Còn anh thì anh không có cái đó.
Tu sinh Pháp Ngộ: Bạch Thầy! Vậy như Thiền Đông Độ do ức chế tâm vô chỗ vô niệm. Hai chỗ vô niệm này nó không giống nhau. Một bên vô niệm, bên Đông Độ, khi vô niệm, khi đụng cảnh là người ta phát tâm tham, sân lên. Còn bên đây, mình vô niệm nhưng mà khi đụng cảnh là mình có cái tri kiến, là mình giảm cái sân mình lại và không còn sân.
Trưởng lão: Nó hay cái chỗ đó! Cho nên, cái sai bên đây mình thấy rõ mà cái đúng bên đây mình thấy. Bởi vì bên đây nó giải thoát. Còn bên kia nó không giải thoát, nó bị ức chế, cho nên bị đụng cái nó bật ra hết.
13- PHÂN BIỆT TẬP TRUNG ĐÚNG VÀ ỨC CHẾ CỦA THIỀN ĐÔNG ĐỘ
(42:30) Tu sinh 9: Thưa Thầy! Trong khi mình viết bài đang chăm chú viết bài mà ai nói, hỏi cái gì mình cũng không hiểu gì hết, mình cứ viết bài thôi. Nó là nghĩa là sao thưa Thầy?
Trưởng lão: Đó là cái sự tập trung của con trong cái dòng tư tưởng của con, thì cái đó là con rất hay chứ có sao đâu! Có cái sự tập trung đó. Do đó, cái sức tập trung đó đó, người ta sẽ áp dụng qua cái Chánh Niệm Tỉnh Thức mà để con áp dụng. Nghĩa là mặc dù là con nhiếp tâm, con an trú tâm, thì lúc bây giờ ai hỏi gì con không có nghe, con không có thấy cái lời người ta hỏi. Con đang nhiếp tâm say mê ở trong cái đối tượng của con đang nhiếp.
Thí dụ bước đi, họ hỏi gì, con cứ bước đi, con không cần lưu ý đến. Đó là cái nhiếp tâm – an trú của con. Con an trú được, con không nghe ngoài đó.
Đó, mới đầu con an trú nó không niệm. Rồi sau đó, nó đi sâu hơn chút nữa là người ta nói con không có cần lưu ý. Mặc dù con có nghe nhưng mà con cứ lo cái biết của mình thôi, không cần ở ngoài, tức là không phóng dật. Thì cái đó là cái cao hơn một bậc của trên cái an trú, nó lại sâu vô an trú. Nó tốt hơn chứ không có gì đâu mà sợ!
(43:34) Tu sinh Pháp Ngộ: Bạch Thầy! Con có đi theo một người họ tu Thiền Đông Độ. Nhưng mà bình thường họ tiếp xúc với nhau thì họ lý luận, họ tiếp xúc, họ nói chuyện rất là hay, rất là giỏi. Nhưng mà khi đụng cái chuyện cái là họ đùng đùng lên, họ la om sòm, cái họ bỏ họ đi về mất tiêu, bạch Thầy! Mà không có chuyện thì thấy họ giống như là người rất là đoàng hoàng; nhưng mà khi đụng chuyện cái là họ sân, họ chịu không nổi, họ chạy mất.
Trưởng lão: Đó, đó là bị ức chế tâm. Ức chế cái tâm tham – sân – si của mình. Cho nên đụng chuyện là bắt đầu cái sân của họ lên liền tức khắc, rồi họ bỏ họ về.
Tu sinh Pháp Ngộ: Họ xỉ vả dữ lắm, bạch Thầy! Còn như con đang tu thì mình chưa hết sân, nhưng mình cũng thấy mình có đang sân, nhưng mà mình không có bộc phát lên mình sân, mình điều chỉnh cho nó bớt sân, mình xả đi. Còn bên kia, họ bộc lên, họ la quá trời, họ chửi, nhục mạ dễ sợ lắm, bạch Thầy!
Trưởng lão: Đó, bị ức chế đó con, bị ức chế nó mạnh. Còn mình đó, mình cũng có, chưa hết – tại vì mình tu chưa xong, nó còn sân. Nhưng mà vì mình có tri kiến, vì mình có sự định tĩnh, bình tĩnh; mình không có bị ức chế nó, mình định tĩnh thôi. Do đó, mình lần lượt mình xả cái tâm phiền não của mình, cuối cùng mình hết, mình không có la đùng đùng, không có mặt đỏ gay lên.
Tu sinh Pháp Ngộ: Nhưng mà bạch Thầy, con thấy họ la đùng đùng, họ la ghê lắm, họ xỉ vả, nhục mạ những người lớn, người già ghê lắm! Mà sau rồi khoảng một tuần sau gặp họ, họ cũng cười.
