ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giáo án 29 – Ba loại xuất gia

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giáo án 29 – Ba loại xuất gia

A A A
Module cannot be rendered as the requested content is not (longer) accessible. Contact the administrator to get access.

GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 29

BA LOẠI XUẤT GIA

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 1997

Thời lượng: [01:21:31]

 

1- BA LOẠI XUẤT GIA

(00:00) Về tính chất xuất gia, Phật giáo chia làm ba loại:

Đó, bây giờ về cái – bởi vì Thầy dạy về giới bổn thì Thầy phải dạy cho quý thầy hiểu được từ cái đẳng cấp của cái lộ trình xuất gia nó có bao nhiêu cái đẳng cấp của nó, rồi bây giờ về cái tính chất xuất gia nó có phân chia làm mấy loại Thầy cũng dạy cho quý thầy hiểu, để không quý thầy chẳng hiểu xuất gia nó như thế nào, thế nào, quý thầy không hiểu đâu.

Mà hiểu như vậy để làm gì? Để chúng ta biết cái đúng, cái sai, để chúng ta nhìn cái số tu sĩ của chúng ta hiện giờ đang thực hiện họ có biết hay không, họ có làm đúng hay không.

Nếu mà chúng ta không hiểu cái này thì chúng ta phê phán họ một cách mù mờ, còn chúng ta hiểu rõ, chúng ta chỉ định rằng họ là những cái hạng người như thế nào, chúng ta thông suốt hết.

1.1- THÂN TÂM ĐỀU XUẤT GIA

(00:50) Một là:

1. Thân tâm đều xuất gia.

Đó, thì bây giờ cái tính chất xuất gia nó chia làm ba loại. Cái loại thứ nhất là thân, tâm xuất gia – thân cũng xuất gia mà tâm cũng xuất gia.

Đó, thì như vậy chúng ta phải thấy cái thân, tâm xuất gia là như thế nào? Đây Thầy giảng ra để cho thấy:

Thân trụ ở rừng, núi, hang, chòi lá, chùa, am, thất, cốc…​ đó là thân xuất gia.

Nghĩa là cái thân của mình ở cái chỗ mà nó không có giàu sang, nó xa lánh những cái cám dỗ của vật chất đó, thì cái đó gọi là thân xuất gia.

Trong tâm thì không còn luyến mộ khoái lạc ngũ dục thế tục: sắc, lợi, danh, thực, thùy.

Nghĩa là năm cái dục lạc nó cám dỗ người, mà trong tâm chúng ta mà không còn luyến mộ nó, không còn ham nó nữa, từ bỏ xa lìa những cái đó đó, danh lợi, dâm, ăn ít, ngủ ít, là tâm xuất gia.

Đó thì Thầy nói như vậy, rõ là cái thân của chúng ta xuất gia thế nào. Một cái thân xuất gia mà ở trong cái chùa to thử (hỏi) có xuất gia không? Nó đâu có đúng nghĩa rồi.

Cái thân mà chúng ta xuất gia thì nó phải nằm ở trong cái vị trí của cái nơi nào mà gọi là xuất gia, tức là nó phải có cái sự giải thoát ở trong đó chớ! Cái thân gì mà còn ở trong cái chỗ sang quá, cái thân gì mà còn nằm ở trên cái nệm mút một cọc vầy thì thử hỏi là xuất gia kiểu đó là xuất gia cái gì?

Cái đó là cái sai. Thân mà còn nằm ở trong cái nhà mà quạt máy rồi máy điều hòa không khí thì cái thân đó là cái thân thế gian chớ đâu phải là cái thân xuất gia!

Cái thân xuất gia nóng lạnh thì phải chịu, chớ không có thể mà làm cho nó thế này thế khác để chạy theo cái dục lạc của cái cảm giác mát hay ấm đó, thì cái đó là không phải là thân xuất gia.

(02:28) Còn cái thân mà ở trong lều, am, thất…​ nhỏ bé mà cái tâm cứ rong ruổi theo sắc dục, nhìn cô này, ngó cô kia, thèm ăn cái này, thèm khát cái kia, ham ngủ, sống độc cư không được, thì cái tâm đó là tâm chưa có xuất gia đâu, cái tâm đó là tâm còn thế dục đó, thì dù bây giờ có thọ 250 giới hay là 348 giới đi nữa thì chúng ta phải biết cái tính chất đó là cái tính chất chưa phải là xuất gia.

Vì vậy, thôi, biết cái tâm mình như vậy, thôi mình ra đời đi, đừng có mặc cái chiếc áo này mà làm xấu hổ Phật giáo đi, làm cho người ta cười chê Phật giáo đi!

Mình biết mình cái tâm xuất gia chưa có được, và cái thân của mình mà còn ở nhà cửa sang đẹp, giường chõng êm ấm, quần áo lụa là thì thôi thôi, cái thân đó thôi đi ra ngoài đời đi, đừng có ở trong cái chỗ mà xuất gia mà gọi mình thế này, thế khác thì không có được đâu!

Là làm cho người ta cười thêm chớ không…​ Người ta thấy như vậy người ta biết liền mình có xuất gia hay không, tâm xuất gia, thân xuất gia hay không đó, thì cái đó là cái sai đó.

Thân tâm nhất trí, an tâm vui đạo là thân tâm xuất gia.

Nghĩa là mình vui vẻ với cái tri túc thiểu dục của mình ba y một bát, thì đó gọi là thân tâm xuất gia, đó phải hiểu.

Đây là phép tắc xuất gia chân chính, cũng là bổn phận của người xuất gia.

Đó là cái thứ nhất, cái tính chất mà xuất gia của nó là cái thứ nhất. Chúng ta phải thấy cái bổn phận xuất gia của chúng ta.

Có nhiều người không có thấy bổn phận xuất gia của mình, xuất gia rồi mà ăn mặc lòe loẹt, xe cộ rườm rà, đi đâu cũng có tiền hô hậu ủng, người tới kẻ lui đủ thứ, rồi nhà cửa sang đẹp, thất của mình thì hơn là cái lầu đài của người khác thì cái đó là thôi thôi, không phải là cái thân xuất gia. Còn cái tâm mà ăn uống một ngày ba, bốn bữa thì thôi thôi, cái tâm đó cũng chưa phải xuất gia.

Thôi mấy cái người này đi ra đời đi, sống theo người thế tục đi cho rồi đi, rồi để cho Phật pháp cho những người mà người ta chân chánh thiểu dục tri túc, người ta biết được thân tâm xuất gia của người ta, cái bổn phận của người ta để người ta làm sáng tỏ lại Phật pháp.

Còn mình thấy mình đắm nhiễm như vậy thì thôi thôi, đừng có ở cái chỗ xuất gia này mà làm ô nhục cho cái pháp xuất gia của đạo Phật thì cái đó là cái đọa địa ngục chớ chưa phải! Hết phước rồi đây quý vị sẽ biết cái địa ngục của quý vị.

1.2- THÂN XUẤT GIA, TÂM KHÔNG XUẤT GIA

(04:45) 2. Thân xuất gia mà tâm chẳng xuất gia.

Đó bây giờ cái phần thứ hai thì chúng ta thấy cái người mà thân xuất gia mà cái tâm chẳng xuất gia, ở đây nó giải thích cho chúng ta thấy rõ.

Có người tuy cạo tóc, mặc Tăng phục, trụ tự viện, không lấy vợ, không lấy chồng, hoặc cũng giữ được thân thanh tịnh, thân thanh khiết song nội tâm của họ lại khao khát…​

Nghĩa là không lấy vợ lấy chồng mà khao khát chồng vợ, khao khát ăn uống như hồi nãy Thầy nói đó, thì cái người đó là cái tâm không xuất gia.

Mà cái thân của họ thì họ ráng họ giữ gìn cho nó được người ta thấy cái tướng của họ đó là tướng xuất gia đó, cũng ăn mặc rách rưới, cũng ba y một bát, cũng theo kiểu như mấy ông khất sĩ vậy đó, đó là thân xuất gia.

Còn cái tâm mấy ổng lung tung, cho nên mấy ổng chịu khổ không nổi đó, đó là cái tâm không xuất gia.

Do vì vậy đó hai cái này nó không hợp nhau được, cho nên nó làm cho mấy ổng điêu đứng lận, nó làm cho vị tu sĩ khổ sở lắm.

Nếu mà hai cái nó hợp lại, nó đúng cái xuất gia thì nó giải thoát, mà nó không hợp lại, hai cái này nó đi hai ngả đó, một ngả cái tâm thì nó chạy theo đời mà cái thân thì trói ép nó ở trong giới luật để cho nó tu, thì kiểu đó là hai cái đứa này nó đánh lộn với nhau ở trỏng.

(06:05) Bởi vì nó có cái mặt trận tư tưởng ở trong đó, cái thằng thân nó nói: “Tao làm như vậy thì tao mới xuất gia!” Còn cái thằng tâm nói: “Mày xuất gia kiểu đó chết tao không có thọ hưởng được!” Nó mặt trận tư tưởng nó đánh ở trỏng, tan nát ở trỏng.

Thì quý thầy thấy cái vấn đề đó là cái vấn đề hẳn nhiên là cái người tu sĩ chúng ta mà không có thực hiện mà thống nhất được, thân tâm mà không thống nhất được, thì nó là cái cuộc nội chiến rất mạnh trong đó đó, nó dằng dai lắm.

Thấy cái món đó muốn ăn, cái thằng thân nó nói: “Ăn không có được, tao là xuất gia!” Thằng tâm nó nói: “Mày xuất gia kiểu đó tao thèm!” Phải không? Thì như vậy là chết với nhau. Đó nó có cái cuộc đánh lộn với nhau trong đó, cho nên thân tâm nó đánh vã nhau dữ lắm.

Vì vậy mà khi tu hành chúng ta phải nhìn thấy được cái chỗ này. Bởi vì đó là tính chất xuất gia mà, xuất gia làm sao cho đúng chớ mà xuất gia không đúng cái cuộc nội chiến ở trỏng đó đánh, cho nên nó làm khổ chúng ta lắm.

…​ song nội tâm của họ lại khao khát tưởng nhớ đến ngũ dục. Họ vì sinh hoạt cho đến vì danh vọng và địa vị của xã hội mà xuất gia.

Nghĩa là cái tâm khao khát của họ, họ cũng thích làm ông này bà kia, cũng thích cấp bằng này cấp bằng kia, cũng thích muốn mình địa vị ở trong xã hội có người này kia, cho nên họ xuất gia là cái danh, vì vậy mà nó có cái cuộc nội chiến ở trong đó.

Cái thân của họ thì khép vô coi bộ khổ hạnh lắm, nhưng mà cái tâm của họ nó muốn làm ông này bà kia, thì nó đấu tranh với nhau dữ lắm.

Đó là những cái mà Thầy kể thêm ra để thấy cái cuộc nội chiến ở trong tâm của chúng ta của một người xuất gia không đúng cách.

Đối với phương thức sinh hoạt xuất gia họ không cảm thấy hứng thú, nhưng vì vấn đề sinh hoạt và sự bó buộc của quan hệ xã hội nên miễn cưỡng xuất gia.

Vì cái sự mà danh, sự mà quan hệ xã hội đó bắt buộc họ xuất gia miễn cưỡng như vậy, chớ họ không có thích.

Bây giờ thí dụ như bây giờ mình muốn làm cái ông đại diện của Phật giáo ở huyện này, mà nếu mà không xuất gia thì làm sao mà đại diện Phật giáo được?

Cho nên buộc vô phải làm cái ông lớn để mình coi tất cả các tu sĩ ở trong huyện này, thì do đó mình cũng là ngon lành, mình coi được một cái số tu sĩ ở trong huyện mà, do đó bây giờ phải xuất gia.

Xuất gia vô rồi bắt đầu đó mình chạy chọt như thế nào để làm được cái ông đại diện của Phật giáo của huyện. Do đó khi mà được làm đại diện rồi thì mình mới có cái quyền mà sai bảo mấy cái chùa khác được chớ, mấy ông thầy khác mới được chớ, kêu họ hội họp, bảo họ làm cái này làm cái kia chớ!

Đó là những cái quyền hạn của mình có quan hệ, vì vậy mình thích cái đó cho nên mình xuất gia, chớ sự thật không phải nhắm vào cái chỗ giải thoát xuất gia, mà đó là cái chỗ danh lợi của mình.

(08:38) Cho nên cái tâm của mấy ông này nó không có thanh tịnh đâu, nó lăng xăng dữ lắm.

Những hạng người này thật đáng thương xót. Họ không được cái thú vị của sinh hoạt thực tại tu hành, cũng không được sự lợi ích của Phật pháp.

Nghĩa là họ cũng chẳng được Phật pháp gì, họ mang cái hình thức tu sĩ đó chớ sự thật ra họ chạy theo những cái danh lợi của dục lạc thế gian.

Họ sẽ bị quả báo đời vị lai rất đáng sợ, do vì họ đối với tín ngưỡng Phật giáo có vấn đề.

Nghĩa là họ vô tín ngưỡng Phật giáo là họ đặt thành vấn đề rồi, vấn đề danh, lợi của họ đó, cho nên họ phải đọa địa ngục đó.

Mượn đạo tạo đời nên sinh hoạt xuất gia không được hoàn chỉnh và còn nhiều sự lầm lẫn.

Vì thế, đây là một loại người xuất gia xưa Đức Phật thường quở trách. Trong thời đại của chúng ta hạng tu sĩ này gần như là tám, chín chục phần trăm.

Đó Thầy xác định như vậy thì quý thầy cứ thấy rất là rõ ràng, cái hạng người này là cái hạng người rất nhiều ở trong cái giai cấp tu sĩ của Phật giáo bây giờ.

Xưa Đức Phật quở trách mấy ông này là gì? Trong thời Đức Phật không phải không có những cái loại tu sĩ này đâu, có chớ không phải không. Cho nên mới có một cái bài kinh mà Phật quở: “Mấy ông toàn là cư sĩ trọc!” Ông Phật ổng dùng cái danh từ là cư sĩ trọc, chớ không có thể nào mà nói tu sĩ được.

Đó thì Thầy nhắc lại để cho quý thầy thấy cái tính chất của cái giai đoạn thứ hai này là nó không đúng cái tính chất của người xuất gia đâu.

1.3- TÂM XUẤT GIA, THÂN KHÔNG XUẤT GIA

(10:14) Đây bây giờ đến cái giai đoạn của người – cái tính chất thứ ba. Bởi vì hồi nãy Thầy có giới thiệu đó, về tính chất xuất gia thì phân chia làm ba loại, bây giờ nó mới loại thứ hai, Thầy giải thích cho quý thầy nghe. Bây giờ tới loại thứ ba:

3. Tâm xuất gia mà thân chẳng xuất gia.

Đây là Bồ Tát chứng vị Thánh.

Đó bắt đầu đây mấy thầy thấy, Thầy mới đập cái chỗ này để cho Bồ Tát vị Thánh!

Tâm xuất gia mà thân thì chẳng xuất gia: Đây là Bồ Tát chứng Thánh vị. Các ngài không tham luyến ái của ngũ dục, vì hóa độ chúng sanh nên thường hóa hiện thân phận người tại gia có vợ có con, như các ngài Duy Ma Cật, ngài Hiền Hộ.

Các ngài tuy ở tại gia, có vợ có con nhưng tâm các ngài không nhiễm, không đắm, không tham, không dục, thanh tịnh, sáng suốt, không động.

Nhưng đây không phải là pháp tắc thông thường của xuất gia nên chẳng thể thành phương thức sinh hoạt của xuất gia.

Người cư sĩ họ đâu có thọ Sa Di Thập Giới như mình đâu, cho nên họ đâu có thành phép tắc xuất gia đâu, vì vậy mà mấy ông này đâu có thuộc về loại xuất gia!

Bởi vì họ có vợ con mà làm sao họ xuất gia? Họ là cư sĩ mà, họ còn ở lộ trình thứ nhất, cho nên họ chưa có thọ Thập Giới Sa Di, cho nên cái lộ trình thứ hai họ chưa có bước qua. Thế mà người ta gọi họ là những cái Bồ Tát chứng Thánh vị, thì quý vị nghĩ sao nè?

Họ có vợ có con, mà bây giờ họ không có – Thầy nói bây giờ đặt thành vấn đề nè, một người Thánh vị rồi thì cái tâm dục nó không còn có, mà tâm dục không có thì họ ở với vợ họ được không? Các thầy cứ nghĩ đi!

(12:10) Còn cái này ổng ở ổng có vợ có con, ổng đẻ con ra thì tức là ổng có dục rồi chớ gì? Các thầy thấy không? Ơi trời đất ơi, mấy ông cư sĩ này là Duy Ma Cật có vợ con nè, ông Hiền Hộ có vợ con nè!

Chớ phải nói ổng có vợ thôi, thì: “Thôi bây giờ mình kết nhau thôi, bây giờ tui không thể nào mà tui dục được hết, thì tui kết làm vợ chồng với bà vậy để cho tui thị hiện là tui Bồ Tát tui độ chúng sanh, tui dẫn dắt đi.”

Còn đằng này đẻ con ra, mà đẻ con ra thì không dục làm sao đẻ? Các thầy cứ nghĩ đi! Như vậy là mấy ông này là như thế nào, các thầy nghĩ sao? Họ đặt ra như vậy chớ có được không?

Đó, đó là những cái mà kinh Duy Ma Cật đã thấy được một cái vị gọi là thượng thủ mà tất cả các đại đệ tử của Đức Phật trong thời bấy giờ – ông Xá Lợi Phất cũng không dám đương đầu nữa.

Các thầy cứ đọc kinh Duy Ma Cật biết, thì các thầy thấy nó rất rõ phải không? Chỉ có ông Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát mới có thể đương đầu với ông ta, mới có thăm bệnh ông ta được, chớ còn không ai dám thăm bệnh ông ta được.

Thiệt là ba cái ông Đại Thừa này thiệt! Ổng đưa cái ông dâm dục như vậy vô đây mà gọi – mà dâm dục là con đường sanh tử, thế mà đem vô, gán vô trong đạo Phật gọi là thượng thủ thì Thầy thấy thiệt là quá tệ, không có chỗ nào mà nói được! Đặt kinh Duy Ma Cật ra để mà hạ cái Phật giáo xuống tận gốc đó, chớ không phải thường đâu.

Bày đặt ra cái pháp môn bất nhị – sáu mươi hai lập luận của ngoại đạo trong thời đó, cái pháp môn bất nhị vẫn có chớ không phải không. Thế mà bây giờ người ta lại lấy, nhẩm lên cái sáu mươi hai lập luận của ngoại đạo để mà thành lập cái bộ kinh Duy Ma Cật để mà phá Phật giáo tận cùng.

Coi như là các bậc đại đệ tử của Đức Phật là cái người trí tuệ đệ nhất là ông Xá Lợi Phất mà Đức Phật thường ca ngợi mà còn không dám đương đầu với ông Duy Ma Cật, thì đủ biết rằng họ ca ngợi cái ông cư sĩ mà còn dục, đẻ con, chứ chưa phải hết!

Đó ở trong này, trong kinh nói mà, ổng có vợ có con, chớ phải nói có vợ không thì Thầy cũng nghĩ à, ổng có vợ mà không có con đi, chắc là hai ông bà này chắc không có gần nhau. Còn cái này đẻ con ra làm sao – Thầy nói, trời đất ơi! Một cái người mà không có dục thì làm sao mà sanh ra được cái điều đó!

Thầy nói bây giờ cái người – các con thì chưa có chứng tới chỗ đó đâu, mà chứng tới chỗ đó các con biết. Cho nên Đức Phật nói là “Mã Âm Tàng” của Đức Phật như thế nào? Nó không dục nó phải rút lại, còn cái người còn dục thì nó đâu có rút lại!

Thầy nói thật đó các con, đừng có nghĩ cái chuyện đó, Thầy biết quá rõ mà, cái người còn dục thì nó đâu có phải cái chuyện đó. Cho nên ông A Nan ổng mới lật y cho người ta xem coi của ông Phật coi như thế nào, vì vậy mà ông Ca Diếp ổng bắt tội đó!

Đó thì tất cả những cái câu chuyện nó lặt vặt như vậy, nhưng mà chúng ta không nói ra thì chúng ta không hiểu được cái đạo Phật như thế nào, mà nó lầm lạc đủ cách mà người ta đặt như thế này thế khác.

Đọc kinh sách Đại Thừa ta rất ngạc nhiên khi thấy cư sĩ Duy Ma Cật và ngài Hiền Hộ, các ngài thể hiện là một cư sĩ tâm xuất gia mà thân không xuất gia.

Chỗ này rất đặc biệt của kinh Đại Thừa: Tâm thanh tịnh mà thân cứ hưởng dục lạc!

(15:27) Đó thì làm sao? Tâm mình thanh tịnh, cái tâm là cái chủ chốt, nó thanh tịnh rồi, thì cái thân nó làm sao nó dục được! Phải không, các con thấy!

Bây giờ Thầy nói về trong cái vấn đề ăn thôi, mà cái tâm của Thầy nó không có thèm ăn, nó thấy cái gì nó cũng không muốn ăn, thì bây giờ cái món ngon nào cái thân Thầy nó có thèm muốn ăn không? Phải không?

Do cái tâm nó thèm cái thân nó mới lấy nó ăn mới thích ngon, còn cái thân, cái tâm mà nó không thèm thì giờ có bỏ ngon nó cũng nuốt không ngon nữa, có phải không?

Cái người người ta thèm ăn thì thấy người ta ăn ngon thì ai thèm? Cái tâm chớ cái gì, chứ đâu phải cái thân! Cho nên khi đó cái món đồ mà nó thèm thì nó bỏ vô nó: “Trời! Ăn ngon quá!” Phải không?

Cũng như bây giờ chúng ta đói, thì cái thân nó đói thì cái tâm nó mới sanh ra nó thèm, phải không? Do đó nó mới có đòi hỏi.

Còn cái này, cái ông này cái tâm ông nó sạch hết rồi, mà cái thân ổng thì sống hưởng dục lạc. Bởi vì thân cư sĩ mà, không dục lạc mà rõ bằng chứng là có con, cho nên do đó chúng ta thấy cái dục lạc nó phải có.

Như vậy chúng ta có đáng tin không?

Nhìn thấy cái thân mà hưởng dục lạc như vậy chúng ta có đáng tin không? Cho nên cái kẽ hở của những người mà viết kinh này làm cho kẽ hở chúng ta thấy.

Bởi vì khi chúng ta tu chưa chứng thì chúng ta chưa hiểu đâu, nhưng mà khi chứng rồi chúng ta biết. Bởi vì cái ly dục, ly bất thiện pháp nó có cái lạc của cái ly dục, ly bất thiện pháp, nó đặc biệt lắm, nó làm chúng ta thấy được cái dục lạc của thế gian như thế nào rất rõ rồi, cho nên cái người mà nói sai là chúng ta biết.

Còn cái người mà chúng ta chưa nếm được cái mùi ly dục, chưa có nếm được cái hỷ lạc của ly dục, ly bất thiện pháp thì chúng ta chưa có rõ, cho nên nghe người ta nói sao mình tin vậy thôi chớ mình chưa biết.

Chớ khi ly nó rồi nó không còn có cái chuyện đó nữa đâu. Mà nó không còn chuyện đó thì có ông trời làm sao ép nó được?

Đó Thầy nói, đó là một cái phải suy ngẫm cho nó – hai cái lộ trình nó rất rõ ràng. Cái lộ trình người cư sĩ còn dục lạc nó khác cái lộ trình của người tu sĩ không còn dục lạc.

Mà đã – ở trong kinh đã nói rằng – Duy Ma Cật đã chứng Thánh vị, vì độ chúng sanh mới thể hiện cư sĩ. Thể hiện cư sĩ kiểu nào chứ thể hiện cư sĩ mà kiểu đẻ con thì chắc chắn là Thầy không tin rồi! Đó.

Hay đây là một loại kinh phá giới bằng một cái lập luận bất nhị để phá toàn triệt giới luật của đạo Phật?

Thầy đặt câu hỏi để cho quý thầy suy ngẫm coi có phải nó phá giới không? Bởi vì cái tâm nó thanh tịnh nó thành quả Phật rồi, mà cái thân nó, nó ở với vợ nó thì cái chuyện đó thì Thầy làm sao mà – không phải là những cái kinh này là kinh phá giới của Phật sao?

(18:00) Nó tự tại quá mà, nó vô ngại quá độ mà, cho nên nó xách rượu, xách cá nó đi tùm lum cũng được hết mà! Nó thể hiện như là Tế Điên Hòa thượng vậy đó mà! Thành ra làm sao mà chúng ta không nghi ngờ cái Phật giáo được?

Thân thì dâm dục với vợ mà tâm thì thanh tịnh như Thánh, ai mà có tin nổi!

Đó, thiệt đó, thì quý thầy có tin nổi không? Bây giờ quý vị nói, như Thầy bây giờ nè, Thầy nói Thầy tu như vậy, vậy, Thầy làm chủ sanh tử, mà Thầy kè thêm một bà vợ nữa thì quý vị có tin nổi không?

Phải không? Ít ra nó cũng phải ly cái gì mới có tin được chớ! Còn bây giờ đi song song hay là hai người ngồi ở trên Honda mà chở nhau, trời ơi! Ông thầy ổng làm chủ sanh tử cái kiểu này chắc ông ấy tử luôn ấy chớ!

Phải không? Đâu có cái chuyện đó được đâu! Thấy như vậy chúng ta đoán được chớ không phải là chúng ta là người không có trí. Bởi vậy Phật nói chỉ có con người có trí mới hiểu biết được cái điều này thôi, còn cái người không trí thì không có hiểu ra.

Còn chúng ta là con người là phải có trí chớ, thấy biết cái đúng cái sai chớ, đâu lý nào mà đụng đâu cũng tin hết! Mà kinh Duy Ma Cật biết là in biết bao nhiêu không? Thế mà người ta ngu, ngu đến cái mức độ…​

Nghe pháp môn bất nhị hay lắm, nhưng mà đó là 62 cái lập luận của tà giáo ngoại đạo trong thời Đức Phật chớ đâu phải hay ho gì. Nếu mà cứ đem ra thì chúng ta kê ra chúng ta thấy rất rõ chớ đâu phải là cái gì hay. Ngày xưa họ cũng có những cái triết lý của họ, họ cũng lập luận rất là tuyệt vời chớ đâu phải là đợi chúng ta bây giờ mới lập luận như vậy.

Xưa khi Đức Phật còn tại thế, có một vị Bà La Môn hỏi Phật:

– Bạch Thế Tôn! Khi một người chứng quả giải thoát còn sống trong dục lạc nữa hay không?

Đó, có người thắc mắc mà. Ông nói ông giải thoát rồi, vậy bây giờ ông sống trong dục lạc có được không, hay là không có còn sống được ở trong đó nữa? Đó thì cái Bà La Môn đó hỏi Phật như vậy.

Đức Phật dạy:

– Khi một người đã chứng quả giải thoát, tâm bất động trước các pháp, tức là tâm không còn bị tham dục tất cả các pháp, thì làm sao sống dục lạc thế gian được!

Đó Đức Phật xác định như vậy mà. Tâm mình nó hết dục rồi mà bây giờ mình làm sao mình dục được ở thế gian? Tâm bây giờ hết thích ăn rồi, mà bây giờ bảo thích ngon thì làm sao thích được?

Đó là những cái cụ thể và thực tế, rất là cụ thể rõ ràng. Chớ không như là cái kinh Duy Ma Cật nói cái kiểu đó thì như ở trên trời rớt xuống.

