(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)
LCK 020A – (Nam) Đường đi nhân quả con người – Năm điều khó tu – Bất động nhờ tri kiến giải thoát
LỚP CHÁNH KIẾN – BĂNG 020A
ĐƯỜNG ĐI NHÂN QUẢ CON NGƯỜI – NĂM ĐIỀU KHÓ TU – BẤT ĐỘNG NHỜ TRI KIẾN GIẢI THOÁT
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Người nghe: Tu sinh nam
Thời gian: 11/2005
Thời lượng: [56:49]
1- ĐƯỜNG ĐI NHÂN QUẢ CON NGƯỜI
(00:00) Hôm nay Thầy xin nhắc lại là cái bài mà mình học về Định Vô Lậu; mình dùng cái tri kiến mình quan sát, mình quán xét. Hai là đến cái bài Đường đi của nhân quả, là mình dựa theo cái Thập Thiện thì mình viết nó không có sai. Bởi vì đường đi của nhân quả thì: thân hành, khẩu hành, ý hành – thì mình dựa vào cái Thập Thiện, Thập Ác mình viết cái đường đi nhân quả thì nó cụ thể, rõ ràng, nó không mất. Do chúng ta biết cách, chứ không khéo mình giới thiệu vô đường đi của nhân quả mình nói mênh mông. Đâu nó cũng có cái đường đi của nó hết, nhưng mà cái đường đi chính của con người là đường đi nhân quả, là: Thập Thiện, Thập Ác. Cho nên mình xoáy vào cái Thập Thiện, Thập Ác thì mình vẽ ra được cái đường đi nhân quả của con người thì nó không sai một cái điểm nào hết. Đó là cái thứ nhất.
Cái thứ hai, về cái phần đi vào những cái chi tiết của nhân quả, thì bắt đầu thân hành nghiệp – thân hành, rồi khẩu hành, rồi ý hành. Khi chúng ta muốn nói về cái thân hành mà nó phải trước khi có cái hành động của cái thân, thì nó phải có cái ý trước. Bởi vì cái ý mình suy nghĩ rồi mới biến ra cái hành động của thân, hoặc là biến ra cái lời nói của mình. Cho nên vì vậy đó, viết cái bài mà để nó cụ thể, xác thực nhất là mình đem cái mẩu chuyện, mẩu chuyện nó xảy ra, mình đem một cái ví dụ. Chúng ta muốn nói về thân hành, mà cái nhân của nó là cái hành động ác, mà cái quả của nó là bị ở tù, hoặc bị tử hình.
(02:00) Thí dụ, mình đem một cái ví dụ mình nói, người ta đọc người ta thấy nó vừa thích thú, mà nó vừa cụ thể của cái nhân quả. Thí dụ như có một cô cậu nào đó, rồi cái cậu đó cậu có cái người bồ, cậu rủ cái người bồ đi mướn khách sạn ở, thì cái cô bồ này cổ đeo vàng vòng quá đẹp, cho nên vào cái khách sạn ở rồi cậu này cậu thấy vàng cậu mới ham cái vàng. Cho nên cậu hành động cậu giết cái cô này chết. Rồi cậu này trốn đi, nhưng cuối cùng Công an bắt được. Vì tội giết người cho nên kêu án tử hình cậu này.
(02:45) Mình đưa ra một câu chuyện thực của cuộc đời xảy ra những cái hành động ác đó, để mang đến cái hậu quả là để giúp người mà giết hại mình, cũng như làm khổ mình, làm khổ người. Nó vừa thực tế rồi mình kết luận cái hành động đó trong nhân quả, chứng minh cụ thể. Và mỗi một cái bài luận như vậy, mỗi một cái hành động mà luận nhân quả thân hành hay hoặc ý hành như vậy, nó thực tế, nó áp dụng vào đời sống. Khi một người đọc người ta thấy rõ cái nhân quả, cho nên khi mà có một cái chuyện gì xảy ra, nó làm chúng ta xoáy ngay cái chuyện đó bằng cái hình ảnh nhân quả như vậy. Đó là chúng ta đã áp dụng vào đời sống của chúng ta và cái bài của chúng ta nó sẽ sống động, đọc lên nó sống động. Khi có một mẩu chuyện nó xảy ra thì người ta sẽ chú ý ngay liền. Và cuối cùng chúng ta kết luận cái bài và cũng là kết luận cho chúng ta hiểu đó là nhân quả. Cho nên những cái bài học của chúng ta là Định Vô Lậu, nó làm tâm chúng ta vô lậu, sống toàn thiện, không còn toàn ác nữa. Vì thế mà sự học tập của chúng ta về Định Vô Lậu, tức là nó lợi ích rất lớn.
1.1- NĂM ĐIỀU KHÓ TU TẬP
(04:02) Ở đây, trước khi mà Thầy trả cái bài cho các thầy, cho quý Phật tử thì Thầy cũng xin nhắc lại một lần nữa là những cái gì mà Thầy hướng dẫn thì chúng ta xoáy vào đó thì nó sẽ không có đi mênh mông, không có đi trật. Cho nên vì vậy mà nhớ kỹ những cái lời Thầy dạy. Còn những người nào mà không làm được, mà đức Phật gọi là liệt tuệ. Cái danh từ gọi là “liệt tuệ” tức là chúng ta không thể tư duy, suy nghĩ làm được. Khi được Thầy cho một cái bài như vậy thì mình suy nghĩ mình làm nó trật đề, nó lạc đề, nói mênh mông, nói gì đâu ở đâu đó mà không có xoáy vào cái đề tài – thì cái người đó gọi là liệt tuệ. Trong đạo Phật, chúng ta thấy rằng đức Phật có nói với Bồ Đề Vương Tử, trong cái bài mà Bồ Đề Vương Tử hỏi Phật, thì đức Phật có nói về cái vấn đề “có năm điều khó tu”.
(05:07) Thầy có ghi lại, để thấy rõ ràng năm cái điều khó tu của một người. Một con người mà muốn tu thì nó phải có đầy đủ những cái điều kiện để mà tu.
– Thứ nhất là phải có lòng tin, người không có lòng tin thì không tu được.
– Cái thứ hai là nhiều bệnh, cái người mà mang cái thân mà có nhiều bệnh đó – ít bệnh thì tu được mà nhiều bệnh thì không tu được, khó tu chứ cũng không phải tu không được, khó tu.
– Cái điều kiện thứ ba đó, khó tu là người có tâm tính gian trá, xảo trá – nghĩa là cái tâm không thật, thì cái người đó khó tu.
– Thứ tư là cái người biếng nhác, lười biếng – là cái người không tu được, khó tu.
– Thứ năm là cái người liệt tuệ.
Đó, có năm cái điều khó. Mà đạo Phật là đạo trí tuệ cho nên buộc lòng phải có trí tuệ. Nếu chúng ta tu Chánh Niệm Tỉnh Giác, chúng ta tu có một phía, chúng ta giữ cái tâm mình ở trên cái Chánh Niệm Tỉnh Giác thì chúng ta không triển khai được cái trí tuệ. Thì chúng ta khó mà một đời sống bình thường, cũng như mọi người, thì chúng ta khó mà có thể ngăn chặn và diệt các ác pháp được. Cho nên trong bài Tứ Niệm Xứ thì chúng ta thấy rõ ràng là đức Phật dạy: “Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu. Trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu”, nghĩa là có cái niệm nào mà nó làm cho tâm chúng ta bị chướng ngại thì chúng ta sẽ cố gắng khắc phục cái niệm đó. Thì phải khắc phục bằng cái trí tuệ của chúng ta, tức là bằng cái tri kiến của chúng ta. Nhưng mà cái người liệt tuệ họ không biết đâu, họ không khắc phục, cho nên làm sao mà họ đẩy lui được cái chướng ngại của nó, của tâm của họ.
(07:02) Cho nên cái học Phật pháp là phải học Định Vô Lậu, là lợi ích rất lớn, tạo cho chúng ta có cái tri kiến giải thoát, tức là cái trí tuệ của chúng ta – cái trí tuệ của ý thức chứ không phải là trí tuệ của Tam Minh. Ở đây chúng ta nói cái trí tuệ của ý thức, nhưng mà cái trí tuệ nó phải là Chánh Kiến. Chứ còn nếu mà chúng ta học đời, thì chúng ta cũng có sự hiểu biết này nọ kia đủ thứ, nhưng mà nó đâu có Chánh Kiến.
Cho nên cái trí tuệ của chúng ta triển khai đó là cái Chánh Kiến. Cho nên Bát Chánh Đạo thì cái lớp Chánh Kiến. Vì thế mà chúng ta phải triển khai, ráng cố gắng mà học tập. Nhưng tại sao chúng ta lại thấy trong thời đức Phật đâu có giấy, đâu có mực mà tại sao các Ngài lại có trí tuệ? Như chúng ta biết rõ ràng là các bậc có trí tuệ như ông A Nan, là bậc đa văn, tức là phải có trí tuệ – đức Phật nói đâu, ông nhớ đó không sót như là một cái máy cát-sét. Nghĩa là lúc nào đức Phật nói cái bài kinh nào ổng nhớ hết, không có bài kinh nào mà ổng sót, ổng quên. Cho nên ổng như là một cái máy.
Đó là trí tuệ. Mình phải phân biệt cái người u tối với cái người thông minh khác nhau. Cái người mà học hành đã không thuộc nhưng mà họ rất thông minh, cái gì họ cũng thấy họ sáng suốt, cái đó gọi là trí tuệ chứ không phải liệt tuệ. Còn cái người mà không có hiểu gì hết, không có thông minh, không có sáng suốt gì hết – thì người đó gọi là liệt tuệ.
Còn cái người nhớ dai, khác à mấy con. Phải phân biệt, cái người thông minh khác mà cái người nhớ dai khác. Cái người đọc qua vậy rồi họ nhớ, không phải là người nhớ đó thông minh đâu, mà tại vì cái trí nhớ của người ta nhớ. Còn cái người thông minh, cái chuyện chưa có mà xảy ra, người ta đã biết, hiểu biết rồi – cái người thông minh.
(08:59) Cũng như ông thầy ổng cho một cái luận đề thì cái người thông minh họ nhìn vào cái đề tài đó, họ biết phải làm cái gì, là cái đó là người thông minh. Còn cái người mà mình học rồi mình mới hiểu biết, còn chưa học mình không hiểu biết thì mình chưa phải là thông minh. Còn mình học, mình nhớ cũng chưa phải thông minh, mà là nhớ dai – cái người nhớ dai. Mình phân biệt điều đó. Có nhiều người nói tới, nói lui, nói hoài mà họ không hiểu, đó là liệt tuệ. Thì cái người mà liệt tuệ, thì cái người tu theo đạo Phật không nổi.
Còn cái người nói một lần người ta nhận ra được, người ta hiểu rồi – người đó thông minh. Còn cái người mà người ta chưa nói ra, mọi vấn đề xảy ra người ta nhìn vào người ta thấy, người ta hiểu biết – người đó quá thông minh. Trong cái thời tuổi trẻ của Thầy đi học có một người bạn rất thông minh. Cái ông thầy ổng cho một cái bài tính ở trên bảng, chưa giảng mà cái anh này ảnh đã làm được cái bài toán đó liền, người quá thông minh, quá là thông minh, rất thông minh. Cũng như chúng ta gọi là những người thần đồng đó, là người thông minh.
(10:17) Nhưng mà cái thông minh đó từ đâu mà có, mấy con biết không? Từ huân cái đời trước. Nếu mà không huân đời trước thì đời nay không thông minh. Cho nên nhân quả mà, nhân mình huân cái sự hiểu biết đó, bây giờ cái sự hiểu biết đó nó sẽ nằm sẵn ở trong cái con người của mình rồi. Người ta chỉ cần khảy một cái là người ta đã biết, đó là cái thông minh. Còn cái người mà đọc qua một cái thuộc liền thì người đó trí nhớ. Như Dương Tu trong cái thời của Tam Quốc, ông ta chỉ cần đọc qua một cái vầy thì ông thuộc làu hết, không sót cái chỗ nào hết. Thì đó là những người trí nhớ dai. Còn cái người thông minh khác. Cho nên ở đây, đức Phật dùng “liệt tuệ” là cái người giải thích mà cũng không hiểu. Thì ở trong số chúng ta, có những người qua những cái bài viết, thì trong số huynh đệ chúng ta cũng có người liệt tuệ đến cái mức độ mà Thầy thấy họ không biết làm gì hết, họ viết đâu đâu không à. Thành ra đó là những cái người rất khó tu, nhưng Thầy cũng giúp đỡ họ sẽ được giải thoát.
Cho nên trong cái vấn đề mà tu học của chúng ta, thì chúng ta nên nhớ rằng cái trí tuệ chúng ta rất cần thiết. Và cái người mà có bệnh đau nhiều là rất khó tu lắm. Cái người mà xảo trá thì rất khó tu. Cho nên đức Phật trong cái bài kinh Bồ Đề Vương Tử, thì đức Phật nói cái người mà gian xảo, xảo trá họ khó bỏ cái tánh đó lắm, khó bỏ lắm, cho nên họ khó tu.
(12:00) Thầy cũng trả lời cho một huynh đệ đã hỏi về thời đức Phật, có nhiều người người ta chỉ tu không mà người ta không có tư duy, suy nghĩ nhưng mà người ta vẫn chứng đạo, như ông Châu Lợi Bàn Đặc. Ông Châu Lợi Bàn Đặc thuộc về cái loại thông minh nhưng mà cái trí nhớ của ổng kém cho nên ổng đọc bài kệ hoài không có thuộc. Ổng rất thông minh, cho nên đức Phật ngồi dạy ổng cách thức quét tâm. Cách thức quét tâm tức là tu Tứ Niệm Xứ, mấy con. Mà Tứ Niệm Xứ mà không thông minh thì những cái niệm nó xảy ra trong tâm ông ta mà ông không thông minh ông quét – cái kiểu mà ức chế tâm đó thì đương nhiên ông không thành tựu Tứ Niệm Xứ được. Cho nên phải thông minh lắm, mà thông minh thì cái niệm đó thì ông thấy đây là ác pháp rồi cho nên ổng diệt. Ổng không cần học, học không thuộc. Ổng đọc kệ không thuộc mà ổng thông minh. Cho nên vì vậy mà ổng tu Tứ Niệm Xứ, ngay đó đức Phật dạy tu Tứ Niệm Xứ .
Còn chúng ta bây giờ đó, chúng ta muốn tu Tứ Niệm Xứ, chúng ta phải triển khai được cái tri kiến của mình, từng niệm của mình. Cho nên từng cái niệm đó, thí dụ như bây giờ đường đi của nhân quả thì nó có thân hành, khẩu hành và ý hành. Mà ý hành chúng ta nó khởi ra cái niệm, mà chúng ta không thông minh thì coi như là chúng ta bị ức chế nó rồi. Còn chúng ta thông minh chúng ta phải quán xét, suy tư. Chúng ta thấy rõ cái mặt thằng này là ác pháp rồi, không chơi với nó được, phải diệt nó chứ không được để. Mình “Ngăn ác, diệt ác pháp” bằng trí tuệ, tri kiến của chúng ta thì tức là tâm chúng ta sẽ thanh tịnh. Và như vậy thì Tứ Niệm Xứ chúng ta mới sung mãn lên được.
Cho nên đệ tử xưa của đức Phật không có làm bài nhưng họ rất thông minh. Như ông A Nan, ông Xá Lợi Phất, nói chung là mọi người đệ tử của Phật, mà được theo Phật thì một số đệ tử rất thông minh dù là cư sĩ như ông Visakha cũng là thông minh. Ông hỏi nhiều câu hỏi với bà Dhammadinna một cách rất là tuyệt vời đó, đức Phật nói: “Ta cũng chỉ trả lời được như bà Dhammadinna mà thôi”. Chúng ta thấy trong cái thời đức Phật có nhiều người rất là thông minh chứ không phải là không thông minh.
(14:14) Còn bây giờ chúng ta làm bài tức là quán xét, mà quán sai, không đúng thì sao được gọi là thiền quán, sao được gọi là trí tuệ? Lại nữa, nhiếp tâm không vô thì sao được gọi là định tỉnh? Nghĩa là chúng ta thấy hai phần tu chúng ta rất rõ ràng. Về cái phần quán thì chúng ta suy tư nó không sâu, nó lộn xộn thì không thể nào gọi là trí tuệ được. Mà về cái phần quán, mà quán sai thì làm sao gọi là thiền quán được. Đó là những cái điều kiện của đạo Phật đã xác định được cho chúng ta thấy như vậy.