Trưởng lão: Chứ bây giờ làm sao? Nhưng mà chính họ, họ cũng biết là họ chưa hết. Họ biết họ bị ức chế nữa chứ không phải không. Nhưng mà bây giờ họ biết cách nào hơn là, cái phương pháp nào để mà giải tỏa cái đó? Họ không có cách thức nào hết!
Tu sinh Pháp Ngộ: Nhưng mà khi họ, thà rằng mình sân, mình để trong lòng mình, hoặc là tự mình xả ra thì nó đỡ. Để họ đùng đùng vậy, rồi nhiều khi trước mặt mọi người, người lớn, người nhỏ người ta nghe hết. La lối om sòm – một người tu mà la gì ghê quá, la mà thô lỗ quá!
Trưởng lão: Thì đó, thường thường mà ức chế tâm cho đừng có niệm khởi đó, đừng có vọng tưởng như Thiền Đông Độ là cái sân họ dữ lắm, nó đùng đùng. Họ la một hơi cái họ hết, chứ không phải họ la một hơi rồi họ còn. Cũng như là cái người ngoài đời – họ la cho đã họ một hơi rồi, họ giận, họ la cho đã rồi họ đập đồ, đập bát gì cho đã họ – cái rồi họ hết, rồi họ đi lượm trở lại. Coi như họ xả hết rồi đó, xả bằng cách mà theo kiểu đời đó.
14- IM LẶNG NHƯ THÁNH
(45:57) Trưởng lão: Còn ở đây mình xả, bắt đầu mình tu tập, cái tâm mình nó định tĩnh lắm. Khi mà đụng cái chuyện như vậy đó, bắt đầu nó có ngầm nó có khởi lên; nhưng mà rồi cái tư tưởng mình quán xét, nó xả xuống, nó xả hết – mà không ai biết mình giận hờn gì hết. Chính cái đó lần lượt.
Còn cái người mà người ta tu xong đó, người ta thản nhiên lắm – nó không có cái gì mà tác động được – người ta trở thành “im lặng như Thánh” rồi. Nó im lặng, không phải im lặng là mình không la lối người ta mà mình gọi là “im lặng”. Mà nó “im lặng như Thánh”, có nghĩa là cái tâm bất động, nó không có bị xao động trước cái ác pháp đó – gọi là “Im lặng như Thánh!”
Cho nên, mấy con nghe Thầy nói cái danh từ: “Im lặng như Thánh” – chắc chắn là người ta chửi mắng Thầy – Thầy làm thinh đó, chứ không phải. “Im lặng như Thánh” có mục đích là cái tâm Thầy không có một dao động một chút nào trong đó, gọi là “Im lặng như Thánh”. Các con hiểu chữ “Im lặng như Thánh” chưa?
Cho nên, ông Mục Kiền Liên mà ổng ngồi ổng tu, ổng khởi: “À, mình tu cái này đúng nè ha!”. Ông Phật ổng la: “Im lặng như Thánh!” – tức là im lặng trong tâm của ông. Các con hiểu cái danh từ mà chỗ: “Im lặng như Thánh” – là cái mẫu chuyện mà đức Phật đã la ông Mục Kiền Liên. Tại vì ổng ngồi ổng tu, ổng thấy: “Bữa nay sao tu nó an trú tốt quá!” – thì ổng khởi niệm an trú vậy thôi, chứ ổng có nghĩ gì đâu. Nhưng mà ông Phật ông la: “Im lặng như Thánh!”. Vì như vậy là bị động, các con hiểu chưa?
Đó là cách thức tu theo Phật. Cho nên vì vậy mà Thầy nghe, Thầy dùng cái chữ “Im lặng như Thánh” thì mấy con biết là im lặng trong nội tâm của mình. Mà im lặng được trong nội tâm của mình thì có mắng chửi ai, có nói to tiếng với ai không? Không! Có phải không, mấy con thấy?
Nhưng mà không phải vậy, mấy con biết. Cái người tu tập người ta biết dùng ái ngữ và biết dùng cái ngôn ngữ. Khi cần phải dùng cái ngôn ngữ để nhiếp phục người khác thì người ta khai cái giới ái ngữ người ta ra liền, người ta sử dụng cái ngôn ngữ: “Ông là đồ ngu si!” – vẫn nói được như thường.
HẾT BĂNG
Đang trực tuyến: 5 | Lượt truy cập: Hôm nay: • Tổng: | Lượt xem trang: Hôm nay: • Tổng:


