ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Vấn đạo (2002) 28 – Mười hai nhân duyên

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Vấn đạo (2002) 28 – Mười hai nhân duyên

A A A

VẤN ĐẠO 28

MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN

Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Sư Tuệ Tĩnh và sư Phước Nhẫn

Thời lượng: [46:26]

Thời gian: 2002

Tên cũ: 15A – MuoiHaiNhanDuyen

 

1- SANH ĐÃ TẬN PHẠM HẠNH MỚI XONG

(00:00) Trưởng lão: Tất cả mọi thứ như nhà cửa, rồi anh em, dòng họ, cô bác, tất cả mọi cái nương tựa với nhau mà sống. Ở trong cuộc sống này, có làng có xóm này kia, đó. Nó tạo thành, nhờ cái mà chúng ta tích trữ của cải tài sản, nhờ cái chúng ta có tình cảm đối với mọi người, cho nên có người thân, cũng có người ghét, cũng có người vầy người khác.

Cho nên tất cả những cái đó nó trở thành cái môi trường sống của chúng ta. Cho nên nó mới có buồn, có vui, có giận, có hờn, có đau khổ, có đủ cách ở trong đó. Và cái chỗ đó nó mới tạo cho chúng ta gọi là duyên Sanh, mà sanh ở đây tức là sanh y, chứ không phải là sanh tử, chứ không phải là chết, là sanh sản. Của cải, tài sản, sản nghiệp, v.v.. Là chỗ nương tựa của cuộc sống con người. Do muốn tích lũy của cải, tài sản và sản nghiệp nên con người phải làm lụng vất vả. Khi của cải hao mất thì ưu bi, sầu khổ, rồi sanh ra bệnh chết.

Đó là một cách rất rõ ràng và cụ thể. Cho nên Mười hai duyên chúng ta phải tới cái chỗ mà ưu bi, sầu khổ để chết đó, thì do cái duyên Sanh mà nó ra. Từ cái chỗ mà chúng ta có thân, bắt đầu chúng ta có cái thân, thân Ngũ Uẩn, rồi từ cái thân Ngũ Uẩn mới có cái Lục nhập nó xâm chiếm vào cái thân của chúng ta. Từ đó nó mới sanh ra Thọ, sanh ra Ái rồi nó sanh ra …​ mới giữ lại những cái điều mà mình ưa thích.

Mình ưa thích mình giữ lại, nó mới có cái của cải, tài sản đó. Nó có của cải tài sản đó rồi, thì nó hao mất, hoặc mất đi một người nào, người thân của mình, vì mình thương thì nó làm cho mình đau khổ. Vì vậy mà gọi là ưu bi, sầu khổ. Rồi từ cái ưu bi, sầu khổ nó nhiều lần như vậy, nó tạo chúng ta mới bệnh, bệnh rồi mới chết. Đó là cách thức của mười hai nhân duyên, nó như vậy.

Như vậy để mục đích đó để chỉ cho chúng ta biết rằng, cái duyên nào mà chúng ta cần phải phá đây, làm cho nó tiêu tan cái duyên đó đi, để mà chúng ta giải thoát cho được. Thì chúng ta thấy Sanh rõ ràng là vì vật chất chung quanh chúng ta, nó ràng buộc, trói buộc chúng ta rất nhiều, cho nên bây giờ chúng ta có chùa to này, có tháp lớn, hay hoặc là có của cải, tài sản, tiền bạc nhiều nè, có trói buộc chúng ta không? Có trói buộc.

(02:14) Bởi vì cái người mà tu hành, người ta có cái nghiệm người ta thấy rất rõ, và đạo Phật, đức Phật dạy rất rõ, không có cái mơ hồ, mà chúng ta lại giảng nó là sanh đẻ thì nó rất là mơ hồ. Cho nên ở đây chúng ta thấy, do mười hai duyên này, đức Phật đã chọn duyên Sanh để đặt ra ngoài cái thế giới của kiếp đau khổ này. Nghĩa là lấy duyên Sanh, mà làm sao phá cho được cái duyên Sanh, thì cái thế giới đau khổ này sẽ diệt, còn cái duyên Sanh mà nó còn, thì cái thế giới đau khổ này không diệt.

Cho nên khi một người bắt đầu xuất gia, thì đức Phật bảo như thế nào: “Cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, sống không nhà cửa, không gia đình”. Có phải đó là mục đích câu kinh này, đó có phải là mục đích đức Phật đã nhắm vào cái duyên Sanh không? Đúng là vào duyên Sanh đó. Làm cho chúng ta không nhà không cửa, không người thân thuộc gì hết, chỉ còn có ba y, một bát mà thôi, mà lại cạo bỏ râu tóc làm cho chúng ta xấu xí đi, không còn đẹp, không còn trang điểm cho nó tốt nữa, như vậy là chúng ta đâu còn có cái gì mà ham thích nữa, còn cái gì mà trói buộc.

Cho nên đó là nhắm vào cái duyên Sanh mà giải quyết cho chúng ta được giải thoát. Đó là lối sống của một vị Tỳ kheo đã dứt duyên Sanh để được giải thoát hoàn toàn. Mình dứt được cái duyên Sanh thì mới được giải thoát hoàn toàn, mà mình không dứt duyên Sanh thì mình không giải thoát hoàn toàn. Đức Phật còn xác định thêm để đập phá duyên Sanh này một lần nữa: “Sanh đã tận, phạm hạnh mới xong”.

Nghĩa là khi nào mà cái duyên Sanh này, tất cả của cải, tài sản, dòng họ quyến thuộc, tất cả mọi cái, mà chúng ta đã lìa xa nó được rồi, nó đoạn tận rồi, tâm của mình nó không còn nhớ thương, không còn tiếc, không còn ham tiền ham bạc, không còn gì hết, cắt đứt hết rồi, thì cái đời sống mà đức hạnh giải thoát của cái người tu mới là xong. Cho nên đức Phật nó: “Phạm hạnh mới xong”.