Đây là không biết là cái bậc nào đây, kỳ cục quá! Tâm thì giải thoát hoàn toàn không còn dục lạc, mà cái thân thì ngủ với vợ, thì thử hỏi là cái chuyện đó làm sao mà chúng ta tin nổi không? Đẻ con nữa chớ, không biết đẻ mấy con, chớ phải năm, bảy đứa thì chúng ta chắc còn hoảng hồn nữa!

Ví dụ: Một vị đã sống chứng ngộ được lý bất tịnh của các pháp thì làm sao còn thích ăn, thích dâm dục được? Mà tâm đã thanh tịnh, không mống khởi dâm dục thì làm sao có dâm dục được?

Thế mà các vị này có vợ, sanh con được, đây là lấy vải thưa che mắt Thánh! Kinh Đại Thừa như vậy, một người trí không thế nào tin nổi các loại kinh sách này, chỉ là người ngu mới tin mà thôi.

(21:20) Cho nên các loại kinh không thiết thực, cụ thể…​

Nghĩa là kinh mà dạy mà không thiết thực, cụ thể cho cái đời sống giải thoát của chúng ta như vậy, mơ hồ như vậy, thì chúng ta chẳng có nên tin, mà xem nó như là những cuốn sách tiểu thuyết đọc chơi cho vui vậy thôi, giải trí thôi chớ còn nó không phải là những cái pháp môn mà chúng ta tu đâu.

…​ chỉ có những người vô minh, ngu si không thấy, không hiểu mới tin mà thôi.

Xét cho cùng trong cái cuộc đời tu hành của chúng ta, về cái đời sau khi Đức Phật nhập diệt đó, thì kinh sách và luật người ta đã viết rất nhiều.

Và viết rất nhiều để làm gì? Để phá toàn bộ giới luật của đạo Phật. Để làm gì? Để cho người ta chạy theo những cái dục lạc thế gian mà không bị phạm phải cái lỗi.

Thì cái hình thức của kinh này nó cũng là vấn đề đó, để viện cớ cho những tu sĩ chúng ta lấy cái cớ của ông Duy Ma Cật đó mà chúng ta coi như là tổ chức phái tân tăng có một vợ, một con cũng đều là những vị tu sĩ được hết. Đó nó là cái hình thức mà chúng ta đã thấy người ta hô hào phái tân tăng thế này, thế khác đó.

Những hình ảnh của đạo Phật bây giờ, tu sĩ hầu hết là tâm xuất gia mà thân thì chẳng xuất gia.

Nghĩa là cái thân của họ bây giờ, họ sống họ không có xuất gia, mà cái tâm của họ thì họ nói họ thanh tịnh, họ xuất gia. Đó là cái phần mà chúng ta thấy cái hiện tướng của nó, nó rõ ràng như vậy.

Chớ không phải là cái tâm xuất gia thật của họ đâu, mà đây là cái tâm xuất gia giả của họ, cho nên cái thân của họ nó rong chơi, nó chạy theo dục lạc nó chơi, chơi tạm, chơi đỡ đó, chớ nó không có chơi thiệt đâu.

Nhưng mà để chừng nào cái tâm họ thanh tịnh thật thì nó mới lôi cái thân họ trở về được, còn bây giờ nó chưa thanh tịnh thật, thì nó để cái thân nó chạy rong ở ngoài đường chơi chút xíu thôi, quý thầy cũng đừng có lấy đó mà quở trách nó tội nghiệp!

Đó thì quý thầy thấy cái vấn đề mà chúng ta như vậy, thì chúng ta cũng không nên lấy đó mà chê cười họ, để chờ cho cái tâm họ thanh tịnh thì nó cũng lôi cái thân họ trở về được cái chánh pháp của đạo Phật.

Chớ mình cười chê họ nhiều quá rồi họ nhột rồi họ cũng không tu được rồi cũng thành tội họ, để cho họ tu được ngày nào, họ thắp hương Phật được ngày nào cũng là có cái lợi ích chớ không phải là không lợi ích.

Do những cái điều kiện mà họ tu tập như vậy đó thì họ phải có những cái sự lừa gạt của thế gian, lừa gạt những cái người khác.

Cho nên cái sự lừa gạt của họ thì bằng cách nào? Thì các thầy cũng sẽ thấy rằng, họ lừa gạt thì họ nói đó là những cái hành động của họ phải nhập vào thế gian mới độ chúng sanh được, làm những cái hành động đó mới độ được, chớ còn nếu mình không làm hành động đó làm sao độ được?

Cho nên thí dụ như ông Duy Ma Cật ổng có vợ con, thì coi như là: “Tui phải nhập thế gian, thân tui phải nhập thế gian chớ tâm tui là Thánh vị rồi. Do tui nhập thế gian tui mới biết cái ngũ dục lạc đó cỡ mức độ nào tui mới biết mấy ông, tui mới lôi mấy ông ra, chớ còn tui mà không có nhập vô đó thì làm sao tui biết cái khoái lạc nó như thế nào, rồi tui làm sao tui lôi mấy ông ra được?

Tui phải biết cái cấp độ khoái lạc đó là dục lạc nó như thế nào rồi, mà bây giờ tui Thánh vị thì tui đâu có biết được?

Cho nên bây giờ tui phải nhập xuống tui làm cư sĩ, để tui hiểu được cái đó rồi, tui biết cái cấp độ đó là cái cấp độ khổ hay là nó khoái lạc như thế nào, tôi mới lôi mấy ông ra: Bây giờ cái cấp độ giải thoát ly dục nó hơn cái đó nhiều, cho nên mấy ông phải bỏ cái khoái lạc của dục lạc đó đi mà theo tui đi!”

(24:44) Thì đó là cái lối lý luận của cái kiểu mà nhập thế gian để độ chúng sanh. Cũng như có người nói: “Tôi có vô lầu xanh, tôi làm lầu xanh thì tui mới độ mấy bà lầu xanh được!” Phải không?

Có nhiều người nói: “Tui uống rượu thì tui mới dẫn dắt mấy ông kia nó khỏi uống rượu. Tui có nhập vô tui mới làm bợm rượu với mấy ổng, tui mới nói chuyện mấy ổng nghe. Chớ còn nếu mà tui không có làm bợm rượu thì tui làm sao mà tui nói chuyện mấy ông đó nghe?”

Đó là những cái lý luận của những cái người nghiện rượu mà lại nói rằng mình độ chúng sanh đó!

(Mất tiếng) …​ pháp thế gian, nghĩa là luôn luôn lúc nào cũng phải nhập thế gian chớ, đâu có lý nào mà rời thế gian mà độ chúng sanh được? Cho nên Phật pháp thì bất ly thế gian. Họ nói vậy đó, thì quý thầy thấy cái kiểu họ nói đó là lấy cái màn thưa, cái vải thưa mà che mắt Thánh!

Khi chưa tu thành đạo, Đức Phật còn là một phàm phu thì có vợ, sanh con giống như mọi người khác.

Nghĩa là chúng ta thấy rất rõ mà. Khi Đức Phật mà chưa có tu hành thì ông có vợ nè, rồi ông sinh con nè, thì ông phải có dâm dục, phải không? Vậy mà dám nói là ông là Bồ Tát Phổ Minh ở đâu trên cung trời Đâu Suất, thì như vậy ông Bồ Tát rồi ông còn dâm dục nữa không mà ổng xuống ổng đẻ đứa con? Bằng chứng là có La Hầu La, có phải không?

Như vậy là người ta huyền thoại ông này một cách sai lệch, cho nên ông Duy Ma Cật cũng là Bồ Tát chớ gì, cho nên ổng cũng đẻ con được, và ông Phật cũng là Bồ Tát ở trên cõi trời Đâu Suất – tức là Bồ Tát Phổ Minh chớ gì, ổng lưu xuất, ổng đầu thai xuống, cho nên giờ ông cũng đẻ con được, thì như vậy là hai ông cũng giống nhau. Cho nên có ai dám nói ông Phật đâu, lấy ông Phật làm cái nề đó.

Nhưng mà không ngờ là ông Phật lúc bấy giờ ổng tu chưa có chứng, phải không? Ổng còn phàm phu, chớ lúc ổng chứng rồi ổng đâu có làm chuyện bậy bạ đó. Còn cái ông Duy Ma Cật ổng đã là người Thánh vị rồi, phải không? Đó, chúng ta thấy rõ ràng phải không?

Do vì vậy đó mà ở đây Thầy mới nêu cái hạnh của ông Phật để không khéo người ta cũng lấy – ông Phật cũng có vợ con thì ông Duy Ma Cật cũng có vợ con, thì tức là hai ông này cũng Thánh hết chớ gì? Tại sao mà Thầy lại chê ông Duy Ma Cật mà Thầy không nói ông Phật?

Thầy dám nói ông Phật luôn: Ông Phật tại vì lúc bấy giờ ổng tu chưa chứng! Sáu năm khổ hạnh dưới cội bồ đề mới chứng đạo, phải không?

Thì lúc bấy giờ đó, ổng mới bỏ vợ, bỏ con, ổng mới làm được chuyện đó, cho nên ông mới cắt được, ổng mới ly được dục, ly tất cả những ác pháp, cho nên ổng mới thành tựu được, mới là có cái đạo Phật. Chớ đâu phải ổng là Bồ Tát ổng ly được rồi sao?

(27:12) Cho nên vì vậy – mà ở đây ông Duy Ma Cật là những cái bậc Thánh, không có thể nào mà có những hàng đại đệ tử ly dục mà đến nói chuyện ổng được, mà trong lúc đó ổng còn dục!

Thì thử hỏi nếu mà bây giờ có một ông Xá Lợi Phất trong cái thời Đức Phật mà còn là phàm phu, thì ông Xá Lợi Phất có phải là thầy của ông Phật lúc bấy giờ không? Phải không?

Các thầy thấy: Ông Xá Lợi Phất hiện bây giờ tất cả những cái giáo lý gì của Phật đều là ổng thông suốt hết, mà nếu mà có một ông Xá Lợi Phất khi mà ông Phật chưa đi tu thì ông Xá Lợi Phất phải là thầy ông Phật.

Còn đằng này ông Phật phải tu chứng rồi mới độ ông Xá Lợi Phất. Thì cho nên ông Xá Lợi Phất chỉ đệ nhất về cái trí tuệ, về pháp, thì lúc bấy giờ Đức Phật chứng minh cho ông là đệ nhất trí tuệ, là vì ông Phật truyền dạy cái pháp cho ông Xá Lợi Phất tu giải thoát ly được dục, ly ác pháp, phải không?

Mà ông Phật thì phải sáu năm khổ hạnh, rồi thực hiện dưới cội bồ đề bốn mươi chín ngày mới ly tất cả các cái dục lạc thế gian được.

Và như vậy bây giờ các thầy có thấy khi mà ông Phật đã thực hiện được rồi, thì vợ ổng còn đó, con ổng còn đó, tại sao ổng không về ổng đẻ một đứa nữa? Phải không?

Nếu mà đẻ đứa nữa thì nói ông đó là Duy Ma Cật, Thầy đồng ý. Còn đằng này ông Phật không có làm cái chuyện đó nữa thì Thầy thấy: Đó! Người ta hết dục rồi thì người ta làm sao còn đẻ đứa con nữa? Thì đâu có La Hầu La thứ hai nữa được, phải không? Chỉ có một La Hầu La thôi chớ đâu có còn La Hầu La thứ hai nữa được!

Đó là cái bằng chứng hiển nhiên để chúng ta thấy rằng kinh Đại Thừa nó là một cái phá đạo Phật hết chỗ nói, không có thể nào mà chúng ta tin tưởng được nó hết.

Thầy nói là Thầy nói, dù là Thầy có đọa địa ngục cách gì Thầy vẫn nói, không sợ thằng nào hết!

Nghĩa là bây giờ Thầy làm chủ được cái sống chết của Thầy rồi, Thầy muốn chết hồi nào Thầy chết, thì bây giờ cái thân của Thầy bây giờ nó làm sao hành hạ Thầy được nữa? Cho nên Thầy có nói thì địa ngục cũng không tới với Thầy được, phải không?

Còn cái người nào mà chưa có làm chủ được mà nói bậy như vậy là coi chừng, cái thân nó nó nằm sình trương hết đó, đó là cái địa ngục thế gian cho mà biết!

Còn bây giờ đối với Thầy, Thầy đâu có ngán cái địa ngục nữa đâu? Thầy coi cái địa ngục cũng như là cái thiên đàng của Thầy rồi. Vậy cho nên Thầy đâu có sợ! Kinh nào nói bậy là Thầy đập đầu nó xuống hết, chớ mấy ông đừng có nói tổ mấy ông viết tầm bậy vô đây phá đạo Phật mà dễ với Thầy đâu!

Đó, hôm nay lời Thầy nói nó còn ở trong băng, nó không bao giờ mất đâu, Thầy không sợ đâu, ngàn đời nó cũng vẫn còn. Nếu mà các con mà giữ được một triệu năm nó vẫn còn tiếng nói của Thầy, mà giữ không được thì thời gian nó xóa mất thôi.

Thì cái đó là cái lời dạy đúng đắn của Thầy, Thầy không sợ ai hết.

Thế mà ở đây ông Duy Ma Cật, ông Hiền Hộ, lại là dâm dục với vợ, sanh con mà được gọi là Bồ Tát chứng Thánh vị! Bồ Tát này thuộc về loại Bồ Tát giả hiệu.

(30:00) Tất cả hàng đại đệ tử của Đức Phật trong thời bấy giờ đều sợ ông ta hết, không ai dám đến đương đầu với ông ta, chỉ có Đại Trí Văn Thù tưởng tượng của kinh Đại Thừa mới dám đương đầu với ông Duy Ma Cật.

Kẻ ngoại đạo dám cả gan viết kinh này hạ bệ Phật Giáo tận gốc. Nếu đời sau này không có người chứng nghiệm lời dạy của Đức Phật, thì ai là người mà dựng lại giáo lý và chấn hưng Đạo Phật?

Biết bao nhiêu kinh sách phá hoại Phật Pháp, che mờ. Do những loại kinh này, làm sao họ hiểu đâu là kinh của Phật thật, đâu là kinh giả của Phật?