Còn nhiếp tâm thì lại nhiếp tâm không vô, một phút mà vẫn có niệm. Tức là nhiếp không được, thì sao gọi là định tỉnh? Lại nữa, giới luật thì giữ gìn không trọn vẹn, sao được gọi là “Giới sanh Định”?. Đó là những cái câu hỏi mà Thầy đặt để thấy được trong cái thời đức Phật, những người đệ tử của đức Phật không viết, không này kia nhưng mà người ta quán, nhờ cái sự hướng dẫn của Phật trong cái thời đức Phật. Nhưng mà những cái bài kinh để chỉ dạy mà đức Phật tận tình, cặn kẽ – thì không nói ra, chỉ nói ra những cái đại khái thôi.
(15:36) Còn đi vào những cái chi tiết, khi một người đệ tử mình, cái trí tuệ không có hiểu biết, chắc chắn là theo Thầy thấy – đức Phật muốn cho đệ tử của mình tu chứng thì Ngài cũng phải giải thích từng chút, không thể nào để đệ tử của mình. Thì những người trong thời đức Phật cũng chẳng khác gì những người chúng ta hiện giờ, cũng có người vầy, kẻ khác, cũng có người thông minh, kẻ không thông minh, chứ không phải toàn bộ con người ngày xưa thông minh hết đâu. Theo Thầy thấy cũng không phải thông minh hết.
1.2- ĐƯỜNG ĐI CỦA NHÂN QUẢ LÀ THẬP THIỆN THẬP ÁC
(16:03) Nhưng mà vì cái sự tận tình của đức Phật, vì không có giấy, không có bút mực viết như chúng ta bây giờ, vì vậy mà đức Phật trao cho họ, dạy cho họ bằng những cái ngôn ngữ, nói, dạy bảo cho họ từng chút để họ hiểu. Cũng như bây giờ Thầy nói đường đi của nhân quả con người, Thầy nói Thập Thiện, nhưng mà bây giờ các con thấy người ta nói Kinh Thập Thiện mà người ta không nói đường đi của nhân quả. Nhưng Thầy tin rằng trong thời đức Phật thì đức Phật – những người đệ tử của mình không hiểu đường đi của nhân quả – khi dạy những người đệ tử của mình quán về nhân quả thì chắc chắn đức Phật sẽ nói rất rõ Thập Thiện, Thập Ác là đường đi của nhân quả con người, thì chắc chắn đức Phật nói.
Nhưng mà những điều này tại sao người ta không ghi, tại vì người ta chỉ ghi Thập Thiện, Thập Ác mà thôi. Người ta tạm thấy ghi như vậy là đủ. Nhưng mà về chi tiết thì cái người đệ tử của mình mà không hiểu thì đến xin Phật: “Con không hiểu về đường đi nhân quả như thế nào”, thì đức Phật mới nói đây là Thập Thiện, Thập Ác. Mà đức Phật đã có bài kinh giảng về Thập Thiện rồi. Thì giảng về cái bài kinh Thập Thiện nhưng mà nhắc cái người đệ tử của mình, thì chuyển cái ý của người đệ tử của mình, họ hiểu ngay liền là đường đi nhân quả phải là Thập Thiện, Thập Ác.
Từ đó họ suy nghĩ về thiện ác của thân, về thiện ác của khẩu, về thiện ác của ý – nó rõ ràng, cụ thể, nó làm sao nó lệch được, nó xoáy vô được đúng cái đề rồi. Còn nếu mà không nhắc như vậy, không nhắc Thập Thiện, Thập Ác như vậy thì cứ nghĩ đó là bài kinh Thập Thiện, Thập Ác chứ có ai biết đó là đường đi nhân quả. Thầy tin chắc rằng đức Phật cũng dạy đệ tử của mình như vậy. Và người thời đức Phật cũng đâu phải là người nào cũng thông minh, nghe nói đường đi nhân quả của con người là biết ngay Thập Thiện, Thập Ác liền sao? Sự thật ra trong cáo số người ngồi trước mặt Thầy, nếu mà Thầy không nói Thập Thiện, Thập Ác thì cũng chỉ có một, hai người hiểu chứ chưa chắc đã là hết, phải không mấy con. Đâu phải chuyện dễ đâu. Đó là cái chuyện trước mắt của mình, chuyện mình có học rồi, chứ không phải mình không học.
(18:12) Nhưng mà để hiểu cho nó thông suốt, hiểu cho rõ lý đó để biết cái đường đi của nhân quả; nếu mà không có một vị Thầy gợi ý thì cái số đông người làm sao mà hiểu được. Thì mấy con sẽ viết bài chứng minh. Khi mà Thầy đưa ra, Thầy chưa có nhắc – mấy con viết thì mấy con sẽ viết nó không có đúng, nó không xoáy vào đường đi của nhân quả. Và nếu Thầy không nhắc mấy con mà nêu ra một cái ví dụ, một cái cụ thể của cuộc đời có một sự kiện xảy ra – do hành động bằng thân, bằng miệng, bằng ý đã tạo ra quả khổ đau cho mình, cho người – thì mấy con sẽ viết cái bài coi như là mấy con viết luận. Như vậy, nó làm cho áp dụng vào đời sống rất khó. Nó trở thành cái bài lý thuyết suông để nói về cái vấn đề thân hành nhân quả mà thôi. Thì nó làm cho chúng ta không có một cái ý niệm cụ thể cho cái đời sống chúng ta: cái nhân ác thì cái quả khổ như thế nào, nhân thiện thì cái phước báu như thế nào.
(19:16) Chúng ta nói bằng lý thuyết thì nó nghe thì nó cũng có lý, nhưng mà nó không bằng thấm thía hơn là chúng ta đưa ra một mẩu chuyện, một mẩu chuyện xảy ra một cái sự đau khổ như vậy để làm cho chúng ta thức tỉnh dễ dàng hơn, gọi là áp dụng vào đời sống. Nhân quả áp dụng vào đời sống, nó thực tế. Mà khi chúng ta suy tư, chúng ta tìm kiếm được những mẩu chuyện chúng ta nói ra những cái điều kiện đó, nó làm cho chúng ta có cái nhìn thấu suốt được cái lý nhân quả. Từ đó về sau, chúng ta cố gắng chúng ta khắc phục mình. Mà khi mà viết ra được, Thầy nghĩ rằng mấy con không thể nào mà lầm lạc để cho mình có những hành động đó, đem đến sự tai hại cho mình, cho người.
Còn làm bài là quán xét, tức là mình làm cái bài là mình phải tư duy, suy nghĩ nhiều lắm. Rồi nó có cách thức nữa, phải sắp xếp cái nào nói trước, cái nào nói sau nữa, bởi vì làm mà. Còn cái mình nói, mình tư duy, mình suy nghĩ – mình không có sắp xếp. Nhưng khi mình viết ra thì mình phải có sắp xếp, sắp xếp thứ tự cái trước cái sau, cho nên nó còn cẩn thận, kỹ lưỡng hơn nữa. Cho nên cái viết ra bài đó, làm cho cái tri kiến của chúng ta nó có cái sự sắp xếp. Và đồng thời, nó làm cho chúng ta hiểu rất rõ, giúp cho tri kiến chúng ta càng ngày càng thông suốt hơn, quan sát thông suốt các pháp như thật. Thông suốt các pháp như thật thì mới không dính mắc. Nghĩa là mình thông suốt các pháp như thật thì không bao giờ các cái pháp mà nó gợi lên cái dục, thì chúng ta không bị dính mắc. Không dính mắc mới gọi là “xả tâm, ly dục, ly ác pháp”. Nhờ cái tri kiến của mình nó thông suốt, cho nên biết: “Ờ, cái này đó, nó sẽ dục”.
(21:05) Thí dụ như bây giờ một cô phụ nữ đi ngang qua, một người phụ nữ rất đẹp, họ đi ngang. Nhưng chúng ta đã biết cái nhân quả của người phụ nữ đó sẽ lôi cuốn chúng ta đi đến nỗi khổ như thế nào. Do đó, khi mà nhìn thấy thì chúng ta không bị cám dỗ, tức là chúng ta không bị cái sắc của cô ta lôi cuốn chúng ta. Do đó chúng ta không bị dính mắc. Mà không bị dính mắc tức là “xả tâm, ly dục, ly ác pháp”.
Mấy con thấy rõ không, nếu mình không thông suốt: “Chu choa, cô ta đẹp quá!”, nó gợi cái lòng dục của chúng ta lên, rồi chúng ta từ đó chúng ta dính mắc. Cho nên khi quán xét thông suốt thì áp dụng vào sự sống, mà tâm thì không bị chướng ngại của các pháp thì mới gọi là Tâm vô lậu. Tâm vô lậu thì mới được gọi là Tâm bất động. Các con từ cái chỗ đó nó đi đến cái chỗ Bất Động Tâm, nó không có bị cám dỗ, nó không bị ác pháp tác động. Cho nên tâm chúng ta bất động. Vì vậy mà cái Định Vô Lậu – từ chúng ta có đủ phương tiện giấy, mực; rồi chúng ta lại làm những cái bài này – buộc lòng cái Định Vô Lậu rất là tuyệt vời, giúp chúng ta sống một đời sống rất bình thường, không cần thiền định mà tâm bất động, được giải thoát. Một bài pháp học rất thực tế, cụ thể. Cho nên đức Phật nói “Chánh Kiến”. Lớp chúng ta học là lớp Chánh Kiến, giúp chúng ta thấy mọi vật trong Chánh Kiến không bị say đắm, không bị tham dục, không bị ác pháp tác động. Nó làm chúng ta càng lúc càng được giải thoát, càng ngày ác pháp không tác động được vào thân tâm chúng ta nữa.
Ngày xưa ông Châu Lợi Bàn Đặc tối dạ, học không thuộc bài nhưng rất thông minh, cho nên đức Phật dạy ông quét tâm, tức là tu Tứ Niệm Xứ. Tứ Niệm Xứ là ngồi tu quét tâm, tức là tu tâm Xả đó, Tứ Vô Lượng Tâm đó. Tu Tứ Niệm Xứ là tu tâm Xả. Nó xả của thân là nó xả những cái đau khổ trên thân. Nó xả của tâm là nó xả những cái niệm của tâm, cái cảm thọ của tâm. Nó xả các pháp là nó ngăn chặn các pháp, nó giữ hạnh độc cư trọn vẹn để nó ngăn chặn các pháp không cho xâm chiếm vào mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của nó. Đó là cái pháp Tứ Niệm Xứ.
(23:25) Tứ Niệm Xứ phải tu bằng tri kiến giải thoát. Tri kiến giải thoát là tri kiến Nhân quả, tri kiến Các pháp vô thường, tri kiến Thập nhị nhân duyên. Ở đây các con thấy phân biệt, ở đây chúng ta sẽ học tu quán tất cả các pháp, mà ở đây Thầy nói tu Tứ Niệm Xứ thì phải bằng tri kiến giải thoát. Mà tri kiến giải thoát thì nó là tri kiến Nhân quả, tức là cái tri kiến phải hiểu thông suốt của nhân quả. Rồi tri kiến Các pháp vô thường, nghĩa là phải hiểu cho thật rõ các pháp ở trên thế gian này đều là vô thường.
Rồi cái tri kiến Thập nhị nhân duyên, nghĩa là chúng ta phải quán về Thập nhị nhân duyên để cái sự hiểu biết về tri kiến duyên. Chứ không khéo chúng ta quán nhân quả lại lôi Thập nhị nhân duyên ra mà quán thì nó sai. Bởi vì Thập nhị nhân duyên nó là cái duyên hợp để tạo thành cái thế giới quan của chúng ta. Thật sự ra các pháp nhân quả nó đều có liên hệ với các pháp này hết. Cho nên không khéo thì chúng ta lấy Thập nhị nhân duyên mà làm Nhân quả, hay hoặc là lấy thân Ngũ Uẩn mà làm Nhân quả, thì chúng ta không xoáy vào cái đề tài chính của nó được.
Cái mục đích của Thập nhị nhân duyên là mục đich đức Phật nói lên cái vũ trụ quan, cái thế giới đau khổ của con người; chứ không phải nói cái thế giới mênh mông đại hải, mà chỉ nói cái thế giới duyên hợp của Thập nhị nhân duyên. Để sau này tới bài đó, Thầy sẽ giảng cho mấy con làm.
(25:03) Nếu không có những tri kiến này thì quét tâm bằng gì? Nếu mà chúng ta không có cái tri kiến hiểu biết này thì lấy cái gì mà quét tâm chúng ta được? Đó là cái mà chúng ta phải hiểu. Còn chỉ có tác ý suông thì bị ức chế – nếu mà chúng ta tác ý để mà ngăn những cái niệm, tức là vọng tưởng. Còn chỉ tác ý suông thì bị ức chế vọng tưởng, ức chế vọng tưởng sẽ rơi vào Tưởng định. Đó là cách thức chúng ta tu sai, cho nên hầu hết hiện giờ tất cả tu sĩ mà đang nỗ lực tu, chỉ cần lệch một chút là sẽ lọt vào cái sự tu sai đó.
Định Vô Lậu là Thiền quán. Cái Định mà chúng ta tu đó, gọi là Định Vô Lậu, đó là Thiền quán, nó không phải là Thiền chỉ. Nếu không tu Định Vô Lậu thì làm sao được gọi là Chánh Kiến? Chánh Kiến có nghĩa là thấy đúng mọi vật, mọi pháp như thật. Nếu không làm bài hay quán xét thì làm sao hiểu được các pháp, không hiểu được các pháp như thật thì làm sao gọi là Chánh Kiến. Người tu theo Phật giáo đều là những người thông minh chứ không phải là những người u tối. Nghĩa là người u tối thì rất khó tu. Cho nên cái người mà liệt tuệ là những người khó tu, trong năm điều khó tu mà khi đức Phật giải thích cho Bồ Đề Vương Tử. Cho nên điều cần thiết là chúng ta phải hiểu:
– Thứ nhất, là không có lòng tin thì chúng ta tu theo đạo Phật không được.
– Người mà nhiều bệnh quá thì tu theo đạo Phật rất khó, cũng khó tu lắm. Nghĩa là nay đau bệnh này, mai đau bệnh khác – rất khó tu.
– Người gian trá, xảo trá thì cũng rất khó tu.
– Người biếng nhác, lười biếng thì rất khó tu. Người mà tối ngày cứ ăn với ngủ không thì người đó không tu được. Cho nên ở đây Thầy quan sát cái người nào mà ngủ nhiều, Thầy biết người đó không tu được, không làm sao mà người đó tu được. Cho nên cái khó khăn là cái chỗ mà cái người lười biếng. Mà lười biếng thì nó hiện qua cái tướng ham ngủ, chứ không có gì khác.
– Và cái người liệt tuệ là cái người quá u tối, không có thông minh, không có sáng suốt. Cho nên người đó cũng khó tu.
Đó là những cái điều cần thiết cho chúng ta học tập để mà chúng ta biết được con đường của đạo Phật. Cho nên đạo Phật là đạo trí tuệ. Trí tuệ tức là tri kiến của chúng ta có sự hiểu biết. Chứ còn cái trí tuệ Tam Minh thì đạo Phật không có cần thiết. Bởi vì đức Phật dạy làm sao cho chúng ta tu tập, sống một đời sống bình thường, không có ở trong trạng thái định nào hết, mà ác pháp tác động không được. Tất cả những vật chất, những điều cám dỗ không cám dỗ được người đó. Thì nó phải bằng tri kiến, tức là Định Vô Lậu, chứ không có gì khác. Chỉ có tu Định Vô Lậu là chúng ta đã được giải thoát hoàn toàn, đem lại sự bình an cho chúng ta rất rõ ràng và cụ thể.
(28:21) Cho nên cái Định Vô Lậu rất cần, bởi vì mục đích của đạo Phật là tu vô lậu, làm cho hết lậu hoặc. Mà nó vô lậu, là cái Định Vô Lậu nó làm cho chúng ta hết lậu hoặc, thì đó là điều cần thiết cho chúng ta học và tu tập. Trong thời đức Phật, theo thầy thiết nghĩ, đức Phật đã nêu ra tám cái lớp học, ba cấp như vậy – là một cái chương trình giáo dục đào tạo, mới được gọi là chân lý. Tức là sự thật, cái như thật chứ không phải là cái bài để tự học. Vì vậy trong thời đức Phật mà đức Phật hướng dẫn người tu, chắc chắn là Ngài dạy rất kỹ, cho nên số người đạt quả A La Hán không phải ít.