Đó thì, những cái câu kinh này, nó đã xác định cho rõ cho chúng ta thấy Thập Nhị Nhân Duyên đức Phật đã xác định rất rõ, chứ đâu phải. Đó thí dụ như cái câu đầu: “Cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, sống không nhà cửa, không gia đình”, đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai, thì xác định thêm để chúng ta thấy rằng “Sanh đã tận, phạm hạnh mới xong”, chỉ có cái duyên Sanh mà chúng ta đã tận nó được, lìa được nó rồi, xa nó được rồi, thì cái đời sống tu sĩ của chúng ta mới dứt.

Cũng như bây giờ, thí dụ như Thầy nói, thí dụ như cô Diệu Thảo, cô tu như vậy, cô lo như vậy, cô không có lìa nó ra được tức là cái duyên Sanh nó chưa có lìa, như vậy là Phạm hạnh chưa xong, tu không biết đời nào mới xong. Đó thì mình phải rút tỉa kinh nghiệm. Cũng như các con thấy, khi mà tu hành mà các con còn vướng bận con cái ở trong gia đình, thì như vậy duyên Sanh nó chưa đâu, nó chưa hết đâu.

Nghĩa là đói khát như thế nào mặc nó, miễn là mình tu cho được giải thoát mà thôi, không cần đến của cải, tài sản. Cho nên có nhiều người để ra, có của cải để dành, để rồi mình có chỗ mình nương tựa mình sống để mà, để rồi mình nương tựa mình sống, mình hằng ngày bỏ ra chút ít để mình sống, như vậy là cái người tu chưa có dứt hẳn duyên Sanh.

Nghĩa là dứt hẳn duyên Sanh, đói khát chúng ta không màng nữa, đói khát chúng ta không có lo nữa, mà nếu mà chúng ta không còn lo nữa, bữa đói bữa no mặc như thế nào cũng được, đó là chúng ta đã đoạn dứt duyên Sanh, không sợ. Chẳng hạn như bây giờ Thầy rời chỗ này Thầy đi, bằng cách là Thầy đi bộ từ đây mà đi ra tới Hà Nội, không cần phải đi xe cộ, ngày nào đi tới đâu hay tới đó. Một ngày đi được năm, mười cây số cũng tốt.

(06:01) Tới chỗ nào, thì chỗ đó tối thì mình dừng lại mình nghỉ. Có chùa thì mình ở, không chùa thì mình ở ngoài rừng cây, rừng bụi, cái gì cũng được hết. Thì như vậy thì Thầy không có sợ mà đói khát, trong lưng không có một đồng đem theo. Đói thì mình xin ăn, ai có cho thì mình sống, mà không cho thì mình cũng vui vẻ chớ không phải lo đói mà sợ đói sợ no, phải đem theo, phải bỏ tiền này kia nọ. Thì như vậy mới là duyên Sanh nó mới đoạn.

Còn nếu mà đi ra mà Thầy sợ, phải mang tiền theo thế này thế khác, để lên xe xuống ngựa, hoặc này kia, hoặc là đi có người này ủng hộ, người kia ủng hộ bằng cách này bằng cách khác, thì như vậy là chưa phải là cái người đã đoạn dứt duyên Sanh. Còn phòng hộ, còn lo sợ, còn này kia nọ, thì như vậy chưa phải đoạn dứt duyên Sanh.

Cho nên ngày xưa Thầy xin nhắc lại, cái duyên Sanh mà đức Phật đã đoạn dứt trong một câu chuyện như thế này. Một hôm đức Phật, thường thường thì đức Phật có một ngàn hai trăm năm chục vị Tỳ kheo, nhưng mà thường thường đức Phật đi, là đi một mình chứ không có đi theo một cái người nào. Thỉnh thoảng thì lâu lâu có ông A Nan đi theo, mà không thì đức Phật đi một mình.

Thí dụ như, đây đi xuống thành phố, đức Phật đi một mình, hoặc là đi, ở đây ở cái xã này, đi qua một cái cái xã khác, thí dụ như ở đây là xã Gia Lộc, mà đức Phật đi sang qua Đôn Thuận thì trong khi đó đức Phật đi một mình, chứ cũng không bao giờ mà đi hai, ba thầy hoặc là năm, mười thầy đi theo.

Cho nên một hôm đó thì đức Phật đi sang qua một cái nơi khác. Thì lúc bấy giờ trời tối, đức Phật mới tới chỗ cái lò gốm, chỗ người là làm đồ sành đó, thì đức Phật tới xin cái ông chủ mà lò gốm đó, cho tôi được nghỉ ở đây một đêm. Thì cái ông chủ lò gốm đó, ổng nói tôi đã lỡ cho một cái người tu sĩ khác, họ cũng đến đây mà họ ngủ, họ ở rồi, bây giờ cho ông thì không biết ông kia có bằng lòng không, vì có cái nhà trống này là để mà làm đồ gốm thôi, còn những chỗ khác thì nó không có chỗ. Do đó Đức Phật, nếu mà cái ông kia bằng lòng, thì tôi cũng nhận cho ông ở đây một đêm.

Thì Đức Phật nói thôi được, ông cứ đưa tôi gặp cái vị đó đi. Thì khi mà đưa vào cái chỗ mà cái nhà trống để mà làm đồ gốm đó, thì gặp cái vị Tỳ kheo đó, thì đức Phật mới đến xin vị Tỳ kheo đó: “Bây giờ lỡ tôi đi qua đây nó tối rồi, xin ngài vui lòng, xin hiền giả vui lòng cho tôi được ở đây một đêm, ngủ đây một đêm”. Vị tu sĩ kia mới vui vẻ: “Được, không có sao đâu. Hiền giả cứ tự nhiên mà ở đây mà ngủ cho nó, nghỉ cho nó khoẻ. Đừng có đi đâu chỗ khác mà mất công tìm”. Thì do đó thì cái ông chủ lò gốm đó, ổng rất bằng lòng mà cho hai người ở.

(09:04) Thì lúc bấy giờ, đức Phật mới đem những cái vật dụng của mình mới trải ra ở dưới cái cái sàn nhà của cái người đó, mà nghỉ. Thì đêm đó đức Phật ngồi thiền, thì đức Phật cũng thấy ông này cũng ngồi thiền, cũng y như cách đức Phật mà đã dạy các đệ tử. Nhưng đức Phật không biết cái ông này là học với ai mà sao cũng tu giống như mình, cũng hành động, cũng hành, thức giờ giấc cũng nghiêm chỉnh như mình.