Đó, những cái loại kinh này cũng đều là nói kinh Phật hết à, cũng do Phật thuyết hết à, do đó những cái kinh như vậy làm sao mà cái người đời sau, mà chúng ta làm sao hiểu đâu là kinh của Phật thật, mà kinh của Phật giả?

Đó thì chúng ta thấy những cái khó khăn cho cái cuộc đời tu hành của cái người sau này rất là khó, là những cái kinh mà phá giới, phá luật như vậy nó nhan nhản ở trong kinh sách rất nhiều.

Và những cái giới luật đặt ra để mà phá giới nữa, nó rất nhiều ở trong những cái kinh sách của Đạo Phật hiện giờ, thì làm sao người sau chúng ta biết ở đâu?

Nếu mà không có một người chứng nghiệm được con đường của Đạo Phật thì ai mà vạch cái lối này ra cho quý vị? Ai đã làm sao cho người sau này người ta thấy được?

Nếu mà không có người thực hiện được cái giải thoát đúng là như lời Phật đã dạy thì làm sao mà biết được cái tà, cái chánh của Đạo Phật ở trong cái số đống kinh như thế này? Một cái đống kinh như rừng, như núi vậy đó!

Cái tạng kinh của Đạo Phật bây giờ nó quá vĩ đại, có thể nói rằng nếu một người mà đọc nó – có thể nói rằng nghiên cứu mà cho kỹ – thì suốt cả đời của chúng ta cũng chưa đọc hết nó nữa, chơ chưa nói nữa.

Do vì vậy mà nó là một cái quá khó chớ không phải là cái dễ. Nếu một bậc mà không có thực hiện được cái đạo giải thoát mà chính của Đạo Phật rồi, không có giữ gìn giới luật của Phật nghiêm túc thì không thể nào mà đi đến cái chỗ giải thoát được.

Bởi vì ba cái luật, ba cái kinh này nó là kinh phá giới, làm sao cho cái người mà tu giữ gìn giới luật được? Hễ đụng tới đâu thì thấy cái đó nó cũng vậy, nó đâu có phạm đâu, do đó cái giới luật không thanh tịnh.

Mà giới luật không thanh tịnh thì làm sao ly dục, ly bất thiện pháp, mà đạt được cái thiền định của Đạo Phật? Mà không đạt được thiền định của Đạo Phật thì làm sao có một cái trí tuệ mà thấy kinh nào đúng, kinh nào sai?

Cho nên khi mà đạt được cái thiền định của Đạo Phật thì nó mới lưu xuất ra được cái trí tuệ. Từ cái trí tuệ đó nó mới phán đoán được cái sai, cái đúng ở trong kinh điển của Đạo Phật, mới vạch ra.

Mà cái hạng người đó thì đâu phải là dễ dàng ở trong một cái thời đại nào mà có thể lưu xuất cái hạng người đó, dễ lắm sao? Đâu phải tìm được những cái bậc đó đâu!

May ra mới có được một vị, hai vị Độc Giác nào đó mà người ta giữ gìn giới hạnh cho nghiêm túc, từng đó người ta mới thấy được cái sai của Đạo Phật bây giờ người ta mới vạch ra được, chớ còn không khéo thì ngàn đời chúng ta cũng mù mờ ở trong cái đống kinh này, biết cái nào đúng, cái nào sai?

Cho nên rất là khổ tâm đối với Phật pháp bây giờ, mà cái người đứng ra dựng không phải là một cái chuyện dễ.

(33:04) Họ hiểu biết Phật Giáo và cố ý phá hoại Phật Pháp.

Nghĩa là phải nói rằng cái người mà họ hiểu Phật Pháp, thì chắc chắn phải nói rằng, những cái người mà viết ra kinh này họ chưa hiểu Phật Pháp nữa.

Bởi vì họ chưa có thực hiện được cái giới hạnh nghiêm túc, cho nên họ chưa có hiểu được Phật Pháp. Do không hiểu đó thì – chớ không phải là họ cố ý phá Phật Pháp, mà vì không hiểu họ mới viết ra cái kiểu hiểu của họ, cho nên từ đó họ phá Phật Pháp mà họ không biết họ phá Phật Pháp.

Phải nói rằng các tổ của chúng ta do không hiểu Phật Pháp cho nên viết ra kinh để mà sống theo cái lợi dưỡng của dục lạc thế gian, làm giảm bớt cái giá trị của cái pháp ly dục, ly bất thiện pháp của Đạo Phật, để cho cái giới luật mới của họ nó nhẹ bớt cái chỗ đi, làm cho nó giảm cái sự ly bớt đi, để cho họ sống nó thoải mái một chút, để cho cái hình thức tu hành của họ nó dễ dãi hơn một chút.

Bởi vì họ không có cái giới hành, họ không biết cái giới hành, cho nên họ muốn cho đời sống họ được vững vàng ở trong cái chiếc áo tu sĩ, cho nên họ giảm bớt cái giới luật đi.

Mà càng giảm bớt cái giới luật thì họ chẳng bao giờ đạt được cái quả giải thoát của Đạo Phật. Từng đó họ mới nghĩ ra cái này cái khác họ viết ra, vô tình mà họ phá hoại Phật Pháp chớ không phải họ là người cố ý phá hoại Phật Pháp.

Đó là cái sự luận cứ vào cái sự hiểu biết của Thầy. Không ai mà có thể có cái ý đồ phá Phật Pháp, nhưng vì không hiểu rồi chúng ta phá Phật Pháp. Cũng như bây giờ quý thầy đang giảng thuyết, quý thầy đâu có hiểu là quý thầy đang phá Phật Pháp?

Đó bây giờ các giảng sư hiện bây giờ, họ đang ở trong các trường cao cấp hoặc là trong các trường cơ bản, họ đang giảng những cái bài pháp, kinh của Phật. Họ nghĩ rằng họ giảng cái đó là giảng đúng cái ý của Phật, nhưng họ đâu có hiểu rằng đó họ chưa có thực hiện tu tập giải thoát, cho nên những cái điều mà họ giảng ra đó là họ phỉ báng Phật Pháp!

Họ đâu có hiểu, bởi vì chính không hiểu đó họ mới giảng như vậy, chớ còn họ hiểu thì họ đâu có giảng như vậy! Vì vậy cho nên cái hành động sống của họ nó không nghiêm túc ở trong giới luật, và cái lời giảng của họ nó không đúng cái giáo lý của Đức Phật.

Cho nên họ vô tình chớ không phải họ hữu ý họ phá hoại Phật Pháp. Vì vậy họ cũng muốn xương minh, họ cũng muốn làm cho Phật Pháp sáng tỏ lên với cái sự hiểu biết của họ, nhưng lầm lạc, họ đã phá hủy Phật Pháp!

Chúng ta hiểu được như vậy, chúng ta mới thấy cái tội là cái tội do cái sự vô minh của cái người, chớ không phải là cái ý đồ của cái người đó, hay hoặc là họ là những tu sĩ của ngoại đạo đến đây để phá Phật Pháp. Họ không phải, họ là những tu sĩ Phật Giáo chớ không phải là tu sĩ ngoại đạo.

Họ muốn xương minh, họ muốn dựng lại Phật Pháp, nhưng vì không hiểu mà họ dựng sai, thành ra thay vì cất cái nhà của Phật Giáo ở trên cái đám đất nó khô ráo, nó không có sình lầy, trái lại họ đặt cái nền móng của Phật Giáo ở dưới cái đám sình lầy, cho nên cái nhà Phật Giáo nó không có vững vàng, nó sẽ sụp đổ một cái ngày nào họ không hay biết.

(36:12) Bởi vì cái thời đại con người nó càng có cái sự thông minh, và nó còn có cái sự phát triển về cái vấn đề cuộc sống của họ càng đi lên, mà họ thấy cái Đạo Phật mà như thế này thì một ngày nào đó không còn ai đến với Đạo Phật thì Đạo Phật sẽ bị diệt hoàn toàn, không còn có một cái hình ảnh nào là của một cái vị tu sĩ nữa.

Đời cha tui tu hành cũng đi tụng niệm, đời bây giờ tui chưa có thèm đi làm cái cái chuyện đó đâu, tui thà tui đi cấy, đi cày tui ăn còn sướng hơn!

Đó thì như vậy rõ ràng là vấn đề đó. Bây giờ tất cả những cái chuyện mà làm cái danh lợi của mấy ông bây giờ, ở trong bây giờ các chùa thì mấy ông còn làm cái chuyện đó, kiếm ăn đồ được, kinh doanh đồ được.

Nhưng mà sau này khoa học đến, những cái việc làm của người ta, người ta tạo ra cái thực phẩm người ta sống nó dễ dàng hơn, nó thoải mái hơn, hơn là mấy ông thầy chùa bây giờ kinh doanh, thì bắt đầu mấy ông thầy chùa đó: “Tui kinh doanh kiểu này cũng thua mấy thằng cha ở ngoài đó, nó làm khoa học nó còn ngon hơn mình!” Phải không?

Cho nên từ đó nó không ở trong chùa kinh doanh nữa, cho nên ai mà thèm vô chùa tu nữa? Rồi rốt cuộc cái chùa để chúng ta chơi: “Hồi đó, trời! Mấy cái chùa này nó làm vậy, vậy đó!” Người ta đến người ta thấy mấy cái chùa người ta chỉ: “Phật Giáo là vậy, vậy chớ không có gì hết!”

Đó thì càng lúc thì nó sẽ đi lên, thì con người nó sẽ đưa những cái tôn giáo mà sai lệch đó nó sẽ đi vào bóng tối hết, nó không còn có nữa. Nếu mà không có một cái sự dựng lại cho đúng đắn để xây dựng một cái đạo đức con người mà nhân quả như thế này thì chắc chắn là Phật Giáo sẽ đi vào bóng tối!

Trải qua hơn hai mươi thế kỷ, những loại kinh sách phát triển này đã làm thay đổi bộ mặt thật của Phật Giáo thành một bộ mặt Phật Giáo mới: “Tâm xuất gia mà thân chẳng xuất gia.”

Vì thế trong các chùa hiện giờ ngũ dục lạc đầy đủ còn hơn người thế tục, hưởng dục lạc bằng mồ hôi nước mắt của kẻ khác.

Đó thì bắt đầu quý thầy thấy: Hiện giờ cái chùa của Phật Giáo bây giờ rất là đầy đủ cũng như là những cái người nhà giàu vậy: Xe hơi có nè, cái gì cũng có. Tất cả những cái vật dụng của thế gian mà tiện nghi nhất thì trong chùa chúng ta đủ hết, tủ lạnh đồ, cái gì cũng có hết à. Tất cả những cái vật dụng mà của người thế gian như nào thì cái vật dụng ở trong chùa bây giờ cũng như thế nấy.

Họ sinh hoạt cái đời sống, họ ăn uống ngủ nghỉ cũng giống như cái đời sống của thế gian. Nó chỉ khác có một cái là họ tụng niệm, rồi họ đi giảng dạy về giáo pháp của kinh sách mà thôi.

Đó là chúng ta thấy trong những cái vấn đề đó nó cụ thể và rất là rõ ràng.

(39:00) Giảng đến đây thì Thầy còn nhớ lại một cái chỗ này nữa:

Giảng đến đây Thầy nhớ lại một bộ kinh tưởng của Đại Thừa rất lớn, đó là kinh Pháp Hoa, gọi tắt nó là kinh Pháp Hoa.

Mà cái tên của nó thì nó cũng có dài lắm, cho nên cái tên của nó gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.

Kinh này hiện Phật tử tại gia cũng như tu sĩ đều lấy đó làm kinh nhật tụng hàng ngày của mình.

Nghĩa là lấy đó mà làm cái sự nhật tụng tu tập của mình đó, cho nên nghe đến kinh này thì hầu hết là người nào – người cư sĩ họ cũng chổng khu chổng gọng mà tụng để may ra được cứu khổ hay hoặc là thế này thế khác. Rồi tu sĩ thì tụng kinh này thì nghe nó là tụng kinh nó mát mẻ lắm, nó sẽ thành Phật giải thoát sau này đó. Do đó thì ai cũng thích tụng nó hết.

Đọc phẩm Phổ Môn, Thầy rất là buồn cười.

Nghĩa là đọc ngay cái phẩm Phổ Môn là Thầy thấy là nó có cái gì đó nó làm cho nó sai lệch của Đạo Phật rồi.

Người viết kinh này chẳng hiểu Phật Giáo.

Nghĩa là cái người mà soạn ra cái bộ kinh này phải nói rằng họ không hiểu Phật Giáo. Vì như Thầy đã nói: Phật Giáo – cái giáo lý của Đạo Phật nó xây trên cái nền tảng của nhân quả, còn cái bộ kinh này nó lại là xây dựng ở trên cái phi nhân quả.

Tại sao là phi nhân quả? Vì ở trong cái bộ kinh Phổ Môn là nói rằng chúng ta mà có gặp tai nạn gì đó, hoặc là có gặp cái bị tù tội, hoặc là bị rắn độc, hoặc là bị thuốc độc gì đó thì cứ niệm bỉ Quan Âm lực – tức là niệm đức Quan Thế Âm – thì cái lực của Quan Thế Âm sẽ cứu khổ, cứu mình thoát khổ.

Như vậy là đặt thành một cái vấn đề, là bây giờ có một người ăn trộm ăn cắp đi, rồi nó cũng bị bắt ở tù đi, nó cũng – bao giờ thằng ăn trộm ăn cắp nó muốn ở tù đâu? Cho nên nó niệm Quan Thế Âm đi, thì Đức Phật Quan Thế Âm đó hộ trì cho nó thoát ra tù. Nó khoái quá, có ông này phù hộ mình ăn cắp cho dữ tợn nữa! Phải không?

Thì như vậy cái kinh này nó thuộc về loại cái kinh phi Phật Pháp, phi nhân quả rồi, phi cái đạo đức nhân quả rồi, làm sao gọi là kinh điển của Đạo Phật được? Nội trong cái phẩm Phổ Môn là chúng ta đã thấy nó không phải là kinh của Đạo Phật rồi.

