ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giáo án 30 – Nhận biết bậc tu hành chân chính

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giáo án 30 – Nhận biết bậc tu hành chân chính

A A A

GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 30

NHẬN BIẾT BẬC TU HÀNH CHÂN CHÍNH

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 1997

Thời lượng: [01:47:32]

 

1- GƯƠNG HẠNH TU TẬP THỜI ĐỨC PHẬT – PHẦN 7

NGÀI ROHINI NHẬN BIẾT BẬC TU HÀNH CHÂN CHÍNH

[Phần 6 ở Giáo án 29]

(00:00) Đến một cái bài thứ hai của một vị Thánh Ni để cho chúng ta thấy rằng qua cái bài pháp vừa rồi mà Thầy đã giảng, để chúng ta biết rằng cái hạnh Sa Môn, cái người tu thế nào đúng sai, để chứng minh cho cái lời dạy của Thầy. Chớ không khéo mà không có một bậc Thánh Ni trong cái thời Đức Phật mà tu hành mà nói lên cái chỗ đúng chỗ sai…​

Ngày xưa người ta cũng nhận thấy cái ông Sa Môn nào đúng, bởi vì nó có nhiều Sa Môn, như Thầy đã giảng đó: Sa Môn Thích tử là đệ tử của Phật, mà Sa Môn mà không phải là đệ tử của Phật là của ngoại đạo, của Bà La Môn nó cũng vẫn là Sa Môn.

Vậy thì mình chọn ông Sa Môn nào đây? Ông nào cũng giống y như vầy hết, cũng đi xin ăn, mình biết ông nào là của Thích tử? Cho nên phải nhận như thế nào? Cho nên không khéo để lầm lạc.

Vì vậy bây giờ đời chúng ta cũng vậy, là qua cái giáo án của Thầy vạch ra cho chúng ta biết rằng cái ông tu sĩ nào mà của Phật giáo đúng trong hiện thời, mà cái ông tu sĩ nào mà của Phật giáo sai, để chúng ta biết nó mà chúng ta theo cho đúng chớ, còn nếu không biết thì làm sao theo đúng.

Vì vậy cho nên ở đây cái bà này bả nói ra cái bài kệ để chúng ta nhận được cái ông Sa Môn đúng, ông Sa Môn sai, thì để nó áp dụng vào trong cái bài pháp trong cái giáo án mà chúng ta vừa học.

Đó như vậy. Các con, các thầy phải nghĩ rằng Thầy phải đi tìm những cái gương hạnh nào mà cho phù hợp ở trong cái bài giáo án Thầy đang dạy để cho áp dụng cho đúng, thì đó là một cái rất là cực khổ.

Là vì – bởi vì kinh điển của Phật nó quá nhiều, mà nói về các bậc Thánh Tăng, Thánh Ni nó cũng quá đông, cho nên làm sao mình chọn lựa được cho nó phù hợp ngay khi mình giảng cái bài đó mà có một vị đó để chứng minh cho được cái chỗ mình chọn lấy một cái người Sa Môn đúng hay là người Sa Môn sai.

Đây, bây giờ Thầy nhắc lại:

Bà Rohini.

Bà tên là Rohini.

Đến tuổi trưởng thành, khi Đức Phật còn tại Vesali, bà đến nghe pháp, chứng được quả Dự Lưu.

Bà nghe được cái pháp thì bà chứng được quả Dự Lưu, tức là khi nghe cái pháp nào đó Phật nói thì bà thấy cái cuộc đời bà hết ham rồi. Nghĩa là bà không có ưa, bà không có còn thích cái ăn, uống, ngủ nghỉ hay hoặc nhà cửa, tiền bạc, của cải tài sản thế gian nữa rồi, thì cái đó Đức Phật gọi là Dự Lưu.

Còn mình còn ưa, còn thích, còn ham vợ, ham con đồ đó, còn thích quần, thích áo, thích ăn ngon, mặc đẹp đó thì nó chưa Dự Lưu đâu, bởi vì cái đó là cái tâm trạng của thế gian mà làm sao dự phần Thánh được!

Cho nên khi bà nghe thuyết pháp xong rồi thì bà hết thích rồi, bà ly hết rồi, bà không ham nữa rồi, cái gì bây giờ đem mà cám dỗ bà cũng không được rồi. Bà nghe qua bài pháp, thì như vậy nghe qua bài pháp mà nghe nói chứng Dự Lưu thì chúng ta nói: Gì mà nghe cái chứng liền?

Sự thật ra mình nghe mình thấy cái đó nó đúng rồi thì mình bỏ nó đi thì đó là mình chứng chớ gì, mình không còn ham nữa. Còn cái gì mình nghe rồi mình cũng vẫn về mình cũng thích uống rượu thì cái chuyện đó làm sao? Thì cái đó là cái mình đâu có chứng được Dự Lưu!

Còn bây giờ thí dụ mình nghe cái bài pháp của Thầy thuyết rồi, mà mình hồi nào tới giờ mình uống rượu, mà bây giờ mình nghe rồi mình không uống rượu nữa thì đó là mình chứng Dự Lưu chớ sao?

(03:05) Thầy nói đơn giản thôi, một cái bài giảng thôi, mà mình nghe mình dứt ngay liền. Tật mình nghiền rượu, mà bây giờ đó mình thấy đúng rồi, thôi từ đây chết bỏ nhất định không uống rượu nữa, rượu nó hành hạ gì cũng không uống nữa.

Cũng như bây giờ một người mà nghiện thuốc phiện, nghe Thầy nói cái bài pháp rồi, biết thuốc phiện là tai hại rồi, biết thuốc phiện là dẫn dắt mình đi vào con đường đau khổ rồi, thì ngay đó là họ nhất định là từ đây về sau không hút thuốc phiện nữa, thì như vậy là họ chứng Dự Lưu rồi đó quý thầy, chớ đừng có nghĩ là mình phải tu tập cái gì đâu!

Cho nên mình nghe Đức Phật thuyết giảng: Sao lại các bậc này chứng Dự Lưu nhanh quá mà mình không biết chứng Dự Lưu là chứng cái gì! Cho nên ở đây chứng Dự Lưu là gì? Mình dự vào được dòng Thánh.

Mà dự vào được dòng Thánh thì tức là mình phải dứt bỏ cái tâm thế gian chớ – cái tâm ham muốn thế gian mới Thánh chớ! Thánh gì mà còn ham ăn ham ngủ thì đâu có Thánh được? Mà nghe nói ham ăn ham ngủ là không phải Thánh thì làm sao mình Dự Lưu được? Mình phải hiểu vậy.

Bây giờ tui không ham ăn ham ngủ nữa, tui không thích, ai cho ăn gì sống thôi chớ tui không thèm nữa, ngày một bữa tui thấy là quá đủ rồi, không còn ham. Còn cái gì mình đã nghe nói ăn một bữa mà về ăn một bữa mà thấy nó đòi hỏi cái này, đòi hỏi cái kia thì đó là Dự Lưu sao được? Đâu có Dự Lưu!

Cho nên ở đây, muốn hiểu cái phần cái quả Dự Lưu thì chúng ta phải hiểu chỗ đó. Cho nên ông Phật ổng dạy hồi đó không có nói dối đâu. Vì vậy cho nên nhiều người cũng nghe nói: Gì mà nhanh quá, tui tu thấy bà, tui chưa có Dự Lưu được, còn ông ngồi ông nghe hay hoặc bà ngồi bà nghe cái là Phật nói Dự Lưu rồi!

Thì cái Dự Lưu là cái dự gì? Là cái người ta lìa những cái ham muốn của cái tâm người ta ra, người ta không chạy theo năm cái dục lạc nữa thì tức là người ta Dự Lưu chớ gì? Nhưng mà từ đó người ta phải đoạn dứt cho nó sạch.

Chớ còn người ta bây giờ người ta mới có hiểu biết, người ta thấy cái đó là cái khổ rồi người ta không ham nữa thì như vậy là người ta Dự Lưu rồi, chớ đâu phải là phải cái gì mà Dự Lưu!

Cha mẹ bà thường không đồng ý với người tu sĩ ăn không ngồi rồi.

Nghĩa là cái thời đó thì có nhiều người đi xin, Sa Môn nào cũng đi xin, ăn không ngồi rồi hết. Thì trong cái Sa Môn Thích tử – đệ tử của Phật và Đức Phật cũng là những tay ăn không ngồi rồi, phải không? Cho nên vì vậy cha mẹ của bà thì không có đồng ý.

Cái người mà ở đời thì mình phải làm ăn chớ, mình làm mình ăn chớ mình ngồi không mình đi xin người ta như vậy là mình ăn lường người ta rồi, mình chùm gởi rồi, mình bám người ta rồi. Cho nên cái người mà hiểu cái đạo đức của thế gian thì người ta thấy những cái loại đi xin đó là loại lười biếng.

Cho nên bây giờ thí dụ như, ngày mà giải phóng thì nhà nước người ta về người ta thấy cái loại thầy chùa mà ngồi không, ăn ngồi không, người ta ngồi trong mát ăn bát vàng: Mấy ông ngồi đó mấy ông không có làm gì hết, người ta lao động gần chết à mới có cơm ăn, còn mấy ông thì chỉ ngồi đó làm bộ lần chuỗi niệm Phật, rồi bắt đầu đó bày ra chuyện này chuyện kia mà để ăn không ngồi rồi trên mồ hôi nước mắt của người ta!

Đúng vậy! Mình có tu ra gì, mình ngồi đó mình làm cái chuyện mê tín người ta thì mình không phải là ngồi trong mát ăn bát vàng sao? Cái đó là cái sai. Cho nên cách mạng về mà phá vỡ cái này, Thầy rất đồng ý.

(06:06) Còn cái người mà tu thật đâu có phải là người đó người ta đi xin ăn rồi người ta về đó người ta ngồi chơi như mình đâu, hay hoặc là ngồi đó để mình tính cách thức này cách thức kia, ngày mai này có cái đám ma này rước mình đi để mình vừa có ăn ngon nè, mà lại vừa là có tiền nữa nè, không phải khoái sao?

Đó là những cái ngồi không để tìm cái cách nghề nghiệp – ngồi không để mà khỏi có lao động, khỏi có cày ruộng mà có gạo lúa ăn, mà có tiền bạc xài nữa, mà lại có chùa giàu sang nữa, cất chùa tường, chùa gạch nữa, thì cái này là cái mà phải phá bỏ chớ không có để cái hư này được. Cái này là cái sai, không có đúng.

Còn cái người tu như thế nào? Vì thế cho nên cái ông bà này – ông bà cha mẹ của cái bà này đã là đứng ở trong cái tư tưởng mà bây giờ cách mạng chúng ta cũng thấy cái điều đó đó, chớ không phải đâu!

Thấy mấy cái ông gì, tay chân thì lành lặn còn đi làm được mà không có chịu đi làm ăn, cứ trưa nào hay chiều chiều nào cũng lại nhà mình, đứng trước cổng đó mà đòi xin à, không cho thì không đi, làm cái nhà của mình hôm nay nó bận quá, không biết làm sao mà đuổi mấy ông này đi hết!

Cho nên ông bà này tức giận lắm chớ không phải là không tức giận. Vì thấy cái đứa con gái này cứ nghe lời Phật dạy như vậy đó mà cứ lui tới, lui tới cái tịnh xá đó hoài, thấy mắc ghét à! Đó thì cái gia đình này là gia đình nó nghịch duyên như vậy đó.

Vì thế bà thuyết phục cha mẹ bà…​

Bà nghe Phật nói cái gì, cái gì bà nắm được, cho nên bà Dự Lưu được, bà hiểu được, khi mà Dự Lưu được rồi người ta hiểu được cái đúng cái sai ở trong đó rồi, cho nên bà về bà thuyết pháp cha mẹ bà.

…​ để được cha mẹ đồng ý xuất gia.

Chớ lúc bấy giờ thời Đức Phật mà cha mẹ hay hoặc là có người thân mà không cho xuất gia là không được xuất gia. Thời Đức Phật nghiêm ngặt lắm, chớ không phải là như bây giờ mà chúng ta nói xuất gia rồi chúng ta lấy cớ như Đức Phật trốn đi rồi bây giờ chúng ta trốn đi, không được đâu!

Nghĩa là chúng ta làm một cái tội gì hoặc là trộm cướp mà trốn vô chùa là cũng không được Phật chấp nhận đâu, mà làm một cái chuyện chính trị gì mà trốn trong chùa cũng không được nữa đâu, mà thất tình, thất vọng mà vô tu hành thì Đức Phật cũng không chấp nhận đâu.

Nó không phải dễ đâu, chỉ sau này người ta rộng rãi, phá những cái giới luật của Phật. Cho nên cha mẹ mà không chấp nhận, cho đến tới bảy chục, bảy mươi mấy tuổi cha mẹ chết rồi, hay hoặc là cái thời gian mà chồng không cho đi mà tới bảy tám chục tuổi mà chồng chết rồi mới có thể mà đi tu mới được, đâu phải dễ.

Thì đó là những cái gương hạnh mà để nhắc lại cái thời của Đức Phật, mà Đức Phật rất là kỹ ở trong đó: Không làm khổ mình, không làm khổ người.

Cho nên ở đây thì quý thầy thấy: Khi mà bà hiểu biết được cha mẹ mình như vậy rồi thì bà cố gắng bà thuyết phục cha mẹ để cha mẹ cho bà xuất gia.

Vì thế bà thuyết phục cha mẹ để được xuất gia. Khi cha mẹ cho phép xuất gia thì bà triển khai thiền quán, chẳng bao lâu bà chứng quả A La Hán.

Nhớ lại cuộc đàm thoại giữa bà và phụ thân…​

Và ông thân của bà đó.

…​ khi bà mới có đặt niềm tin ở Phật mà đã thuyết phục được ông thân của bà hiểu được sự chân thật của sự tu hành của các vị Thánh Tăng trong thời đó.

Nghĩa là bà đem cái lời bà thuyết phục, bà mới hướng dẫn cho ông thân của bà đó thấy được cái chỗ Sa Môn nào đúng, Sa Môn nào tu sai, để cho ông bà mới không có vơ đũa cả nắm mà cho rằng cái thứ làm biếng hết.

(09:44) Đó thì bắt đầu đây thì cái ông thân của bà đặt ra câu hỏi bà trước. Ông thân bà nói với bà như thế này:

Con chỉ cho ta thấy,

Đây là cái bài kệ đây, tức là bà đó, chỉ cho ổng thấy đó.

Con chỉ cho ta thấy,

Đây là một Sa Môn,

Con thức tỉnh ta dậy,

Đây là một Sa Môn,

Con khen tặng Sa Môn,

Muốn thành nữ Sa Môn.

Nghĩa là ông cha ổng nói, ổng khi mà nghe con ổng thuyết phục ổng được rồi, ông thấy rõ rồi thì ông mới đọc cái bài kệ, đầu tiên là ổng nói ổng giới thiệu:

Con chỉ cho ta thấy,

Đây là một Sa Môn,

Con thức tỉnh ta dậy,

Đây là một Sa Môn,

Con khen tặng Sa Môn,

Muốn thành nữ Sa Môn.

Nghĩa là con muốn thành một tu sĩ cho nên con khen tặng Sa Môn, mà khen tặng đúng chớ không phải khen tặng sai.

Đó, bây giờ đó thì bà như thế nào để mà chúng ta hiểu cái chỗ mà bà làm cho cha bà là ngộ được, thấy được cái quý của những cái vị tu sĩ trong thời Đức Phật.

Con tìm cho Sa Môn

Cái ông cha đó ổng nhắc tới những cái hành động của đứa con – của bà đó – là đối xử với các bậc Sa Môn như thế nào thì ổng nhắc ra:

Con tìm cho Sa Môn

Rất nhiều đồ ăn uống,

Con hỡi, Rohini,

Sao con quý Sa Môn?

Chúng biếng, không thích làm,

Sống với đồ người cho,

Chúng ham lợi thích ngọt,

Sao con quý Sa Môn?

Đó, ông cha ổng đặt ra câu hỏi, trước tiên ông hỏi. Bây giờ đó ổng – mặc dù cái bài kệ trước, ổng biết rằng con ổng thức tỉnh nói ổng như thế này thế khác, nhưng mà ông đặt câu hỏi để đi tuần tự, để nó trở thành một cái bài kệ để thấy rằng bà giải quyết như thế nào để mà cho ông nhận ra được cái bậc Sa Môn đáng kính, đáng trọng.

Đó cho nên ông mới đặt ra, ông mới đưa ra, nêu ra những câu hỏi:

Con tìm đến Sa Môn

Rất nhiều đồ ăn uống,

Nghĩa là bà đến với mấy ông Sa Môn này thì bà đem đồ ăn đồ uống này kia bà cúng dường cho các vị tu sĩ theo Đức Phật đó. Cho nên ông mới hỏi:

Con hỡi, Rohini,

Sao con quý Sa Môn?

Chúng biếng, không thích làm,

(12:17) Họ đều là họ ngồi không mà mình làm gần chết mà cứ đem cho họ ăn, vậy thì chúng lười biếng quá mà sao con ngu quá vậy, con không thấy?

Sống với đồ người cho,

Họ không có làm gì hết, sống với cái đồ người ta cho chớ gì, dơ, thiu, thúi, cũ gì cũng ăn hết, không có bỏ cái gì hết. Bởi vì họ đi xin mà, cho nên cái đời sống của họ nguội lạnh gì họ cũng ăn. Phải họ mần họ nấu thì họ ăn sớm, còn đằng này mình cho họ thì phải đồ nguội thôi. Mà sống với đồ người cho thì có ngon gì đâu! Mà sao con ngu quá vậy, con đem cứ đem cái đồ mà con đem đến cho họ, mà họ là người lười biếng nhất, họ không chịu làm. Đó.

Chúng ham lợi thích ngọt,

Chúng thì cũng ham tiền ham bạc, cũng thích ngọt, thích ăn cái này cái kia nọ! Đó thì ổng gợi cho chúng ta thấy không, thấy ông cha của bà ta nói đúng không? Đúng, rất đúng mà!

Sao con quý Sa Môn?

Sa Môn gì mà kỳ quá, ham danh ham lợi đủ thứ, nhà cửa họ còn giàu hơn mình nữa, mà con cứ đem vô con cho họ ăn à, con ngu quá vậy?

Đó thì rõ ràng là ông cha này ổng thấy rõ ràng mà, chúng thì biếng, làm biếng lắm, không có làm. nói bậy bạ rồi gạt người ta kiếm ăn thôi, mà ngu gì mà cứ nghe họ để mà bị lường gạt như vậy? Cho nên ông cha này ổng rầy đứa con, ổng rầy bà: Con ngu quá, con không thấy, mà con cứ đến với mấy ông đó, không có đúng đâu!

Rồi bắt đầu bà nói như thế nào?

Lâu rồi cha thân mến,

Bây giờ bà mới trả lời ông cha đây: Lâu lắm rồi, con hiểu cha lắm rồi, nhưng mà con chưa có nói chuyện với cha thôi! Cho nên bà mới nói:

Lâu rồi cha thân mến,

Hỏi con về Sa Môn,

Không phải là bây giờ ông cha rầy bà có một lần này đâu, mà nhiều lần ông đã rầy bà: Không có nên đem của mình đem cho những cái người làm biếng đó đâu, mà họ cũng ham danh ham lợi, cũng thích ngọt, cũng ăn cũng uống như mình mà đem cho họ như vậy.

Thì cái ông này thiệt là chánh kiến chớ không phải là tà kiến đâu. Còn như bây giờ chúng ta có phải là chúng ta tà kiến không? Thấy một cái đám thầy bây giờ, họ danh họ lợi, họ ăn ba, bốn bữa như vậy, mà họ ngồi không mà cứ đem cung cấp cho họ!

Ôi thôi, bao nhiêu người cứ đem cung cấp cho họ, rồi họ mượn cái hình thức tu cái này tu cái kia. Mình có biết gì tu trong đó, mà có thấy ông nào giải thoát đâu, ông nào cũng ăn cả bụng hết à, mà còn chơi, còn hát còn xướng, còn đá banh đá bóng nữa, còn nhảy còn múa nữa, đủ loại y như ngoài thế gian, vậy mà cứ ngu mà đem cho!

Thì tức là ông cha không phải là cái người mà không thấy. Ổng thấy, mà thấy cái không đúng chớ còn ổng đâu có thấy cái đúng được! Cho nên đứa con mới vạch cho ông thấy cái đúng của những người tu sĩ.

Lâu rồi cha thân mến,

Hỏi con về Sa Môn,

Nghĩa là lâu lắm rồi cha có hỏi con nhiều lần, tại vì con chưa có nói mà thôi. Bây giờ bà mới trả lời:

Con tán thán Sa Môn

Tuệ giới hạnh tinh cần.

(15:12) Đó bà chỉ cho chúng ta rõ ràng: Tại sao mà con ca ngợi những vị Sa Môn đó, còn cha thì cha nhìn những cái vị Sa Môn nào mà cha không chấp nhận, còn con thì con nhìn cái Sa Môn nào mà con chấp nhận, thì cha có thấy:

Tuệ giới hạnh tinh cần.

Họ siêng năng họ giữ gìn cái trí tuệ của họ, họ tinh cần những giới hạnh của họ, thì như thế nào? Một vị tu sĩ chơn chánh thì đi ra đường có ngó qua ngó lại không? Thì có phải mình kính trọng cái ông Sa Môn không! Còn cái ông mà đi qua đi lại, đi ra đường mà ngó qua ngó lại thì có kính trọng không?

Cũng hai ông Sa Môn, mà cái ông kính trọng, ông không kính trọng chớ! Con thì con kính trọng những cái bậc giới hạnh, chớ còn con đâu có kính trọng cái thứ mà ăn không ngồi rồi làm biếng đó, mà ăn ba, bốn bữa đâu. Đó, thì bà nói thẳng với ông cha vậy.

Cho nên cha đừng thấy cái bọn mà ăn ba, bốn bữa mà con tin họ đâu! Con tin là con vô tịnh xá của Đức Phật là con thấy những bậc Thánh Tăng này người ta ăn ngày một bữa, còn những cái Sa Môn kia đó họ ăn phi thời, họ thích cái này thích cái kia đủ thứ, họ bày ra chuyện này chuyện kia, đó là cái loại Sa Môn mà con không có đến. Cha thấy rất rõ mà! Chớ con đâu phải đụng đâu mà con cũng đến đâu mà cha rầy con!

Đó, cho nên bà mới giải thích cho ông cha nghe. Vậy thì những cái Sa Môn Thích tử nào mà nó được như vậy?

Tuệ giới hạnh tinh cần.

Người ta siêng năng hàng ngày người ta làm cái chuyện đó.

Chúng thích làm không biếng,

Nghĩa là hàng ngày mà rèn luyện mình tinh cần ở trên những giới hạnh, bước ra đi thì phải ngó xuống chân đàng hoàng, thì đó là rèn luyện, mà phải siêng năng chớ lười biếng làm được không? Phải không?

Cho nên tuệ giới hạnh người ta phải tinh cần, người ta tu tập, trau dồi như thế nào, thì đừng có gọi là người ta làm biếng! Người ta xin mình ăn để người ta ngồi người ta làm cái chuyện đó, vĩ đại hơn mình mà.

Mình đâu có làm được, mình chỉ làm ra cơm gạo chớ mình đâu có làm được cái tâm của mình nó được thanh tịnh như vậy được! Cho nên cái việc làm đó không phải là việc làm thường của chúng ta.

Đó cho nên bà giải thích:

Tuệ giới hạnh tinh cần.

Chúng thích làm không biếng,

Không có lười biếng đâu, những cái người Sa Môn đó họ hoàn toàn họ siêng năng lắm.

Chúng làm việc tối thắng,

Phải không? Bà nói rằng những cái người Sa Môn đó họ đang làm cái việc tối thắng chớ không phải là làm cái việc tầm thường!

Chúng từ bỏ tham sân,

Nghĩa là hàng ngày người ta khắc phục cái tham sân, người ta không còn tham danh, tham lợi, tham ăn, tham ngủ, cho nên hình tướng người ta, giới hạnh người ta nghiêm túc, người ta ăn ngày một bữa, còn mấy cái ông Sa Môn kia ăn ba, bốn bữa mà cha vơ đũa cả nắm, cha nói người ta hết!

Còn con, con đi đến những cái ông đó như vậy thì cha phải tán thán chớ, cái người mà người ta bỏ được, từ bỏ cái tham, sân, si, đâu có phải người ta làm một ngày nó hết sao? Nó quá cực khổ chớ, đâu có phải dễ!

Đó cho nên bà mới giải thích ra cho cha bà thấy, đó như vậy là: Con đi đến với cái tịnh xá của Đức Phật là vì con tán thán những cái Sa Môn đó đó, chớ con không có thán thán cái thứ Sa Môn ngoài kia đâu.

Cái Sa Môn ngoài kia là Sa Môn chùa to tháp lớn đó, con đến cái tịnh xá của ông Phật chòi tranh vách lá. Mà cha nói con đâu có ngu con đem đồ ăn cho những cái người mà giàu sang đó đâu? Họ lợi dụng mồ hôi nước mắt của mình.

(18:13) Còn con đem đến những người này là những người này là siêng năng, họ rất là siêng năng, họ giữ gìn giới hạnh nè, họ tu tập giới tuệ nè, họ tu tập giới đức nè, họ từ bỏ tham, sân, si nè, họ làm những cái việc mà có thể là cái người thế gian khó làm lắm, không có làm nổi, cho nên cái việc làm của họ là tối thắng. Đó, cha thấy như vậy không ?

Thì ông cha ổng: “Ờ mày nói chắc có lẽ đúng rồi. Tao thì tao nhìn cả đám với nhau tao thấy, chớ bây giờ mày chỉ ra thì tao thấy được rồi!”

Đó ông cha thì nghe đứa con nói phải quá mà, nó nói đúng rồi! “Thế nào tao cũng thấy chớ, nhưng mà tại vì tao nhìn chung!”

Ba cội gốc ác pháp,

Chúng quét sạch, thanh tịnh,

Mọi điều ác đoạn tận,

Do vậy con quý chúng.

Đó, bà mới nói ba cái cội gốc của tham, sân, si đó là ác pháp chớ gì, mà những cái người tu Sa Môn này họ quét sạch ra hết cho tâm họ thanh tịnh, mọi điều ác họ đoạn tận hết, do vậy con mới quý trọng họ chớ!

Còn nếu mà họ tham, họ sân, họ si, họ tích lũy, họ cất chùa to tháp lớn, họ đầy đủ những vật dụng thế gian, quần này áo nọ y kia nhiều thì thử hỏi làm sao con quý?

Đó thì như vậy. Vậy cái bài pháp này chúng ta thấy rõ ràng là người xưa người ta cũng có cái để mắt để mà người ta chọn được bậc Sa Môn người ta thờ chớ, người ta theo chớ.

Còn mình có phải là người đui mù không? Phải không? Các thầy thấy chưa, mình có phải người đui mù? Hoàn toàn là thấy quý thầy sống ở trong dục lạc mà nhảy theo vô ngồi tu tùm lum cả đống nhau ở trong đó, có đúng không?

Người xưa người ta còn có cái đôi mắt người ta nhìn được, người ta tìm được cái bậc Sa Môn chơn chánh, tu hành giới hạnh nghiêm túc, người ta sống để mà người ta ly những cái pháp ác, người ta đoạn dứt những cái pháp ác. Còn những người đó họ nuôi dưỡng pháp ác chớ làm sao mà pháp thiện được, chạy theo dục lạc làm sao mà pháp thiện được!

Đó thì như vậy. Do vậy những cái mà Thầy đập phá xuống đây là không có nghĩa là Thầy ganh ghét họ, mà Thầy muốn cho mọi người thấy cái đúng để cho chúng ta thắp lại cái ngọn đuốc của Phật pháp.

Còn nếu mọi người mờ mịt như vậy thì chúng ta có thắp lại cái ngọn đuốc Phật Pháp không? Đem cái giáo lý gì vô đó nói Phật pháp chớ làm sao mà nói Phật pháp được!

Cho nên từng cái bài kinh, từng những cuốn kinh sai mà phá giới luật của Phật, phá cái hạnh của người tu thì Thầy đập xuống hết, chớ không phải là Thầy không thấy cái điều đó. Đập làm chi cho người ta…​ Nhưng mà tại vì cái kiến chấp của quý thầy bây giờ đầy ắp ở trong đầu, quý thầy không có biết cái đúng cái sai, buộc lòng Thầy phải vạch ra.

Như Thầy nói kinh Duy Ma Cật như vậy, thì Thầy nêu lên các thầy thấy rõ ràng một ông Duy Ma Cật mà có vợ có con mà làm sao gọi là Bồ Tát Thánh vị được, mà đem viết ra cái bài kinh đó để mà nêu lên, để mà chà đạp Phật pháp xuống một cách rất là tàn nhẫn như vậy! Chúng ta thấy rõ ràng mà. Ở với vợ sanh con mà còn gọi là không dục thì Thầy nói làm sao mà không dục, mà làm sao có được chuyện đó?

(21:01) Còn kinh Pháp Hoa đứng ở trên cái góc độ cầu khẩn như vậy thì thử hỏi làm sao mà cái giáo lý của đạo Phật chấp nhận được? Nhân quả mà làm sao mà có cái chuyện đó được, thế mà người ta chổng khu người ta thờ cái kinh Pháp Hoa còn hơn là thờ ông Phật nữa! Nhưng mà đó là cái tà pháp, cái kiến chấp của người khác.

Cho nên vì vậy bây giờ cái bài này để chứng minh cho chúng ta biết rằng cái chỗ nào đúng cái chỗ nào sai, để thấy cái người xưa người ta cũng biết chọn được cái bậc thầy của người ta chớ, cái bậc Sa Môn đúng chớ!

Bây giờ chúng ta cũng vậy chớ, chúng ta là con người đi vào đạo Phật thì cũng phải biết chọn ông thầy đúng chớ, biết chọn những Sa Môn đúng chớ, tại sao đụng Sa Môn nào cũng nhào vô hết?

Hồi xưa đâu phải không có Sa Môn? Thứ Sa Môn lục sư ngoại đạo đâu phải là ít, nó cũng đầy đường đầy xá hết, nó cũng đi chật nẻo hết chớ nó đâu có ít. Bởi vì ngồi không ăn mà, lại còn được cung cấp, lại còn cái này cái kia nữa thì ai lại không thích mà vào? Phải hiểu như vậy.

Đây bây giờ cái bài kệ tới bà nói:

Thân nghiệp chúng trong sạch,

Khẩu nghiệp chúng cũng vậy,

Ý nghiệp chúng trong sạch,

Do vậy con quý chúng.

Bà này bả nói: Bởi vì những cái Sa Môn này thân nghiệp họ rất thanh tịnh, họ làm những cái hành động gì nó không có còn dính mắc, tham đắm. Họ đâu có rờ mặt phụ nữ, họ đâu có ôm hôn phụ nữ, mà nếu mà họ ôm hôn phụ nữ thì con làm sao mà con kính trọng họ?

Còn miệng họ nói có lời ác không? Họ có nói ra cái lời hung dữ không? Họ sống thầm lặng, họ không có nói, mà nói một lời nói là họ khuyên không làm khổ mình, không làm khổ người, làm sao con không quý trọng họ?

Còn ý nghiệp họ là như thế nào? Luôn luôn lúc nào cũng giữ trong sạch, không có nghĩ bậy nghĩ bạ, làm sao con không quý trọng họ? Còn gì mà ngồi lại nghĩ tầm bậy tầm bạ, nghĩ ăn nghĩ uống, nghĩ lát chiều nay mình phải nấu nồi chè ăn cho ngon chơi, thì cái nghĩ như vậy là con làm sao mà con quý trọng họ được?

Đó thì thí dụ như quý thầy nghĩ như vậy có phải là bà này sáng suốt không? Bà sáng suốt bà chọn bậc thầy bà mà, cho nên bà nói ra những cái bài kệ này để vừa là chỉ cho ông cha thấy rằng ông cha nên chọn lấy cái đó.

Và ông cha ổng thông cảm, ổng nghe nói rồi thì ổng cho bà xuất gia liền: Đúng, tao chấp nhận mày xuất gia theo mấy vị thầy này là tốt nhất, chớ đừng có theo cái bọn kia! Bọn kia là tao cấm không có cho, mày mà bước mẻn vào cái loại đó là tao chặt chân á, chớ không phải vừa đâu!

Đó thì lẽ đương nhiên là ông cha ổng phải có sự giáo dục con ổng, mà ổng nghe đúng là ổng cho đi liền.

Đó. Bây giờ bà mới giải thích thêm để cho ông cha thấy thêm nữa đây:

Không cấu uế, giải thoát,

Như vỏ ốc trong sạch,

Trong sạch cả bên trong,

Trong sạch cả bên ngoài,

Công đức chúng trắng tinh,

Do vậy con quý chúng.

Đó, đó thấy không? Người ta không có cấu uế cho nên người ta giải thoát. Mà trắng như vỏ ốc trong sạch, thì nhìn vào ba y một bát nó đâu còn cái gì thì trắng như vỏ ốc trong sạch chớ gì?

Người ta cũng không thấy đem gia đình vợ con người ta đến hay dòng họ đến nói chuyện này chuyện kia. Còn mình cái gì đâu mà – ông thầy gì mà dòng họ vợ con gì đến tùm lum à, thì thử hỏi là làm sao mà cái đó trắng bạch vỏ ốc được?

Cho nên bà lại thêm cho chúng ta thấy:

Trong sạch cả bên trong,

Sạch ở bên trong, tâm cũng trong sạch, mà:

Trong sạch cả bên ngoài,

(24:08) Còn chúng ta nghe các thầy nói như thế nào? Tâm xuất gia tức là trong sạch ở bên trong, mà ở bên ngoài không xuất gia thì tức là nó không trong sạch bên ngoài, thì như vậy là có đáng chọn không?

Thầy có giảng trong cái bài giáo án rồi mà. Như ông Duy Ma Cật đó, tâm thì trong sạch – Thánh vị rồi, nhưng mà cái thân thì còn là cư sĩ, cho nên có vợ có con, đó là cái thân nó chưa trong sạch.

Do đó thì ở đây bà này bà có chấp nhận cái thân không trong sạch ở bên ngoài không? Đó.

Công đức chúng trắng tinh,

Nghĩa là nhìn cái công đức tức là cái hạnh tu đó, nó trắng tinh không có hề một vết nhơ ở trong đó.

Đó thì như vậy. Rõ ràng là chúng ta nhìn cái trong sạch ở bên ngoài như thế nào, thấy một ông thầy ăn ba bữa là chúng ta đã biết có trong sạch bên ngoài không. Rõ ràng chúng ta nhận.

Còn bên trong thì nói trong sạch, chúng ta biết làm sao mà rõ bên trong ông ta được? Bên trong mà chúng ta muốn rõ thì ông thầy ai nói cái gì mà ổng sân lên thì chắc chắn là chúng ta biết là ông thầy đó ở bên trong không có trong sạch đâu. Mà thấy mình nói cái gì mà trái ý ông ta, ổng trợn mắt ổng phùng mang ổng cãi thì chắc chắn là mình thấy cái đó là không trong sạch ở bên trong rồi. Thì đó là cũng dễ nhận thôi chớ đâu có gì khó.

Nhưng mà chúng ta thấy bên ngoài rất dễ. Rất dễ nhận bên ngoài, nó không trong sạch ở bên ngoài là chúng ta thấy rất dễ. Mà ở đây phải trong sạch bên trong và trong sạch bên ngoài, trắng như vỏ ốc, không có cái cấu uế nữa, thì như vậy con làm sao con không quý chúng, không có quý những người đó?

Đó thì bà trả lời cho ông cha bà thấy cái chỗ quý kính của bà nó đúng hay không đúng? Đúng, rất đúng.

Nghe nhiều thọ trì pháp,

Mạng sống đúng chánh pháp,

Nhất tâm giữ chánh niệm,

Lời sáng suốt khiêm nhường,

Chúng chấm dứt đau khổ,

Do vậy con quý chúng.

Đó, thì bà giải thích cho chúng ta nghe: Cái người này họ chịu khó họ nghe rất nhiều, họ thông – tức là thông hiểu những gì chưa thông hiểu đó. Mình nghe nhiều mình mới thông hiểu chớ, mà mình thông hiểu đúng chánh pháp.

Rồi mạng sống đúng chánh pháp: Cái mạng sống của họ không có ăn thịt ăn cá, không có ăn phi thời, họ không có uống ăn lặt vặt, không có lấy viên thuốc C bỏ miệng ngậm chơi, không có làm cái chuyện mà tào lao, tầm bậy đó. Lúc nào đúng ăn là ăn, mà đúng uống là uống, lúc nào có giờ giấc nghiêm chỉnh.

Như vậy làm sao mà con không có quý kính họ? Đó, thì bà đã giải thích cho ông cha thấy.

Từ làng chúng đi ra,

Không nhìn ngó vật gì,

Chúng đi không mong chờ,

Do vậy con quý chúng.

Đây là bà diễn tả cho cái hình tướng của các vị tu sĩ mà bà đã quý kính. Thì từ làng này mà đi tới đi ra, nghĩa là từ trong tịnh xá mà đi ra làng rồi từ làng đi về tịnh xá, thì luôn luôn lúc nào cái mắt của cái vị đó đều không có ngó vật gì hết. Mà không ngó vật gì thì quý thầy sẽ nghĩ sao? Họ ngó xuống chớ họ có ngó qua lại không?

Mà bà đã quan sát rất rõ những bậc này là đáng bậc kính. Còn cái người ngó qua ngó lại là bà đã nghĩ như thế nào? Cũng giống như mình vậy thì có gì hơn mà mình phải quý kính!

Đó, cho nên cách thức người ta đi mà đã làm cho bà đã cảm hóa được cái hạnh đi của cái người tu sĩ rồi.

Chúng đi không mong chờ,

Nghĩa là đi xin đó cũng không mong chờ cho người ta cho mình nhiều ít nữa, cho được bao nhiêu hay bao nhiêu, thì như vậy rõ ràng là những cái bậc đó là đáng quý kính rồi chớ gì?

(27:21) Còn có nhiều người ôm bình bát đi xin mong cho người ta cho mình nhiều: Bữa nay đức Phật Quan Âm phù hộ tui đi khất thực, bữa nay làm sao cho Phật tử cho tui những cái gì ăn cho ngon chớ hôm qua cho ba (thứ) cơm muối nuốt không được! Đó là mình còn mong chờ, phải không?

Mà đi bây giờ cầu khẩn ai bây giờ? Bởi vì mình có học đức Quan Âm phù hộ rồi, mấy bữa rày khổ gần chết, thôi để cầu Quan Âm phù hộ cho gặp sướng một chút, chứ bữa nay cho mấy ổ bánh mì không, hay hoặc nó xách trái dừa nó bỏ vô, chắc chắn là đầy bát phải ôm về, ăn trái dừa sao no được! Phải không?

Cho nên vì vậy mà cầu Quan Âm cho nó đừng có chơi cái kiểu đó chắc chết! Mà hễ mang trái dừa về thì nó đầy bát thì phải mang về chớ không lẽ đi xin nữa, phải không?

Đó là những cái mà đức Phật Quan Âm ngự trị để cứu khổ mấy ông thầy này ấy chớ, mấy ông thầy mà mong cầu á, chớ còn mấy ông thầy không mong cầu thì người ta đâu có cầu Quan Âm đâu, phải không? Người ta chỉ là người tu hành đúng. Thì như vậy là những ông thầy mong cầu thì chúng ta thấy ổng phải thọ lấy những cái khổ mà ôm trái dừa đi về ăn đó, ăn ba cái vỏ đó cho nó no!

Ở đây chúng ta thấy cái bà này thiệt là bà rất là sáng suốt, từng cái hành động nhỏ của tu sĩ chúng ta bà không có bỏ qua chút nào hết. Bây giờ bà tiếp thêm đây:

Không tìm cầu kho tàng,

Không kho chứa, kho cất,

Chúng tìm cầu cứu cánh,

Do vậy con quý chúng.

Nghĩa là nhìn thấy người ta không – ở trong cái thất người ta nó không phải là cái kho tàng, nó không có cầu cái kho tàng cho nên không có thấy vật gì hết, phải không? Rồi vô nhìn cái chỗ ở của người ta thì toàn bộ không có thấy cái kho mà chất chứa của cải tài sản gì hết. Nghĩa là vô trong cái thất người ta đã nhìn là thấy không có gì hết.

Vô trong thất mà thấy cái giường của quý thầy mà kín mít, không biết chừng nó đầy ở trỏng đó. Mặc dù là không biết chứ, nhưng mà không biết chừng cái giường mà kín đó là chắc có rồi. Chớ còn gặp Thầy nằm ở trên cục đá rồi, đâu có nhét cái gì trong đó được, cho nên hoàn toàn không có. Phải không? Các thầy hiểu.

Các thầy có cái giường trống – thì có cái bệ trống vầy các thầy nằm người ta nhìn: “Trời ơi! Ông thầy này thiệt là đúng là ổng không có kho tàng!”

Còn nhìn cái giường của quý thầy mà có cái hộc rồi người ta nói ông này có cái kho tàng nhỏ đó. Thầy nói có không? Thế nào cũng phải có chất chứa ở trong đó, không ít thì nhiều. Còn cái ông mà không có gì hết, lấy gì chất chứa? Đút ở đâu mà chất chứa? Để đâu người ta cũng thấy hết, cho nên đâu có giấu ai được.

Cho nên vô cái nhà mà thấy tủ bàn ghế thì kho tàng chớ cái gì, đó là chỗ mà chất chứa của cải tài sản chớ gì? Như vậy là cái người đó họ có tìm cầu cứu cánh không? Họ tìm cầu những cái vật chất chớ làm sao tìm cầu cứu cánh được!

Còn cái ông thầy mà vô nhìn thấy có cục đá nằm đó thì chắc chắn là không có tìm cầu rồi. Mà không có tìm cầu tức là cứu cánh rồi.

Nhưng mà thí dụ như bây giờ đặt thành vấn đề, như Thầy bây giờ đây Thầy là trụ trì, Thầy là một người mà coi trong Tu viện này, thì tất cả những cái gì này cũng của Thầy hết chớ sao? Phải không? Như vậy là tủ, bàn, ghế hay kinh sách đồ, thư viện đồ này kia cũng của Thầy hết chớ làm sao mà nói của quý thầy được!

(30:14) Cho nên vì vậy đó mà Thầy ẩn bóng ra đi một thân, ba y một bát, thì đó là Thầy đã xả hết rồi. Còn nếu mà Thầy cứ sống tới chết thì Thầy cũng còn dính mắc cái kho tàng chớ chưa chắc đã là hết cái kho tàng. Phải không?

Như vậy là một cái người tu người ta phải ý thức được cái điều đó: Có xả hết hay không? Có dám xả được không? Nó đâu phải chuyện dễ đâu!

Thầy nói một cắc chưa dám bỏ, mà bây giờ cả một cái tài sản lớn – cũng như bây giờ cái Thiền viện Trúc Lâm đó, dám bỏ không? Còn Thầy bây giờ cái tài sản nhỏ hơn Thiền viện Trúc Lâm cả trăm ngàn lần mà Thầy dám bỏ cũng là gan dạ rồi, chớ còn cái người mà nhiều như Trúc Lâm thì dám bỏ không? Dễ bỏ sao?

Các con thấy trong cái vấn đề đó là hẳn nhiên à, càng của cải tài sản bao nhiêu nó trói mình chặt bấy nhiêu. Còn Thầy đây nó ít, còn mấy con giờ đâu có gì, phải không? Vậy mà bỏ còn không được nữa chớ đừng có nói chuyện!

Có cái giường nằm không mà cái hộc nhỏ vầy mà bỏ không ra thì thử hỏi Thầy nhiều quá vầy làm sao Thầy bỏ? Nào là thiền đường, trai đường, nào là thất này thất kia của quý thầy đều là hoàn toàn của Thầy hết cấp cho mấy con chớ làm sao của ai!

Bây giờ nói Phật tử ai dám nhận không? Nhận tui làm sao tui điều khiển nổi cái này? Cũng phải giao Thầy, mà bây giờ Thầy không bỏ tức là ai bỏ? Phải không? Nó dính theo Thầy nó sát như sợi dây vậy.

Cho nên cái mà Thầy đã ẩn bóng tức là cái mà thể hiện cho các thầy thấy là Thầy bỏ sạch, không có cái gì của Thầy nữa hết. Giao lại của ai, làm gì làm Thầy không biết, ủy quyền họ, người nào có làm được làm, không làm được bỏ.

Còn đằng này sợ giao người ta rồi nó làm hư hao, mất hao của tài sản. Trời ơi của Phật tử để cho người khác người ta điều khiển, người ta ở người ta tu chớ mình cứ mình giành của mình để mình điều khiển à, như vậy là mình quá tham!

Đó Thầy nói hết để cho quý thầy biết rõ rằng khi mà chúng ta xả là phải xả sạch, và vì vậy mới thấy cái đời giải thoát của chúng ta thật sự.

Bởi vì hưởng cái hương vị giải thoát, cái hỷ lạc giải thoát Thầy đã thấy rồi, nó không phải là cái chùa này đâu, không phải là những cái đồ chúng mà đang ngồi trước mặt Thầy đâu, mà cả một cái trạng thái rất là tuyệt diệu.

Vì vậy mà Thầy đâu có ngu gì mà Thầy ôm ba cái thứ nặng nề này như treo đá đây mà để Thầy chết mòn, chết dần ở trong này? Thầy đâu có ngu!

Một người đã có trí rồi thì không còn ngu, mà cái người mà không trí thì phải ngu. Mà ngu thì ba cái đồ này nó trói chặt. Nó đè xuống đó cũng như nó nhận mình dưới nước đó, thở thiếu điều muốn ngộp! Đó các thầy phải thấy điều đó chớ!

Bởi vậy Thầy điên gì mà Thầy chịu nó nhận Thầy xuống nước cho Thầy ngộp, Thầy thở không được? Cho nên Thầy cũng ráng Thầy ngoi lên để mà Thầy đi chớ! Đó là cái khôn của một vị có trí.

Còn cái người ngu thì cứ ôm ấp nó vô, nó đè xuống đó mà như là mộc đè. Không biết các thầy có nằm ngủ bị mộc đè không? Trời ơi muốn la cho người ta cứu mà cứ cứng mình, nhúc nhích không có được, phải không? Cho nên lúc bấy giờ là bị mộc đè, thì của cải tài sản nó đè cũng cỡ đó đó, nó đè hơn nữa chớ không phải đè vậy đâu.

Cho nên ở đây Thầy thấy cái bà này – khi mà đọc đến cái gương hạnh của bà này Thầy thấy sao mà cái duyên chớ Thầy thiệt ra tìm kiếm chắc không nổi trong đống kinh đâu. Mà tại sao Thầy lật sao nó trúng ngay cái chỗ mà Thầy giảng như thế này để mà chúng ta nhận ra được những bậc thầy của chúng ta mà chúng ta theo đó mà chúng ta tu.

(33:13) Bởi vì cái hình thức tu sĩ bây giờ chúng ta biết ai là người chánh không? Chỉ có những cái bài này mà mở con mắt, chúng ta đã thấy được cái người chơn chánh tu theo đạo Phật đúng hay sai, để chúng ta biết kẻ tu đúng kẻ tu sai.

Mà cái mà Thầy dập xuống đó là dập đúng chớ không phải dập sai, dập những cái kẻ phá Phật pháp, cái kẻ mà mượn danh, mượn lợi, mượn tôn giáo mà làm danh làm lợi để mà phè phỡn ở trong cuộc sống bằng mồ hôi nước mắt của người khác, phải đập xuống hết!

Đó thì ở đây bà này bả chỉ cho chúng ta thấy những cái điều đó:

Chúng không nắm giữ tiền,

Không nắm vàng, nắm bạc,

Chúng sống với hiện tại,

Do vậy con quý chúng.

Mới nhìn thấy một ông thầy mà có tiền có bạc mà mua cái này sắm cái kia thì thử hỏi còn có tin được không? Mà bây giờ chúng ta nhìn thấy quý thầy người nào là không tiền không bạc, phải không?

Vô đây các thầy thấy Thầy giảng tới cái chỗ mà – cái khéo léo đến cái mức độ mà – ông thầy khéo léo lắm, không cất giữ tiền bạc, giao cho người cư sĩ nào đó, mà sổ sách thì mình nắm hết! Cái đó là cái gian nữa, cái đó là cái khéo léo nữa của những cái tu sĩ.

Còn cái người mà nó không khéo léo đó thì họ lại nắm giữ tiền bạc, họ lại chi phí tiền bạc, còn cái người khéo léo người ta tổ chức, nhưng mà cái sự điều khiển chi phí đó là cái ông thầy đó, thì quá cha rồi chớ còn cái gì! Ổng làm cái vẻ ông thanh tịnh không cất giữ tiền bạc!

Đó, cho nên Thầy mới nói đây, Thầy vạch hết cái bộ mặt ra hết mà, để cho thấy hết mà, để cho biết. Thì quý thầy sẽ thấy được cái giáo án của Thầy nó lật bày hết cái sai của Phật giáo bây giờ, mà nó đã làm cho Phật giáo chết đi biết bao nhiêu thế kỷ đây không? Hai mươi mấy thế kỷ, từ khi Đức Phật đến bây giờ là hai mươi mấy thế kỷ rồi, mà nó đã giết Phật giáo không có còn một cái gì mà gọi là Phật giáo hết!

Chúng không nắm giữ tiền,

Không nắm vàng, nắm bạc,

Chúng sống với hiện tại,

Trong hiện tại có gì sống nấy chớ không có cất giữ tiền, bởi vì cất giữ tiền bạc là lo vị lai đó, các con thấy không? Phải không, nếu mà không có tiền bạc thì ngày mai mình lấy gì đây? Thì tức là mình nghĩ vị lai có chuyện gì, bây giờ tui mạnh đây, tui cất giữ tiền bạc để ngày mai ốm tui mua thuốc chớ gì? Thì đâu có sống hiện tại được! Đó là sống ngày mai rồi đó, cho nên mới cất giữ tiền bạc.

Đó, câu kệ nói như vậy, mà nếu mà Thầy không phân tích ra thì quý thầy không hiểu được. Cho nên ở đây cái câu nói:

Chúng sống với hiện tại,

Chỉ biết sống hiện tại thôi. Bây giờ mạnh là bây giờ biết ăn ngày một bữa thôi, ngày mai đau thì xin thuốc uống, mà không đau nhất định không có giữ thuốc lại.

Đó, là cái người như vậy là con mới quý kính chớ! Còn cái người mà bây giờ chưa có gì hết, chưa đau mà lo để dành tiền để mai đau mua thuốc thì con không có quý kính cái điều đó đâu!

Đó là cái chuyện nhỏ nhặt về cái nhu cầu cần thiết mà chính bà này bà còn thấy, bà còn không chấp nhận, chớ không phải là cất tiền bạc mà hàng trăm lượng vàng ở trong một cái tu viện. Cho nên quý thầy bây giờ có người cả hàng trăm cái lượng vàng ở trong tu viện mà chưa dám bỏ ra nuôi chúng nữa!

Từ gia đình, quốc độ,

Xuất gia sống khác nhau,

Nhưng chúng thương kính nhau,

Do vậy con quý chúng.

(36:18) Nghĩa là từ cái gia đình này, gia đình nọ, mỗi người đều ở trong mỗi cái gia đình, rồi mỗi cái quốc độ nước này nước kia nữa, mà họ đến họ xuất gia, họ sống chung nhau mà họ thương nhau như là anh em ruột vậy, họ không bao giờ mà có tranh cãi nhau.

Còn chúng ta thấy bây giờ có không? Trời ơi họ sống – ở chỗ này chỗ kia đến họ sống, chút cái họ tranh nhau à! Có nhiều người ở chung nhau một xứ nữa, cũng một nơi nữa, mà đến ít hôm cái rầy rà nhau, tranh cãi nhau, thì cái đó có phải là hòa hợp chúng không?

Cho nên nhìn cái chúng như vậy là bà có cung kính không? Không, bà không cung kính đâu. Bà thấy sao mà người ta ở mỗi người mỗi gia đình, mỗi người mỗi xa lạ nhau, mỗi người một nước mà đến sống chung nhau ở trong cái mái nhà tu hành này, sao mà họ thương nhau, họ kính nhau quá, họ trọng nhau quá!

Đó, bây giờ chúng ta thấy như cái bữa thọ trai chúng ta thôi, chúng ta đứng chờ trong cái thời gian trật tự như vậy, rồi chúng ta chào hỏi nhau rất là kính trọng nhau. Đây là cái hình thức thôi, chứ chưa nói là cái tâm thật của chúng ta đâu.

Nhưng mà từ cái hình thức đó nó sẽ biến dần cái tâm thật của chúng ta mà đi đến con đường mà chúng ta càng ngày càng trau dồi được thân tâm, nó thể hiện qua cái tâm thương yêu hòa thuận nhau, không có chống trái nhau nó mới đi đến cái thật được.

Nhưng mà cái hình thức mà chúng ta không tập luyện thì thử hỏi làm sao chúng ta chúng ta có được cái tâm sau này? Cho nên nó từ cái hình thức nó mới đi đến cái tâm niệm của chúng ta mới được.

Do cái chỗ đó nó mới thể hiện qua người ta thấy người ta mới quý kính cái bậc tu sĩ của chúng ta. Còn tu sĩ gì mà thiếu điều muốn đánh lộn với nhau thì làm sao mà người ta quý kính được?

Đó, thì do như vậy bà mới chỉ cho chúng ta từ cái chút, từ chút để chúng ta nhận ra cái người thầy của mình, cái người tu đúng, cái người Sa Môn đúng. Còn cái hạng Sa Môn sai nó nhiều lắm, nó không phải ít ở trong cái thế gian này.

Hỡi này Rohini,

Con sanh trong gia đình,

Con đem lại hạnh phúc,

Cho gia đình chúng ta,

Con tin Phật – Pháp – Tăng,

Lòng tin kính, sắc bén.

Đó, ông cha ổng mới – khi mà nghe xong rồi thì ông cha ổng mới nói với đứa con gái của ông: Chỉ có con mới đem lại trong gia đình hạnh phúc, rất là hạnh phúc, mà chỉ có cái tin ở Phật – Pháp – Tăng mà con mới đem lại cái hạnh phúc cho gia đình của mình ngày hôm nay.

Nghĩa là làm cho ông cha ổng sáng ra được, ổng mới thấy đó là cái chân hạnh phúc của cái gia đình của ông. Tức là người mà hiểu biết được Phật pháp rồi thì họ sẽ mang đến cái chân hạnh phúc cho gia đình của họ liền tức khắc, chớ họ không phải làm khổ gia đình của họ đâu.

Đó là cái chỗ mà chúng ta đứng ở trên cái thiện pháp, ở trên cái nhân quả. Mà cái câu kết luận của ông cha ổng đã hiểu được cái nhân quả mà đứa con đã kể cho ông thấy được cái hành động của các vị Sa Môn, của các vị tu sĩ theo đạo Phật ngày xưa đó là như vậy đó.

(39:09) Cho nên ổng xác định rằng: Con hiểu được Phật pháp mà sắc bén như vậy, con đem đến cho gia đình của chúng ta một cái hạnh phúc rất là lớn. Đó!

Con biết rõ cái này,

Là ruộng phước vô thượng,

Cả gia đình tín kính,

Các vị Sa Môn này,

Tế đàn thiết lập đây,

Đối với cha rất lớn.

Nghĩa là bây giờ đó – ông cha ổng là cũng người giàu có chớ không phải là người nghèo đâu – sau khi nghe con rồi đó, ổng mới tế cái đàn để mà trai tăng cúng dường cho các bậc Sa Môn đó. Cho nên đó là cả gia đình đem hết cái lòng kính tín.

Đó là cái ruộng phước, nghĩa là các bậc Sa Môn đó là ruộng phước của gia đình của mình, cho nên mình đem hết cái sức của mình ra để mà cúng dường, cung kính cái ruộng phước, mong cái ruộng phước đó được sống mãi.

Ruộng phước đó không có nghĩa là Phật – Pháp – Tăng này mà đem lại giàu sang cho họ đâu, mà chính đem lại họ cái thiện pháp, cho họ biết để mà họ hành động sống hàng ngày họ đem lại sự hạnh phúc an vui của họ, nếu mà những bậc Thánh Tăng này, cái gương hạnh sống mà đức hạnh như vậy đã làm cho họ hành động toàn thiện ở trên cái đường nhân quả.

Cho nên đây là một cái rất là quý, cho nên họ ở đây. Cho nên ông cha ổng mới nói: Con biết rõ cái này nó là ruộng phước vô thượng lận, nó đem lại hạnh phúc cho mọi gia đình, mọi con người đó.

Cho nên cái giáo án, cái giáo trình đạo đức nhân quả nó phải ra đời để mà nó đem lại cái hạnh phúc cho con người ở trên cái thế gian này, trên cái hành tinh này. Mà nếu không có thì đạo Phật sẽ mất đi rồi, không còn có nữa.

Vì vậy mà quý thầy đã thấy được cái chỗ bài kệ này nó có một cái giá trị rất lớn là nó từ cái chỗ hành động của các Sa Môn mà nó đem đến cái đạo đức nhân quả, nó làm cho mọi gia đình của con người ở trên cái hành tinh này được hạnh phúc an vui.

Nếu cha sợ đau khổ,

Và cha không thích khổ,

Hãy quy y Phật pháp,

Đó, đứa con nó khuyên ông cha.

Quy y Pháp và Tăng,

Hãy chấp nhận giới đức,

Cha sẽ được hạnh phúc.

Đó, thì lúc bấy giờ thì bà con gái này, bà này bà khuyên cha bà đó:

Nếu cha sợ đau khổ,

Như cha thấy là có cái sự đau khổ như vậy đó, và cha không có thích cái khổ nữa, cha làm sao mà cho cha không có ưa cái khổ nữa, cha thoát ra cái khổ, thì cha hãy quy y Phật đi, rồi quy y Pháp và chúng Tăng đi, và chấp nhận giới đức, giới hạnh, thì từng đó – giới đức, giới hạnh tức là nó là nhân quả chớ gì – thì cha sẽ được hạnh phúc. Nghĩa là lúc bây giờ cha sẽ được an vui, không có lúc nào mà cha không an vui.

Bà khuyên người cha bà rất là thành thật, rất là đúng đắn.

Cha hãy nói quy Phật,

Quy Pháp và quy Tăng,

Tôi chấp nhận giới luật,

Tôi sẽ được hạnh phúc.

Đó bắt đầu cái cô con gái này cổ khuyên ông cha: Mình nên đứng ở trước Phật đó, mình nên xin Đức Phật đi, cha hãy nói quy Phật đi, quy y Pháp và Tăng đi!

(42:15) Rồi cha sẽ nói:

Con chấp nhận giới luật,

Con sẽ được hạnh phúc.

Cái lòng tin như vậy đó, cha sẽ nói như vậy, cha sẽ được hạnh phúc hoàn toàn.

Đó, bà khuyên ông cha bà như vậy đó. Thì để đem lại cái hạnh phúc cho gia đình, cho cha bà, bà khuyên ông cha, thiệt là bà là người con có hiếu, rất là có hiếu, không có thể nào…​ (Mất tiếng)

Cái bà này bả khuyên cha bả:

Cha hãy nói quy y,

Quy y Pháp và Tăng,

Tôi chấp nhận giới luật,

Tôi sẽ được hạnh phúc.

Đó bà khuyên ông cha bà và gia đình cha mẹ bà như vậy đó. Thì đó là cái lời mà thọ Tam Quy đó các con, kêu cái lời mà xin thọ Tam Quy đó, mà bà lấy câu này ra là cái câu thọ Tam Quy đó. Khi mình Tam Quy đó, mình phát ra cái lời nói tự thân tâm của mình thấy cái chân chánh của nó rồi, cho nên:

Tôi chấp nhận giới luật,

Nghĩa là không bao giờ – khi mà hứa rằng mình chấp nhận giới luật là không bao giờ vi phạm.

Tôi sẽ được hạnh phúc,

Sẽ được hạnh phúc ở trên cái giới luật đó đó. Đó là cái câu mà phát ra tận đáy lòng của mình, biết là chánh pháp của Phật đã đem lại một cái số người Sa Môn mà giữ được cái hạnh như vậy là cái hạnh giải thoát thật sự. Còn những cái hành động mà không đúng như vậy là cái hành động không giải thoát, nó không ly các pháp thế gian được thì không giải thoát.

Bây giờ kế tiếp nữa:

Lúc trước cha chỉ là

Bà con của Phạm Thiên,

Tức là bà là Bà La Môn đó, cho nên ổng mới nói ổng là bà con của Phạm Thiên.

Nay cha thật chính là

Một vị Bà La Môn,

Cha chứng đạt Ba Minh,

Được an toàn yên ổn,

Ba Vệ Đà chứng ngộ,

Cha tắm rửa thật sạch.

Nghĩa là sau khi được con khuyên ông rồi ông đến ông quy y Phật pháp rồi đó, bắt đầu về ông thực hiện những cái giới luật của Phật dạy thì ông cũng đã chứng được Ba Minh chớ không phải là tầm thường đâu!

Cái ông cha này cũng là cái tay dữ tợn lắm chớ không phải! Tu dữ lắm á, khi mà ngộ được cái lý của Phật rồi. Còn chúng ta thiệt ngộ Phật pháp mà chúng ta chưa có dứt khoát được.

Cho nên ông này kể như là cả gia đình của ổng giao hết cho bà vợ làm gì làm rồi, cho nên ổng theo cái bước chân của đứa con gái của ông ta, cho nên ông nói cái câu cuối cùng, ông nói rất là chí lý và rất là tha thiết với cái sự giải thoát thật sự.

Khi trước ổng cấm con ổng, thôi ổng tức giận con ổng biết bao nhiêu, bây giờ ổng trở thành đệ tử của Phật cũng không thể nào mà tưởng tượng được! Đó là những cái người ta hiểu, người ta trước kia người ta hiểu nó không đúng, bây giờ người ta hiểu đúng thì người ta trở thành đệ tử của Phật rất là xứng đáng.

Lúc trước cha chỉ là

Bà con của Phạm thiên,

Nay cha thật chính là

Một vị Bà La Môn,

Cha chứng đạt Ba Minh,

Được an toàn yên ổn,

Ba Vệ Đà chứng ngộ,

(45:03) Chứng ngộ nghĩa là biết cái Vệ Đà đúng hay là sai đó, chớ không phải là chứng ngộ ở trong kinh Vệ Đà đâu, mà biết kinh Vệ Đà hồi trước ổng đã học như thế nào đó, ổng đã ngộ được cái lý của Vệ Đà như thế nào đó, đúng hay sai.

Cha tắm rửa thật sạch.

Nghĩa là bây giờ ông đã sạch hết không còn cái gì nữa, cả ba cái bộ kinh Vệ Đà ông đã hiểu nó như thế nào ông cũng quét ra luôn hết, là cái ý nghĩa như vậy đó.

Khi mà đến với đạo Phật rồi chứng Ba Minh rồi thì cái gì lại không hiểu? Cho nên lúc bấy giờ coi như là ông đã tắm sạch hết rồi, tắm sạch ở trên các pháp thế gian hết rồi, rời ra hết rồi, dứt ra hết rồi, không còn nữa rồi, cho nên:

Cha tắm rửa thật sạch.

Bây giờ ổng tắm rửa thật sạch rồi, không còn một vết gì ở trong cái bộ kinh Vệ Đà dính trong đầu, tức là không còn cái kiến chấp nữa.

Các con thấy cái bài kệ nói như vậy là chúng ta đã biết là ông không còn cái kiến chấp mà ở trong bộ kinh Vệ Đà cái đó đúng, cái đó sai, ông thấy Phật hoàn toàn là đúng là vì giải thoát thật sự chớ không còn cái mù mờ, những cái kiến chấp mà không giải thoát. Cho nên bây giờ chúng ta vì những kiến chấp mà chúng ta không giải thoát.

Đó là những cái bậc Thánh Tăng trong cái ngày xưa, mà những gương hạnh để lại qua những cái bài kệ mà nó quá là thực tế, quá là cụ thể, làm chúng ta thấy con đường tu hành chúng ta nó vui thích, càng thấy những bậc Thánh Tăng mà thực hiện được cái thiện pháp như vậy chúng ta thích quá.

Chúng ta không bao giờ mà có thể nói rằng khi hiểu được lời Thầy giảng ở đây rồi, chúng ta không có thể nào bỏ Phật pháp được hết, chúng ta không bao giờ từ giã nó được hết mà đi vào cái tôn giáo nào khác, hay hoặc là chúng ta trở về cuộc đời mà sống một cách hưởng lạc ở thế gian nữa, chúng ta hết có ham rồi, chúng ta biết nó vô thường rồi, chúng ta không còn thích thú nữa.

2- XÂY DỰNG LẠI GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT

(46:36) Bây giờ thì tới cái giai đoạn này thì Thầy xin nhắc lại một cái phần này nữa để chúng ta càng rõ đi trên con đường mà chúng ta sắp sửa học những cái giáo án này.

Vì muốn dạy về giới luật mà nếu chúng ta cứ tiến tới mà cứ đập phá người ta hoài thì nó cũng làm chúng ta chán đi, mà chúng ta phải thấy khi đập phá rồi chúng ta phải xây dựng nó lại, chúng ta làm nó lại tốt để chúng ta hiểu.

Như nãy giờ Thầy nêu lên những cái gương – bởi vì cái việc làm của Thầy, Thầy hiểu biết: Khi đập phá người ta rồi thì mình phải xây dựng. Mình xây dựng để cho mình thấy được cái đường lối đúng, cái đường lối sai đặng mình tu chớ, còn mình đập phá người ta riết mà không có xây dựng cho mình biết thì tức là mình thằng điên mất rồi!

Cho nên xây dựng một cái giáo án của Phật rất là khó là ở chỗ này nè: Biết lúc nào đập mà lúc nào xây dựng. Đó là cái việc làm của một người phải có cái trọng trách của nó, phải thấy cái trọng trách của nó.

2.1- VỮNG TIẾN, KHÔNG CHÙN BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG TU TẬP

(47:33) Vì vậy đó mà chúng ta phải hiểu:

Con đường tu hành của đạo Phật quả thật là dài dẳng và gian nan.

Bởi vì khi mà chúng ta phải thấy được cái con đường của tu hành nó không phải là trong một ngày, hai ngày đâu. Như khi mà chúng ta nghe những cái bài kệ đó thì chúng ta thấy nó nhanh quá, nó không phải đâu! Nó cả một cái vấn đề chớ không phải không.

Chúng ta có nghe ở trong những cái gương hạnh của các bậc Thánh Ni đó, họ tu 25 năm, 30 năm chớ không phải ít, nhưng mà tại vì họ dứt không được. Nhưng mà có người thì nhanh chóng lắm, tại vì người ta bước chân vào mà ngộ được cái lý rồi người ta dứt ra được thì nó rất nhanh. Còn có người cũng ngộ ra nhưng mà dứt không được, bỏ không được, cho nên cả 25 năm, 30 năm, là tại vì dứt chớ không phải là cái lý do gì khác hơn hết.

Cho nên chúng ta phải nói rằng cái dứt bỏ đó là một cái có cái gan dạ, cái lầm lỳ, cái dữ tợn à mới dứt bỏ, chớ không khéo chúng ta bị nó trói dằng nhằng mà chúng ta cứ ngỡ tưởng là mình dứt chớ chưa phải dứt đâu.

Con đường tu hành của đạo Phật quả thật là dài dẳng và gian nan, không ai nói là dễ dàng.

Nghĩa là bước vào chúng ta phải – khi có tu tập rồi chúng ta thấy không phải dễ dàng đâu.

Tuy nhiên đó là con đường duy nhất dẫn đến giải thoát, đến trạng thái chấm dứt bất toại nguyện hay đau khổ.

Những ai trong chúng ta có nguyện vọng tha thiết thành tựu sự chấm dứt đau khổ ấy, cuối cùng phải đơn độc tiến bước trên con đường khó khăn muôn vàn này.

Nhiều lúc chúng ta đành ngã gục bên đường, nhưng phải có đủ can đảm và ý chí cương quyết sắt đá, mỗi lần té ngã là mỗi lần tiếp tục đứng lên không chùn bước, luôn tiếp tục vững tiến.

(49:17) Như vậy là chúng ta biết nó khó khăn như vậy thì mỗi lần có ngã xuống thì chúng ta cứ đứng lên mà tiếp tục tiến tới chớ không có lui. Bữa nay chúng ta dùng pháp hướng đó chưa được, ngày mai chúng ta thay đổi pháp hướng khác, quyết định quét sạch cho ra tất cả các lậu hoặc.

Chớ không phải là chúng ta tu thấy nó không kết quả rồi chúng ta cứ ngồi tu chơi ỳ đó, cứ nhai đi nhai lại hoài, không phải đâu, chúng ta phải nỗ lực. Bởi vì chúng ta biết nó không có kết quả là chúng ta phải thay đổi.

Trong một tuần lễ hay hoặc là hai ngày, ba ngày mà thấy cái pháp hướng nó không kết quả, nó không hết lậu hoặc của chúng ta thì ngay đó là chúng ta phải tìm một cái pháp hướng khác. Trạch pháp liên tục, chớ đâu phải là một pháp mà chết đứng.

Như một cái câu học thuộc lòng mình cứ đọc hoài, đọc hoài, thuộc lòng hoài, mà giờ cứ đọc Tâm Kinh Bát Nhã hoài mà thấy Ngũ Uẩn nó cũng chưa giai không mà cứ đọc Tâm Kinh hoài thì nó có hết giai không không?

Các thầy thấy rõ không? Bao nhiêu người đọc Tâm Kinh Bát Nhã là “Ngũ Uẩn giai không”, mà cho tới giờ phút này tám chục tuổi rồi thì cũng đọc “Ngũ Uẩn giai không” mà Ngũ Uẩn có giai không không ? Như vậy là chúng ta cứ dùng một cái pháp hướng đó mà chúng ta nhai hoài thì có đúng không?

Cho nên Thầy phải nói, khi mà chúng ta chừng ba ngày, hai ngày mà chúng ta thấy nó không kết quả là chúng ta phải thay đổi cái pháp hướng liền. Chỉ trừ ra cái pháp hướng nào mà có thể nó quét sạch được mà nó không có làm chúng ta còn những cái trạng thái ham muốn đau khổ nữa thì lúc bấy giờ mới chính là cái kết quả.

Còn nếu chưa kết quả là phải thay chứ, đâu có phải mà đọc nhẩm cái Tâm Kinh Bát Nhã hoài. Mà không có giờ phút nào mà ông thầy nào không có đọc Tâm Kinh Bát Nhã, mà Thầy thấy ông thầy nào cũng là dính mắc ở trong Ngũ Uẩn hết chớ không ông thầy nào mà gọi là giai không nổi hết!

Đó thì phải biết được cái chỗ mà tu tập, đó là cứ dùng cái pháp hướng như vậy đó mà hướng hoài nó không được thì tức là nó không có hiệu quả thì phải quăng nó đi. Điên gì mà tối cũng Bát Nhã rồi chiều Bát Nhã, khuya cũng Bát Nhã, cái nào lúc nào cũng Bát Nhã, ăn cơm cũng Bát Nhã. Thầy nói thiếu điều họ muốn đi cầu, đi đái đi ỉa họ cũng tụng Bát Nhã luôn nữa để cho nó giai không nữa đó!

Mà nó có giai không được – người ta nghe nói giai không thì nó hay quá rồi – Ngũ Uẩn mà giai không thì thành Phật rồi chớ gì? Thế mà đụng đâu họ cũng Bát Nhã hết! Cho nên Thầy nói cái đó không phải thừa đâu.

Chúng ta có thể nói đi cầu, đi ỉa đi đái cũng là ngồi tụng Bát Nhã rồi mới đi cầu đi đái nữa, để cho nó giai không ở trong lúc đó, đặng cho nó đừng có đau bụng, mà có hết đau bụng đâu! Cho nên vì vậy mà chúng ta thấy cái pháp hướng nó chưa đúng, cho nên chúng ta xả bỏ đi.

Có dịp Thầy đập Bát Nhã xuống cho quý thầy thấy, nhưng mà có duyên, chớ còn không duyên thì không đập. Đây là mới sơ sơ giáo đầu cho nó chút đó thôi.

2.2- PHẢI TÌM HỌC BẬC THẦY CHÂN CHÍNH

(51:47) Muốn được vậy, cần phải có sự hướng dẫn của những người đã thực hiện giáo pháp chơn chánh ấy. Lời dạy…​

Nghĩa là muốn mà được cái sự giải thoát được như vậy thì chúng ta phải tìm một cái bậc minh sư chơn chánh, họ có giới hạnh, giới đức, giới tuệ hẳn hòi đàng hoàng thì họ sẽ dạy chúng ta thì chúng ta mới có kết quả, còn nếu mà chúng ta tu khơi khơi khó mà kết quả lắm.

Cho nên Thầy nói nội sơ cái trạch pháp ra cái câu mà để chúng ta tu để mà kết quả, nếu mà không có bậc thầy hướng dẫn chúng ta, chắc chắn là chúng ta cứ nghĩ ra, chúng ta tìm cái câu cho đúng để mà chúng ta tu để mà giải được cái tâm chúng ta cũng không phải là chuyện dễ đâu.

Chỉ có một bậc thầy, sau một cái thời gian tu tập người ta sẽ tìm kiếm cái đặc tính của quý vị như thế nào để mà áp dụng cái pháp hướng đó cho đúng thì quý vị mới phá được cái tâm của quý vị chớ đâu phải đơn giản! Đó là một cái lời thật của Thầy nói.

Chỉ có người mà người ta đi trước rồi người ta mới tìm hiểu cái căn tánh, cái đặc tướng riêng của cái vị đệ tử của mình sau cái thời gian mà hướng dẫn người ta thì mới thấy được cái đặc tướng của người đó, cho nên biết được cái sở trường, sở đoản họ chỗ nào, người ta mới nhắm vào cái sở trường mà người ta đưa cái pháp hướng đó ra thì cái sở trường của người đó nó mới thích thú, họ mới quán thấu triệt.

Còn cứ đưa cái pháp hướng mà cái sở đoản của người ta, người ta không thích thú mà người ta ngồi đó người ta quán nó khô cũng như gộc cây, thì thử hỏi làm sao người ta đi tới đâu được?

Cho nên cái khó là khó ở chỗ mà trạch ra cái pháp, cho nên Phật nói Trạch Pháp Giác Chi là cái khó là chỗ trạch pháp. Còn cái chỗ mà quán niệm thì nó hướng thì nó không khó đâu, nhưng mà chỗ trạch pháp là chỗ rất khó.

Trạch pháp sao cho đúng cái đặc tướng của người ta, trạch pháp sao mà cho đúng cái hành tướng của người ta, mà trạch pháp sao cho đúng cái nhân tướng của người ta, cái đó là cái khó của cái người hướng dẫn.

Do vì vậy đó, khi mà chúng ta chọn được cái người rồi, thì cái lời dạy của họ, lời dạy của bậc thầy đó là những cái kinh nghiệm tu tập từ bản thân của họ, và họ là người sáng suốt có trí tuệ đầy đủ cho nên họ mới quán sát, họ biết được mình nằm ở trong cái trạch pháp nào, cái đặc tướng nào mà họ giúp cho mình tu tập.

…​ phải tin tưởng vững chắc nơi họ, và kỷ luật họ đặt ra là phải chịu khép mình trong cái khuôn khổ tu tập.

(54:04) Nghĩa là cái người thầy mà họ dạy mình, mình phải tin họ, rồi cái kỷ luật họ đặt ra, họ bảo mình phải khép mình như vậy là mình phải khép mình vậy, bảo không nói chuyện là không nói chuyện, bảo ăn một bữa là phải ăn một bữa, bảo làm cái gì là phải làm đúng theo cái đó, phải sống đúng như vậy, thì cái vị thầy này người ta mới dẫn dắt mình được.

Còn nếu mình làm ngược lại thì cái vị thầy này thôi người ta cũng đầu hàng thôi!

Do khép mình ở trong cái kỷ luật đó, được sự hướng dẫn thì mình mới tìm thấy được sự giải thoát chân thật, cụ thể và tuyệt đối ngay ở đây, trong hiện tại.

Nghĩa là ngay trong lúc mình tu tập mà mình khép chặt cái lời dạy trong kỷ luật của cái vị thầy đó, thì ngay liền tức khắc người ta đưa cái trạch pháp ra là mình đã thấy có kết quả giải thoát. Ngay liền chớ không phải là đợi tui tu một ngày, hai ngày, năm ngày đâu, mà ngay liền người ta dạy mình, mình áp dụng mình thấy có sự giải thoát.

Mình lắng cái tâm, mình thấy cái điều kiện mà người ta dạy cái pháp hành là mình thấy có giải thoát trong tâm mình liền tức khắc. Mặc dù nó chưa thuần thục nhưng mà có sự giải thoát thật sự. Rồi một thời gian mình tập thuần thục thì mình thấy thiệt là giải thoát hoàn toàn thật sự.

Đến đây Thầy xin nhắc lại: Giai đoạn tu tập này là một bắt đầu giai đoạn thứ hai.

Nghĩa là bây giờ, cái giai đoạn mà Thầy đang dạy trong cái giáo án này là cái giai đoạn mà tu tập cái giai đoạn thứ hai của cái người tu sĩ, chớ không phải còn là cái giai đoạn thứ nhất nữa.

Nhưng nó rất là cơ bản cho đời sống tu tập theo Phật giáo.

Như vậy Thầy đã nhắc quý thầy đó là Tam Quy là cái cơ bản mà chúng ta thọ để mà chúng ta thực hiện cái lộ trình thứ hai này, nó là cái cơ bản nhất. Cho nên chúng ta phải hiểu cho nó thông suốt được cái này mà chúng ta thực hiện con đường tu tập của mình.

Nó giúp cho quý vị nhận ra được sự đúng sai của người tu theo Phật giáo.

Cái thứ nhất là khi mà cái người mà không quy y Tam Bảo mà coi thường Tam Bảo, sống không đúng Phật – Pháp – Tăng, nghĩa là Thầy nói như thế này: Một vị thầy mà sống không đúng Phật là sao?

Ông Phật ăn ngày một bữa mà ông thầy đó ăn ba bữa, thì ông ta đã nói quy y Phật mà ông không sống đúng như Phật thì ông quy y ai đây? Có phải ông quy thiên thần không?

Ông nói Phật chớ sự thật ông quy y cái ông nhà giàu á, bởi vì ông nhà giàu ổng ăn ba bữa! Phải không? Mà mình quy y Phật thì mình phải ăn một bữa như Phật chớ, sao lại mình ăn giống như ông nhà giàu?

Rồi lại còn ăn ba, bốn bữa thì có phải mấy ông Ba Tàu ổng ăn nhiều không? Thì như vậy là rõ ràng mình quy y mấy ông Ba Tàu chớ đâu phải quy y Phật! Mình phải xét chớ: Tại sao tui quy y Phật mà bây giờ tui lại làm giống ông Ba Tàu ở ngoài chợ kìa? Ông muốn ăn – ổng bởi vì có tiền ổng muốn ăn hồi nào ổng ăn. Thì như vậy là mình đã sai rồi, đâu có đúng được!

Đó, Thầy nói như vậy để quý thầy thấy cái hành động mà chúng ta đã quy y Phật thì chúng ta phải làm sống giống như Phật, đừng có sống mấy cái ông nhà giàu, đừng có sống mấy cái ông trưởng giả, đừng có sống theo kiểu vua chúa, ăn phải cao lương mỹ vị! Cái sống đó là cái hiện tiền mà chúng ta đã nhìn thấy được cái sai trong đạo Phật, chúng ta phải ly cái đó ra.

Đó là chúng ta đã nhận cho đúng cái ông thầy của chúng ta, cái người mà chúng ta có thể theo tu tập trong cái lộ trình thứ nhất.

(57:03) Nó giúp cho quý vị không có một giáo pháp nào lường gạt được.

Bởi vì hầu như mấy cái ông đó họ có những cái lời lẽ, họ có lý luận, họ gạt quý vị, họ nói cái này cái kia, cho nên quý vị thấy cái cuộc sống của họ ăn ba bữa, họ còn thích xem hát, xem tivi, còn thích đá banh đá bóng, họ còn thích coi người ta đá cầu đồ…​

Thì những người mà còn ham thích những cái dục lạc của thế gian như vậy thì đâu phải là quy y Phật! Mặc dù bây giờ họ có quy y một ngàn lần đi nữa mà cái chùa mà cái tượng ông Phật đứng cả cái bầu trời đi nữa thì Thầy thấy cũng không phải là quy y Phật đâu! Đó là những cái mà chúng ta không có thể để cho họ lừa bịp mình được.

Nếu quý vị muốn tìm tu giải thoát trong Phật giáo thì quý vị hãy nhìn Sa Di Thập Giới…​

Nghĩa là nhìn mười cái giới của Sa Di.

…​ của một vị thầy thì biết vị thầy đó là tu sĩ Phật giáo hay là tu sĩ ngoại đạo.

Mặc dù họ cũng thờ Phật nè, họ cũng thờ tất cả những bậc Thánh Tăng ở trong chùa nè, mà cách sống của họ đó là họ quy y của vua chúa, họ quy y ông nhà giàu, họ quy y ông trưởng giả, cho nên cách thức họ sống là sống theo cái ông trưởng giả, ông nhà giàu, thì đó là chúng ta thấy không phải họ quy y Phật.

Họ mượn cái hình ảnh Phật để họ quy y, nhưng mà cái lối sống đó là theo mấy ông trưởng giả, nhà giàu, vua chúa, thì tức là không phải là cái ông thầy của chúng ta đâu, đó là ngoại đạo đó.

Ở đây quý vị đừng phân biệt chiếc áo, cái đầu tròn mà hãy nhìn cái oai nghi tế hạnh của vị thầy ấy có đúng oai nghi tế hạnh của Thập Giới Sa Di hay không.

Đó là cái lời khuyên của Thầy để chúng ta nhận xét cái người đúng, người sai, cái người là thầy của mình, chớ đừng có nương vào những cái ông thầy bậy bạ đó mà rồi chúng ta sẽ cũng là trở thành những nhà trưởng giả, những ông phú ông, những cái người vua chúa, để chúng ta sẽ thành bắt chước nhau cả đám đó để mà chạy theo những cái lợi dưỡng của thế gian.

2.3- CON ĐƯỜNG THOÁT KHỔ KHÔNG PHÂN BIỆT TÔN GIÁO VÀ GIAI CẤP

(59:09) Mục đích của đạo Phật là đưa nhân loại thoát khỏi đau khổ chớ không phải tranh giành con người, bành trướng thế lực tôn giáo của mình, nên Đức Phật đã xác định:

Bây giờ cái bài kinh của Đức Phật đã xác định cho chúng ta thấy: Cái mục đích của đạo Phật nêu lên để mà giúp cho con người thoát cái cảnh khổ, chớ không phải tranh giành con người, chớ không phải giật mà đem tín đồ người ta vào tín đồ của mình, hay hoặc là đem mọi người, khuyên họ – mọi người về với tôn giáo của mình, hay hoặc là xuất gia theo thọ Tam Quy theo cái tôn giáo của mình.

Đức Phật xác định cái bài này rất là rõ ràng và cụ thể. Đây là qua cái lời của Đức Phật mà xác định, nói với một cái vị Bà La Môn ở trong cái thời Đức Phật đây:

Này Nigrodha!

Tức là cái vị cư sĩ đó tên là Nigrodha.

Lời tuyên ngôn của Như Lai khẳng định: Như Lai không muốn gồm thâu tất cả tín đồ trên thế gian này về mình.

Đó là cái lời của Đức Phật xác định mà. Cho nên chúng ta mới thấy được cái đạo Phật nó cao quý ở chỗ đó, không có giành cái tôn giáo của ai, không có giành tín đồ của ai hết, không có muốn giật của ai hết.

Như Lai không muốn các ông từ bỏ công trình tu học theo đạo giáo của các ông…​

Đó lời Đức Phật xác định như vậy, nghĩa là Đức Phật không có muốn các ông bỏ cái đạo giáo của các ông.

…​ từ bỏ lối sống của các ông.

Nghĩa là không có từ bỏ cái lối sống các ông, các ông sống sao các ông cứ sống, nhưng mà Như Lai chỉ có cái là dạy cho các ông biết cái sống đó nó thiện hay ác, nó đem đến khổ hay là không khổ cho các ông thôi, rồi các ông cứ ở trong cái tôn giáo rồi các ông biết cái này nó làm khổ ông thì ông đừng có làm, mà cái này nó đem lại hạnh phúc thì các ông cứ làm.

Ông Phật chỉ muốn các ông giải thoát chớ không phải muốn các ông về với Phật giáo, về làm đệ tử của Phật nữa đâu. Ông Phật ổng xác định như vậy. Mà Đức Phật chỉ vạch ra cái này nó làm cho các ông khổ thì ông đừng có làm thôi, còn cái này mà nó làm cho các ông không khổ thì các ông hãy làm, thì cái đời sống các ông sẽ hạnh phúc để sẽ giải thoát. Ông Phật muốn như vậy.

Nghĩa là bây giờ Thiên Chúa, Cao Đài, Hòa Hảo…​ tất cả mọi tôn giáo trên thế gian này, thì ông Phật không có muốn người nào bỏ cái tôn giáo của họ hết. Nhưng mà Đức Phật chỉ cho: Bây giờ các ông theo cái tôn giáo này mà dạy vậy đó, mà cái này là khổ thì ông đừng có tu tập, mà cái này là không khổ thì ông tu tập, ông làm cho nó đem lại cái hạnh phúc của đời sống ông.

(01:01:35) Ông Hòa Hảo là Hòa Hảo mà Cao Đài là Cao Đài, đừng có nói ông mượn cái danh là ông Phật mà rồi ông cũng làm tầm bậy thì cũng không đúng là Phật giáo đâu. Mà chính ông ở trong một cái tôn giáo Cao Đài mà ông làm những điều đem lại hạnh phúc cho ông thì ông làm sáng tỏ cái tôn giáo của ông ra.

Người tu ở trong cái tôn giáo tui chỉ có bổn phận là tui dạy các ông đem lại cái hạnh phúc cho các ông giải thoát cái khổ thôi, mà ông có làm sáng tỏ lên tôn giáo của ông thêm chớ đâu có lợi ích gì cho Phật giáo chúng tôi đâu?

Cho nên đâu có nghĩa là chúng tôi lôi cuốn ông vào tôn giáo Phật giáo đâu? Mà tôi muốn cái đời sống của các ông, con người ở trên thế gian này không phân biệt tôn giáo, giai cấp nào hết, ai cũng được giải thoát. Đó là chính cái mục đích của Đức Phật đã xác định như vậy mà!

Cho nên ở đây Thầy đọc lại cái lời của Phật đã nói ở trong kinh mà người ta đã dịch ra rất là rõ ràng, cụ thể. Có nhiều chữ thì họ dịch không có thoát nghĩa cho nên Thầy có sửa lại một vài chữ để cho nó thoát nghĩa cho đúng cái ý nghĩ của Phật.

Bởi vì mình đọc một cái câu kinh, mặc dù là họ dịch ra dùng chữ không có sát nghĩa, nhưng mình phải hiểu được ý của Đức Phật nắm ở trong cái câu nói đó, cho nên mình phải dùng những cái chữ cho nó xác đáng hơn để cho người ta hiểu được cái ý của Phật.

Như Lai không muốn các ông từ bỏ công trình tu học theo đạo giáo của các ông, từ bỏ lối sống hiện giờ của các ông.

Như Lai cũng không phải đặt các ông tin vững chắc vào những việc mà chính các ông và các thầy của các ông xem là xấu xa và bất thiện.

Đây là Như Lai cũng nói: Bây giờ thầy các ông dạy cái đó là xấu xa nè, cái đó là bất thiện nè, thì các ông cứ tin vào ở đó đi, phải không? Các ông đừng có bỏ những cái đó đi. Thầy của các ông bảo đó xấu thì các ông đừng làm, mà bảo cái đó là bất thiện thì các ông đừng làm, mà bảo cái đó thiện thì các ông cứ làm.

Nhưng mà bây giờ tôi là một cái người tôi chỉ, bây giờ các thầy của các ông nói cái đó thiện, nhưng mà tui vạch cho các ông thấy cái thiện này nó đem lại cho các ông có được an vui không? Nếu nó không được an vui thì tức là nó chưa thiện thì các ông không nên làm.

(01:03:36) Mà cái này thì nó là thiện, cái này là xấu xa, mà cái này nó đem lại cho các ông hạnh phúc, an vui, thì các ông – mặc dù là thầy các ông dạy nó xấu xa, nhưng mà cái này mà tui giải thích cho các ông nghe mà nó đem đến cho các ông hạnh phúc, nó không xấu xa, nó không ác pháp nữa thì các ông nên làm, chớ tui không biểu các ông bỏ những cái này. Các ông hiểu không?

Vì cái này các ông hiểu như thế nào đó mà các ông không có làm cho các ông được hạnh phúc, mặc dù nó là cái giáo lý của người khác nói cái đó là xấu xa, cái đó là tệ, không nên làm, nhưng mà trong cái xấu xa đó nó chưa phải tệ, tui vạch cho các ông thấy, vì vậy cho nên các ông thấy cái này nó chưa phải xấu xa, nó còn có cái làm cho mình không khổ mà làm cho người khác không khổ.

Cũng như bây giờ có những cái mà nói rằng đó là thiện, là phải khổ hạnh như thế này thế khác là đem cho mình được giải thoát. Tui sẽ nói rằng bây giờ mình tu những cái hạnh khổ hạnh như con bò hoặc là như con chó thì nữa là mình cái thú hướng đó – mình biết rằng cái đó là cái khổ hạnh là cái tốt, mình đâu có hại ai, nhưng mình ráng mình tập theo, mình giống theo con bò mình ăn cỏ, rồi mình ỉa đái mình cũng làm như con bò, cho nên tui mới nói đó là mình tu tập như vậy là nó sẽ đưa đến cái thú hướng này, nó sẽ (đưa) mình thành con bò, mà quý vị có muốn thành con bò thì quý vị cứ tu. Còn quý vị không muốn thành con bò, thành con người thì quý vị cứ theo đây mà đừng có làm cái hành động đó nữa.

Thì vậy đó, thiện hay là ác là do tui vạch ra cho quý thầy thấy thôi, chớ tui không biểu là quý vị bỏ cái pháp đó để đừng có thành con bò, mà quý vị muốn thành con bò thì tui đâu có cấm cản được, thì quý vị cứ thực hiện cái hạnh con bò thì nó sẽ thành con bò, thì tui chỉ vạch ra cho quý vị biết. Quý vị là con người mà quý vị muốn thành con bò thì quý vị cứ làm cái này đi, thì nó là pháp thiện của quý vị.

Còn nếu quý vị thấy cái hạnh này làm con bò, thôi quý vị thấy cái này không được, nó xấu xa quá, mình là con người mà mình làm cái kiểu ỉa đái đồ, giống con bò nằm rồi quất đuôi quất cẳng rồi thì nó giống con bò thì không được, thôi quý vị đừng có làm! Thì quý vị thấy con người mà làm giống con bò kỳ quá cho nên quý vị không làm, vì vậy mà quý vị phải không thực hiện nó. Đó rồi quý vị thấy nó là cái pháp không hợp quý vị thôi.

Thì như vậy là tui không có bài bác cái pháp người ta nói là đúng, bởi vì người ta muốn thành con bò thì người ta cứ tu tập thành con bò chớ làm cản người ta sao? Tại vì người ta muốn như vậy!

Đó thì, đó là Đức Phật muốn nói như vậy để chúng ta thấy biết rằng Đức Phật không có can dự vào các tôn giáo của ai, ai tu đúng, tu sai. Nhưng mà Đức Phật muốn mọi người ở trong tôn giáo đều có một sự giải thoát làm cho họ hết khổ thôi. Đó là cái mục đích của đạo Phật mà!

Mặc dù anh ở tôn giáo nào đó thì anh cũng có cái khổ trong đó chớ, cái khổ của đời sống của anh, cái khổ vì vật chất, cái khổ vì tham muốn, cho nên tui chỉ vạch cho các anh thấy, các ông thấy. Các ông ở tôn giáo nào cũng vậy, nhưng mà làm sao các ông thoát ra được khổ là cái mục đích của tui.

Tui muốn giúp đời cho thoát khổ, chứ tui không muốn đem lại cái tôn giáo tui có hàng triệu người theo tui đó, thì tui không muốn đâu. Dù bây giờ không có một người nào theo tui, tui vẫn đem cái giáo pháp này mà tui dạy cho tất cả các người đều được giải thoát, đó là cái nguyện vọng của tui.