Có nhiều người trí tuệ thông minh, vừa nói rồi thì hiểu rồi. Như La Hầu La, vừa nói rồi thì ông ta bỏ đi về. Như một vị cư sĩ, một vị ngoại đạo đến hỏi Phật, Phật nói: “Cái thấy, cái biết, cái nghe không phải là của ông” thì người ta nghe, người ta nghe hiểu rồi. Cho nên khi mà bị một con bò đụng ông ta chết, thì các vị Tỳ kheo mới hỏi Phật: “Sau khi được nghe pháp Phật rồi thì ông ta sẽ sanh về đâu?”, đức Phật nói: “Vào Niết Bàn”.
Tức là ông đã chứng được “Pháp nhãn thanh tịnh”, ông đã hiểu quá rõ. Cho nên chúng ta nếu mà nói vắn tắt như vậy mà nếu chúng ta không đủ sự thông minh thì chúng ta chưa hiểu. Chúng ta chưa hiểu, mà chưa hiểu thì được đức Phật giải thích, cho nên có những bài kinh giải thích cho chúng ta hiểu. Vì vậy mà sự hiểu biết giúp cho chúng ta rất lớn trên con đường tu tập.
2- TU TỨ NIỆM XỨ BẰNG TRI KIẾN GIẢI THOÁT
(30:03) Hôm nay Thầy biến Giáo pháp của Phật, sự thật ra thành các chương trình giáo dục, đào tạo thật sự. Nhưng giáo án được soạn thảo trong đầu của Thầy để mà Thầy biết cái bài nào cho dạy trước, bài nào cho dạy sau. Nhưng dù sao Thầy vẫn còn thiếu, là vì phải có một thời gian ngồi lại ghi chép, ghi chép lịch sử đời sống của đức Phật thì mới bắt đầu vô. Mình tu theo đạo Phật, mình không hiểu lịch sử của đức Phật, không hiểu cái lịch sử của đức Phật thì tu theo đạo Phật làm gì, có biết đâu. Nhưng mà phải hiểu đời sống của đức Phật chứ không phải hiểu lịch sử suông.
Ở đây nó có khác, bởi vì hiểu đời sống của đức Phật chúng ta mới noi gương Người mà chúng ta tu tập, chúng ta làm mới giống như Người. Thì đó là một cái ý của Thầy, đó là cái giáo trình, giáo án để mà chúng ta tu tập, để đạt được sự giải thoát. Nhưng vì không có thì giờ để mà ghi lại lịch sử, và cái lịch sử mà được ghi lại thì không chính xác. Nếu chúng ta cứ dựa vào lịch sử mà ghi của Bắc tông, của Nam tông thì chúng ta sẽ ghi không đúng ngày giờ với nhau, nó sẽ thì cái sử đó sai lệch.
Cho nên nếu mà muốn ghi được, làm được cái giáo trình mà tu tập về lịch sử của đức Phật, thì ít ra chúng ta cũng có năm, ba người tu chứng A La Hán. Đồng thời chúng ta dùng Tam Minh mà nghiên cứu lại lịch sử của đức Phật: khi đức Phật sanh ra như thế nào, tu hành như thế nào, rồi cái đời sống của đức Phật như thế nào. Chúng ta quan sát, thì những hình ảnh đó nó còn lưu lại ở trong không gian, dù cách đây mấy ngàn năm vẫn còn. Chúng ta dùng Tam Minh mà chúng ta trở về cái thời gian quá khứ đó, chúng ta sẽ thấy lại những cái hình ảnh cái đời sống đức Phật như vậy, và đồng thời tu hành như vậy, sống khi mà hướng dẫn chúng Tỳ Kheo tu tập như vậy. Hàng ngày đức Phật sống như thế nào thì lúc bây giờ chúng ta ghi lại cái lịch sử đời sống của đức Phật nó rất cụ thể, rõ ràng.
(32:06) Nhưng một mình thầy chưa đủ chứng minh điều đó cho nên nếu Thầy viết ra mà không có những bài kinh nào chứng minh này nọ thì họ chỉ nói Thầy đặt điều, bây giờ Thầy sống làm sao Thầy đặt điều như vậy. Do đó, nó làm cho lời nói của Thầy không có giá trị. Cho nên Thầy mong rằng có những người tu xong rồi, Thầy trò họp nhau chúng ta ghi lại lịch sử đời sống của đức Phật. Cái này là hay nhất, để lại cho đời sau biết được gương hạnh của một bậc vĩ nhân, bậc ân nhân của loài người.
Vì vậy mà hôm nay Thầy nhắc đến một cái phần nữa để chúng ta biết nó rất là quan trọng. Cái phần nữa, là ở đây vốn tu tập về “Đạo đức Nhân bản – Nhân quả, sống không làm khổ mình, khổ người”, cho nên những cái lớp học của đạo Phật rất rõ ràng: từ Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định rất rõ ràng; không bao giờ có nói thần thông trong này. Nếu ai mà bảo rằng: Thầy thị hiện thần thông thì người đó sẽ theo Thầy tu, thì Thầy xin người đó hãy qua bên Tây Tạng, ở bên đó người ta đang luyện tập thần thông. Có một câu chuyện ở bên Tây Tạng, là một vị sư tên là Milarepa, người này tu tập để thị hiện thần thông bay ở trên trời. Còn chúng ta ở đây thì không phải là những người luyện tập thần thông, cho nên vì vậy chúng ta là những người học đạo đức không làm khổ mình, khổ người.
Con thần thông chẳng qua là khi tâm chúng ta thanh tịnh, chúng ta muốn có đủ cái năng lực để làm chủ sự sống chết, để bước chân vào cái ngưỡng cửa của Thiền định, tức là Tứ Thánh Định, thì chúng ta hãy thử coi cái nội lực của chúng ta có đủ sức nâng chúng ta lên cao một thước không, thì chúng ta ra lệnh nó, xem coi nó có được không.
(34:10) Khi tâm chúng ta hoàn toàn thanh tịnh, Thầy nói tâm chúng ta hết tham – sân – si rồi, thì cái mục đích giải thoát là chúng ta đã đạt được rồi. Thì bắt đầu bây giờ chúng ta thử cái năng lực của tâm thanh tịnh của chúng ta, chứ không phải chúng ta luyện tập thần thông. Chúng ta thử thôi, thì coi thử coi ra lệnh thân chúng ta phải bay lên, nâng lên cao một thước – thì chúng ta thấy thân chúng ta nâng cao lên một thước, là biết mình sẽ nhập được Bốn Thiền. Bốn Thiền là phải có cái năng lực đó, cho nên mới có cái Định Thần Túc, mới có cái bài Tứ Thần Túc. Thì cái Định Thần Túc đó giúp chúng ta nhập các Định, chứ không phải chúng ta ngồi thiền nhập Định được.
Mà chúng ta phải có Định Thần Túc – “Định như Thần”, thì chúng ta mới nhập các Định. Do như vậy, mới xác định được con đường của đạo Phật đi từ thấp đến cao. Chưa có Định mà ngồi thiền nhập Định là Định gì? Nó phải có Định Thần Túc, mà muốn có cái lực Định Thần Túc thì chúng ta thử coi Dục Như Ý Túc chúng ta sai được không? Bởi vì nó có cái Dục Như Ý Túc. Dục Thần Túc mà, muốn phải làm được. Bây giờ muốn cái thân của mình nâng lên một thước, mà nó nâng lên một thước tức là chúng ta có Dục Như Ý Túc. Mà nếu chưa có thì chúng ta biết rằng tâm mình nó còn có cái phần vi tế nào đó chưa thanh tịnh trọn vẹn, chưa có. Thì chúng ta phải ở trên Tứ Niệm Xứ mà làm cho nó sung mãn, làm cho nó tích tập hơn nữa để rồi nó sẽ có cái Thần Túc này.
(35:45) Cho nên chúng ta không quan trọng cái vấn đề này. Chúng ta không tu tập thần thông này mà mục đích chúng ta đạt Tâm Vô Lậu mà thôi. Nghĩa là chúng ta dùng tri kiến của chúng ta quét sạch tất cả những tham – sân – si chúng ta ra khỏi, là đủ cho chúng ta rồi. Chúng ta không cần vấn đề đó. Nhưng chúng ta thử coi cái năng lực của tâm tham – sân – si chúng ta có hay không, thì chúng ta dùng pháp Như Lý Tác Ý mà chúng ta tác ý, bảo – ra lệnh liền: “Thân này phải nâng lên một thước”, thì thân nó bay lên một thước – nó ngồi xếp bằng như mấy con, nó bay lên một thước – thì đó là chúng ta có Thần Túc. Còn nếu mà không, thì chưa có, thì chúng ta thanh tịnh, chúng ta cũng mãn nguyện. Nhưng chúng ta vẫn tiếp tục, phải nghĩ rằng chưa có Thần Túc, tức là còn một mầm mống của tham – sân – si, dù rất nhỏ.