Cũng như bây giờ, thí dụ như các con thấy, Thầy dạy bây giờ các con từ bảy giờ đến mười giờ mới đi ngủ, rồi từ hai giờ thức dậy, do đó cho đến năm giờ các con xả thiền. Rồi ban ngày thì từ bảy giờ các con tu đến chín giờ rồi xả ra, rồi từ hai giờ cho đến năm giờ. Các con cũng giữ giờ giấc như vậy. Ông Phật thấy rõ ràng cái ông này sao cũng tu đúng, mà mình đâu có dạy ông này hồi nào đâu.

Cho nên đức Phật mới mon men đến mới hỏi thăm: “Thưa hiền giả, không biết hiền giả đã tu với ai, mà cái hành động của hiền giả tôi thấy tu rất tốt vậy!” Thì ông đó nói: “Tôi tu với đức Cù Đàm”. Đức Phật nghe ông ta nói vậy mới giật mình: “Ủa, như vậy là ông có bao giờ gặp đức Cù Đàm chưa?” Thay vì nói đức Cù Đàm tức là đức Phật chứ gì, mà ông này lại không biết đức Phật, cho nên ông Phật mới hỏi: “Vậy ông có bao giờ gặp mặt đức Cù Đàm chưa, mà ông tu với ông ta?”.

Thì ông này mới nói: “Chưa bao giờ tôi gặp mặt ông ta hết. Tôi chỉ nghe pháp của ông ta rồi tôi hướng tâm, tôi tin tưởng ông ta mà tôi nỗ lực tôi tu. Giờ giấc nghiêm chỉnh như thế này là do cái sự hướng dẫn của ông ta. Tôi không làm sai lời hướng dẫn nhưng mà tôi chưa bao giờ gặp ông ta hết”.

Do đó đức Phật mới nói: “Cỡ sức mà có đức Cù Đàm ở đây thì hiền giả có nhận ra được không?”. Nói: “Không, tôi chưa biết mặt ông ta lần nào hết. Tôi nói có dịp nào, tôi sẽ đi về nước Xá Vệ để mà đến đảnh lễ ông ta. Chứ còn bây giờ thì tôi chỉ theo pháp ông ta dạy, và hướng tâm tin tưởng nơi ông ta mà thôi. Vì tôi nghe cái tiếng của ông ta như vậy.”

Đó, thì mấy con thấy, cả ngay cái người tu theo cái pháp của Phật chỉ có nhận ra cái giờ giấc mà người ta biết thôi. Cũng như bây giờ các con đi đến cái chỗ nào đó mà thấy cái người đó giờ giấc mà tu đúng, thì các con biết là cái người này đã có học pháp ở đây rồi. Thì hỏi người này có bao giờ biết Thầy không, thì các con hỏi, thì người ta nói không biết, thì các con biết người đó không gặp được Thầy dạy người ta, nhưng mà người ta theo cái pháp của Thầy mà người ta tu mà thôi. Bởi vì qua cái giờ giấc người ta đã thấy được.

Thì ở đây, các con thấy một cái người mà bỏ hết cái cuộc sống, cho nên người ta không có sợ hãi trước cái vấn đề gì, cho nên người ta đến một cái nơi nào đó thì người ta rất ung dung tự tại, người ta không lo đói, lo no. Còn bây giờ, tại sao mà quý thầy đi lại có tiền hô hậu ủng, tức là tỏ ra cái danh của mình, cho nên phải có kẻ hầu người hạ như vua chúa, thứ nhứt.

(12:02) Cái thứ hai, là đi một mình mà không tiền không bạc ở trong túi, thì sợ đói khát, rồi ngủ bờ ngủ bụi, ngủ rừng ngủ hang, ngủ dưới bóng cây thì quá vất vả khổ sở, cho nên họ không dám làm điều đó đâu. Còn trái lại, nếu một người mà đã ly được cái sanh y này rồi, thì họ không còn sợ hãi đâu.

Cho nên đứng trước Thầy, Thầy nghĩ rằng các con, thì người nào cũng một thân, mấy người nam này người nào cũng nói muốn theo Thầy, nhưng mà sự thật họ theo Thầy chừng một ngày là họ đã bỏ cuộc họ đi về thất rồi. Thầy tin rằng đây mà Thầy, thường thường mà Thầy đi bộ đây mà về tới thành phố thôi là họ đã bỏ Thầy họ đi rồi, họ không còn theo Thầy nổi.

Tại sao vậy? Tại vì chưa bao giờ họ đi bộ như vậy, và họ không có chịu nhọc nhằn như vậy đâu. Bởi vì xe cộ bây giờ nó quá tiện lợi mà bây giờ mà đi bộ như vậy, thì chắc chắn là không thể nào. Mà cái người mà thực hiện mà không đúng những cái hạnh như vậy, thì đương nhiên là Sanh không có tận đâu, thì Phạm hạnh nó không xong. Đó là Thầy muốn nói để cho cái duyên Sanh mà chúng ta, tu tập chúng ta…​

Cho nên trong cái người tu sĩ chúng ta không thấy cái vất vả mà chúng ta thấy cái giải thoát. Nó không bị cái trói buộc bởi những cái tiện nghi của cái thế gian này, nó không bị ràng buộc làm chúng ta ham thích cái này. Đó là những cái tu hành của chúng ta.

Đó là cái lối sống của một vì Tỳ kheo đoạn dứt duyên Sanh để được giải thoát hoàn toàn. Đức Phật còn xác định thêm, phải đập tan cái duyên Sanh này: “Sanh đã tận, phạm hạnh mới xong”. Đó là những cái câu kinh mà đức Phật đã dạy cho các vị Tỳ kheo trong cái thời trước để phá cái duyên Sanh. Có dứt được duyên Sanh, thì giới luật của Phật mới nghiêm chỉnh. Nếu duyên Sanh không dứt được thì đời sống tu sĩ có khác nào là một cư sĩ trọc đầu.

Nghĩa là chúng ta không dứt được cái duyên Sanh, mà chúng ta nỗ lực tu theo pháp Phật, giữ gìn giới luật bằng cách này, bằng cách khác thì nó cũng như là một người cư sĩ trọc đầu mà thôi. Từ chỗ sống thanh tịnh, giới luật và tu tập các giới hành, khiến cho thân tâm thanh tịnh xa lìa lòng tham muốn và các pháp, nhờ đó ta mới tiến sâu vào Thiền Định bằng pháp hướng tâm vào Định. Từ Định ấy ta mới hướng tâm đến trí tuệ, do đó ta mới có tri kiến và tri kiến giải thoát.

Bởi vì, cái chỗ này, tại sao Thầy nhắc lại cái chỗ này để thấy, từ cái chỗ mà cái đời sống mà thanh tịnh như vậy đó, nghĩa là cắt đứt tất cả những cái duyên Sanh thì nó mới là thanh tịnh, từ đó giới luật chúng ta mới nghiêm chỉnh được. Chứ nếu còn một chút gì ở trong tâm của chúng ta, nó chưa có đoạn dứt cái duyên Sanh đó, nó còn nghĩ nhớ này kia, thì cái giới luật chúng ta, nói là chúng ta giữ giới là cái hình thức giới, chứ sự thật tâm của chúng ta nó không có giữ giới chút nào đâu.

Cho nên từ cái chỗ mà cắt được cái duyên Sanh rồi, thì chúng ta thực hiện giới luật, thì giới luật rất nghiêm chỉnh. Mà thực hiện những cái tu tập, thì tâm của chúng ta nó mới có thanh tịnh được, ác pháp nó mới dứt được. Từ cái chỗ duyên Sanh đó mà chúng ta đi vào đạo, thì nó rất dễ dàng, mà từ cái chỗ duyên Sanh đó mà chúng ta chưa đoạn dứt được, thì chúng ta vào đạo rất khó khăn. Cắt được, rất dễ dàng và trí tuệ, và tri kiến giải thoát của chúng ta nó cũng dễ dàng.

(15:57) Thập Nhị Nhân Duyên đã xác định, Sanh dứt thì Ưu bi, sầu khổ dứt, đó là đi thuận chiều. Còn đi ngược chiều, Sanh dứt thì Hữu dứt, Hữu dứt thì Thủ dứt, Thủ dứt thì Ái dứt, Ái dứt thì Thọ dứt… (Các con xích vào gần con). Thọ dứt thì Xúc dứt, Xúc dứt thì Lục Nhập dứt, Lục Nhập dứt thì Danh Sắc dứt, Danh Sắc dứt thì Thức dứt, Thức dứt thì Hành dứt, Hành dứt thì Vô Minh dứt. Đến đây thì thế giới đau khổ diệt, nên đức Phật dạy: “Những việc làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Mười hai nhân duyên đạo Phật đã chọn cửa Sanh mà vào, vì thế Ngài dùng giới luật là pháp môn đầu tiên để đánh phá thành trì duyên Sanh. Bởi vì cái giới luật của Phật, nó nhắm vào cái duyên Sanh đó mà nó đập phá, cho nên cái người nào mà giữ gìn giới luật, thì người đó phải là đập phá cái duyên Sanh. Mà đập phá duyên Sanh tức là không còn chỗ nương tựa của một con người phàm phu nữa.

Nhân duyên được xem là Sanh và ải địa đầu, nếu chiếm được Sanh là giải thoát Ưu Bi Lão Tử, Ưu Bi Lão Tử đã phá thì Vô Minh cho đến Thủ, Hữu cũng đều tan tành. Đây là một cái bài pháp mà chúng ta thấy được cái điều kiện mà chúng ta phải thực hiện. Bởi vì nó là mười hai duyên, mười hai duyên tức là mười hai cái phần để nó hợp nhau mà nó thành cái thế giới khổ của chúng ta.

Muốn cho cái thế giới khổ của chúng ta hết khổ, chấm dứt sanh tử luân hồi, làm chủ sự sống chết đó, thì nhắm vào cái duyên Sanh đó mà đập phá. Mà đập phá nó, thì tức là phải giới luật là cái pháp đầu tiên để ngăn chặn chúng ta không còn phạm vào cái cuộc sống của cái thế gian nữa.

2- MINH VÀ VÔ MINH

(18:25) Đây là lối lý luận của nhà học giả, nghĩa là có nhà học giả họ sẽ lý luận: “Nếu đời sống hằng ngày chỉ thuần tuý Vô Minh, thì đạo Phật đi vào bằng cửa nào? Làm sao có sự cứu độ, làm sao có sự chuyển hoá?” Đây là cái lối lý luận của nhà học giả: “Nếu đời sống hằng ngày mà chúng ta thuần tuý ở Vô Minh đó, thì đạo Phật sẽ đi bằng cái cửa nào mà vào, và làm sao mà cứu độ được, làm sao chuyển hoá được cái tâm của mình. Cho nên ta nói Vô Minh nhưng cũng có Minh”. Nghĩa là trong Vô Minh nó có Minh trong đó, ý của các nhà học giả nói mà.

Họ lý luận như vậy, tức là họ sẽ phá vào cái cửa Vô minh bằng cái Minh. “Nếu ta không có chút Minh nào, thì tại sao Phật nói tất cả chúng sanh đều có hạt giống trí tuệ của giác ngộ, của giải thoát?”. Đó là cái lối lý luận của họ ở trong kinh sách Đại thừa. Họ cho rằng mỗi chúng ta đều có Phật tánh trong đó, đều có trí tuệ, đều có cái hạt giống của trí tuệ, của giác ngộ, của giải thoát, thì đó là cái Minh chứ không phải Vô Minh. Mà trong Vô Minh nó có cái Minh đó, cho nên từ đó chúng ta phải đột phá, khai triển cái Minh đó.

Khi mà tâm còn ác pháp, thì không thể nào gọi là Minh được. Hỡi các con, các con lưu tâm, cái vấn đề này rất là quan trọng. Khi cái tâm của chúng ta nó còn cái lòng ham muốn, nó còn ở trong ác pháp, thì hoàn toàn là chúng ta Vô Minh chứ không thể nào Minh. Bây giờ làm sao chúng ta triển khai cái Minh này được? Khi mà chúng ta triển khai cái Minh này được đó, là chúng ta phải lìa cái lòng ham muốn, phải lìa cái ác pháp, thì cái Minh nó mới hiện ra được.

Còn bây giờ, cái Vô Minh của chúng ta, là tại vì cái dục và ác pháp nó che đậy nó làm mờ đi, mà lúc bây giờ mình chưa có vén ra được, cho nên làm sao mà có Minh được. Thí dụ là mình muốn vén cái màn mây mờ này, lòng ham muốn của mình và các áp pháp đó, thì chúng ta phải đi vào cái ngõ Sanh chứ không thể đi vào cái chỗ Vô Minh này mà phá được. Bởi vì cái ngõ Sanh, là nó trong ngõ Sanh, nó ở trong đó nó mới sanh dục, nó mới ra các ác pháp.

(21:42) Bởi vì một cái tâm mà nó còn cái lòng dục, nó còn cái lòng ham muốn, nó còn ác pháp, thì nó không thể nào gọi là Minh được. Mà cái dục và ác pháp này, nó ở trong cái môi trường nào mà có cái này? Nó ở trong cái môi trường Sanh, cái duyên Sanh mà nó có. Sanh là nhà cửa, của cải, tài sản, anh em, cha mẹ, ruột rà, tất cả những cái này nó mới sanh ra lòng ham muốn, nó mới sanh ra cái ác pháp.

Cho nên nếu mà muốn cho có Minh, không phải từ chỗ Vô Minh mà khai triển Minh được. Mà phải đi từ cái chỗ Sanh, mà phá cái duyên Sanh, thì cái Minh nó mới có. Tức là phải ly dục, ly ác pháp thì nó mới có. Minh có được khi nào lìa xa lòng ham muốn và ác pháp. Còn hiện giờ ta cố gắng học hỏi, thông suốt Tam Tạng kinh điển thì cái Minh đó không còn là Minh nữa.

Vì cái lớp Vô Minh, để dục và ác pháp che đậy cái lớp Vô Minh kia, khiến cho ta tưởng mình giải thoát, nào ngờ không giải thoát. Nghĩa là chúng ta chấp nhận rằng, chúng ta có đi học thông suốt những Tam Tạng kinh điển để hiểu biết, đó là khai mở cái Minh của chúng ta, để làm chúng ta hiểu, là cái lòng ham muốn là ác pháp thế này thế khác, nhưng chúng ta lại lầm.

Từ cái lớp Vô Minh này, tức là cái lớp Vô Minh mà học hỏi thêm này, là do cái lòng dục mà ham để cho cái Minh, cho nên nó đậy lên cái lớp Vô Minh kia nữa. Cho nên một cái người học hỏi càng nhiều, thông suốt càng nhiều, nói năng lưu loát càng nhiều, thì cái người đó lại còn Vô Minh hơn nữa, lại càng có tâm ham muốn hơn nữa. Nhưng mà cái người đó cứ ngỡ tưởng mình là giải thoát, mình hiểu, cứ ngỡ rằng mình giải thoát, nhưng cái hiểu đó chưa phải là giải thoát.

(24:16) Vì lối sống của những nhà học giả (cửa Minh), đang sống trong dục lạc, chưa nói lên được sự làm chủ của cuộc sống, thì làm sao nói lên được sự làm chủ của sự chết. Bằng chứng rất rõ là các con thấy rằng cái người học có bằng Tiến sĩ Phật học, họ thông suốt giáo lý bằng mọi cách, nhưng họ, cái cuộc sống của họ chưa làm chủ được cái ăn, cái ngủ của họ, họ chưa được làm chủ trong cái đời sống thiếu hụt của họ, họ còn sợ những sự thiếu hụt, họ còn sợ những cái đói kém, họ còn sợ những cái thèm khát ham muốn của họ, họ còn lo lắng những điều này thế kia.

Cho nên họ không dám lìa xa cái môi trường sống trong dục lạc của thế gian. Họ không lìa xa được sanh y của họ, thì họ làm sao họ làm chủ được sự chết của họ, cho nên cái Minh của họ là cái lớp Vô Minh che đậy trên một cái Vô Minh khác. Kinh sách họ viết ra, giải thoát chỉ là lời nói suông, lời nói không đi đôi với việc làm của họ.

3- 12 DUYÊN HỢP THÀNH THẾ GIỚI KHỔ ĐAU

(25:32) Để trở lại câu hỏi của cô Diệu Quang. Khi Thầy đã giải thích cho các con hiểu mười hai duyên mà các nhà học giả đã làm lệch ý nghĩa của Phật, chia mười hai duyên, bày ra làm ba thời quá khứ, vị lại và hiện tại, đó là một việc làm sai lệch lớn. Mười hai duyên như Thầy đã giảng chỉ là một, chỉ cho cái duyên hợp lại thành một khối lớn đau khổ trong hiện tại.

Thí dụ một cái nhà phải có các duyên hợp lại như cột, kèo, đòn tay, gạch ngói, hồ, cát, xi măng, cửa cái, cửa sổ, v.v. mới tạo ra được cái nhà. Thế mà người ta chia cái nhà ra manh mún, ba thời gian, thì con nghĩ còn cái nhà còn đúng không. Bởi vì ở đây, đầu tiên là họ chia cái Thập Nhị Nhân Duyên ra. Kết luận lại thì chúng ta thấy đó là cái sai. Giải thích từng duyên, có những duyên dạy rất sai để làm chúng ta không hiểu biết.

Ở đây mục đích của bài Thập Nhị Nhân Duyên, là đức Phật nhắm vào để chỉ cho chúng ta biết cái cửa nào mà chúng ta phá vào để mà chúng ta được giải thoát, phá cái duyên nào để làm cho tất cả các duyên khác nó sẽ hoại diệt, nó không còn dính mắc với chúng ta nữa. Đức Phật đã xác định nhờ câu nói ở câu kinh để chỉ cho đó là phá vỡ cái duyên Sanh. Như vậy là bài Thập Nhị Nhân Duyên chúng ta thấy rất rõ ràng và cụ thể, để giúp chúng ta một đời sống của người tu sĩ.

Cô Diệu Quang hỏi tiếp Thầy: “Tại sao người ta giảng Danh Sắc là đối tượng của Thức, xin Thầy giảng cho con hiểu chỗ này”. Nghĩa là chỗ này hồi nãy Thầy đã có giảng rồi. Thì bây giờ thì cô Diệu Quang hỏi Thầy nhiều câu hỏi, nhưng mà câu hỏi đầu là tổng quát cho nên Thầy đã giảng qua lớp. Bây giờ Thầy đáp trở lại để cho lớp ngoài để cho chúng ta hiểu.

Đáp: Tại vì ta hiểu Thức là một cái khác của Danh Sắc. Ở đây chúng ta do hiểu các duyên hợp lại để thành một cái hợp nhất khác chứ không phải là đối tượng của thức nữa.

(Con cầm đi…​ Còn thiếu một cuốn nghe con)

(28:54) Hỏi: Hữu tạo ra Sanh, mà đã Sanh thì thế nào cũng có già chết. Vậy có đúng không thưa Thầy?

Đáp: Không, lối giải thích như vậy không đúng nghĩa của đạo Phật. Như Thầy đã giải thích ở trên, Sanh không phải là sanh tử mà là sanh y, đó là chỗ nương tựa của Thân Ngũ Uẩn để sống trong đau khổ bất tận. Nghĩa là chữ Sanh này là như Thầy giảng hồi nãy là sanh y, là cái chỗ nương của Thân Ngũ Uẩn để làm cho nó sống trong cuộc sống đau khổ.

Hỏi: Mười hai nhân duyên có phải là pháp hành để tu giải thoát hay không? Nghĩa là cô Diệu Quang hỏi Thầy, có phải là mười hai nhân duyên này, đó là cái pháp hành để chúng ta tu giải thoát không. Hay là nó là một cái gì?

Đáp: Mười hai nhân duyên này là pháp môn để hiểu biết thế giới khổ của con người do các duyên hợp lại. Nhờ có hiểu biết các duyên, nên mới biết cách phá duyên nào trước để chuyển thế giới khổ đau này trở thành thế giới không đau khổ.

Hỏi: Kính thưa Thầy, người giác ngộ mười hai duyên thì chứng quả Duyên giác A La Hán. Nhưng các nhà học giả đã giảng mười hai nhân duyên tỏ ra rất là thông suốt sao lại không chứng quả Duyên giác A La Hán? Xin Thầy chỉ rõ cho con hiểu.

Đáp: Nếu người nào đã thông suốt Thập Nhị Nhân Duyên, ngộ được Duyên giác, thì chùa to tháp lớn, danh lợi, ăn ngon, mặc đẹp họ đều bỏ xuống hết, chỉ còn ba y một bát, chỉ còn một du tăng khất sĩ sống không nhà, không gia đình, thì đó mới gọi là giác ngộ Duyên giác. Bằng không chỉ là học giả mà thôi.

Các con thấy, khi mà chúng ta ngộ được Thập Nhị Nhân Duyên rồi, thì chúng ta bỏ sanh y, đoạn dứt sanh y, thì đời sống của chúng ta chỉ còn là một du tăng khất sĩ, chỉ có ba y một bát, không còn một cái vật gì cả hết, không còn một cái sự gì dính mắc ở trong gia đình hết. Thì như vậy mới gọi là Duyên giác, mới gọi là ngộ Duyên giác. Còn nếu không, thì người đó chỉ là học suông cái Duyên giác mà thôi.

Cho nên từ khi mà ngộ được cái lý Duyên giác, Thầy biết cái mấu chốt đau khổ của con người là do cái duyên Sanh mà đau khổ, nên từ đó mà xả lần, xả lần, xả hết xuống mà không còn chừa một vật gì hết, để rồi còn hai bàn tay trắng, đi lang thang từ nơi này đến nơi khác. Thì đó mới chính là cái hạnh của một du tăng khất sĩ, của một người tu giải thoát. Nếu còn chùa to, còn tháp lớn, còn chỗ này, còn chỗ kia, thì tức là chưa phải là cái người mà đoạn dứt duyên Sanh.

Giác ngộ được Duyên giác tức là họ đã sống đúng giới luật. Nghĩa là mình ngộ được cái lý Duyên giác thì không bao giờ mình vi phạm giới luật của Phật hết, sống đúng giới luật của một bậc Thánh.

4- TU VỪA SỨC

Phật tử: …​

(32:41) Trưởng lão: Về cái Chánh Niệm Tỉnh Giác thì cái sắp xếp như vậy rất là ổn. Còn về cái khả năng của con, tức là cái đặc tướng của cơ thể của con, nếu mà cứ trong một ngày một đêm, hai mươi bốn tiếng đồng hồ mà sắp xếp như thế này để khoá tu khoảng ba tiếng buổi trưa, buổi trưa tu ba tiếng, buổi chiều, buổi trưa buổi chiều tu ba tiếng, buổi tối tu ba tiếng, buổi khuya tu ba tiếng, suốt cái thời gian như vậy thì tốt.

Nhưng nếu mà cái đặc tướng, cái khả năng của mình, nó không đi suốt được khoảng ba tiếng trong một buổi như vậy, thì con nên đi khoảng hai tiếng thôi. Nếu mà hai tiếng đồng hồ mà thấy cái sức khoẻ của mình nó không có đủ sức để kham nhẫn cái thời gian tu hành, thì như vậy còn…​ một giờ. Về giờ tu, tu liên tục trong những cái giờ tu, nhưng cái giờ tu là phải đạt được.

Cái giờ nghỉ, thì các con nên… Nghỉ thì xả mà trở về với trạng thái bình thường của mình. Đừng có tu… luôn luôn cứ theo cái kiểu mà tri vọng, biết vọng liền buông, cứ hễ thấy vọng tưởng cái là buông ra. Đến lúc mình nghỉ là mình…​ khi nào nhớ là mình buông…

Ở đây thí dụ tu, tức là cái giờ mình làm chủ, làm chủ cái sự sống chết cái thân tâm của mình …​ cái gì đó. Cái giờ tu là cái giờ làm chủ. Mà cái giờ không tu, cái giờ mình xả nghỉ, thì trả lại cái quyền tự do cho nó, nó có nghĩ ngợi nó làm gì nó làm, phải không? Đừng có cứ luôn luôn lúc nào cũng tu…​

Thì đó là cái ngôn ngữ, sự thật ra nó phải tu như vậy. Mà vì nó đã quen đi cái người xưa dạy cho người nay tu nó cứ, giờ đấy nói nó tu thì luôn luôn trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, đều cứ tu hết…

Bởi vì đây là cái thói quen nó đã lâu đời lắm, khi đi tu, khi chẳng đi tu thì thôi, mà đã đi tu vào thì coi như giờ nào mình cũng tu. Mà cái sức của mình thì nó tu không nổi như vậy, mà lại muốn làm chuyện như vậy. Cho nên tu mãi mà dậm chân tại chỗ như vậy. Bởi vì cái sức nó làm chưa có được. Đừng có làm hơn cái sức của mình.

(35:30) Ở đây cái mục đích để mà chúng ta tu, thí dụ như bây giờ buổi sáng chúng ta lấy 30 phút chúng ta tu trong buổi sáng. Bao nhiêu cái thời gian đó chúng ta xả nghỉ xong, nó bình thường để cho nó bình thường… Để cho nó phải gò bó ép buộc đừng vọng tưởng. Chúng ta tu ba mươi phút. Ba mươi phút đó, buổi sáng chúng ta làm chủ rất là rõ ràng, không có một cái tạp niệm, ở trong kinh điển của Phật là không thất niệm – là trong cái giờ mà chúng ta tu nó không có thất niệm.

Còn ngoài cái giờ mà chúng ta tu, thì chúng ta đâu phải là cứ lúc nào chúng ta cũng giữ cái niệm, cho nên vì vậy mà ngoài cái giờ ra thì chúng ta, như đức Phật: đi kinh hành, rồi đi khất thực, rồi đến các vị tu sĩ ngoại đạo, rồi nói chuyện, rồi thế này thế khác… thì như vậy rõ ràng là đâu có phải lúc nào cũng tu đâu. Cho nên chúng ta cũng phải xét qua cái đời sống của đức Phật rồi xét qua sự tu tập của mình.

Cho nên thí dụ như buổi sáng tu ba mươi phút, ba mươi phút hoàn toàn chất lượng thực hành. Xong ba mươi phút rồi các con làm, thì các con, không có cần phải, tu gì nữa hết. Làm như mình một người mà người ta chưa có biết tu vậy. Cứ làm, nhưng mà khi mà có một cái sự việc gì, nó làm cho các con phiền não chẳng hạn, nó làm cho các con buồn, hoặc là nó làm nhớ nghĩ đến cái người thân của mình thế này thế khác, thì ngay đó các con dùng Định Vô Lậu mà quán xả cái tâm đó đi.

Còn nếu mà nó không buồn, không phiền não, không nhớ, không nghĩ cái gì hết, mà nó có nghĩ ngợi chuyện này chuyện kia không có làm mình thương nhớ sầu khổ trong lòng của mình, thì thôi để cho nó đừng thương… thì tốt hơn cứ xả cái vọng tưởng, xả vọng tưởng làm gì…

Ở đây chừng nào mà chúng ta muốn nhập một cái định mà từ một giờ cho đến một ngày một đêm, cho đến bảy ngày, bảy đêm, thì chừng đó chúng ta phải có cái lực nào đó chúng ta mới có thể kéo dài thời gian nhập định. Còn cái đời sống của chúng ta, chẳng hạn như đời sống nãy giờ chúng ta đang sống, khi nghe Thầy nói chuyện, các con đâu có nhiếp tâm ở trong pháp nào tu đâu.

Đó thì các con cứ giữ cái tâm mình bình thường như vậy, không có lo mà diệt tâm mà xả ngã gì trong cái lúc bình thường. Nhưng mà trong cái lúc tu, cái giờ tu đó, thì phải biết pháp tu, nghĩa là đừng để cho nó thất niệm. Mà thất niệm thì không tốt. Còn các con tu suốt ba tiếng đồng hồ một buổi, nó thất niệm tùm lùm à.

Rồi ngày nào nó cũng bị thất niệm hết, mà không biết lúc mình tu…​ ở chỗ nào mà sao, lúc thì nó không vọng tưởng, lúc thì nó yên, lúc nó không yên. Mà rốt cuộc rồi thì gặp sự việc gì đó thì các con lại không giữ được cái tâm của mình bất động, thanh thản. Cái đó là cái các con tu nhiều, tu rất nhiều, mà cái rất nhiều đó nó không có kết quả.

(38:37) Cho nên nghe lời Thầy dạy thì các con tu cho nó tốt. Thí dụ cũng như cô Diệu Tịnh, cô sắp xếp lại cái thời khoá tu, thì từ cái pháp hướng cho đến cái trạch pháp, đều là có thể câu hữu với các định rất rõ ràng và cụ thể qua những bài học. Sắp xếp như thế này thì nó mới tốt. Nếu mà không sắp xếp như thế này, thì coi như là mình không có biết mình tu cái gì, sắp xếp như thế này để mình biết, 7 giờ mình tu cái gì, rồi 8 giờ mình tu cái gì, 9 giờ mình tu cái gì.

Còn trong khi đó mà mình cái sức mình yếu, mình biết cái khả năng của mình, mình kham nhẫn một thời gian dài ba tiếng đồng hồ liên tục, mà nó bị thất niệm, cho nên mình …​ vậy, mà mình sắp xếp cái thời khóa y như vầy, mà trong ba mươi phút mình chia làm ba thời gian tu, tu Chánh Niệm Tỉnh Giác Định, rồi tu…​ chia ra…​ chỉ trong ba mươi phút. Thì như vậy là rõ ràng là trong ba mươi phút mình chia mà mình tinh tấn vẫn cố gắng ba mươi phút này tu ba cái định đó, hoàn toàn không thất niệm. Thì cái đó là cách đúng.