Chớ tui không muốn tui có một cái tôn giáo mà có hàng vạn, hàng triệu, như người ta thường ca ngợi là Phật giáo bây giờ trên thế giới đều tập trung, chỉ có Phật giáo là độc nhất, là có người theo tu nhất, còn Thiên Chúa hay hoặc là các tôn giáo khác bây giờ chỉ có số không, thì cái điều đó chắc ông Phật ổng không muốn cái điều đó đâu.

(01:06:36) Quý thầy phải hiểu ở trong cái mục đích, cái ý của đạo Phật. Khi đọc kinh Thầy mới hiểu được cái giáo lý của Phật, nó cao siêu đến cái mức độ mà người ta không có thành lập một cái tập thể để bành trướng cho rộng từ Đông sang Tây, từ cái nước này qua nước khác để mà bành trướng cái tôn giáo người ta đâu.

Phật giáo không có mục đích đó đâu. Mà chỉ có mục đích đem cái giáo lý đạo đức nhân quả để lồng vào cái khuôn khổ con người, để giúp cho con người ở trong cái tôn giáo nào người ta cũng vượt thoát ra được cái khổ đau của cái lộ trình nhân quả.

Đó là cái hay của đạo Phật nhất mà Thầy thấy Thầy phục, nói chung là Thầy tu rồi Thầy thấy ở trên đời này không có một cái tôn giáo nào hơn Phật giáo ở chỗ này hết. Tôn giáo nào cũng muốn bành trướng rộng ra hết à, từ nước này muốn bành trướng ra nước kia. Cho nên từ Đại Thừa nó phát triển rồi nó đi tùm lum hết để nó hoằng dương đạo pháp để nó bành trướng chớ gì?

Còn ông Phật thì muốn đem cái giáo pháp đó đến dạy cho người ta. Người ta ở đó có tôn giáo nào mặc người ta, nhưng mà làm sao cho người ta thực hiện được cái thiện pháp, cái nhân quả để người ta thấy cho rõ, đem lại hạnh phúc người ta là đủ rồi. Chớ đừng có phô trương rằng tôn giáo của mình có hàng triệu người đó, thì cái đó là cái hiểu Phật không có đúng Phật đâu.

Đó thì hôm nay thì quý thầy được nghe Thầy giảng tới đây quý thầy mới thấy được cái mục đích của đạo Phật, nó không phải là cái mục đích đi xâm chiếm người ta, phá cái tôn giáo người ta, cho nên Đức Phật không bao giờ muốn tranh luận với ai hết.

Này Nigrodha! Như Lai chỉ nói lên những điều xấu xa và bất thiện mà không buộc ai lại bỏ những điều đó.

Nghĩa là nói lên nhưng mà cũng không bắt buộc ai, miễn là người ta thấy cái điều đó là đem đến cái sự mà người ta giải thoát được thì người ta an vui, hạnh phúc được thì người ta làm, chớ không bắt buộc người nào hết.

Cho nên cái bổn phận là Đức Phật nói lên cái sự thật để cho người ta thấy thôi, rồi người ta đứng ở trong vị trí cuộc sống như thế nào đó mà người ta chấp hành cái sự thật đó để đem lại cho người ta có một cuộc đời giải thoát.

Bởi vì Đức Phật chỉ nêu lên cho chúng ta thấy những điều ác, những điều liên hệ đến sự ô nhiễm, nghiện ngập, thói quen dẫn đến để trở thành từ không đến có.

Nghĩa là Đức Phật muốn dạy chúng ta từ cái không có đó mà chúng ta trở thành cái có. Như bây giờ chúng ta chưa nghiện thuốc điếu nè, rồi bắt đầu đó chưa có hút thuốc chớ gì, bắt đầu chúng ta nghiện ngập thì từ đó, từ cái chỗ “không” chúng ta tới có cái ghiền.

Cũng như bây giờ chúng ta chưa có quen uống rượu, kê miếng rượu vô đắng nghét, phun ra không kịp, rồi bắt đầu từ đó chúng ta tập quen với bè bạn, rồi bây giờ nốc từ cái chai này đến chai khác nó cũng cạn sạch hết, thì do đó từ cái không mà đến cái có.

(01:09:12) Đó Đức Phật nói cho chúng ta thấy cái giáo pháp của Đức Phật mà, nó chỉ cho chúng ta thấy con người từ cái không mà nó đi đến cái có, nó trở thành cái nghiệp, từ cái nghiệp đó nó mới dẫn chúng ta đi tái sanh luân hồi chớ không phải có một đấng vạn năng nào mà tái sanh luân hồi chúng ta.

Những điều này phiền nhiễu và quấy rầy, chướng ngại, tạo hậu quả đau khổ, dẫn đến chỗ nương tựa bất an cho mọi người.

Đó những cái điều mà Đức Phật dạy chúng ta thấy, chớ không phải là đem cái giáo pháp mà nói thiền này thiền kia cao siêu tuyệt vời, hay hoặc là nói làm chủ sanh tử, lòe người ta, thì cái đó là cái không có đúng của đạo Phật đâu.

Mà chính cái chỗ đúng là cái chỗ chỉ cho người ta, vì cái chỗ mà người ta từ không mà đến có, nó thành cái nghiệp của họ, những cái đó nó mới tạo ra những cái hậu quả đau khổ, dẫn đến cái chỗ nương tựa bất an cho mọi người, người ta không còn cái chỗ nương tựa yên ổn được nữa, nó bất an.

Cũng như bây giờ trong gia đình mình có người nghiện thuốc phiện, mỗi lần mà không có thuốc phiện nó co nó giật ông ta, thì cả gia đình đau khổ chớ làm sao mà sung sướng được? Đó quý thầy thấy cái vấn đề đó.

Vì vậy mà Đức Phật muốn làm sao người ta từ cái không mà người ta đi đến cái không nữa, để cho người ta thoát ra khỏi, để bây giờ từ cái không người ta đi đến cái có mà cái có kiểu đó là cái có khổ sở của cuộc đời, biết bao nhiêu là người khổ.

Cho nên nhìn chung đạo Phật có ai mà dạy được đúng để cho con người thoát ra khổ không? Cho nên cái ước vọng của Thầy khi mà Thầy ẩn bóng Thầy vẫn tiếp tục soạn cái giáo trình đạo đức nhân quả để cứu con người thoát ra khỏi, dẫn con người thoát ra khỏi.

Mặc dù họ ở cái tôn giáo nào mặc họ, Thầy làm đúng y như lời Phật đã nói ở trong cái bài kinh này. Thầy không cần là người ta theo Thầy thọ Tam Quy Ngũ Giới với Thầy gì hết, Thầy không cần có người đệ tử nào hết, nhưng mà người nào mà đã thực hiện được giải thoát thì đó là phải nói rằng người đó là đệ tử của Phật. Đó, cho nên vì dù họ ở Thiên Chúa, tôn giáo nào đi nữa thì họ cũng là thực hiện được cái pháp lành, đó là cái hạnh phúc của đạo Phật đã dẫn dắt con người ra khỏi cái bể khổ trầm mê này rồi.

Đó thì Thầy – cái ước vọng của Thầy – thì cái ước vọng mà Thầy đã hiểu được Phật, và Thầy là cái người mới tập tành được cái đường lối của đạo Phật chút ít cái sự giải thoát trong thân tâm của mình, xa lìa những cái dục lạc của thế gian, Thầy đã thấy được và hiểu được cái tâm nguyện của Đức Phật.

Cho nên Thầy là một cái người đi sau mà hiểu được như vậy thì làm sao mà Thầy làm ngơ trước cái con đường của đạo Phật được, thì làm sao mà Thầy làm ngơ trước Đức Phật mà đã có tâm tha thiết đối với chúng sanh mà để lại cái giáo pháp cứu con người ra khỏi những cái sự đau khổ, mà chính bàn tay và khối óc của họ đã tạo cho họ đau khổ.

Từ duyên có đến duyên sanh tạo thành mạng lưới trói buộc, phiền não, tái tê, u sầu và bệnh chết suốt cả đời này sang đời khác của kiếp con người mãi mãi.

Nghĩa nhìn thấy như vậy làm sao mà không thương xót chúng sanh được? Thấy mọi người ngồi trước mặt của Thầy, Thầy biết rằng nó sẽ lưu chuyển mãi mãi đời này sang đời khác, làm sao chấm dứt được!

Thầy chỉ chấm dứt có mình Thầy, còn các thầy làm sao đây? Đâu phải Thầy là cây là đá mà ngồi đó thấy người ta đang lăn lộn ở trên cái sự đau khổ của cái sự tái sinh luân hồi này! Mỗi một kiếp người là đau khổ, Thầy đâu phải là những cái thứ vô tri mà không biết thương xót người?

(01:12:27) Cho nên Thầy đâu có làm ngơ được, vì vậy mà buộc lòng Thầy phải viết cái giáo án này, chớ Thầy có ham danh, ham lợi gì mà viết ra cái này để mà cầu tên tuổi mình đâu? Mà vì sự đau khổ của con người, vì tất cả con người trên thế gian này mà viết ra cái giáo án, để xây dựng lại con đường đúng của đạo Phật, để đem lại một cái đạo đức nhân quả cho mọi người, để người ta thọ hưởng được cái sự giải thoát chính bản thân của họ, chính hành động của họ.

Đó là cái điều mà Thầy ao ước, ước muốn. Cho nên suốt cái thời gian ba tháng nay mà Thầy nỗ lực ngày đêm liên tục không giờ nào ngơi nghỉ, để làm gì?

Để thành lập, để xây dựng lại cái giáo trình, cái giáo án của Đức Phật mà ngày xưa Đức Phật đã có công khổ công tu tập tìm ra được cái chân lý này, cái giáo pháp này mà giúp cho con người trên thế gian này thoát khổ.

Mà bây giờ Thầy là người thừa kế cái giáo pháp này, được thấy sự giải thoát nơi tâm hồn của mình, mà lại làm ngơ trước sự đau khổ của chúng sanh thì Thầy làm sao mà làm được? Cho nên dù là thân của Thầy có tan rã, sức khỏe Thầy có mòn mỏi đến cách nào Thầy cũng cố gắng cái giáo pháp này phải được ra đời, phải được thực hiện ở trong cái đời nay, để cứu con người thoát ra khỏi.

Vì thế Như Lai muốn loại bỏ những điều ấy giúp mọi người thoát khổ, nên không phân biệt giai cấp của xã hội và tất cả các tôn giáo trên thế gian này.

Đó thì quý thầy thấy, ở đây các thầy thấy qua cái ý của Đức Phật, những cái bài kinh ngắn mà Thầy đọc ở trên đó, thì chúng ta biết được cái ý của Đức Phật:

Vì thế Như Lai muốn loại bỏ những điều ấy giúp mọi người thoát khổ, nên không phân biệt giai cấp của xã hội…​

Giai cấp nào ở trong xã hội thì Đức Phật cũng không có phân biệt.

…​ và tất cả các tôn giáo trên thế gian này. Do vậy, Như Lai mới tuyên dạy giáo pháp của mình.

Do có cái tư tưởng mà không có phân biệt giai cấp ở trên xã hội này, cho nên trong cái giáo đoàn của Đức Phật – Thánh Tăng, các con, các thầy thấy có những bậc trong cái giai cấp rất là hạ tiện, là cái giai cấp mà như hốt phân đồ đó, cái giai cấp rất là hạ tiện mà Đức Phật vẫn chấp nhận vào cái giáo đoàn của mình, làm cho vua chúa quá sợ hãi đó.

Như ông Ca Chiên Diên là cái người hốt phân ở trong thành Xá Vệ đó, là đi lại đi từng nhà mà xin rác, xin phân của người ta để về làm trồng tỉa cái gì đó, cho nên cái giai cấp là giai cấp rất hạ tiện.

Hay hoặc là đi hốt rác, hốt phân của nhà người ta để mà dọn dẹp nhà cửa người ta cho sạch sẽ, rồi đem ra cái gò mả hay cái đồng trống nào đó gánh đổ ngoài đó để không hôi thúi đó, thậm chí như con người ta ỉa đái gì đó thì ông cũng phải gánh để mà đem ra đồng mà đổ đó.

Ngày ngày đi kiếm cơm, kiếm gạo bằng cái cảnh hạ tiện như vậy, thế mà là một bậc Thánh Tăng ở trong cái thời Đức Phật thì đủ biết rằng ở trong đạo Phật nó không có cái giai cấp nào hết, cho nên phá vỡ những giai cấp.

(01:15:38) Nhưng mà Đức Phật không có phân biệt cái giai cấp. Nếu mà đạo Phật phân biệt giai cấp thì làm sao mà thu nhận ông Ca Chiên Diên? Đó thì quý thầy thấy nó rất rõ.

Nếu sống đúng theo giáo pháp, những gì có liên hệ đến ô nhiễm, làm mọi người đau khổ sẽ được loại trừ.

Đó, thì các thầy thấy những cái pháp mà ô nhiễm, nó làm cho chúng ta có sự liên hệ đến ô nhiễm, thì chúng ta nên hãy đoạn trừ nó đi, dứt trừ đi.

Thì cái ô nhiễm nó là cái gì? Cái ăn cũng không phải là ô nhiễm sao? Cho nên ở đời người ta cũng thích ăn. Rồi cái ngủ cũng không phải ô nhiễm sao? Tất cả những cái đó là cái pháp ô nhiễm, nhưng mà tại sao chúng ta không thấy?

Mà bây giờ đó, quý thầy cứ nói là ăn ít thì nó thiếu sức khỏe, nó là cái pháp ô nhiễm chớ nó thiếu sức khỏe nào? Bằng chứng như chúng ta sống ở đây ăn ngày một bữa chúng ta có thấy thiếu sức khỏe đâu?

Người nào thấy Thầy cũng nói: Từ ngày vô tới giờ Thầy thấy cũng không có người nào ốm hơn chút nào hết, đâu có người nào mà còn cái bộ xương đâu mà gọi là ăn thiếu chất!

Cho nên chúng ta, mấy người có đem theo bánh trái ăn phụ không? Đâu có người nào mà nhét trong giường được. Do đó thì làm sao mà gọi là ốm yếu đâu? Người nào ốm thì nó cũng vậy mà người nào mà bình thường nó cũng vậy, mà người nào mập thì Thầy thấy cũng ăn ngày một bữa vậy thôi chớ cũng không thấy sa sút chút nào hết.

Đó là những cái mà chúng ta thấy đó là những cai pháp ô nhiễm. Chúng ta nhận ra cho được cái pháp ô nhiễm đó mà chúng ta tránh nó đi để chúng ta không còn ô nhiễm nữa.

Những pháp thiện pháp làm cho con người trở nên trong sạch và an vui thanh thản…​

Bởi vì những cái ác pháp nó làm cho chúng ta không có an ổn được, nó phiền não, nó giận hờn, nó đau khổ, thì làm sao cho tâm hồn của chúng ta trong sạch được! Mà chỉ có thiện pháp nó mới giúp cho chúng ta trở nên trong sạch và an ổn, thanh thản, hạnh phúc sẽ được tăng trưởng.

Đó là những cái lời của Phật dạy rất là thực tế, cụ thể, chớ đâu có cái sự mê mờ, cứ ngồi thiền chổng khu, chổng gọng ngồi thiền, mà trong khi đó ăn ngày ba, bốn bữa thì cứ sống với cái pháp ô nhiễm thì thử hỏi rằng ngồi thiền nó có thanh tịnh nổi không?

Đâu có gạn lọc được cái tâm! Hằng ngày mình tiếp xúc ba bữa rồi ăn lặt vặt tầm bậy tầm bạ, bánh trái lúc nào cũng nhét vô miệng hết, thì mình cứ ô nhiễm hoài cái ô nhiễm đó.

Rồi tối thì tới giờ ngủ thì không có chịu thức dậy tu tập tỉnh thức, mà hễ nó buồn ngủ thì leo trên giường nằm ngủ, ngủ đã giấc rồi thì lười biếng không chịu dậy nữa, nằm đó nướng qua nướng lại cũng như nướng bánh phồng vậy!

Thì thử hỏi quý thầy nghĩ sao? Những người như vậy có phải là những người sống ở trong cái pháp ô nhiễm không? Mà giờ nào khuya nào cũng dậy ngồi thiền thì ngồi thiền cái đó là ngồi thiền cái gì? Mình ngồi thiền thì mình phải biết mình tránh những cái pháp ô nhiễm chớ, để cho tâm mình tỉnh lên chớ! Còn đằng này không thấy gì hết, ô nhiễm vẫn ô nhiễm.

Cho nên Thầy thấy một số người ở đây, họ về tu đây, thời gian trước buồn ngủ ngủ gục cái bắt đầu họ – mới đầu thì họ ngồi thiền họ tranh nhau dữ lắm, họ ngồi dám tới mười hai, một giờ khuya họ mới xả họ đi nghỉ, họ làm cho họ ngồi có hơn. Nhưng mà họ làm có mấy bữa à, sau đó chín giờ hay là tám giờ đó họ đã chui trong cái góc nào đó rồi họ ngủ.

Hỏi Mật Hạnh coi có không? Ở đây Mật Hạnh là chứng kiến cái điều đó quá rõ mà đâu có gì sai đâu! Họ đâu có thực hiện được. Còn Mật Hạnh thì nó lăn, buồn ngủ là nó lăn theo cái hàng ba ở ngoài trước cái tổ đường ở đằng trước đó, nó lăn vòng vòng để cho nó không ngủ.

Còn quý thầy ngồi gục xuống mà ngáy khò khò, Thầy đi ngang qua, trời đất! Giờ này mà tu kiểu này chắc là thành Phật hết rồi! Mấy ông đó nhập định hết rồi! Định không phải định Tứ Thiền đâu, nó định “ngủ thiền” đó. Bởi vậy Thầy khi đi kinh hành mà Thầy ngang qua Thầy xem thấy quý thầy thôi rồi, kiểu này quý thầy nhập ngủ hết, “ngủ thiền” hết!

Bởi vậy cho nên chúng ta phải thấy được cái pháp thiện, cái pháp ác, rồi cái pháp ô nhiễm, nó như thế nào là ô nhiễm, như thế nào không ô nhiễm, thì chúng ta phải biết rằng cái gần gũi nhất là cái pháp ăn của chúng ta cái là pháp ô nhiễm nhất.

…​ sẽ được tăng trưởng, và chúng ta cũng như mọi người có thể sống an vui hạnh phúc bên nhau mà không làm khổ cho nhau ngay tại đây và trong hiện tại mãi mãi.

2.4- NỀN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NHÂN QUẢ DÀNH CHO TOÀN NHÂN LOẠI

(01:19:35) Bởi vậy nền giáo dục của Đức Phật đã vững chắc duy trì giá trị hướng dẫn thực dụng vào đời sống đạo đức nhân quả của con người. Từ xưa cho đến ngày nay không có một nền giáo dục đạo đức nào so sánh hơn được.

Nghĩa là chúng ta thấy cái nền đạo đức nhân quả của đạo Phật thì không có một cái nền đạo đức nào mà từ xưa đến giờ mà hơn cái đạo đức này được. Bởi vì họ đạo đức chứ nhưng mà sự thật ra họ không có làm sao mà thoát được cái cảnh khổ là làm – không làm khổ mình khổ người.

Cái đạo đức của nhân quả nó không còn làm cho mình đau khổ mà cũng không làm cho ai đau khổ hết. Cái đạo đức nhân quả nó đặc biệt như vậy, nó làm cho chúng ta có một cái hạnh phúc, tràn đầy cái sự sống của chúng ta trong cái cuộc sống của con người hàng ngày.

Nền giáo dục của Phật giáo không phải dành riêng cho một chủng tộc, một quốc gia hay một vùng nào, mà phải phổ cập khắp cùng mọi nơi trên toàn thế giới.

Nghĩa là cái mục đích mà đạo đức nhân quả này phải được phổ cập rộng rãi như vậy mới cứu hết con người ở trên thế gian này, chứ nếu không thì không có thể cứu người ta được.

Chứ không phải là một cái tôn giáo nhỏ mọn như Phật giáo mà truyền dạy thiền này thiền kia, rồi tu theo có một số người ít đâu, không phải đâu. Cái giáo pháp của Phật, cái nền giáo dục đạo đức của Đức Phật nó phải sâu rộng như đến đó để cứu con người ra khỏi từng cái bàn tay, từng cái hành động do chính họ đã tạo ra cái sự đau khổ chính họ.

(01:21:02) Nền giáo dục của Phật giáo dạy con người có lối sống vững vàng, mạnh mẽ và thuần đạo lý nhân quả.

Nền giáo dục của Phật giáo là một giáo lý thực dụng và hợp với lý trí của con người nhất, không có một lý luận, một luận cứ dưới mọi hình thức mê tín, cuồng tín nào xen vào được đạo đức nhân quả được.

Nghĩa là quý thầy thấy Thầy xác định cái câu nói đó rất đúng mà: Không có một cái mê tín, một cái cuồng tín nào mà xen vào cái đạo đức nhân quả được. Nghĩa là nó cầu ông Thánh, ông Phật thì cái đó là bị luật nhân quả đập liền tức khắc.

Cho nên kinh sách mà đứng ở trên luật nhân quả rồi Thầy đập xuống hết. Bởi vì Thầy biết rõ là Đức Phật xây dựng cái đạo đức đó để cứu con người ra cho khỏi cái kiếp trầm luân đau khổ của họ, mà chính người nào đã xây dựng mà xen vào cái giáo pháp của Đức Phật bằng những cái cuồng tín, mê tín tầm bậy tầm bạ đó, thì lúc bấy giờ là đạo đức nhân quả nó sẽ đốn xuống hết, nó không để chừa một cái bài kinh nào mà bậy bạ đó được hết.

Bức thông điệp của Đức Phật để lại cho mọi người thời đại và ngày nay. Chúng ta đều nhận thức rằng: Nền giáo dục đạo đức nhân quả của đạo Phật cung ứng, thích nghi, giải đáp cho những thắc mắc mà tâm trí của con người hiện đại đang khao khát mong tìm một nền đạo đức nhân bản chân thật…​

Đó là một cái nền đạo đức nhân bản chân thật. Nhân bản tức là cái đạo đức của con người đó, dùng ở đây cho sát nghĩa chữ nó là chữ nhân bản đó, thì để quý thầy thấy rằng cái nền đạo đức nhân quả đó là một cái nền đạo đức nhân bản chân thật.

…​ để giải quyết những khó khăn trên khắp toàn cầu.

Bây giờ chúng ta đâu có cái đạo đức nào mà có thể toàn triệt như vậy, mà giải quyết cho cái con người ở khắp hoàn cầu này được, chỉ có cái đạo đức nhân quả mới có thể giải quyết được con người, bởi vì mọi con người đều có hành động nhân quả hết. Còn những cái đạo đức kia thì nó đâu có thể nằm ở trong cái hành động đó? Cho nên họ làm sao mà họ phổ cập khắp hoàn cầu được!

Cho nên người trong bộ lạc này, kẻ ở bộ lạc kia đều là những người dân – họ có lạc hậu đến mấy đi nữa mà chúng ta vẫn đem cái đạo đức này đến dạy họ, họ vẫn thấy cái đúng cái sai liền tức khắc, không ai là con người sanh trên trái đất này mà không hiểu được.

Nó đâu có gì mù mờ, nó rất rõ! Một cái hành động mà anh giết một con vật thì anh phải thấy sự đau đớn của con vật chớ làm sao anh không thấy? Mà anh thấy cái sự đau đớn đó thì chính cái thấy đau đớn của thân anh, tại sao anh nỡ tâm anh làm điều đó? Thì do đó làm sao cái người đó bây giờ họ là lạc hậu cách gì đi nữa Thầy nói ra họ cũng hiểu được.

Cho nên Thầy lên án Phật giáo ở bên Nam Tông là do cái sự dạy người ta không đúng cái đạo đức nhân quả, cho nên cái dân tộc có đi tu nhưng mà không thấy đạo đức nhân quả, cho nên cầm súng cầm gươm mà giết nhau như vậy thì lên án là phải chớ làm sao mà không phải!

Bởi vì họ không hiểu đạo đức nhân quả là cái gì. Họ tưởng là nào là Tứ Niệm Xứ nè, Tứ Diệu Đế nè, nào là Thất Giác Chi nè, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề nè, rồi họ thuyết giảng ba cái đó ra, rồi họ chế tầm bậy tầm bạ ra đủ loại thiền, đủ loại này kia, kinh sách thì bán đầy chợ, mà dân tộc thì hung ác như là con quỷ sứ, thì thử hỏi chúng ta thấy như thế nào?

Đạo Phật quốc giáo mà để dạy con người như vậy, đưa con người đi đến cái chỗ mà tàn ác giết người như vậy thì cái quốc giáo đó là quốc giáo gì? Có phải là tà giáo không? Nói Phật giáo chớ sự thật ra đó là tà giáo. Phật giáo đứng ở trên nhân quả làm sao mà xây dựng con người tàn ác như vậy!

3- SỰ TẬP KHỞI, ĐOẠN DIỆT VÀ CON ĐƯỜNG DIỆT TỰ THÂN

3.1- NHÂN DUYÊN CƯ SĨ VISAKHA HỎI PHÁP NI SƯ DHAMMADINNA

(01:24:36) Đến đây Thầy bổ túc thêm cho bài kinh Trung Bộ – Tiểu kinh Phương Quảng, trang 655, số 44. Bài kinh này là một bài pháp thoại giữa nam cư sĩ Visakha vấn hỏi Tỳ Kheo Ni Dhammadinna.

Đây là một cái bài pháp giữa cư sĩ Visakha đó là chồng của bà Dhammadinna, bà xuất gia bà thành Ni Tỳ Kheo, khi bà từ giã gia đình bà được chồng bà chấp nhận cho xuất gia, và khi mà thành tựu được đạo pháp bà trở về thăm nhà thì chồng bà hỏi bà, vấn đáp, vấn nạn bà qua những cái điều bà đã hiểu qua Phật pháp tu hành như thế nào mà hiện giờ bà được Đức Phật chấp nhận là một vị A La Hán.

Ổng cũng đâu có tin bà nói rằng cái vấn đề là bà đã chứng quả A La Hán đâu, ít ra bà phải trả lời cho tui nghe sao mà cho ngọt cái lỗ tai tui, tui mới chấp nhận chớ bà nói lơ mơ thì tui méc với Đức Phật liền, chớ bà đừng có về đây bà tự xưng bà là A La Hán là chết đó!

Đâu có phải chuyện dễ đâu! Đối với cái ông cư sĩ này cũng đâu phải tay thường, ổng là đệ tử cư sĩ mà cũng là đệ nhất của Phật chớ đâu phải là thường.

Cho nên khi bà về thì gặp lại ông, thì Thầy nhắc lại: Khi mà ông Visakha đó ổng đến với Đức Phật, ổng được nghe một bài thuyết pháp, sau đó ổng về – Thầy có nhắc lại cho các thầy nghe một lần rồi mà.

Thì về thì thường thường ông đi đâu về thì bà Dhammadinna bà đón tiếp với ông dưới cầu thang, rồi đưa bàn tay cho ông nắm, rồi hai người mới dẫn nhau mà đi lên nhà khách hay hoặc là lên cái phòng nghỉ. Thì hôm nay bà đưa tay thì ông không nắm, rồi ông lách bà ông đi trước, không có đi song song nữa, chơi cái kiểu đó đó!

(01:26:31) Cho nên bà đi sau chớ trong bụng bà nghe nó ấm ức lắm, nó tức, không biết bữa nay ổng đi vào tịnh xá nghe Phật thuyết giảng, không biết là có bà nào – mà cái kiểu này chắc là có bà nào rồi! Kiểu này là không có được rồi!

Thế nào là lên phòng khách đây là cũng phải cật vấn ổng một hơi cho đã mới được, chớ còn không khéo thì phải cho mấy con đầy tớ nó đi rình coi ông này ổng đi nghe Phật thuyết giảng kiểu nào mà ổng về ổng làm cái hành động như thế này.

Vì vậy đó, cho nên khi mà đến vào phòng khách ngồi rồi, thì thay vì mọi lần thì ông bà ngồi chung nhau một ghế, nay ổng chơi ổng ngồi riêng bên kia ổng ngó ở ngoài: “Bà! Bà ngồi riêng bên nây!” Bà xích xích lại gần, ổng nói: “Không có được! Bà ngồi qua đây!”

Đó, người ta hiểu Phật pháp, người ta đã nhập lưu được tức là người ta có hành động xả liền đó. Còn các con nghe Thầy thuyết giảng mỏi miệng à chớ chưa chắc đâu, về cái vợ con ngồi, trời nó chạy ra nó ôm thì ẵm nó luôn á, chớ chưa đâu!

Thầy nói thật mà! Ôi đứa này đứa kia tùm lum nó chạy: “Ba đi lâu quá! Ba tháng trời nay con nhớ ba quá!” Thôi ẵm đứa này đã, ẵm đứa kia vuốt, hun hít đứa này nọ kia. Thử hỏi nghe Thầy thuyết pháp vậy có nhập Dự Lưu chưa? Chưa!

Còn bà này, cái ông này ổng nghe Phật thuyết pháp rồi về cắt ly, bà xích xích lại gần: “Bà ngồi đó đi! Không có lại gần đây!” Đó thấy chưa? Đó là người ta nhập lưu Thánh rồi, người ta không có còn thấy cái dục lạc đó, thấy cái cảm giác giữa nam, nữ nữa.

Người ta biết đó là cái khổ, cho nên người ta cắt ly liền, người ta không còn cái thích thú mà ngồi nói chuyện với cái chuyện tầm thường của thế gian nữa, mà người ta nhắm vào cái sự giải thoát chớ người ta không còn nhắm cái phàm phu tục tử đó nữa.

Cho nên cái người chưa hiểu thì người ta còn cái tâm, người ta còn dính mắc, người ta thấy đó là hạnh phúc. Còn cái người đã hiểu rồi, người ta thấy đó là cái khổ nạn, cái đau đớn chớ đâu phải là cái hạnh phúc!

Cho nên hai cái – người mà nhập lưu rồi, nghe vừa nghe bài pháp rồi thì ông này nhập lưu rồi, vào Thánh quả rồi, cho nên cái hành động ông là hành động Thánh rồi.

Chớ còn hành động phàm phu chúng ta gặp con, gặp vợ là thấy ẵm thôi, hun hít lia lịa thôi. Rồi lại nói: “Ba đi, ba về, ba không mua bánh đồ này kia cho con, thôi để chút nữa ba dẫn con đi ra nhà hàng, cha con vợ chồng mình ăn một bữa cho nó…​ lâu ngày vắng nhau bây giờ làm cho vui một bữa!”

Đó là những cái tâm phàm phu thật mà, Thầy nói thật sự. Đó làm sao gọi là chứng Thánh quả được? Mà Thầy nói mỏi miệng các con có chứng Thánh quả không? Mà ông Phật ổng nói bài pháp rồi thì ông này ổng chứng Thánh quả liền. Đó gọi là nhập Dự Lưu.

Các con thấy rõ phải không? Đó rõ ràng người ta nghe người ta dứt được là đó là Dự Lưu, chớ chưa phải là người ta tu tập gì hết, người ta dứt bỏ được đó là Dự Lưu. Đó!

3.2- TỰ THÂN LÀ NĂM THỦ UẨN

(01:28:53) Bây giờ ông Visakha hỏi nè:

– Thưa Ni sư! Bản thân của chúng ta được gọi là ngã, còn Thế Tôn gọi nó như thế nào?

Đó, ông trắc nghiệm bà thử coi. Đó, bây giờ cái thân của mình đây thì ai cũng biết nó là ngã, vậy còn Thế Tôn – bà học với Thế Tôn thì Đức Thế Tôn gọi nó là cái gì?

– Này Hiền giả Visakha! Thế Tôn gọi năm thủ uẩn là tự thân chớ không phải là ngã.

Thấy không? Thấy ông Phật ổng nói rất rõ phải không? Chớ không các con cũng nói là Đức Phật nói năm cái thủ uẩn này nó hợp lại là cái ngã của mình, nếu vậy là mấy con đã phỉ báng Phật rồi đó!

Phải không? Còn ông Phật ông nói rất rõ phải không? Nè, các con sẽ nghe những cái bài này mới thấm thía được những cái chỗ mà Đức Phật dạy nè:

– Này Hiền giả Visakha! Thế Tôn gọi năm thủ uẩn là tự thân chớ không gọi là tự ngã. Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn – năm thủ uẩn này Thế Tôn gọi là tự thân, không gọi là tự ngã.

Đó là nhắc lại, bà nhắc lại. Bởi vì ông Visakha hỏi: Chúng ta thấy cái thân này – cái thân của chúng ta đó là gọi là tự ngã, còn Thế Tôn gọi nó như thế nào? Bà giải thích ra chúng ta thấy rõ cái chỗ mà gọi là tự thân nó khác mà gọi tự ngã nó khác. Chúng ta phải phân biệt được hai cái danh từ dùng đó thì chúng ta mới hiểu được cái chỗ nói.

3.3- TỰ THÂN TẬP KHỞI DO DỤC ÁI, HỮU ÁI VÀ PHI HỮU ÁI

(01:30:18)

– Lành thay! Thưa Ni sư, xin Ni sư cho hỏi một câu nữa!

Được rồi, bà nói đúng quá rồi, tui chấp nhận rồi. Tui cũng nghe ông Phật nói vậy rồi, bà nói thì không sai rồi. Thì bây giờ cho tui hỏi câu nữa, chớ bây nhiêu đó tui chưa có đủ tin bà đâu!

Bà có nói hay đi nữa bà cũng nhại lại cái miệng của ông Phật chớ đâu phải là của bà, cho nên tui đâu có tin, tui hỏi nữa. Bà có vui lòng thì tui hỏi nữa, bà không vui lòng thì thôi, tui đi nghỉ. Nhưng bà này thì: “Cứ tự tiện, Hiền giả thì cứ tự tiện mà hỏi!”

– Tự thân tập khởi được gọi như vậy. Còn Thế Tôn gọi như thế nào?

Cái tự thân mà nó tập khởi năm cái thủ uẩn, nó tập khởi như vậy thì gọi nó là tự thân, còn bây giờ Thế Tôn gọi nó như thế nào?

Đó. Bây giờ cái tự thân mà nó tập khởi như vậy đó thì chúng ta đã được trả lời ở trên đó là cái tự thân rồi chớ không phải gọi là tự ngã. Vậy thì nó có cái gì ở trong đó nữa không? Nó còn có cái gì ở trong đó nữa không? Cái câu của ông Visakha hỏi cái câu này:

– Tự thân tập khởi được gọi như vậy.

Tức là gọi như ở trên rồi.

Còn Thế Tôn gọi như thế nào nữa?

Gọi cái tự thân đó đó, cái tự thân nó còn cái tên gì nữa không? Đó, nó còn có cái dụng gì ở trong đó nữa không, hay hoặc là còn cái thể gì ở trong đó nữa không, hay hoặc là nó chỉ bây nhiêu đó gọi là tự thân thôi?

Quý thầy hiểu cái chỗ đó. Cho nên ở trong cái chỗ đó thì bây giờ được gọi nó là tự thân rồi, Đức Thế Tôn gọi nó là tự thân rồi, tui chấp nhận đúng rồi. Nhưng bây giờ ở trong cái tự thân đó, nó còn có cái gì nữa không? Mà có thể gọi nó một cái tên khác được không? Hay là chỉ có gọi nó tự thân thôi?

Đó thì cái ông này cũng rắc rối cái bà này dữ lắm, cho nên ông hỏi cái kiểu mà thiệt là rắc rối chớ! Đã nói tự thân rồi thì thôi làm thinh, còn hỏi ở trong đó còn cái gì nữa, mà còn có gọi nó cái tên gì nữa, ông còn đòi nó nhiều tên nữa! Thì bà Visakha cũng vui vẻ mà trả lời:

– Này Hiền giả Visakha! Khát ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ, tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái và phi hữu ái.

Khát ái này Thế Tôn gọi là thân tập khởi.

Phải không? Bây giờ cái nhóm của nó là năm cái thủ uẩn nó hợp lại thì gọi là tự thân, nhưng mà trong tự thân nó còn cái dụng gì ở trong đó, cho nên nó phải có cái – bây giờ nó tự thân không nó nằm cứng ngắc đó rồi nó cũng như gộc cây thì có nghĩa lý gì đâu, phải không?

Cho nên cái ông này ổng rắc rối bà này dữ lắm, ổng hỏi, nhưng mà bà này cũng lanh trí thiệt chớ không phải không.

(01:33:01) Bà biết được cái chỗ mà bả đã tu học, cho nên bà biết được cái sự hoạt dụng của thân, nó phải có cái khát ái trong đó cái thân nó mới có linh động chớ, nếu mà nó như cái gộc cây mà hợp lại cũng như cái bàn này thì thôi rồi rồi, thì làm sao mà gọi là cái tự thân con người được, phải không?

Cái bàn bây giờ nó cũng là duyên hợp, nó cũng là đất, nước, gió, lửa nó hợp thành cái bàn. Nhưng mà rốt cuộc rồi cái bàn nó đâu phải là cái thân con người đâu! Cái cây kia nó cũng làm sao nó giống được con người được! Cho nên nó có những cái trí tuệ, nó có gì ở trong tự thân đó.

Cho nên cái câu hỏi của ông Visakha là như vậy để chúng ta thấy từ cái chỗ tự thân của chúng ta nó có cái gì đó mà chúng ta nó mới chấp thành cái ngã, chớ còn nếu nó không có thì ai mà gọi nó là cái ngã? Cho nên nói tự thân tức là nói một cái phần của thủ uẩn nó hợp lại mà thôi.

Cho nên vì vậy mà bà Dhammadinna bà mới trả lời:

– Này Hiền giả Visakha! Khát ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham…​

Đây nè, ở trong cái tự thân đó nó cái khát ái, nó cái sự khao khát, có cái sự yêu, có cái sự ham muốn, khao khát ở trong đó chớ không phải là nó không có. Mà nó có như vậy là nó sẽ đưa đến cái sự tái sanh của nó.

Cái mục đích của cái thân Ngũ Uẩn này nó có tiếp diễn được cái thân này đến thân đến thân khác Ngũ Uẩn như vậy đó là nó phải có cái mầm mống của cái sự khát ái của nó ở trong đó.

Mà cái khát ái đó nó sẽ làm gì? Nếu một mình nó thì nó không thành. Nó không thành cho nên nó câu hữu với cái gì? Nó câu hữu với hỷ – nó câu hữu với cái sự thích, cái sự vui mừng, chớ nó câu hữu với khổ thì chắc nó không dám rồi! Nó phải câu hữu với – tức là nó kết hợp, cái khát ái đó nó kết hợp với cái sự thích thú của nó, cái sự hỷ của nó.

Vậy thì khi mà nó câu hữu với hỷ rồi, và nếu tham rồi thì nó mới có sự tìm cầu hỷ lạc. Đó, cái khát ái đó nó bây giờ nó kết hợp với cái hỷ và cái tham thì nó mới có đi tìm cầu cái hỷ lạc.

(01:35:06) Đó thì cái bản chất của con người mình có cái thân, thì bây giờ mình đi tìm cầu cái gì? Bây giờ kết hợp với cái gì? Mình muốn ăn ngon, phải không? Mà mình muốn ăn ngon thì mình phải kết hợp cái tham, cái tham nó mới muốn có đồ ăn chớ còn không có tham thì nó đâu làm gì muốn, phải không? Các thầy thấy rất rõ.

Bây giờ nó có tham nó mới có khởi ra – bây giờ mình muốn ăn ngon, muốn ăn chén chè nè, thì bây giờ mình muốn ăn chén chè thì tức là mình phải có câu hữu với cái tham. Tham là đi phải mua đậu, mua đường mới về nấu nếp mình mới nấu ra chè. Đó là nó tới bắt đầu nó có cái tham.

Và khi mà nó thành cái chén chè rồi thì nó mới cầu được cái hỷ lạc của nó, thì bắt đầu mình mới bỏ miệng mình ăn, nó mới có cái ngon của nó đó. Đó là cái hỷ lạc của nó. Chỗ này chỗ kia, hoặc là cái này cái kia – hỷ lạc cái này cái kia chớ không phải là nói nội chén chè không. Cái này cái nọ kia mà nó sanh ra cái Hỷ đó.

Mà khi mà cái chỗ này chỗ kia nó có đó, thì tức là dục ái. Phải không? Cái danh từ là dục ái. Cho nên quý thầy thấy rõ đó, từ cái bước nhỏ nhắt của nó đó, đi từ từ nó câu hữu cho đến khi nó dục ái. Thì dục ái thì nó có hữu ái và có phi hữu ái trong đó. Nghĩa là từ đó nó mới sanh ra dục ái, hữu ái và phi hữu ái.

Cho nên:

Khát ái này, Đức Phật gọi là thân tập khởi.

Bởi vì nó kết hợp lại thì nó phải có khát ái. Bởi vì Ngũ Uẩn nó kết hợp lại nó mới thành ra cái thân của chúng ta gọi là tự thân, mà khi nó kết hợp lại thì nó phải có cái khát ái trong đó.

Đó chúng ta phải thấy được cái chỗ mà do cái nguyên nhân nào mà chúng ta bây giờ không rời được mà có tham, có sân, có si, có thích thú cái này cái kia đó, là do cái chỗ tập khởi của cái thân, mà tập khởi của cái thân thì cái tên nó gọi là khát ái.

Còn hồi nãy thì năm cái thủ uẩn nó hợp lại, nó duyên hợp lại mà chúng ta gọi là tự thân. Còn bây giờ nó tập khởi thêm thì nó gọi là nó có dục ái, hữu ái, phi hữu ái đó, thì nó gọi là tập khởi của thân. Cho nên:

Khát ái này được Thế Tôn gọi là thân tập khởi.

3.4- TỰ THÂN DIỆT LÀ SỰ ĐOẠN DIỆT CỦA BA LOẠI KHÁT ÁI

(01:37:02) Đó thì ông Visakha ổng nghe nói vậy: À bà nói cũng có lý đó, đúng! Hay á! Bà thông rồi, tui chấp nhận bà nói cái này là được, là hay rồi. Bây giờ tui xin hỏi thêm bà một câu nữa:

– Thưa Ni Sư! Thế nào là thân diệt?

Cái thân mà – ổng hỏi cái kiểu này thiệt là – từ cái Tập rồi bây giờ tới ông hỏi Diệt đó.

Thì các thầy thấy, từ khi mà hỏi cái thân tập, hỏi cái bản ngã, thì bản ngã là do năm cái duyên Ngũ Uẩn mà hợp lại, bây giờ ông mới hỏi nó tập khởi, cái thân tập khởi này – nó cái kia nó duyên hợp, còn cái này nó tập khởi, nó thành ra ba cái thứ dục: dục ái, hữu ái và phi hữu ái.

Đó là nó tập khởi để rồi thành ba cái dục đó, mà trong cái cuộc đời chúng ta không có người nào mà chạy ra khỏi ba cái dục này hết, ba cái thứ ái này hết.

Cho nên chúng ta phải thấy được cái chỗ này rồi thì chúng ta mới tiếp tới cái chỗ – ở đây là nó tập khởi, mà bây giờ đến cái giai đoạn này thì ông hỏi cái tự thân này nó diệt là nó diệt cái tập khởi đó như thế nào? Nó làm cho mình giải thoát đó!

– Thưa Ni Sư! Thế nào là thân diệt? Và Đức Thế Tôn gọi thân diệt là như thế nào?

Đó. Muốn mà diệt cái tập khởi làm cho nó dứt ba cái dục ái nè, rồi hữu ái, phi hữu ái nè, làm cho nó dứt cái ái đi, thì nó gọi là đoạn diệt chớ gì? Thì đó là ông Visakha hỏi bà ni sư Dhammadinna. Vì vậy đó mà bây giờ thì bà trả lời:

– Này Hiền giả Visakha! Sự đoạn diệt, không tham đắm, không có dư tàn của khát ái ấy, sự xả ly, sự vất bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp. Này hiền giả Visakha! Sự đoạn diệt này Thế Tôn gọi là tự thân đoạn diệt.

Đây bà dùng một cái lố để mà chúng ta thấy. Bây giờ đó:

– Này Hiền giả Visakha! Sự đoạn diệt…​

(01:39:05) Sự đoạn diệt nó như thế nào? Là không tham đắm.

Bây giờ chúng ta thấy chúng ta muốn ăn cái đó, thì chúng ta biết cái tâm tham của mình chớ gì? Phải không? Do biết nó tâm tham thì chúng ta đừng có cho nó tham, mình đoạn dứt nó đi: “Tham là khổ đó! Không được, đừng có tham ăn!” Do đó chúng ta dứt.

Chưa tới giờ cơm mình đói bụng muốn ăn rồi thì đó là tham ăn chớ gì? Cho nên đó là mình cũng chấm dứt: “Đúng giờ ăn cơm chớ không đúng giờ mà đòi đòi, cái bụng này tao khoét ra, tao mổ tao quăng ra hết chớ ở đó mà sôi ruột ở trỏng!” Thì mình ám thị mình hướng vậy, nó hoảng hồn đi, cho nên nó đâu có sôi ruột nữa.

Bây giờ nó đói rồi bắt đầu bọt bèo ở trong đó nó sôi rột, rột, rột, nó đói bụng nó muốn ăn rồi, thì bắt đầu mình phải thấy đây là cái tâm tham nó thể hiện qua cái thân đây. Bởi vì nó tập khởi với nhau mà, nó kết hợp với nhau đó.

Bây giờ cái tâm thì nó muốn ăn, thì cái bụng nó sôi lên rột rột ở trong đó thì chắc là: “Mày muốn dữ rồi hả? Tao rút dao tao rọc ra cho coi mày có cái chỗ nào mày tham!” Thì vì vậy là mình dứt tham chớ gì? Cho nên cái tâm nó hết thèm.

Chớ còn không nó rột rột một hơi cái nó muốn ăn, ra ngoài đó nó thấy cái cục kẹo hay trái ổi thì: “Nuốt đại cho lẹ chớ để không đói quá!” Phải không? Từ đó cái bắt đầu mình tham thật, mình ăn cắp rồi, phải không? Thành ra ăn trộm. Đó, tức là cái xấu từ cái chỗ tham đắm đó nó đi đến cái chỗ không hay.

Cho nên ở đây chúng ta phải ngăn chừa nó liền tức khắc. Cho nên bà Visakha dạy: Đoạn diệt đó thì không có được tham đắm.

Hễ nó hở ra ra chút nào mà nó làm cái chuyện gì, thân nó kết hợp nó làm sao mà mình nghe khó chịu, nhức đầu, nó làm cho mình nặng đầu: “Đói bụng quá! Trời ơi! Chóng mặt quá, bây giờ đứng lên không thấy đường. Như vậy là mình phải kiếm nước cơm hay hoặc là cái bánh cái trái gì nuốt cho nó đỡ chóng mặt, lát ra ăn cơm chớ không khéo làm sao ăn cơm được?”

Do nó lý luận cái kiểu đó đó, thì tức là mình có cái mình đoạn cái lòng tham này đi, thì mình nói: “Chết bỏ nhất định tới giờ tao lê mặt ra đó tao ăn cơm, hay kéo chân tao ra đó ăn cơm, chớ bây giờ mày chết tao nằm đây cho mày chết chớ đừng có nói chuyện mày đòi ăn!”

Thì một chút nó tỉnh bơ à, nó không có đói, nó đói giả mà! Đó là tưởng nó làm vậy chớ không phải đâu. Tưởng nó câu hữu nó làm cho chúng ta tham đắm đó. Cho nên chúng ta biết là chúng ta hàng phục ngay liền, dứt liền.

Cho nên Phật dạy: Những gì dứt bỏ cần dứt bỏ mà. Chúng ta thấy cái tâm tham của mình là biết mình tham rồi, thì dứt bỏ ngay liền, không được để cho nó kéo dài. Chết bỏ chớ người tu hành mà sợ chết sao mà…​ Nếu mà sợ chết thì thôi đừng đi tu! Đã không sợ chết mới đi tu chớ, để làm chủ sanh tử mà!

Mà bà Dhammadinna bà còn bảo: “Không có dư tàn” – nghĩa là mình dứt bỏ nó rồi, dứt bỏ cái tâm tham rồi mà để nó cứ – nó còn sôi lục bục ở trong đó, nó cứ nhắc mình hoài đó, coi chừng cái dư tàn đó mà một lát mình phạm á.

Cho nên phải dứt đi, mình phải tìm mọi cách mà để cho quên cái sôi lụp bụp ở trong bụng mình, nó cồn cào ở trong đó nó muốn đòi ăn đó thì mình phải làm sao dứt. Lúc bấy giờ chúng ta phải dùng cái pháp nào mà chúng ta để dứt.

Đó là những cái pháp hành mà chúng ta để phá cái tâm tham của chúng ta đó. Nó phải có chớ không phải là chúng ta dứt là chúng ta nói bảo như vậy là nó dứt đâu, chúng ta phải duyên cái tâm của mình đi vào cái chỗ nào thì cái bụng nó mới hết sôi, nó mới hết làm khó chịu mình. Đó là cách thức mà chúng ta xả ly.

Đó thì:

Không có dư tàn của khát ái ấy,

Nghĩa là đừng có để cho cái tâm tham muốn của cái khát ái đó nó nằm ở cái chỗ đó mà nó duy trì hoài hoài đó. mình phải dứt cho không có cái tàn tích gì ở trong đó thì mới là giải thoát.

Sự xả ly, sự dứt bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp.

Đó là những cái mà bà thêm cho chúng ta thấy cái sự mạnh mẽ để chúng ta dùng những cái pháp hướng qua những cái danh từ này để chứng ta dứt, đoạn dứt, lấy tinh thần chúng ta quét sạch, trong khi đó chúng ta giữ cho đúng cơm Ngọ mà không có ăn bậy bạ.

Thế Tôn gọi là tự thân đoạn diệt.

Tức là tự cái thân của mình mình phải làm cái đó chớ không ai làm cho mình được hết. Đó.

3.5- CON ĐƯỜNG TỰ THÂN DIỆT LÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

(01:42:46) Bây giờ ông lại hỏi cái nữa.

– Thưa Ni Sư! Tự thân diệt đạo như thế nào?

Đó bây giờ ông đã hỏi bà hồi nãy đó, thì cái câu hỏi trên thì quý thầy thấy:

– Thưa Ni Sư! Thế nào là tự thân diệt?

Chớ đâu có hỏi đạo, phải không? Còn bây giờ đó là ông hỏi tới nữa. Hồi nãy là tự mình đoạn diệt đó, là tự của mình, mình thấy cái điều đó là cái tham, mình biết nó tham rồi mình phải dứt trừ liền, mà nó không có cái đường lối tu tập, phải không?

Mình phải dứt trừ, rồi mình dùng những cái pháp để cho mình quên cái tâm mình đi ngay ở chỗ đó đi chớ để nó cứ sôi lụp bụp hoài thì không được. Cho nên bắt đầu mình đi làm cái gì một hơi cái nó quên đói à. Có không? Quý thầy cứ ngồi đó mà nhớ đói thì nó sôi ruột dữ lắm, nhưng mà đi ra nhổ cỏ hay cuốc đất một hơi cái sau nó quên mất.

Đó Thầy nói cái đó là cách thức để cho mình đừng có dư tàn cái chuyện đó. Một người mà có tu mới thấy được cái kinh nghiệm này. Bởi vì đây chưa có pháp tu, cho nên do đó đó mà nếu mà chúng ta không sử dụng cái đó thì chúng ta không thể nào mà khác hơn được.

Cho nên một người, người ta làm việc người ta quên đói là cái chỗ đó, là mê mà đâu có đói được. Còn mình ngồi không nó hay đói lắm. Thử hỏi mấy người ngồi không là hay đói lắm, mà cái người làm ít có đói, nó ít có thấy đói. Đó, là cái chỗ đó!

Do vì vậy đó, bây giờ mà cái ông Visakha đó ổng lại hỏi:

– Tự thân diệt đạo như thế nào? Và Đức Thế Tôn gọi tự thân diệt đạo như thế nào?

Ông hỏi bà rồi ông hỏi Đức Thế Tôn gọi như vậy có đúng không, hai người có nói đúng không? Chớ ông không có hỏi riêng một mình bà không đâu, mà ổng còn thêm cái Đức Thế Tôn gọi tự thân diệt đạo như thế nào, và coi bà dùng cái đạo nào bà diệt được cái thân tham khát ái đó, mà Đức Thế Tôn lại dùng cái đạo nào mà để diệt cái đó.

Còn bây giờ cái trên thì bà nói chung rồi. Tui làm việc thì tui cũng quên đói cũng được rồi đâu có gì, cái chuyện đó là tự thân nó diệt được cái tham ái đó được rồi, thì bà nói thì tui cũng chấp nhận rồi, đâu có cái gì khác. Cho nên bây giờ tới cái giai đoạn này thì bà nói, thì Phật phải nói cho nó đúng nhau chớ còn nói trật tui không có chấp nhận.

(01:45:03) Ông căn vặn, ổng hỏi như vậy là ổng nêu lên hai câu hỏi, tui hỏi bà mà bà nói trúng Phật mà Phật nói trúng bà thì tui chấp nhận, mà bà nói sai Phật mà Phật nói không đúng bà thì tui không chấp nhận cái chỗ đạo diệt này đâu.

Cũng như thí dụ như ông Phật nói diệt cái này bằng cái con đường nào đó mà bà nói con đường khác thì tui không chấp nhận. Tui sẽ hỏi Phật lại và tui méc Phật, bà nói bậy là chết với tui! Đó.

Do cái chỗ mà thưa hỏi này thì vì vậy mà bà trả lời:

– Này Hiền giả Visakha! Con đường Thánh Đạo tám ngành Thế Tôn gọi là tự thân diệt đạo, tức là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.

Đó, thì bà trả lời cho ông thấy đó là Đức Phật dạy, và bà chấp nhận rằng con đường này chỉ là con đường mà có thể nói rằng nó là tự thân diệt đạo, chớ không còn cái con đường khác nào hơn hết. Bà cũng chỉ hiểu như vậy mà thôi chớ bà cũng không có hiểu khác được hết.

Nghĩa là hoàn toàn là chỉ có tám cái nẻo này là cái gọi là tự thân diệt đạo mà thôi chớ không có cái pháp nào khác. Ngoài cái pháp này thì không có pháp nào gọi là tự thân diệt đạo nữa. Nghĩa là không có cái pháp nào mà diệt cái khát ái đó, diệt ba cái dục đó được. Đó, cho nên ngoài cái tám đường này thì không có.

Sau này Thầy sẽ giảng lấy cái trục tám Chánh Đạo này nó sẽ làm một cái pháp chính mà tất cả mọi cái pháp mà của Phật đó – Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo đều quây ở trên cái trục chính này mà để thực hiện con đường tu, chớ không phải là ngoài tám nẻo này mà chúng ta tu những cái pháp khác đâu.

Cũng như nói Thất Giác Chi. Thất Giác Chi nó cũng phải nằm ở trên cái Bát Chánh Đạo – tám cái nẻo này mà nó tu chớ không phải ngoài cái tám nẻo này mà tu được. Đó thì quý thầy phải hiểu con đường mà tu tập như vậy nó mới đúng cái điều kiện tu tập.

Ở đây Thầy muốn thay đổi về cái phần giới một chút cho quý thầy thấy, nhắc – thay vì những cái bài này phải được áp dụng vào cái giới hành, nhưng mà vì cái giới hành nó đến đó nó còn nhiều cái bài giảng, nó quá nhiều đi, không thể nào mà nhắc những cái bài của vợ chồng ông Visakha này vào ở trong cái chỗ giới hành mà Thầy nhắc.

Bởi vì cái giới hành nó thuộc về hành động rồi. Còn ở đây chúng ta phải nên lên những cái lý thuyết của cái phần hai người này mà đối đáp nhau để chúng ta thấy làm sáng tỏ được con đường tu tập của chúng ta, trong những cái giới luật mà chúng ta học.

Đến đây Thầy xin chấm dứt vì sắp sửa đến giờ ăn cơm rồi./.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 42)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.