Cho nên có Thần Túc nó mới có Tam Minh, thầy có nghe cái Tam Minh không, cái cuối cùng của Minh là Lậu Tận Minh. Lậu Tận Minh là lậu hoặc nó đã tận cùng, nó không còn nữa rồi thì nó mới chấm dứt hoàn toàn, không còn nghiệp tái sanh luân hồi nữa. Còn một chút xíu cho nên Tứ Thần Túc không thực hiện, thì Lậu Tận Minh không có. Mà Lậu Tận Minh không có thì cái mầm còn tái sanh chứ chưa hết, tức là mầm tham – sân – si còn. Mặc dù cái mầm đó có một chút xíu như đất ở trong móng tay của Thầy thì chúng ta chưa hoàn thành con đường tu chúng ta, tức là chưa chấm dứt tái sanh. Chúng ta sẽ hưởng được phước báo trong cái muội lược của tất cả nhân quả. Nhưng cái mầm nó còn, nó chưa quét ra thì một ngày nào đó hết những cái phước báo, thì chúng ta phải trở lại tái sanh luân hồi vì mầm tham – sân – si còn. Thầy nói cặn kẽ để thấy biết được con đường tu của chúng ta thế nào là rốt ráo, mà thế nào là chưa rốt ráo.
(37:44) Cho nên khi tâm chúng ta hoàn toàn thanh tịnh, sung mãn, không phóng dật thì chúng ta trắc nghiệm lại mình coi cái thần lực của mình có đủ chưa. Điều đó là điều quý thầy phải trắc nghiệm hết. Chứ không phải chúng ta tu mà chúng ta chỉ có sống đạo đức không làm khổ mình, khổ người; mà không đủ để chấm dứt tái sanh luân hồi. Chỉ còn một chút nữa mà chúng ta không trắc nghiệm thì chúng ta mãn nguyện ngay từ chỗ tâm chúng ta không làm khổ mình, khổ người; sống trọn vẹn đạo đức của chúng ta như vậy nó cũng đủ cho chúng ta rồi. Nhưng chưa hẳn đâu, chưa hẳn. Vì vậy mà chúng ta phải cố gắng hơn nữa. Cho nên Thầy nhắc nhở kỹ lưỡng. Vì vậy, tất cả những điều mà Thầy dạy là đem lại sự lợi ích cho mấy con thiết thực. Phải cố lên! Cố gắng mà tu tập!
Ở đây Thanh Quang có ghi cho Thầy những cái điều thưa hỏi. Thì tất cả những vật dụng Tứ sự ở trên con kể cho Thầy, thì con đều giữ để tạm sống, chỉ bây nhiêu đó đủ rồi, con không cần thêm nữa. Thanh Quang nên nhớ những lời Thầy dạy, đó là cái điều kiện cho đời sống của con, tạm đủ cho con. Cho nên vì vậy mà từ đây về sau mình không cần thêm nữa, đã đủ cho Tứ sự. Ai có cho thêm thì xin từ chối, đừng nhận nữa, để cho mình giữ trọn vẹn cái hạnh tu tập của mình. Sự thật mấy con hỏi Thầy đều là những cái điều tốt. Cái gì mấy con không hiểu thì mấy con hỏi Thầy để mấy con hiểu, hiểu để mà tu tập.
(39:28) Như những cái lời mà Pháp Ngộ hỏi Thầy, thì đó là những cái điều mà Thầy đã trả lời cho con để con hiểu rằng cái Định Vô Lậu rất là quan trọng. Trong thời đức Phật không có nhưng mà theo Thầy thiết nghĩ qua cái câu hỏi của con, để làm sáng tỏ được cái sự tu tập của các con. Là vì thời đức Phật giảng như vậy, chúng ta thấy toàn là văn nói, cho nên thậm chí như dù là Tạng kinh có sửa nhiều để trở thành văn viết nhưng vẫn còn cái dạng của văn nói. Và đồng thời, những cái điều kiện mà đức Phật kêu từng người đến để dạy thì làm sao ông A Nan nghe mà kết tập, mấy con.
Như bây giờ các con sai, Thầy chỉ gởi giấy cho các con biết rằng Thầy sẽ mời các con đến Thầy dạy cho các con, thì ông A Nan có chỗ đó được không? Các con hiểu điều đó. Cho nên đức Phật ngày xưa cũng thương các con, thương đệ tử của mình. Cũng như Thầy hiện giờ thương như vậy, thì chắc chắn là giúp đỡ cho đệ tử của mình. Như các con nghe cái câu chuyện của ông Châu Lợi Bàn Đặc. Đức Phật đi ngang qua cái thất của ông Châu Lợi Bàn Đặc ở. Ông ta bị cái người anh của ông ta, người anh cũng đi theo tu rồi mới dạy ông ta, kềm ông ta, mới cho ông ta học cái bài kệ. Ông đọc hoài không thuộc, cái ông anh mới dọn bài, ổng không thuộc. Ổng không thuộc, cho nên ông anh nói: “Mày ngu quá, mày tối quá, thôi mày đi về đi chứ mày tu hành cái gì, mày ở đây mày làm tao cực quá. Dạy mày có nhiêu đó mày không có thuộc”. Đó là cái ông anh của ông Châu Lợi Bàn Đặc ổng rầy ông em. Thì khi mà rầy vậy thì cuối cùng ổng thấy mình tối tăm quá, ông anh nói như vậy, ổng thấy tủi thân quá ổng khóc, ổng ngồi khóc. Nhưng không ngờ ông Phật đi ngang, qua nghe tiếng khóc của ông Châu Lợi Bàn Đặc. Các con hiểu, bởi vì cái số Chúng đông quá chứ đâu phải ít, nhưng mà đức Phật đều đi quan sát coi chúng Tỳ Kheo tu hành ra sao.
(41:26) Cho nên đi ngang qua thất của ông Châu Lợi Bàn Đặc, nghe tiếng khóc. Cho nên đức Phật mới vào thất mới gọi ông Châu Lợi Bàn Đặc hỏi: “Sao con lại khóc?”. Ông Châu Lợi Bàn Đặc mới thuật lại “Con tối tăm quá, mà như vậy con tu không được cho nên con tủi thân con quá. Chắc con phải về chứ con ở đây anh con không có cho”. Vậy ông Phật mới kêu ông Châu Lợi Bàn Đặc mới đến thất của Phật. Thì lúc bây giờ, như vậy ông A Nan có không, mấy con? Đâu có có được! Nhưng mà những cái bài này nó quá súc tích, quá hay cho nên vì thế mà không phải ông A Nan kết tập cái bài kinh này; mà chính ông Châu Lợi Bàn Đặc hoặc là một vị nào được kể lại hoặc ông anh của ông Châu Lợi Bàn Đặc thuật lại cái bài kinh này.
Bởi vì chính bản thân cái người đó được trực tiếp đức Phật dạy riêng, làm sao ông A Nan nghe mà nói rằng: “Như thị ngã văn nhất thời”? Có ông A Nan chỗ đó không mà nghe? Đâu có đâu! Đó, mình đem cái câu chuyện đó ra mình thử, lúc bây giờ ông A Nan có nghe không? Mà tại sao có cái bài kinh này? Cái bài kinh này tức là ông Châu Lợi Bàn Đặc phải thuật lại là một. Cho nên kinh sách chúng ta còn phải nghiên cứu lại chứ, chứ đâu phải cái bài nào cũng nói: “Như thị ngã văn nhất thời”. Đâu có thể được. Đó, thì Thầy nói như vậy đủ biết rằng đức Phật rất là thương chúng Tỳ Kheo, đệ tử của mình mà không bỏ sót một người nào.
(42:48) Thầy nói cái câu chuyện đời sống của đức Phật. Một hôm đức Phật đi ngang qua cái thất, nghe hôi thúi. Hôm đức Phật đi đến cái thất đó, thấy một vị Tỳ Kheo bệnh, đi đứng không được, ỉa đái một chỗ. Đức Phật mới đem nước, mới lau chùi, mới tắm rửa vị Tỳ kheo đó, mới thay đồ thay đạc cho vị Tỳ Kheo đó. Do cái bài kinh đó đức Phật nói: “Chăm sóc một người tu thì cũng như chăm sóc Phật”, khuyến khích cho các vị Tỳ Kheo khác – khi một cái người bạn mình đau bệnh mà không có người chăm sóc, mình nên chăm sóc. Mà chăm sóc một vị tu hành đó đó, thì cũng như chăm sóc Phật.