Mà bây giờ có người luận là như thế này: Nếu mà chúng ta làm cái điều lành thì đức Bồ Tát Quan Âm mới phù hộ, mà làm cái điều ác thì đức Quan Âm đâu có phù hộ? Thì cái đó lại luận sai nữa rồi! Nếu mà kinh mà viết như vậy thì thôi nói nhân quả thì hơn, nói cái kinh này làm gì?

Thì bây giờ chúng ta làm lành thì chúng ta không ăn trộm ăn cắp thì ai bắt mình bỏ tù? Còn mình ăn trộm ăn cắp thì chúng bắt bỏ tù thì mới có cầu khẩn, chớ còn nếu mà không có làm cái chuyện ác thì làm sao có chuyện tội lỗi đó, có chuyện cái quả khổ đó mà cầu, phải không?

Nếu mà làm thiện hết thì có ai có khổ đâu, thì có còn cầu ai nữa đâu? Thì như vậy là kinh này chỉ là người lý luận thế này, người lý luận thế khác, cái miệng của họ thì lý luận như vậy, nhưng mà lý luận rốt cuộc rồi sai, vậy thì chúng ta đứng trên nhân quả là hơn!

(42:05) Nếu mà tâm chúng ta làm tốt thì cần gì phải cầu Quan Âm? Còn nếu mà chúng ta làm xấu thì chúng ta mới cầu Quan Âm chớ, mà Quan Âm phù hộ kiểu đó thì cái xã hội, hành tinh này nó ra sao? Có phải là rối trật tự không?

Cái thằng ăn trộm, ăn cắp, giết người này, cái thằng buôn thuốc phiện lậu mà nó đi qua mặt được hải quan thì cả một – bao nhiêu con người chúng ta ghiền thuốc phiện cũng riết cũng chết hết còn gì, phải không?

Vì vậy cái kinh này thiệt là kinh của Đại Thừa thiệt chớ không phải là kinh giả đâu. Chỉ có Đại Thừa mới dám làm chuyện này chớ!

Bởi vì Đại Thừa nó lớn cho nên nó mới dám làm cái chuyện như vậy, chớ còn nhỏ nhỏ nó đâu có dám làm chuyện đó. Nghĩa là cái người hung ác mà nó thả được, nó ban bố cho cái người đó được, thì như vậy nó như thế nào? Thì các thầy thấy quá rõ ràng à.

Mà cái kinh này là hầu hết là Phật tử chúng ta đều tin tưởng hết. Bây giờ kinh này nó bán thiếu gì! Nghĩa là muốn hồi nào cũng có hết. Bởi vì cái kinh rất là phổ thông, mà tưởng ra rất hay, nghĩa là Phật Tánh cũng tuyệt diệu.

Các thầy cứ nghe Người Cùng Tử coi, phải hay không? Mà nó ví dụ cái nhà lửa cũng tuyệt vời! Đó chỗ nào nó ví dụ những cái bài, cái phẩm kinh nào Thầy thấy nó cũng hay. Bởi vì nó thuộc kinh tưởng mà, nó tưởng ra nó rất tuyệt lắm, rất hay, làm cho ai cũng đọc cái kinh thấy tuyệt diệu.

Cho đến cái phẩm Phổ Môn thì các thầy thấy sao? Đâu đâu cái chùa nào cũng có thờ đức Quan Âm hết, để mà cho ngài ngự trị chỗ nào là phù hộ cho mình tai qua, nạn khỏi chớ gì! Đâu đâu cũng có.

Đó thì quý thầy thấy, tất cả những cái này nếu mà Thầy không vạch ra thì ai mà dám vạch? Thầy nói không có người nào mà dám vạch cái này hết, chỉ có Thầy cả gan dám vạch ra. Ai làm gì làm, Thầy chết ở trong Phật Pháp chớ Thầy không có chết mà để Phật Pháp suy đồi.

Nghĩa là Thầy đem cái thân mạng của Thầy mà chấn hưng lại Phật Pháp, Thầy thà chết ở trong giáo pháp của Phật, làm sao cho Phật Pháp phải đúng của nó chớ không thể mà đem những thứ cái thứ này, tạp nhạp này mà gọi là của Phật được!

Cho nên các thầy nghe, các tổ đều là nghe Đức Phật giảng ở trên núi Linh Thứu kinh Pháp Hoa chớ gì? Phải không? Các con nghe thử coi có không? Luôn luôn lúc nào mà các tổ cũng – người nào mà tu thiền khá khá được thì xuất hồn lên trên đó, trên trời Đâu Suất để mà nghe Đức Phật Thích Ca đang thuyết pháp kinh Pháp Hoa rền cũng như sấm vậy!

(44:17) Mà kinh Pháp Hoa là kinh vậy đó, kinh để độ người bằng cách như vậy đó thì chúng ta thấy đau lòng lắm! Nhìn Phật Pháp chúng ta thấy những cái chân pháp của Phật, cái thiện pháp của Phật, cái đạo đức nhân quả của đạo Phật nó dìm xuống tận dưới bùn rồi, nó không còn có cái gì mà có thể gọi là được hết. Cho nên rất là đau lòng!

Phật Pháp rất là vi diệu! Làm cho từ cái người cư sĩ cuộc sống rất là an hòa, rất là hạnh phúc, giải thoát rất thực tế. Bởi vì cái hành động thiện của họ là họ đem đến cái hạnh phúc của họ.

Bởi vì nhân quả mà, cái luật nhân quả nó công bằng vô cùng, không có một đấng tạo hóa nào mà có thể ban phước cho chúng ta được, mà cũng không ai làm một con quỷ, con ma gì mà làm hại chúng ta được hết, không có giết chúng ta được hết.

Nhân quả là cái luật công bằng nhất của con người. Từ cái nhân quả chúng ta sanh ra rồi chúng ta cũng trở về nhân quả thì có ai hơn là cái nhân quả? Do đó đạo Phật dạy chúng ta chấm dứt nhân quả là chấm dứt sanh tử luân hồi, chớ đâu phải là cái gì khác hơn hết!

Thế mà người ta không hiểu được nhân quả, người ta lập luận theo cái kiểu đó thì thử hỏi có phải là đưa đạo Phật đi vào mê tín không? Cầu khẩn – làm ác mà cầu khẩn thì cái kẻ mà làm ác nó lại càng bành trướng rộng ra, càng đông ra nữa, thì cái xã hội này còn cái gì?

Có ai mà muốn sung sướng được mà – có ai mà muốn ngồi không mà hưởng? Ai cũng muốn ngồi không hưởng hết! Vì vậy mới chà đạp lên nhau.

Chớ còn ai cũng thấy bổn phận mình phải làm những cái hành động tốt thì mình phải thọ hưởng, còn mình không làm thì mình không thọ hưởng, đằng này mình tu hành mình cũng muốn ngồi ở trên mồ hôi nước mắt của người ta mình ăn thì như vậy mình tu cái gì? Mình phải hiểu được cái chỗ tu hành của mình chớ?

Nói cho hết cùng, để rồi chúng ta thấy cái giáo án nó thành lập cho đúng cái người xuất gia.

Tâm xuất gia mà thân chẳng xuất gia.

Đó, thì quý thầy thấy rằng cái tâm xuất gia mà cái thân chẳng xuất gia là cái thân mà chúng ta đang ở trong cái hình ảnh của ông Duy Ma Cật, là cái tâm mà chúng ta giải thoát mà cái thân chúng ta chẳng xuất gia đó, thì nó đúng hay là sai?

Nghĩa là chúng ta phải chọn lấy thân, tâm phải xuất gia chớ còn nói một cái chỗ nào thì cũng không được hết. Nghĩa là nói thân xuất gia mà tâm không xuất gia thì không đúng, tà nói tâm xuất gia mà thân không xuất gia thì cũng không đúng.

Nghĩa là ba cái điều mà Thầy đã nêu lên đó thì chỉ có điều thứ nhất là đúng thôi, còn hai điều thứ hai đều là sai hết. Người nào mà đi vào cái quỹ đạo đó đều là trật hết, không có đúng cái người xuất gia.

Đến đây Thầy xin chấm dứt, rồi ngày mai chúng ta sẽ tiếp tục nữa.

2- GƯƠNG HẠNH TU TẬP THỜI ĐỨC PHẬT – PHẦN 6

[Phần 5 ở Giáo án 22]

(46:49) Bây giờ bắt đầu cái giáo án mà chúng ta học đó, thì Thầy xin nêu lên những cái gương hạnh để cho nó làm sáng tỏ cái giáo án của chúng ta.

Hồi hôm qua thì chúng ta có đập phá những cái sai của các tổ, của các kinh sách, cho nên bây giờ chúng ta phải thuật lại những cái gương hạnh của các bậc Thánh Tăng người ta tu cái nào đúng mà tu cái nào sai.

Cho nên ở đây hôm nay Thầy nêu lên hai cái vị – những cái bậc Thánh Tăng ở bên nữ, do để chúng ta biết rằng: Cái thứ nhất là để chỉnh đốn lại cái pháp hành của chúng ta.

Cách thức mà Thầy dạy quý thầy là tu tập cái định Vô Lậu. Nhiều khi quý thầy chỉ đặt nó đơn giản một cái câu trạch pháp ra như thế này: “Thân thì vô thường, khổ, vô ngã…​” rồi cứ ngồi đó mà cứ đọc nhẩm cái đó thì nó không đúng đâu.

Thì các thầy sẽ thấy một cái vị Thánh Ni mà người ta đã đặt ra một cái pháp trạch mà người ta quán từ cái tóc tai của người ta cho đến khi mà người ta toàn triệt được cái lý vô thường, cái lý khổ của nó, người ta phá được những cái vô lậu của cái tâm người ta, người ta diệt sạch ba cái Ngũ Triền Cái, cho nên người ta chứng quả A La Hán liền.

Đó là những cái gương hạnh mà người ta rất là tỉ mỉ đi từng chút để người ta đi vào. Qua những cái bài kệ của cái vị Thánh Ni này đã để lại cho chúng ta biết là cách thức mà hành trì của các cái pháp hành nó như thế nào đúng.

Cho nên ở đây có nhiều cái gương hạnh mà chúng ta không có nêu ra được rồi chúng ta không có biết cách hành, chớ còn nếu mà thật sự mà Thầy đem những cái gương hạnh này ra thì Thầy chắc chắn là quý thầy sẽ trạch pháp rất là kỹ khi mà chúng ta quán vô thường, quán cái thân của chúng ta như thế nào, rồi chúng ta biết từng chút, từng chút.

NGÀI AMBAPÀLI QUÁN THÂN VÔ THƯỜNG GIÀ XẤU

(48:34) Đây Thầy sẽ đọc lại một cái gương hạnh của bà Ambapàli.

Bà Ambapàli.

Bà tên như vậy.

Khi còn là thiếu nữ thì bà rất là đẹp, cho nên những vương tôn, công tử thường cạnh tranh để chiếm bà.

Vì vậy đó bà – khi mà bà còn trẻ bà rất đẹp cho nên mọi người tranh với nhau để mà chiếm cho được bà. Bà là một người rất giàu trong cái thời của Đức Phật, cho nên bà cất một cái ngôi tịnh xá trong cái khu vườn của nhà bà đó, rồi bà dâng cúng lên Đức Phật và chúng tăng.

Lúc bấy giờ đó thì bà có một đứa con trai đã được đi theo – đã xuất gia theo đạo Phật tu hành, thì cái đứa con trai đó khi mà về thăm bà đó, thì nó thuyết pháp cho bà nghe.

Do nghe cái bài pháp cái lý vô thường thì bà thấy bà rất hiểu. Bà rất hiểu từ cái tuổi trẻ của bà đó, bà thấy bà là một cái người rất đẹp, bà hãnh diện với cái sắc đẹp của bà, cho nên bà thấy những cái vương tôn, công tử mả đến cạnh tranh để chiếm đoạt bà, bà hãnh diện hơn ai hết.

Cho nên bà nghe cái bài thuyết giảng của đứa con bà về mà nói về cái lý vô thường thì bà thấy bà chứng nghiệm tới bây giờ tuổi già bà cũng thấy quá rõ trong cái lý vô thường đó.

Ngày xưa bà đẹp đẽ như thế nào, bây giờ thì nó ra như thế nào. Do qua những cái bài, cái lời giảng đó thì bà quán xét cái thân của bà. Và cuối cùng thì bà đã chứng đạo được quả A La Hán trong chiếc áo cư sĩ chớ chưa phải là tu sĩ đâu.

Người ta chỉ thấu được cái lý của vô thường là người ta đã chứng được đạo đó, mà chưa phải là xuất gia, mà khi nghe đứa con người ta thuyết giảng rồi người ta nhận ra được cái lý đó rồi, thì bắt dầu bà dùng cái pháp trạch, bà trạch ra một cái câu để rồi bà cứ quán từ đầu đến chân bà như thế nào. Đây quý Thầy sẽ nghe qua cái bài kệ coi bà quán như thế nào đây.

Đây là những cái gương hạnh mà chúng ta bắt chước để mà chúng ta tu tập cho đúng cách, để mà chúng ta được giải thoát chớ không phải là gì khác hơn hết.

Đây bà ví dụ, bà bắt đầu bà đặt cái niệm trước mặt bà, bà quán cái thân vô thường của bà đây:

Đen như sắc con ong,

Nghĩa là bà ví tóc của bà hồi mà còn thiếu nữ nó đen như là con ong, nó đen mượt, đen tốt lắm.

Tóc dài ta khéo uốn,

Tóc bà rất dài, bà uốn lên, coi như là trên cái đầu bà uốn là đẹp đẽ vô cùng lận chớ không phải ít.

Nay biến đổi vì già,

Như vải gai, vỏ cây,

(51:12) Đây các con thấy hai câu kệ này. Bây giờ nó già rồi, nhìn cái tóc của bà như là cái vải gai, vải thô, vải xấu đó, nó không còn cái đẹp đẽ gì như ngày xưa nữa, giống như cái vỏ cây mà phủ ở trên đầu bà vậy, cứng ngơ cứng ngắt nó không có mềm mại gì như hồi còn con gái, mà nó không có đen như là con ong nữa.

Đó. Tức là bà suy nghĩ mà, bà nghĩ hồi cái thời mà tuổi trẻ của bà tóc nó như thế nào, các con thấy, tức là người ta quán chớ gì!

Còn mình, mình quán cái gì: “Thân này vô thường, khổ, vô ngã!” Rồi cái ngồi một hơi cái rồi: “Thân vô thường, khổ, vô ngã!” Cứ nhiêu nhập đi nhập lại nó có nhằm nhò gì, có thấy được cái gì đâu?

Còn người ta phải suy nghĩ từng cái chút ở trong cái thân của người ta, người ta mới tìm được cái lý vô thường của nó chớ. Hồi đó sao nó đẹp đẽ, nó như vậy, còn bây giờ thì nó là như thế nào?

Rờ cái đầu tóc mình, cái cọng tóc hồi đó nó mềm, bây giờ thì nó cứng như cái dây gai gì ở trển á, mà nó bạc, nó có khúc đen, khúc bạc nó làm kỳ cục như là đồ bỏ vậy. Đó cho nên bà ví như vải gai, như vỏ cây.

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Bậc nói sự thật là Đức Phật đó. Tức là bà không có nói bậc Thế Tôn nhưng mà bậc nói sự thật. Ông Phật ổng nói là cái sự thật mà, bây giờ mình quán xét mình thấy rõ quá: Ông Phật ổng nói sự thật!

Cũng như bây giờ mình nói, Phật nói là: “Thân vô thường, khổ, vô ngã!” Thì mình biết như vậy, nhưng mà mình không quán biết như vậy thì mình làm sao mình biết đó là bậc nói sự thật, phải không?

Cho nên đó là cái bài kệ thứ nhất, bà bắt đầu bà quán cái mái tóc đẹp của bà đó. Cái mái tóc đẹp mà bà khen nó đen bóng như là – sắc như con ong mà, đẹp lắm!

Đây bà bắt đầu đây, cái mái tóc đó đâu phải là hôi như chuột xạ đâu, phải không? Nó thơm chớ! Cho nên như thế nào đây, bà mới quán:

Thơm như hộp ướp hương,

Nghĩa là cái mái tóc bà bị tối ngày xức dầu dừa, rồi ướp dầu thơm ở trển mà nó không thơm sao được!

Đầu ta đầy những hoa,

Thì lúc bấy giờ bà còn thiếu nữ thì chắc chắn là phải giắt bông, giắt hoa trên đó làm cho đẹp thêm cái mái tóc của mình chớ, để cho mấy chàng trai mới ngó chớ, chớ nếu mà làm xấu ai nhìn, ai ngó làm gì? Cho nên bà cũng là tay sửa soạn dữ lắm đó. Cho nên bà mới quán những gì quá cụ thể, rõ ràng.

Nay biến đổi vì già,

Hôi như lông con thỏ,

Đó người ta quán người ta nghĩ, bây giờ thật sự ra thì không có còn mà xức dầu thơm nữa thì ba bữa hay là một tuần lễ, Thầy nói, cái đầu tóc phụ nữ một tuần lễ đó chắc không ai dám lại gần đâu!

Bà ví dụ nó hôi như con thỏ chớ Thầy nói còn hôi hơn chuột cống ở dưới lỗ cống nữa chớ đừng nói. Vậy mà mấy ông thấy khoái lắm, hít thở tùm lum ở trển hết!

Đó, bà quán như vậy các thầy thấy có thấu không, có thấu cái lý vô thường không? Trước thì nó thơm tho, nó như là cái hộp ướp hương ở trong đó lận, phải không? Trên đầu thì hoa đồ giắt. Trời ơi nhìn đẹp biết bao nhiêu! Nhưng bây giờ nó hôi như cái lông con thỏ thì còn cái thứ gì nữa? Đâu có còn cái thứ gì nữa!

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

(54:07) Đó, lấy những kinh nghiệm này mà chúng ta tập từ từ, chúng ta tập quán, tập suy tư ra chớ!

Nhiều khi quý thầy lười biếng lắm không chịu có suy tư, nghe Phật nói vô thường, khổ, không, vô ngã thì cũng nhập đi nhập lại hoài, không có chịu quán sát. Bởi vì quán sát nó mới có những cái tri kiến, cái sự hiểu biết của chúng ta nó mới – cái tri kiến giải thoát nó mới ra.

Chớ còn mình lười biếng mình cứ nói “vô thường, khổ, vô ngã” rồi cái nằm đó chơi cho đã, một lát cũng nói “vô thường, khổ, vô ngã” thì ngàn đời nó cũng không vô thường, khổ, vô ngã nữa! Ai đụng tới cái mặt nó chầm dầm nó muốn đánh người ta, thì cái đó không phải là vô thường đâu.

Bây giờ bà mới quán tới cái gì nữa đây:

Như rừng khéo vun trồng,

Lược kim ta chói sáng,

Nghĩa là bà cắm lược nè, rồi kim, hoa đồ bà giắt trên đó, cũng như cái rừng mà người ta khéo trồng cây. Bà ví cái đầu bà, lúc bà sửa soạn bà cắm lược gài trâm giắt ở trên đó, thì giống như là cái người mà khéo trồng rừng. Nghĩa là cái khu rừng họ chắc khéo trồng cây cho nó đầy ở trên đó hết, thì bà cũng làm cái đầu bà cũng đầy ở trên đó vậy.

Đó, thì các thầy có đúng không? Đúng lắm chớ, bà nào mà không sửa soạn, không cài lược, không giắt kim, không giắt hoa ở trển, cho nên giống như là cái người trồng rừng ở trên đó.

Nay biến đổi vì già,

Tóc lơ thơ rơi rụng,

Trời ơi! Sói sọi hết rồi còn cái thứ gì! Còn có đẹp ở chỗ nào đâu nữa, còn giắt cái gì được nữa, nó thưa, ba cái cọng tóc mà thưa như vầy giắt nó tuột xuống hết còn cái gì đâu mà trồng rừng ở trển được nữa. Cho nên giờ còn đẹp đẽ gì nữa!

Đó, các con thấy không? Cái duy nhất mà để cho người ta ngó là cái gì? Cái đầu của phụ nữ, mà bà bây giờ bà quán như vậy. Thì cái phụ nữ họ hãnh diện cái đầu họ lắm, chớ không phải là không hãnh diện đâu.

Họ đẹp là họ hãnh diện cái gì? Cái nhất là cái đầu của họ. Cho nên vì vậy đó mà bà đem cái đầu bà quán trước, cái đó là bà hãnh diện nhứt đó. Bây giờ bà quán trước bà ném cái đầu bà xuống đi, phải không? Bà ném cho sạch cái đầu bà xuống rồi thì bà mới thấy được cái sự vô thường thật sự của nó.

Bà ví dụ:

Tóc lơ thơ rơi rụng,

Thiệt là, cái rừng cũng như là rừng nó cỗi hết rồi, cây người ta đốt sạch hết rồi, còn thứ gì!

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Rồi bây giờ bà tới đó rồi, bây giờ bà tới cái gì nữa đây? Bà quán tới nữa. Các thầy thấy: Đi tuần tự người ta quán chớ không phải là người ta quán cái ồ cái tới dưới chân liền.

Còn quý thầy quán một cái nó hết cả toàn thân, mà không thấy tóc tai của mình nay nó điểm hoa râm hết như muối tiêu ở trển hết mà không nghe người nào nói hết. Phải không?

Đầu mình hoa râm mà mình không quán cái hoa râm đó để mình thấy nó vô thường, mà mình cứ quán: “Cái thân này vô thường, khổ, vô ngã” rồi cái thôi. Cái đó là quá vắn tắt rồi, nó không có thấu suốt được cái lý vô ngã, còn quán như bà thiệt là thấu.

Bởi vậy Thầy đọc đến đây Thầy nói người xưa thiệt là có những cái kinh nghiệm tu, còn thời nay nghe đâu nhai đó. Nhai bã mía mà khi mà nhai nó không có nước mà cứ nhai, chớ phải có nước ngọt thì cũng ráng nhai cũng chúp chúp cũng đỡ! Người ta nuốt hết nước ngọt rồi mình cứ nhai hoài mà không chịu nhả ra bỏ.

(57:01) Mình ít ra mình phải nhai cái gì nó có cái chất gì chớ, còn cái này nhai mà nó không có chất mà cứ nhai thì cái đó là cái tệ quá tệ! Bởi vậy đừng có nhai lại những cái điều đó, mà hãy tìm ra cái gì mình nhai có những cái chất gì, vị gì thì mình nhai thêm, thì nó mới là cái lý vô thường nó mới đúng.

Bây giờ bà cũng tiếp tục ở trên cái đầu của bà nữa đây:

Trang điểm với bện tóc,

Đó, bây giờ bà trang điểm, tóc thì bà bện lên bện xuống, có người thắt đuôi sam, đuôi chuột, đuôi gì đủ thứ hết, thả lòng thòng, kéo lên kéo xuống, quấn ở trên đầu đủ loại ở trên đó.

Thầy thấy đủ thứ hết, người thì uốn phải không, người thì thắt đuôi chệt, đuôi sẩm gì đó, quấn qua quấn lại, người thì thả lòng thòng xuống, làm đủ kiểu. Đó, đó là những cái mà làm dáng làm đẹp, coi như là cái thân không có vô thường đó.

Sáng chói nữ trang vàng,

Nghĩa là dù là trang điểm cách nào, bện tóc cách nào thì cũng giắt những cái trang điểm, những cái vòng vàng ở trên đó để làm cho cái đầu của mình lại đẹp thêm nữa.

Tóc mềm mại êm dịu,

Lúc bấy giờ tóc nó mềm mại nó êm dịu, giắt cái gì nó cũng tốt hết.

Thơm ngát với mùi hương,

Nghĩa là cái lúc bấy giờ sửa soạn là nó thơm tho như vậy đó.

Nay biến đổi về già,

Rơi rụng, đầu sói trọc,

Hồi nãy nó còn lưa thưa, còn tới bây giờ nó sói trọc hết rồi, còn cái gì nữa mà đẹp đẽ! Đó người ta suy nghĩ: Bây giờ mặc dù là mình chưa có sói trọc, nhưng rồi đây nó sẽ rơi rụng hết nó sói trọc chớ không có nó còn ở trong đó cọng nào đâu!

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Đó, qua cái bài kệ đó các thầy thấy người ta quán từng chút, từng chút mà. Rồi bắt đầu đây cái đầu nó rụng hết rồi, không còn nữa, sói trọc rồi, bây giờ còn cái gì nói nữa? Cho nên bà đi tới cái gì đây:

Trước lông mày của ta,

Đó bà đi xuống cái lông mày rồi đó. Thấy chưa? Thấy người ta quán từ từ, người ta quán hết cái đầu của người ta rồi, bây giờ nó rơi rụng, nó sói trọc rồi, bắt đầu người ta mới tới cái lông mày.

Còn quý thầy làm nhanh quá, vô chặt rừng, phát vô đầu cái nhảy tới cuối rừng cái (xong) rồi! Thành ra cái sự quán như vậy nó không có thấu đâu, nó không có thấm cái lý, mà nó không có chứng được cái lý vô thường đâu.

Đi từ từ như bà đó, chúng ta đi từ từ, tới đâu chúng ta chặt cho nó sát đó hết, thì tức là cái lý nó sẽ thấm được.

Trước lông mày của ta,

Chói sáng khéo tô vẽ,

Trời! Bà này chắc vẽ vòng nguyệt dữ lắm à chớ không phải không đâu! Phải không? Bởi vì cái lông mày của bà, bà phải nhổ cho nó như thế nào chớ thiên nhiên tự nhiên thì nó cũng mọc tầm bậy chớ làm sao mà nó mọc ngay hàng được, cho nên bà phải nhổ, phải làm cho nó coi nó ngay hàng thẳng lối.

Rồi còn phải vẽ, cho nên nó làm chói sáng cái…​ Bà nói khéo tô vẽ nữa mà: “Chói sáng khéo tô vẽ.” Cái lông mày mình tự nhiên nó không có chói sáng bằng đâu, tô vẽ thêm, nó lợt lợt thì mình tô đậm lên.

Thì hầu hết là quý thầy thấy mấy bà chớ gì, rõ ràng là họ tô trên đó chớ gì, có nhiều khi họ còn cắm lông nheo giả cho nó dài ra, cho nó đẹp nữa chớ đừng nói! Phải không? Đó là những cái mà chúng ta không thấy nó vô thường, cho nên chúng ta chạy theo nó để làm cho nó đẹp.

Nay biến đổi về già,

Nhăn nheo, rơi suy sụp,

(01:00:09) Nghĩa là lông nheo nó cũng rụng xuống hết. Mà cái mắt như thế nào? Cái chỗ này, cái chân mày chỗ này bây giờ nó nhăn nhăn hai ba lằn rồi còn cái thứ gì nữa mà đẹp! Có vẽ gì đi nữa coi cũng không có ra gì hết. Đó bà nói :

Nhăn nheo, rơi suy sụp,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Đó thì chúng ta thấy bà lần lượt bà quán tới cái lông mày rồi đó. Rồi bây giờ lông mày hết rồi thì còn quán cái thứ gì nữa đây? Bà quán tới con mắt của bà, phải không?

Mắt ta xanh và dài,

Đẹp quá phải không? Như chúng ta thấy cái rặng núi mà nó nhô lên mà nó kéo dài, quá đẹp phải không?

Sáng đẹp như châu báu,

Nay biến đổi vì già,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Con mắt bây giờ nó sâu như hai cái hố à, bởi vì nó già quá nó lỏm ở trỏng, rồi hai cái mí mắt ở trên này nó nổi lên, bởi vì già nó nhăn nheo, rồi hai cái chân mày này nó nổi lên nó che cụp xuống, rồi con mắt nó sâu o ở trỏng, thì còn cái gì đâu cái vẻ đẹp đẽ nữa?