5- QUÁN VÔ LẬU VÀ TÁC Ý VÔ LẬU

(39:55) Cô Diệu Tịnh hỏi Thầy, khi mà tu cái Định Vô Lậu, thì nếu mà nó có cái đối tượng gì, nó làm cho tâm mình nó phiền não, hoặc là tâm mình nó nhớ, nó nghĩ cái gì đó, thì mình tu, còn không có thì mình không có nên tu, tu như vậy có được không. Thì cô hỏi Thầy: “Kính thưa Thầy, còn về Định Vô Lậu chỉ khi có đối tượng con đặt niệm trước mặt mình, ngồi kiết già, quán xét định…​ có được không thưa Thầy?”

Nghĩa là, về cái phần mà Định Vô Lậu, thì trong khi mà các con ngồi chơi, bây giờ thì không phải mà ngồi mà quán suy tư, bởi vì tất cả những cái lý của Đạo, biết cái thân mình vô thường, bất tịnh, biết hết, không có người nào mà không biết. Biết nhưng họ tâm họ vẫn khổ…​ không có gì.

Cho nên bây giờ chúng ta không phải cần phải ngồi lại mà suy tư duy để mà quán xét cái đó nữa, mà chúng ta khi mà chúng ta tu, thì câu hữu cái Định Vô Lậu với cái Định Niệm Hơi Thở để nhắc ly tham hoặc là ly sân, ly si. Đó mình nhắc nó, nhắc…​ câu pháp hướng. Còn khi nào mà có đối tượng làm cho chúng ta phiền não, nó làm cho chúng ta có giận hờn, nhớ thương, đau khổ, thì lúc bấy giờ chúng ta mới đặt cái niệm đối tượng đó trước mặt chúng ta, tư duy quán xét.

Mình nhìn nó qua…​ luật Nhân Quả, hoặc là đối với cái thân của mình, mình nhìn qua cái vô thường của nó, đối với cái tâm của mình, thì nhìn qua cái vô thường, đối với cái thọ khổ, do vì vậy mà chúng ta xả nó đi. Cho nên, tu cái Định Vô Lậu… Cũng như bây giờ cái tâm chúng ta bữa nay cô Út nấu…​ thì như vậy, cái hoặc là…​

Trên cái vấn đề tu tập mà quán xét cho kỹ, thì Định Vô Lậu, thì khi mà vướng cái đối tượng, có cái đối tượng tức là có sự việc hoặc là cái pháp, nó làm cho tâm chúng ta khởi lên tham, sân, si, phiền não, thương nhớ gì đó, thì chúng ta dùng Định Vô lậu. Mà bình thường tâm chúng ta không có gì thì dùng pháp hướng: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”, thì như vậy mình nhắc nhở cái mình nương theo hơi thở để mình ly. Mà khi nó thấy nhớ cái món ăn đó mà nó thèm tức là tham, thì tức là bây giờ mới dùng cái Định Vô Lậu để quán, còn không thì đừng có quán.

Cho nên trong những cái thì giờ mà tu tập các con​, tức là…​ chọn lấy Tứ Chánh Cần để mà tu tập. Thì Thầy xin nhắc lại để cho các con rõ pháp Phật…​. Khi mà tu Chánh Cần tức là ngăn ác diệt ác, sanh thiện, tăng trưởng thiện, tự nhiên cái thiện nó có ở trong tâm của mình. Chớ mình không có sanh thiện, mà ngăn ác dứt ác làm cho cái pháp ác không có chiếm được thân tâm của mình. Cho nên đó là pháp ngăn ác diệt ác.

(44:11) Còn cái pháp mà sanh khởi thiện và tăng trưởng thiện, đó là cái pháp Tứ Vô Lượng Tâm. Ai đi vào pháp Tứ Vô Lượng Tâm, thì nên tu cái Từ Bi Hỷ Xả trên cái tâm này, để mình câu hữu với Chánh Niệm Tỉnh Giác, Định Niệm Hơi Thở, Định Vô Lậu trong cái lúc đó để mà kết hợp tu Từ Bi Hỷ Xả. Thì nó, khi mà tăng trưởng, sanh khởi và tăng trưởng thiện pháp, và …​. Cho nên …​ nhưng mà ác pháp không vô được, luôn luôn cố ý tăng trưởng cái lòng Từ Bi Hỷ Xả của mình lên …​

Còn về cái phần mà tu Tứ Chánh Cần, thì ngăn chặn và đoạn dứt các pháp ác, chớ không có động chạm gì đến các pháp thiện hết, nhưng mà các pháp thiện thì tự nó nó đã …​ Cho nên bên kia thì nó dứt ác, nó diệt ác, mà luôn luôn tăng trưởng thiện pháp, vì thế mà nó cũng được giải thoát.

Còn bên đây thì ngăn ác diệt ác, chẳng phải lo lắng cho cái phương pháp mà đuổi cái thiện pháp, tăng trưởng thiện. Cho nên đức Phật đã bảo rằng, ngăn ác diệt ác. Mà muốn tăng trưởng nó thì tức là chỉ sống trong cái trạng thái mà không tham không sân không si, thì đó là ..​. Cho nên ở bên đó nói, để tăng trưởng …​

Tứ Vô Lượng Tâm thật sự ra là tăng trưởng thiện pháp, là vì mình đi mình chú ý để cho mình khỏi giẫm đạp côn trùng hay là dế, kiến ở dưới chân của mình, tức là sanh cái tâm từ. Do cái tâm từ đó nó làm cho sức tập trung của mình, chánh niệm tỉnh giác rất là cao. Đó thì, mỗi đứa đều thấy mình hợp với cái pháp nào sẽ chọn cái pháp nấy mà tu tập.

Còn nếu mà thấy hai pháp này nó không hợp với mình …​

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 8)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.