Thì các con biết, những mẩu chuyện nho nhỏ như vậy thì đâu phải là cái chuyện của ông A Nan nghe. Nhưng mà chúng ta cũng được đọc những cái câu chuyện này chúng ta thấy thấm thía lắm mấy con, thấm thía cái thời của Phật. Cái tình thương chan hòa! Đức Phật không kiêng, khi thấy một vị Tỳ Kheo bệnh đau, ỉa đái tại chỗ hôi thúi như vậy, thì đức Phật vô chăm sóc liền, không kiêng. Nhờ đó mà đức Phật họp Chúng lại, mới nói vấn đề này cho mọi người nghe. Từ đó về sau các vị Tỳ Kheo ở gần nhau đều chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không ai bỏ ai. Những mẩu chuyện như vậy làm chúng ta cũng thấm thía cuộc sống của chúng ta lắm. Cho nên Thầy thiết nghĩ làm sao Phật giáo chúng ta có một cái bệnh viện để mà giúp đỡ cho những người tu.
Đó là cái ước vọng của Thầy rất lớn. Mà từ khi mà Thầy còn nhỏ, Thầy đã nghe Giáo Hội đã lo cái điều này, mà cho tới bây giờ Thầy sắp sửa Thầy ra đi – bảy mươi tám, bảy mươi chín tuổi rồi – mà cái bệnh viện cũng chưa có. Thầy ước ao đời sống của Thầy làm sao Thầy thành lập được cái ước nguyện này để giúp cho tu sĩ mấy con, để cho có chỗ chăm sóc, có bạn bè chăm sóc, các tu sĩ tới lui mà không ngại ngùng. Còn chúng ta là những tu sĩ nằm bệnh viện, rồi các tu sĩ đến chăm sóc, rất là ngại ngùng, rất khó. Cho nên Thầy ước ao điều đó!
(44:56) Còn cái bài của Thiện Thảo. Ở đây có Thiện Thảo không con? Chắc không có. Thiện Thảo mê Định quá, nhưng rất là nguy hiểm. Đây là Thiện Thảo viết cái bài thuật lại sự tu hành, coi như là sắp sửa chứng quả A La Hán. Thiệt ra thì, thường thường là những người chứng quả A La Hán là sau khi nghe đức Phật thuyết giảng một bài pháp – là cái người đó chứng đạt “Pháp nhãn thanh tịnh” là nhiều nhất. Còn chứng quả A La Hán thì phải có cái thời gian tu tập, chứ chưa phải nói là chứng liền.
Nhưng mà có chỗ kinh thì cũng nói khi nghe bài pháp là chứng quả A La Hán, thì chúng ta cứ nghĩ rằng ông ta tu tập. Không phải đâu mấy con. Tại cái trí tuệ và cái sự tu tập nó đã xả tâm nhiều rồi, thành ra nó viên mãn rồi. Là do tu sai, nhưng mà vẫn có cái cách thức tu tập xả tâm, như: sống đời sống giới luật, giới hạnh nghiêm chỉnh, khổ hạnh. Người ta buông xả hết, người ta đâu còn ham thích. Nhưng mà nghe đức Phật nói cái bắt đầu người ta đã chứng. Cũng như năm anh em Kiều Trần Như, khi nghe đức Phật thuyết pháp Tứ Diệu Đế thì ngay đó chứng “Pháp nhãn” hết. Năm người đều chứng “Pháp nhãn thanh tịnh” hết, tức là thấy biết như thật hết.
(46:14) Cho nên chúng ta nghe Tứ Diệu Đế, nhưng mà chúng ta hiểu biết – chúng ta có hiểu biết, nhưng chứng “Pháp nhãn thanh tịnh” thì chúng ta chưa hiểu biết. Tại sao? Tại vì chúng ta còn thấy tham ăn, còn thích uống, còn thích ngủ, còn thích nói chuyện. Chúng ta thấy cái người mà chứng “Pháp nhãn” trong lịch sử – của La Hầu La. Ông còn nhỏ tuổi, ông đi theo đức Phật để thực. Thì đức Phật đi trước, ông đi sau. Đức Phật nói: “Thân này không phải là ta, là của ta, là bản ngã của ta”. Thì ông lại hỏi cái tâm, tức là cái tâm thì sao? Thì đức Phật nói cũng không phải. Thì ông mới nói: “Thôi! Phật đi khất thực, con về”. Đó là chứng “Pháp nhãn thanh tịnh” rồi đó.
Còn chúng ta có làm được vậy không, cho nên chúng ta chưa chứng “Pháp nhãn thanh tịnh”. Chỉ nghe một lời nói mà đã biết: “Nếu thân này không phải là ta, của ta và tâm này không phải là ta thì ăn để làm gì đây nữa? Đi xin để làm gì đây nữa? Còn ham ăn ngon hoặc dở sao?”. Chúng ta đọc cái bài “Giáo giới La Hầu La”, cái bài kinh đó chúng ta thông suốt lịch sử của của La Hầu La, chúng ta thấm thía lắm mấy con.
Cho nên ở đây Thầy thường khéo léo nhắc nhở, khuyến khích qua những cái mẩu chuyện như vậy để khích lệ chúng ta tinh tấn xả bỏ tất cả. Cuộc đời này có gì đâu – cha mẹ, vợ chồng, con cái – đều là nhân quả, có gì đâu, vay nợ nhau mà gặp trong cái kiếp này. Mà nếu mà không khéo thì kiếp khác còn gặp nhau nữa. Và trả vay, vay trả biết chừng nào hết mấy con? Mà không những một người trả vay, vay trảl; mà nhiều người trả vay, vay trả. Các con thấy Nhân quả thảo mộc – một quả thì có nhiều nhân, một nhân thì có nhiều quả, đâu phải một quả sao. Cho nên chúng ta cứ nghĩ rằng, cái Ái Kiết Sử chúng ta để trói buộc chúng ta, để rồi chúng ta trôi lăn trong nhân quả, trong lục đạo này mãi sao?
(48:11) Chúng ta thương cha mẹ là chúng ta phải nỗ lực tu, để chấm dứt cái nhân quả này để cứu mẹ, cứu cha mình ra khỏi nhân quả. Cha mẹ mình có biết được nhân quả đâu, còn đắm đuối theo quy luật của nhân quả đang lôi cuốn trong vòng dục, có phải không mấy con? Cho nên vì vậy mà thương cha mẹ mình, mình phải nỗ lực mình tu, tu hết sức mình để cứu cha mẹ mình. Đây là đền đáp ơn sinh thành dưỡng dục, khổ công nuôi mình được cái thân này. Hôm nay nhờ đó mà mình tu tập thì mình phải trả ơn bằng cái ơn cao cả đó. Chứ bằng cái ơn mà làm có tiền mua thực phẩm cung cấp cho cha mẹ mình ăn là còn tạo thêm tội lỗi của cha mẹ mình nữa, thì có lợi ích gì. Cho nên vứt bỏ hết mà nỗ lực tu một đời này, một thời gian này cho được giải thoát, ấy mới là quý.
Còn Thiện Thảo, thì tại vì không có mặt ở đây cho nên… Cứ nghĩ rằng chúng ta sẽ ngồi nhiếp tâm không vọng tưởng, tâm “thanh thản, an lạc, vô sự” sẽ chứng đạo. Mà cứ ngồi hoài như vậy thì thử hỏi ích lợi gì cho đời? Mà xả ra thì đụng, thì mặt đỏ bừng bừng như thế nào, mấy con biết. Ở trong thất thì có ai đụng đâu, cho nên ngồi thanh thản, an lạc sung sướng quá. Nhưng mà đi ra đụng coi, gặp cô Út cho một trận thì tan tành xí quách, đâu còn cái chỗ nào mà kể. Thật sự, nếu mà quả chăng Thiện Thảo đã chứng đạo, Thầy sẽ nói cô Út cho vô thất một đòn, thì chắc chắn là coi thử coi quả A La Hán vô lậu ở đó hay là ở chỗ nào cho biết. Có phải không?