Đó, là cái quán của nó thấy cái sự vô thường từ cái lúc trẻ của mình nó đẹp, nó tròn trịa, mắt nó xanh dài ra nó đẹp, rồi bây giờ nó đâu có còn gì nữa, nó thụt vô trong đó rồi, nó lờ mờ rồi. Rồi ở ngoài cái chân mày của mình thì nó nhăn nheo, nó phủ xuống, nó làm coi cái vẻ như hai cái giếng ở trong đó, có cái gì còn đẹp nữa!

Đó là mình suy, mình quán, mình xét cái thân của mình, mình thấy nó thay đổi vậy thật là vô thường. Mà mỗi lần thay đổi như vậy đó thì mình xấu xí, mình có buồn không?

Buồn lắm chớ! Ai phụ nữ mà thấy mặt mình xấu mà mình không buồn! Cho nên nó cũng đau khổ. Cho nên Phật nói cái gì mà – các pháp mà vô thường đều là khổ, nó có sự thay đổi là nó làm khổ cho mình.

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Rồi bây giờ con mắt rồi thì bà quán tới cái gì nữa đây? Bà quán tới cái lỗ mũi:

Lỗ mũi mềm và thon,

Đây là lỗ mũi dọc dừa chớ không phải là lỗ mũi thường đâu, không phải lỗ mũi tẹt đâu, mà đây là dọc dừa, cho nên bà nói thon là Thầy hiểu biết là dọc dừa rồi. Mà mềm nữa chớ không phải cứng như cái vỏ cây đâu.

Sáng chói như trẻ măng –

Sáng chói như măng tre,

Nghĩa là bà ví cái mũi bà cũng như cái mụt măng mà nó rất đẹp, đó.

Nay biến đổi vì già,

Héo khô và tàn tạ,

Cái mũi bây giờ có khi mà nó sụp vô, nó méo, nó móm, nó không có tròn trịa như hồi – nó không thon như hồi trước nữa, mà nó cũng không mềm mại nữa, nó làm sao mà nó khó coi, nó khó coi vô cùng lận!

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Rồi, bắt đầu bây giờ bà đã quán được cái lỗ mũi bà rồi, bà thấy nó xấu quá rồi, không còn đẹp đẽ gì nữa hết. Bây giờ bà quán tới cái gì? Tới răng, phải không? Bà đi tuần tự từ ở trên tóc rồi xuống tới cái chân mày, rồi tới cái lỗ mũi, rồi bây giờ tới răng.

Như răng ta sáng chói,

Như búp nụ chuối hoa,

Nghĩa là mỗi cái răng của bà nó giống như là cái buồng chuối mà nó mới trổ ra đó, nó y như vậy, cho nên bà so sánh cái hàm răng của bà. Những cái răng của bà quá đẹp!

Nay biến đổi vì già,

Bẻ gãy vàng như lúa,

Nghĩa là bà thấy cái răng của bà bây giờ cái đưa tới, cái đưa lui như là cây lúa mà nó chín vàng người ta sắp đập rồi, đâu còn thứ gì nữa đâu gọi là đẹp đẽ nữa?

Cho nên nhìn mấy bà già mà bây giờ đừng có trồng răng xương thì chắc chắn là Thầy thấy, cái miệng của mấy bà đó thì thôi thấy mắt cũng không có còn cái đẹp đẽ gì hết.

Cái thì đưa tới bởi vì nó lung lơ rồi, nó đưa ra, cái thì đưa vô, còn cái thì gãy, cắm chỗ này rồi khoét chỗ kia, ăn uống thì mắp mắp vầy chớ có nuốt gì được, rất là đau khổ!

(01:03:48) Do vì vậy đó, cái sắc đẹp đó nó có thường đâu, ai chắc cũng có gãy răng hết chớ không ai không gãy răng, mà nhất là già thì còn gãy răng nhiều hơn hết.

Đó là bà quán tới cái bộ răng của bà, bà thấy thiệt là vô thường thiệt. Nếu mà thường thì bây giờ nó cũng phải như hồi trước chớ, sao lại bây giờ nó xẹo qua xẹo lại vậy, nó ngã tới ngã lui vậy? Như là một cái rừng cây mà bị bão vậy, coi sao cho được!

Như vậy thì chúng ta đã thấy được cái sự quán xét của bà, nó vô thường từng chút của cái cơ thể của bà, chớ không phải như chúng ta quán nhanh quá.

Rồi bây giờ tới cái răng rồi thì bà quán tới cái gì đây? Bà quán tới giọng nói của bà. Bởi vì phụ nữ mà có giọng nói thanh tao thì lên khán đài hoặc là lên chỗ nào để mà ca hát thì chắc chắn cất giọng ra thì bên nam chắc là khoái lắm rồi đó.

Cái giọng bà chắc cũng là ngon lắm cho nên bà mới quán cái giọng của bà đây, chớ còn ồ ề như ếch kêu ở dưới giếng thì chắc bà không nói đâu. Cái giọng của bà cũng thanh tao lắm, lên sáu câu vọng cổ là Thầy thấy cũng là ăn đứt đó! Cho nên bà mới đem ra bà quán đây:

Ngọt là giọng nói ta,

Nghĩa là giọng nói rất là – cái giọng nói chắc êm ái lắm, nghe thanh tao lắm cho nên bà nói nó ngọt, đó là cái ví dụ là cái giọng nói bà rất là thanh tao.

Ngọt là giọng nói ta,

Như chim cu hát rừng,

Bà ví nó như là tiếng hát của buổi sớm mà con chim cu hót ở trong rừng, nó thanh như vậy đó. Đó thì biết là cái giọng nói của bà là như thế nào rồi.

Nay biến đổi về già,

Tiếng bể la dứt đoạn,

Y như cái tiếng đồng la, mà đồng la bể chớ không phải là đồng la còn nguyên nữa. Đó, bà so sánh cái tiếng nói của bà hồi còn là thiếu nữ, nó thanh tao như tiếng chim cu hót, tiếng chim cu rừng hót, mà bây giờ bà nói ra cái tiếng nói của bà như là cái đồng la bể vậy.

Thì quý thầy còn thấy nó có thường không? Nó vô thường quá đỗi mà, nó đâu còn thanh tao nữa đâu! Kiểu này mà lên cất giọng ca thì chắc chắn ai còn thèm nghe nữa!

Đúng như lời giảng dạy,

Các bậc nói sự thật.

Rồi bây giờ bà quán được cái giọng nói của bà rồi, bà thấy nó vô thường rồi, thì bà tới cái gì nữa đây? Bà quán tới cái cổ của bà. Thì thật sự ra thì bà quán tất cả những cái gì mà gọi là đẹp đẽ nhất ở trong cái thân của bà, thì bà đã tuần tự, bà lần lượt bà quán nó thấy sự vô thường.

(01:06:10) Thì cái cổ của người phụ nữ thì cũng là một cái đối tượng cho nam nhân nhìn chớ đâu phải là cái chuyện tầm thường đâu. Cho nên bà cũng biết nó là cái chỗ mà lôi cuốn người ta chớ đâu phải biết – chớ không phải không, cho nên bà cũng sửa soạn cái cổ của bà để cho lôi cuốn thiên hạ chớ bà đâu phải ngu!

Cho nên vương tôn công tử mới tranh nhau, chớ còn nếu mà bà để cái cổ bà như cái cổ cò thì chắc ai mà thèm, phải không? Các thầy thấy, như mà để cái cổ cò thì ai mà thèm. Cho nên vì vậy bà phải sửa soạn cái cổ bà như thế nào chớ.

Cho nên bà biết cái đó nó vô thường rồi. Còn chúng ta không có để ý thì chúng ta không có thấy được cái chỗ nào mà chúng ta quán đâu. Còn bà, bà quán từng chút từng chút, bà biết cái đẹp, cái xấu, cái vô thường, cái không vô thường, cho nên bà đặt nó ra bà quán:

Trước cổ ta sáng chói,

Mềm đầy đặn, nhu nhuyến,

Cổ mà rất là mềm, đẹp lắm đó chớ không phải!

Nay biến đổi vì già,

Nhiều ngấn và khô cằn.

Bây giờ nhìn mấy cổ bà già coi, gân hai cái gân cổ nổi lên nè, ngấn qua ngấn lại đủ thứ hết, giờ có ai thèm ngó nữa đâu! Cho nên nó khô cằn như là cái da cây mà nứt lằn lằn vậy, thì thử hỏi còn cái gì nữa? Đó không phải là vô thường sao?

Đó các thầy thấy nó là cái sự thật mà, nó là cái sự thật, khi mà chúng ta quán nó là sự thật nó làm cho chúng ta xả bỏ được cái tâm. Còn mình quán cái kiểu mà quán không có thấy cái sự thật thì nó như là mình bị che mờ hết đi, mà mình nói cái danh từ suông không à, mà không nhìn ra sự thật.

Cho nên khi mà quán thì chúng ta nhìn, đặt cái quán là chúng ta tưởng ngay cái cổ của chúng ta như thế nào, hồi đó như thế nào, nó bóng, nó mượt như thế nào, nó liền như thế nào, nó làm hấp dẫn người ta như thế nào?

Thì bây giờ, nó già cằn cỗi rồi thì bây giờ nó nhìn như cái vỏ cây, nó lằn nứt như thế nào, rồi nhiều cái ngấn ở trên cổ chúng ta như thế nào, rồi gân cổ nó nổi nên như thế nào?

Thì nhìn thiệt là thấy giống như là cổ rắn rồi chớ đâu còn cái thứ gì mà ai mê nữa! Cho nên đó là một cái sự vô thường rồi, đâu có còn gì! Đó là một cái sự thật để mà chúng ta nhìn thấy cái thân vô thường này.

Rồi bây giờ bắt đầu bà tới cái gì nữa đây? Bà tới cái cánh tay của bà:

Trước cánh tay của ta,

Như sáng chói cột tròn,

Nghĩa là cái tay của bà nó tròn lắm, chớ không phải là nó méo, nó dẹp gì đâu. Đây là những cái tay rất đẹp đó, cái cánh tay rất đẹp đó.

Nay biến đổi vì già,

Như hoa kèn yếu ớt,

Nghĩa là hoa kèn, chắc là Thầy nghĩ là hoa phù dung hay hoa gì mà nó có cái đầu dài ra vầy nè, bây giờ nó tàn rồi nó gục cái đầu nó xuống, cái tay của bà bây giờ nó cũng kiệt cỡ đó, cho nên bà thấy nó yếu ớt quá. Còn hồi đó thì nó tròn trịa, nó đẹp đẽ, nó làm cho ai thấy cũng muốn nắm tay bà hết!

Đó, thì như vậy là bà đem cái chỗ mà nó đẹp đẽ đó bà quán đến cái chỗ mà tàn tạ của nó, đó là cái lối vô thường chớ gì? Đó các thầy thấy chưa? Hồi đó mình thích nó bao nhiêu thì bây giờ mình thấy nó mình gớm bấy nhiêu.

Đó cho nên bà nói hôi như lông con thỏ, tức là làm cho mình gớm nó chớ gì? Đó là phá, đó là đập cái tâm mà chấp của chúng ta, để thấy cái sự thật là cái sự thật vô thường. Cho nên bà cứ nhắc lại cái lời của Đức Phật là tại làm sao:

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Bà quán tới đâu bà thấy Đức Phật nói đúng, nói thật, không có sai. Còn mình nghe Đức Phật nói mình cũng biết đúng thật, nhưng mà mình không quán vậy đó thì cái mình hiểu biết đúng thật nó mới ngộ mà thôi chớ chưa chứng cái lý. Còn bà quán như vậy bà sẽ chứng được cái lý vô thường đó thật lắm.

(01:09:30) Cho nên chúng ta tu mà đúng cách thì chúng ta ngồi một tiếng đồng hồ mà suy ngẫm cái thân của mình rồi, sau một tiếng đồng hồ rồi, ra người ra chửi hết muốn giận ai nữa rồi.

Còn mình ngồi một tiếng đồng hồ rồi mình đi ra, hay hoặc là mình ngồi nửa tiếng hay một tiếng đồng hồ mà mình cứ quán vô thường, khổ, vô ngã, mình đi ra rồi ai động tới mình cái nghe bực bực mình rồi.

Thì như vậy có vô thường không? Có vô ngã không? Hoàn toàn nó còn nằm một đống đó, nó chưa có hết.

Rồi bây giờ bà quán tới cái gì? Cái cánh tay bà rồi, thì bắt đầu bà quán tới cái bàn tay.

Trước bàn tay của ta,

Mềm mại như cánh hoa,

Sáng như mở rương vàng,

Nghĩa là cái tay của bà như là – nó khi mà đưa ra thì nó chắc là đeo vàng nhiều lắm, như là mở cái rương vàng, nhẫn đồ chắc bà đeo cũng nhiều lắm đó, cho nên bà nói như là mở cái rương vàng vậy đó.

Tức là ngón tay bà chắc là năm ngón là đeo hết chớ không có còn chừa ngón nào! Nhà giàu mà, chắc có lẽ vậy rồi. Cho nên bà nói:

Sáng như mở rương vàng,

Đó mở cái rương ra nó ánh sáng lên, tức là cái bàn tay bà đưa ra cái là người ta thấy vàng đầy ở trên đó rồi.

Nay biến đổi vì già,

Như rễ cây khô cằn,

Đúng vậy các con! Các con bây giờ đưa bàn tay già các con ra coi giống rễ cây không? Gân nó nổi lên không giống rễ cây? Y như vậy, đâu có khác đâu! Khô cằn nữa, nó đâu còn – hồi đó mà lì bóng mà coi nó mát ướt đâu, coi sao mà coi bộ nó khô, nó muốn nhăn nheo, nó muốn chết nó rồi!

Nhăn nheo và thô nhám,

Đúng rồi, chúng ta rờ cái coi: Gân rồi da chúng ta sao mà nhám như ồ à, còn hồi đó nó lì thôi, nghe nó mượt ở trên đó à, nó không có cái kiểu đó. Đó cứ nhìn mấy cái bàn tay của quý thầy rồi quý thầy nhìn cái bàn tay của quý thầy trẻ coi, nó có khác xa phải không? Gân cái gì đâu mà nổi như cái rễ cây ở trển vậy?

Đó là cái quán thực đó các thầy! Bởi vì cái này là bà quán thực, bà đem cái sự thật ra để mà phá cái tâm của bà còn chấp cái ngã, bà không thấy nó vô thường, cho nên bà quán thật cho nên bà thấy nó vô thường.

Vì vậy cái lý của bà đưa ra Thầy thấy cái người phụ nữ này quá là tuyệt vời trong cái sức mà quán cái lý của Phật Pháp dạy.

Đúng như lời Phật dạy,

Các bậc nói sự thật.

Đó, quý thầy thấy chưa? Đo là một cái sự thật hiển nhiên mà chúng ta không biết áp dụng đúng cách thì chúng ta cũng chẳng làm sao mà giải thoát được, mà chúng ta biết đúng cách thì chúng ta sẽ giải thoát được.

Đây bà tới cái bàn tay của bà rồi thì bà quán tới cái gì đây? Bà đâu có quán chung chung như các thầy đâu, bà quán từng cái từng cái. Bây giờ bà quán tới cái vú của bà đây.

(01:12:05) Bởi vì cái bộ vú của bà cũng là làm cái sự thu hút người ta, hồi trước bà – cái vú nếu mà nó không có cao lên thì bà phải độn lên, còn bây giờ đó thì bà mới thấy rằng cái đó là cái sai của mình, cho nên bà đem nó ra bà quán nó như thế nào đây:

Trước vú ta sáng chói,

Căng thẳng và tròn đầy,

Nghĩa là bà đem cái – nó tươi đẹp của tuổi trẻ đó.

Nay biến đổi vì già,

Trống rỗng treo lủng lẳng,

Trời đất! Còn cái thứ gì? Thiệt là trống rỗng, treo lủng lẳng! Bà nói thật, nói đúng. Thầy thấy cái quán cái này – Thầy không phải là người phụ nữ, nhưng mà họ đã nghĩ đến cái chỗ mà vô thường của cái đôi vú của họ như vậy đó, mà họ nói trống rỗng – trống rỗng treo lủng lẳng.

Như da không có nước,

Nghĩa là bây giờ coi trong đó coi như là nó không có nước, như hồi trước thì còn nước rồi này kia trong đó, tức là sữa chớ gì? Còn bây giờ nó khô queo hết rồi còn cái gì!

Như da không có nước,

Trống không, không căng tròn,

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Đúng vậy không? Bà quán như vậy bà mới thấy rằng cái bộ vú của mình không còn đẹp đâu, nó là vô thường. Phải chi mà nó thường thì bây giờ nó cũng phải như trước, nó phải đẹp vậy. Còn bây giờ nó trống rỗng, treo lủng lẳng như cái – nó không còn cái gì – như là cái gì mà tươi mát được nữa hết.

Đó, thì do đó thì chúng ta thấy cái sự quán của bà thấm thía lắm.

Rồi bây giờ bà quán tới cái gì đây? Bà quán tới cái thân mình của bà. Bây giờ nó tới cái toàn thân của bà:

Trước thân ta chói sáng,

Như giáp vàng đánh bóng,

Nghĩa là cái thân của bà hồi đó chắc là da đẹp lắm, cho nên coi như nó tròn trịa, không có còn một cái chỗ nào mà có thể nó nhăn nheo gì ở trong cái thân đó hết.

Nay biến đổi vì già,

Trông nếp nhăn nhỏ xíu,

Thiệt ra chúng ta không để ý, chớ chúng ta để ý coi, nhìn cái thân của mình coi: Hồi đó thì nó căng, nó tròn, nó không có nếp nhăn nhỏ xíu nào hết, còn bây giờ mình nhìn coi, nó lăn nhăn ở trong cái thân của mình, nó lăn nhăn.

Mấy thầy cứ dòm đi, cái chỗ nào mà gọi là da nó thẳng hồi đó, bây giờ mấy thầy coi nó lăn nhăn, nó lít nhít, nó nứt nẻ ra hết trơn hết trọi à, có không? Cho nên bà quán thiệt tỉ mỉ đó.

Nó vô thường đến cái mức độ chúng ta không để ý, chớ cứ chúng ta già rồi chúng ta nhìn hồi tuổi trẻ chúng ta, bây giờ nhìn cái da của mình: bắp đùi nè, rồi đít, rồi khu này, rồi ngực, bụng…​ coi nó lăn nhăn đủ thứ, nó nứt nẻ hết trơn hết trọi, nó đâu có còn cái gì đâu mà gọi tốt đẹp nữa.

Đó cho nên do đó mình mới thấy nó được là vô thường chớ, mới thấy nó được là vô ngã chớ!

Đầy vết nhăn nhỏ xíu,

Bà nói đầy vết nhăn là nhiều lắm, không có ít. Mà đúng vậy, chúng ta cứ quan sát đi, quan sát coi phải cái bàn tay của chúng ta bây giờ, có phải những cái lằn nhăn nhỏ xíu, nhỏ xíu, chớ hồi đó nó thẳng bóng lên nó đâu có nhăn, bây giờ nó nhăn nheo hết.

Rồi bắt đầu bây giờ bà quán cái thân bà như vậy rồi thì bà bắt đầu bà quán tới cái gì nữa đây?

Trước bắp vế của ta,

Bà quán tới cái bắp vế của bà đây:

Sáng chói như vòi voi,

(01:15:01) Các thầy thấy, nghĩa là cái vòi voi nó tròn trịa như thế nào thì bà sánh cái bắp vế của bà như thế nấy.

Nay biến đổi vì già,

Giống như những ống tre,

Nghĩa là nó suôn đuột à, nó đâu còn như cái vòi voi, nó xấu quá xấu rồi!

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Đó, bây giờ bà đã quán sát cái bắp đùi bả rồi, bắp vế bả rồi, thì bây giờ bà quán tới cái ống chân của bà:

Trước ống chân của ta,

Mềm mại như kiềng vàng,

Nghĩa là cái ống chân bà, bà sánh như là chiếc kiềng vàng.

Nay biến đổi vì già,

Chẳng khác gậy cây mè,

Thầy thấy cây mè là cái cây mà nó có ba, bốn cái góc đó, nó ốm, khi mà chúng ta chặt cây mè không biết là cái gậy mè này nó có phải cây mè đó không?

Cây mè mà chúng ta làm muối vừng dó, thì Thầy thấy cây mè thường thường nó vuông, khi mà nó già rồi nó không có tròn như hồi nó còn mới lên, mà nó chia làm bốn cái cạnh, nó làm lòi ba cái xương ra đó.

Thì chắc chắn là cái cây gậy, gậy cây mè – thì chắc chắn Thầy nghĩ rằng cái chân của bà bây giờ nó đã ốm, nó đã lòi những cái xương ống chân nó ra, nó có góc, có cạnh rồi. Đó là cái gợi ý vô thường của nó. Khi trước thì nó mềm mại, nó tròn đầy, mà bây giờ thì nó như góc cạnh rồi, đó là cái sự vô thường.

Bây giờ bà cũng quán thêm cái phần mà của chân bà nữa đây:

Trước chân ta chói sáng,

Với lông mềm như bông,

Đó, bà quán tới những cái lông mà ở trên chân của bà, nó mềm mại.

Nay biến đổi vì già,

Nứt nẻ đầy đường nhăn,

Bây giờ lông nó rụng hết rồi, nó không có còn mềm mại như xưa nữa mà toàn để lại những cái vết nứt nẻ đầy đường nhăn ở trên cái chân đó, nó không còn có cái gì mà đẹp đẽ nữa.

Đúng như lời giảng dạy,

Của bậc nói sự thật.

Thân này là như vậy,

Nay già, chứa nhiều khổ,

Nghĩa là cái thân này là nó vô thường như vậy đó, nó sự thật như vậy, nó không thể nào mà ai nói gì được hết. Đó là một cái chân lý thay đổi, hoàn toàn là cái sự thay đổi của cái vô thường của nó, không có thể nói rằng nó thường được nữa.

Nay nó già thì nó chứa nhiều cái khổ lắm, bây giờ nó chính nó đã gầy mòn, nó già như vậy thì trong đó nó sẽ có nhiều cái khổ cho con người lắm. Cho nên chúng ta phải nỗ lực mau mau mà thoát ra cái cảnh khổ của cái tuổi già.

Mà nếu để thì các thầy – chắc các thầy cũng biết rằng khi tuổi trẻ các thầy đâu có bệnh cái này, bệnh cái kia, nay nhức chân, mai nhức khớp, đâu có cái chuyện đó, mà bây giờ – mà tới già rồi thì quý thầy mới thấy nó đổ ra bao nhiêu thứ không?

Hở hở ra cái trời lạnh trời nóng gì nó cũng đổ ra hết, còn cái tuổi trẻ thì lâu lâu nó mới có một đợt thôi, chớ còn nó không phải là như tuổi già. Cho nên chúng ta thấy cái thân mà nó già rồi là một cái khổ của nó.

Cho nên ở đây nói:

Nay già chứa nhiều khổ,

Tức là cái thân già nó chứa nhiều khổ.

Ngôi nhà đã cũ kỹ,

(01:18:10) Coi như cái nhà, cái thân của mình là bà quán nó là cái nhà cũ kỹ rồi.

Vôi trét tường rơi xuống,

Nghĩa là từ lâu tới giờ cái nhà của mình nó mới thì trét vôi nó còn dính đó, bây giờ nó cũ rồi, lần lượt mình thấy từng mảng vôi nó rớt xuống, rớt xuống.

Thiệt là bà quan sát cái nhà cũ nó rớt từng cái mảnh vôi, mảnh gạch, nó rớt xuống tuần tự, thì bà nhìn cái thân của bà nó cũng rơi rớt xuống tuần tự theo cái sự vô thường của nó. Còn mình không để ý cho nên mình không thấy.

Còn bà quán xét bà thấy quá – nó rơi rớt từng cái, bữa nay thấy nó làm rớt một miếng – cái miếng vôi mà tô cái tường đó nó rớt một miếng, ngày mai làm chỗ kia một miếng, ngày nọ làm chỗ nọ một miếng, lần lượt nó để lòi ba cái gạch ra hết. Rồi bắt đầu ba cái gạch nó bục, lần lượt nó cũng đổ chỗ này xuống một đống, chỗ kia xuống một đống, cái thân của mình nó y như vậy đó.

Bà đem cái chỗ này bà ví dụ thiệt là để cho mình thấy mình hết có chấp cái thân của mình là thường, chấp cái thân của mình là ngã ở trong đó. Quán như vậy nó mới thấu triệt được cái lý vô thường, khổ, vô ngã chớ!

Cho nên chúng ta mới thấy được cái chỗ mà bà quán qua một bài kệ rất dài để dẫn dắt cho chúng ta thấy từ cái chút mà chúng ta đi dần vào cái pháp quán vô lậu. Đó mới đúng cách là chúng ta tu cái con đường của đạo Phật.

Còn nhiều khi chúng ta lười biếng, chúng ta không có chịu suy nghĩ. Từ cái đầu đến cái chân của chúng ta, chúng ta có nhiều cái mà trong cuộc đời chúng ta sẽ gặp thấy cái thân vô thường chúng ta, nó có những cái nó không phải giống như bà như vậy mà nó phù hợp với cái cuộc sống của chúng ta, thì những cái đó là cái tri kiến giải thoát của chúng ta phóng ra để nó thực hiện được cái chỗ giải thoát của chính nó.

Đó thì quý thầy thấy rất là rõ chớ đâu có phải làm cái chuyện mà mù mờ đâu, cái chuyện này là cái chuyện mà phải thực tu, thực chứng cà mới được!

Khi quán xét như vậy là thấy rõ hình tướng vô thường trên thân của mình, nhận thức được tánh vô thường của ba giới:

Nghĩa là nhận được cái thân vô thường rồi thì mình lại nhận qua được ba giới, ba cái cảnh giới chớ không phải là một cái cảnh giới đâu: Cảnh giới thứ nhất thì Dục Giới, cảnh giới thứ hai là Sắc Giới, cảnh giới thứ ba là Vô Sắc Giới.

Cho nên bà nói: Khi bà quán như vậy rồi thì bà lại thông suốt được cái ba cái cõi giới. Ba cõi giới nó đều là vô thường hết chớ nó không có cái cõi giới nào là thường còn. Đó bà thông suốt được như vậy.

Khi mà quán được, phá được cái thân chấp của bà là thường thì bà lại phá được cái ngã của nó rồi, thì bà nhìn qua trong cái thế gian này thì bà đã thông suốt được các tánh vô thường của ba giới, ba cái cõi giới:

Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới.

Tự tâm bà quán triệt tánh vô thường, khổ, vô ngã, và từ đó phát triển tuệ quán, bà chứng quả A La Hán, thành tựu được Tam Minh.

Từ cái chỗ bà mà phá vỡ được rồi thì nó phát triển được cái tuệ quán – cái tuệ quán tức là cái giới tuệ đó – cho nên bà hoàn toàn bà nhập Tứ Thiền, rồi bà chứng được Tam Minh, thành tựu được quả A La Hán.

Đó là cái kết luận của cái bài kệ này, mà do từ cái pháp môn này mà thực hiện được sự giải thoát chính chỗ này.

Như vậy là chúng ta có thấy rằng cái con đường tu nó có khó không? Nếu mà hàng ngày mà chúng ta cứ suy tư để mà phóng ra những cái tri kiến mới mẻ để phá cái thân vô thường chúng ta, thì ba cõi Tam Giới này chúng ta làm sao không thấu suốt nó là vô thường, nó là vô ngã! Đó là một cái bài thứ nhất./.

[Phần 7 ở Giáo án 30]

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 45)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.