Sự thật ra đức Phật dạy chúng ta, nhờ tri kiến chúng ta mà người ta nói gì mình bất động được. Chứ không phải là ngồi “thanh thản, an lạc, vô sự” được. Đâu phải, các con hiểu. Cho nên muốn đẩy lui những chướng ngại pháp trên thân tâm – đều hoàn toàn tri kiến giải thoát của chúng ta. Đó là tu Tứ Niệm Xứ, là giữ cái tâm mình bình thường, bất động. Bây giờ ngồi đó nghe an lạc quá trời, rồi bây giờ cỡ mà mất cái an lạc đó rồi chúng ta lấy cái gì mà chống đỡ đây? Hay hoặc chúng ta cứ ngồi đây an lạc hoài thì nó thành cây đá làm sao? Cho nên cái này là cái tu sai.
Thật sự ra viết mà, tám trang giấy mấy con. Tám trang giấy học trò như thế này thì mấy con thấy quá nhiều – mà nói về vấn đề tu tập nhiếp tâm, an trú tâm. Thiệt ra Thầy nói, nếu mà không khéo nó sẽ đi mất. Nó khó lắm chứ không phải dễ đâu. Cho nên đừng có đi vào cái con đường đó mà nguy hiểm. Chỉ khi nào mà chúng ta thấy được cái tâm ly dục, ly ác pháp bằng con đường giới luật nghiêm chỉnh, hẳn hòi thì chúng ta mới tiến tới.
(51:03) Hôm nay Thầy nhắc nhở quý thầy. Những gì mà Thầy cho quý thầy thì quý thầy nhớ tập. Mà những gì chưa cho mà quý thầy tập là quý thầy tự giết mình chết đó. Con đường đó đã chứng minh nhiều người đã bị Tưởng rồi đó. Ở đây ngồi trước mặt của Thầy có nhiều người đã bị Tưởng. Cũng do nhiếp tâm, cho đừng có vọng tưởng đó, mà nó rơi vào những trạng thái Tưởng, ngồi lúc lắc như lên đồng đó, chứ không phải sai đâu. Cho nên sự tu tập chỉ có Thầy, Thầy mới hướng dẫn mấy con, mới dẫn đường mấy con đi tới nơi tới chốn. Chứ nếu không có Thầy thì chắc chắn là mấy con hiểu qua cái kiểu hiểu của mấy con, thì mấy con sẽ tự giết mình chết đó.
Sau khi kiểm tra lại cái phần, Thầy có một cái số người được Thầy dạy riêng. Đó là Minh Trí, bác Phước già và Nguyên Tịnh, Thiện Trí. Mấy người đó sẽ được gặp Thầy riêng, để rồi Thầy dạy thêm những điều cần thiết mấy con, những người đó phải cần. Còn các con, thì những người khác cứ tu tập bình thường. Còn những người mà Thầy ghi tên, thì những người này được Thầy dạy riêng để giúp đỡ, nâng đỡ thêm, đặc cách cho họ. Hoặc là theo kịp các bạn, hoặc là họ tu cho nó được. Để không uổng cuộc đời của họ được theo Thầy mà không được chăm sóc kỹ, rất tội nghiệp cho những người này.
Cho nên vì vậy, bác Phước thì già rồi, Thầy cũng sẽ sắp xếp cho các bác lớn tuổi sẽ vào một cái lớp mà Thầy dạy cho nó vừa với sức. Chứ mấy cụ, mấy bác mà thức đêm thức khuya mà như tuổi trẻ thì chắc chắn là tiêu mau, nó chết mau hơn. Thay vì mấy bác sống được 5 năm nữa, mà thức riết thì chắc chắn nó còn thu lại, nó còn có 2 năm à, thì nó nhập Niết Bàn lại sớm quá.
(53:01) Cho nên vì vậy, để Thầy sắp xếp cái lớp của các bác lại và cho vào riêng một cái lớp. Và những người mà được Thầy gọi tên thì các con cũng nên gặp riêng Thầy. Thầy sẽ cho một cái ngày nào đó Thầy giúp đỡ cái sự tu tập. Mặc dù, thay vì Thầy cứ để chung một lớp vầy thì Thầy đỡ lắm, nhưng mà Thầy không nỡ tâm để cho mấy con tu không được. Thầy cứ lướt qua người nào tu được, Thầy cứ dắt tới thôi; còn người nào tu không được, Thầy cứ để lại thôi. Thì như vậy rất tội. Người ta cũng quyết tâm, người ta cũng bỏ hết cuộc đời để tu. Trừ ra mấy con không có theo tu thôi, chứ mấy con còn theo tu thì Thầy không bỏ người nào hết. Dù mấy con liệt tuệ cách gì, Thầy cũng không bỏ, không có bỏ mấy con. Trong cái số người tu tập thì có Pháp Châu, con cũng sẽ gặp riêng Thầy, Thầy cũng sẽ giúp đỡ con trong con đường tu.
Rồi ở đây Thầy còn kiểm tra lại kỹ lưỡng hơn, để rồi Thầy sẽ gặp lại. Những người nào cần thiết Thầy sẽ bổ sung thêm. Coi như là mình phải học thêm những cái phần nào nữa. Để một là mình theo kịp bạn bè tu học, hai là mình không có bỏ dở cái cuộc tu. Mình cứ thấy mình tu không được rồi mình muốn thối chuyển, mình muốn bỏ, rồi mình lui bước. Chừng nào mà Thầy hết sức, hết sức của Thầy lôi mấy con mà lôi không nổi Thầy mới đành buông thôi. Nghĩa là Thầy đành buông mấy con trôi theo dòng đó. Thì từ đó kể như là mấy con bị dòng nước cuốn rồi thì Thầy đành chịu là Thầy lôi không nổi. Chứ còn mà Thầy còn sức Thầy lôi nổi, Thầy sẽ lôi mấy con lên hết, không bỏ người nào. Mấy con nhớ, ráng mà đưa tay chứ mấy con chết đuối mà không chịu đưa tay, Thầy không biết cái tay đâu mà Thầy vớt mà Thầy lôi lên, thì chịu chết đó chứ không phải sống đâu.
(55:01) Cho nên nhớ kỹ, Thầy là một cái người đang ra tay cứu những người đang chết đuối đó. Thì mấy con nhớ, cố gắng như thế nào để mấy con ngoi lên. Thứ nhất là thấy được cái đầu mấy con, thứ hai là thấy được cái tay đặng Thầy nắm Thầy lôi vào bờ. Chứ còn không khéo thì mấy con sẽ tiêu đó.
Và những cái người mà Thầy khuyên “hãy ráng cố gắng vượt lên”: cố gắng làm bài mấy con, cố gắng để triển khai cái tri kiến của mình. Rồi Thầy sẽ giúp đỡ các con nhiều hơn nữa để mấy con ráng được thân người, giải quyết về cái phần những cái điều kiện cần thiết của những tư tưởng mấy con đang có những điều kiện mà nó không đúng đó.
Rồi đây là những cái bài mà Thầy xin trả mấy con. Trong những cái bài của mấy con, thì Thầy đều có ghi là nên làm cái bài Nhân quả thân hành. Rồi cái người nào mà làm cái bài nào, Thầy có ghi trong này. Thì do bây giờ bắt đầu mấy con qua cái Nhân quả của con người rồi. Những cái bài mà Nhân quả con người là cái bài đi vào cái con đường vô lậu, thật sự là vô lậu rồi mấy con. Cho nên cẩn thận, kỹ lưỡng làm sao mà Thầy chấm mấy con được đậu. Mà làm sao mà Thầy chấm mấy con rớt, thì mấy con ráng cố gắng mà (được) chấm cho đúng vào. Cứ nghe lời như hồi đầu mà Thầy đã giảng. Khi mà nói về nhân quả mà con người đó, đầu tiên đó thì chúng ta nói về đường đi của nhân quả như Thầy nói: phải lấy Thập Thiện, Thập Ác mà làm đường đi của nó. Nói trong Thập Thiện, Thập Ác thì mấy con sẽ không nói sai. Rồi kế đó thì mấy con sẽ làm bài Nhân quả thân hành của con người. Cái thân hành là cái hành động, đi mà đạp con ốc chết thì cũng coi chừng, là cái nhân quả đó mấy con. Một là con ốc trả quả, hai là mấy con tạo nhân ác vô tình mà giết hại chúng sanh. Có câu kinh Pháp Cú…
HẾT BĂNG
Đang trực tuyến: 5 | Lượt truy cập: Hôm nay: • Tổng: | Lượt xem trang: Hôm nay: • Tổng:


