ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Vấn đạo (2002) 09 – Khai thị Giới Định Tuệ

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Vấn đạo (2002) 09 – Khai thị Giới Định Tuệ

A A A

VẤN ĐẠO 09

KHAI THỊ GIỚI ĐỊNH TUỆ

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Sư Tuệ Tĩnh và sư Phước Nhẫn

Thời lượng: [45:58]

Thời gian: 2002

Tên cũ: 05A – KhaiThiGioiDinhTue

 

1- TUỆ TAM MINH

(00:00) …​Sanh Tuệ là vậy, Tuệ không có nghĩa là trí tuệ hiểu mênh mông, cái gì cũng hiểu hết, mà không đúng vào con đường giải thoát thì cái sự hiểu đó cũng là cái hiểu sai, không có đúng. Cho nên cái hiểu này, bây giờ nó rõ thấu được, thứ nhất là do lậu hoặc mà con người khổ. Nó rõ thấu được là Tứ Diệu Đế là: cái khổ, nguyên nhân mà nó tập hợp những sự đau khổ, rồi diệt cái khổ đi, diệt nguyên nhân khổ đi thì ngay đó là một trạng thái giải thoát. Rồi từ đó nó suy ra, nó biết được tám cái nẻo để đi đến cái chỗ mà Diệt Đế, đi đến cái chỗ giải thoát đó.

Cho nên nó thấu rõ, thấu rõ thật rõ. Vì vậy mà nó thấu rõ thật rõ thì hoàn toàn lậu hoặc nó sẽ đoạn dứt. Còn bây giờ chúng ta hiểu biết bằng cách là chúng ta được người khác dạy cho hiểu biết, nhưng chúng ta chưa thấu rõ. Thấu rõ phải do có định, tâm có định, nó lóng sáng thì lúc bấy giờ chúng ta mới thấu rõ nguồn gốc của sự đau khổ của con người.

Cho nên trong Tứ Thánh Định Đức Phật dạy rằng: “Ly dục ly ác pháp nhập Sơ Thiền, do ly dục sanh Hỷ Lạc”. Khi nào tâm định trên thân, thân định trên tâm thì hướng đến Tam Minh sẽ thấy rõ.

Bây giờ từ cái chỗ mà chúng ta ly dục ly ác pháp chúng ta mới nhập được Sơ Thiền. Thì ở trong Tứ Thánh Định xác định rõ từ cái chỗ mà Thiền thứ nhất thì chúng ta phải đi vào cái Giới nó mới sanh ra được cái Định. Từ cái định đó thì chúng ta mới thấy được thân định trên tâm và tâm định trên thân. Lúc bấy giờ cái thân mà nó định thì nó bất động, nó không còn thở nó mới định, nó còn thở thì làm sao mà nó định được. Cho nên khi mà nó định trên tâm của nó được rồi, lúc bấy giờ chúng ta hướng tâm của mình đi đến Tam Minh thì mình sẽ thấu rõ.

Thấu rõ thứ nhất như thế nào? Một là Túc Mạng Minh, hai là Thiên Nhãn Minh, ba là Lậu Tận Minh. Ba Minh này đã viên mãn tức là trí tuệ giải thoát của Đạo Phật hiển hiện. Hành giả sẽ hoàn toàn giải thoát, làm chủ sanh tử, chấm dứt luân hồi. Ngược lại Đạo Phật Đại Thừa…​

(02:13) Đó thì cái đạo Phật mà chúng ta tu theo cái đường lối của Đạo Phật thì khi mà chúng ta đủ Tam Minh thì chúng ta chấm dứt sanh tử luân hồi. Chúng ta hoàn toàn là không còn tu tập nữa, nghỉ ngơi cho khỏe, chớ chúng ta hết có cái pháp nào mà gọi tu nữa.

Còn bây giờ nói về cái Đạo Phật Đại Thừa, tức là đạo Phật Phát Triển. Ngược lại đạo Phật Đại Thừa thì Bắc Tông và Thiền Tông thì:

Lấy kiến thức học tập làm trí tuệ. Lấy sự mà huân học, hiểu bài học này, bài kinh kia, hiểu biết rộng rãi thì đó gọi là trí tuệ, sự hiểu biết.

Lấy ức chế tâm làm Thiền Định. Lấy cái chỗ mà ức chế dùng cái pháp môn mà ức chế cái tâm mình, để làm cho cái Tầm Tứ nó không khởi lên cái niệm, thì họ lấy cái pháp đó họ tu. Lấy cái học và lấy cái pháp ức chế đó mà họ tu tập.

Còn giới Luật thì không cần giữ gìn nên Đức Hạnh của một vị Tỳ Kheo và Tỳ Kheo ni không có. Cho nên nhìn vào cái Giới mà Phật Giáo Đại Thừa với Thiền Tông, thì cái Giới Luật họ không có nghiêm chỉnh.

Họ ăn uống phi thời, họ sống trong chùa to tháp lớn, họ sống trong những cái vật chất đầy đủ, không thiếu một thứ gì hết. Do đó cái tâm của họ nó chạy theo những cái dục lạc của thế gian. Đời có những vật gì, thì ở thế gian người ta giàu có, người ta có vật gì thì ở trong chùa họ cũng có những vật nấy, họ không thua gì ở ngoài đời chút nào hết. Nghĩa là đời sống của họ cũng đầy đủ vật chất như các người khác, chứ không có thua.

Do cái chỗ mà họ không có giữ gìn Giới, cho nên cái đời sống của họ nó thiếu cái hạnh, nó thiếu cái Đức Hạnh của một vị Tỳ Kheo. Họ cứ nghĩ rằng khi mà họ tu, họ học hiểu rồi, họ tu cái pháp Thiền Định mà ức chế tâm, sau khi đạt được thì Giới Luật họ nghiêm chỉnh, họ nghĩ như vậy.

(04:05) Cuộc sống của tu sĩ “Đời chẳng ra đời, Đạo chẳng ra Đạo, danh lợi giống như người thế gian”.

Đó thì các thầy quán xét những cái lời mà Thầy giải thích cho cô Diệu Quang có đúng hay là không? Rất là đúng trong cái hiện đại. Vì chúng ta đang tiếp xúc với các thầy tu Thiền Tông và các thầy tu theo pháp môn Đại Thừa, thì chúng ta thấy được đời sống của họ rõ ràng cụ thể, chứng minh cho lời nói của Thầy không có vu khống họ chút nào.

Nhưng chúng ta cũng biết rằng trong cái giới tu sĩ hiện giờ, có những người rất là tha thiết, họ không có nề hà cái sự mà giữ gìn Giới Luật. Nhưng họ chưa biết pháp môn, cho nên họ đang sống trong cảnh họ đang lầm lạc mà họ chưa biết cái pháp môn chân chánh để họ quày đầu, đi hướng về con đường của Đạo Phật. Nếu một ngày nào họ biết rằng Giới Luật để đưa họ đi vào cái chỗ giải thoát, tâm thanh tịnh. Để đi đến Thiền Định chân chánh của Đạo Phật, nhập được bốn thiền, Tứ Thánh Định đó, thì chắc chắn là họ sẽ quày đầu trở lại rất nhanh. Họ không có hề mà ham danh, ham lợi, ham chùa to, tháp lớn, mà họ chỉ còn đi chọn lấy một cuộc đời giải thoát như Đức Phật và các bậc Thánh Tăng mà thôi.

2- ĐỘC CƯ LÀ TÂM KHÔNG BỊ CÁC PHÁP CÁM DỖ

(05:30) …​của các tu sĩ hiện giờ bị cám dỗ là độc cư. Các thầy và các con nghe Thầy giải thích cái chỗ độc cư. Bởi vì cô Út hỏi để cho biết rõ, để không khéo các con chỉ hiểu một cách rất phiến diện. Chỉ biết á khẩu làm thinh là độc cư, điều đó là điều sai.

Trước các pháp tâm không bị cám dỗ là độc cư. Trước những người thân quyến thuộc tâm không động lòng thương ghét là độc cư. Trước những lời mạ nhục, phỉ báng tâm không giận hờn, phiền não là độc cư. Trước những cảnh thọ lạc, thọ khổ, thọ bất lạc bất thọ khổ tâm không dao động là độc cư. Trước những cảnh éo le đau khổ của kẻ khác tâm vẫn thanh thản, an nhiên, bất động là độc cư. Trước những cảnh chết chóc như chỉ mành treo chuông, tâm vẫn thản nhiên, bất động là độc cư. Trước những cảnh ác thú và giặc cướp tâm vẫn an nhiên, bất động là độc cư. Chứ không phải độc cư là không nói chuyện.

(06:26) Đó cuối cùng Thầy xác định cho các thầy thấy trong cái vấn đề đó như vậy. Nhưng mà hạnh độc cư …​

Thân hành Niệm, kinh Thân Hành Niệm. Cái tên kinh nó là Thân Hành Niệm. Bài kinh nó như thế này, Thầy xin đọc lại cái nguyên văn của nó:

“Như vầy tôi nghe, một thời Thế Tôn trụ ở nước Xá Vệ, tại rừng Kỳ Đà, tịnh xá của ông Cấp Cô Độc, rồi một số đông đảo Tỳ Kheo sau khi buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về đang ngồi tụ họp tại hội trường, câu chuyện này được khởi lên giữa Tăng chúng.”

Nghĩa là sau khi đi khất thực, ăn cơm xong rồi thì các vị Tỳ Kheo này mới hội họp ở hội trường, rộng lớn như là cái Tổ đường của mình ở đây vậy đó. Họ họp nhau, rồi họ ngồi mới nói chuyện với nhau về cái pháp tu. Thì có một vị Tỳ Kheo mới khởi sự nói ra cái điều này:

“Thật là vi diệu thay này chư Hiền Giả, hy hữu thay chư Hiền Giả. Thân Hành Niệm khi được tu tập và làm cho sung mãn, có được quả lớn, có được công đức lớn như đã được Thế Tôn, bậc Trí giả, Kiến Giả, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác tuyên bố. Và câu chuyện này, giữa các vị Tỳ Kheo ấy đã bị đoạn diệt.”

Nghĩa là cái câu chuyện mà đang tuyên bố, nói ra như vậy thì đến đây thì cái câu chuyện đó bị gián đoạn đi, bị không có còn nói nữa. Thì lúc bấy giờ Đức Phật trong cái buổi chiều, mà họ đang bàn bạc về cái vấn đề Thân Hành Niệm, cái pháp Thân Hành Niệm thì trong khi đức Phật từ cái Thiền Tịnh Độc Cư, Ngài mới đứng dậy đi đến cái hội trường, đi đến cái chỗ mà các chúng Tỳ Kheo mà đang ngồi mà nói chuyện, bàn chuyện nhau, thì đức Phật đi đến đó thì các vị Tỳ Kheo ngưng, không có nói nữa. Tức là gián đoạn cái câu chuyện, không có tiếp nữa. Cho nên khi mà đức Phật đến hội trường, thì đức Phật mới hỏi: Đây cái đoạn mà chỗ mà đức Thế Tôn, Thầy xin đọc tiếp:

(08:37) “Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền Tịnh Độc Cư đứng dậy đi đến hội trường. Sau khi đến ngồi lên chỗ soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỳ Kheo: Ở đây này các Tỳ Kheo, các ông hiện nay đang ngồi bàn vấn đề gì, câu chuyện gì mà các ông bị gián đoạn?”.

Nghĩa là các ông thấy tôi mà các ông ngưng lại đi, không có nói nữa, đó là câu chuyện gì? Thì đức Phật hỏi các vị Tỳ Kheo như vậy. Thì có một vị Tỳ Kheo đứng lên bạch như thế này: “Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi ăn xong, sau khi đi khất thực trở về, chúng con mới ngồi tụ họp ở hội trường và câu chuyện sau này được khởi lên. Được một vị Tỳ Kheo khởi lên nói:

“Thật vi diệu thay chư Hiền Giả, thật hy hữu thay chư Hiền Giả. Thân Hành Niệm này được tu tập làm cho sung mãn, có quả lớn, có công đức lớn đã được Thế Tôn, bậc Y giả, Kiến Giả, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác tuyên bố. Bạch Thế Tôn câu chuyện này của chúng con chưa bàn xong thì Thế tôn đã đến.”

Thì đức Phật nghe vị Tỳ Kheo đó nhắc trở lại cái chuyện mà các vị đang bàn về cái vấn đề mà cái pháp Thân Hành Niệm. Thì đức Phật nói:

(09:59) “Này các Tỳ Kheo Thân Hành Niệm tu tập như thế nào làm cho sung mãn? Như thế nào có quả lớn, có công đức lớn?

Ở đây này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo đi đến một khu rừng, hay đi đến một gốc cây, hay đi đến một ngôi nhà trống và ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt.”

3- NHỮNG CÁI SAI TRONG KINH THÂN HÀNH NIỆM

(10:18) Chánh niệm là cái niệm, giữ lấy cái niệm chân chánh đó là về cái niệm hơi thở. Thì thay vì thì ở đây cái bài Thân Hành Niệm, đầu tiên thì chúng ta phải dạy Thân Hành Niệm ngoại. Mà ở đây, cái bài này ngay từ vô thì Đức Phật lại dạy cái Thân Hành Niệm nội, tức là hơi thở. Cho nên nó không có thứ lớp, cái (mà) chúng ta thấy nó rõ ràng.

Theo Tứ Niệm Xứ thì Đức Phật có dạy rất rõ “Trên thân quán thân mà tu về nhân tướng để khắc phục tham ưu thì tu về nhân tướng của nó”. Nó không có hành, mà tu về cái nhân tướng, chứ không phải hành tướng.

Mà trên thân quán thân tu về Hành Tướng Ngoại thì đó là tu ở trong hành động như đi kinh hành, hoặc làm công việc của thân của mình, gọi là hành tướng ngoại.

Trên thân quán thân mà tu về Hành Tướng Nội, đó là hơi thở ra, hơi thở vô thì nó mới đúng cách. Đó là trên Tứ Niệm Xứ đã dạy như vậy.

Còn ở đây vào cái bài Thân Hành Niệm thì chúng ta phải dạy ngay cái hành động ngoại trước, và hành động nội sau. Bởi vì hành động nội, nó nhắc cho chúng ta để đi vào một cái con đường Thiền Định, để làm chủ được sự sống chết. Vì vậy mà nương vào hành động nội này thì chúng ta sẽ khắc phục. Như Thầy đã dạy Tứ Chánh Cần, thì chúng ta nương vào hành động ngoại để mà ngăn chận không cho các ác pháp sanh và nương vào hơi thở để ngăn chặn không cho các ác pháp sanh. Hành động nội và hành động ngoại chúng ta phải tu cái nào trước?

Bởi vì cái hành động nội nó rất khó, là vì chúng ta ngồi kiết già, thì chúng ta không thể kéo dài cái thời gian dài một, hai tiếng đồng hồ, không thể dài được. Thứ nhất là ngồi kiết già hai chân đau tê, thì không thể ngồi rồi. Mà bị Thọ đánh thì không bao giờ mà còn nhiếp tâm, ở trong tỉnh thức, ở trong hơi thở được. Chúng ta phải thấy cái kinh nghiệm dạy chúng ta biết điều đó mà.

(11:58) Cho nên ở đây mà nếu mà ngồi như vậy, hít thở như vậy thì cái thời gian chúng ta chỉ có ngắn ba mươi phút mà thôi. Cái sức chúng ta mà người chưa ngồi thiền lâu, chưa ngồi kiết già lâu, ba mươi phút là chịu không muốn nổi rồi đó. Bây giờ chúng ta mà ngồi hít thở như vậy, thì chúng ta dễ bị rơi vào hôn trầm, thùy miên, vô ký. Nghĩa là cái tâm mà chúng ta giữ cho nó hoàn toàn tỉnh giác không có tạp niệm xen vào để tỉnh thức, để ngăn chặn các ác pháp thì lúc bấy giờ chúng ta sẽ rơi vào hôn ký, thùy miên. Không có thể nào trật được.

Cho nên chỉ có khi mà chúng ta đi kinh hành, lao động thì chúng ta không bị rơi vào hôn trầm, vô ký, thùy miên, chúng ta không bị rơi. Cho nên ở đây chúng ta thấy rằng cái bài pháp mà do Đức Phật dạy như vầy là thiếu trước, thiếu sau. Như vậy là người sau này đã kết tập, làm sai, không hiểu, không có kinh nghiệm. Chứ ông Phật dạy không phải thiếu kinh nghiệm như thế này. Nghĩa là ông Phật phải dạy cái nào trước, cái nào sau. Còn cái này dạy như vậy là sai. Mặc dù là cái bài pháp nói đúng, chớ không sai, nhưng mà điều kiện là thứ tự sắp xếp như vậy là sai. Cái người mà sắp xếp này là cái người không đúng.

Thầy mạnh dạn dám phê phán cái sai, cái đúng và Thầy nói rằng quý thầy đừng tin nơi cái miệng Thầy nói, mà hãy suy ngẫm coi có đúng không? Qua sự kinh nghiệm của quý thầy, quý thầy suy ngẫm có đúng không? Nếu quý thấy chưa có tỉnh thức bằng hành động bên ngoài, mà quý thầy vội tỉnh thức bằng hơi thở thì quý thầy sẽ bị hôn trầm, thùy miên, vô ký. Bởi vì hết vọng tưởng là quý thầy sẽ bị. Thầy nói quý thầy cứ rút tỉa kinh nghiệm coi có không?

Còn quý thầy cứ đi kinh hành, cứ lao tác đi, quý thầy không rơi vào vô ký, hôn trầm thì sức tỉnh thức quý thầy càng ngày càng tăng lên. Ông Phật dạy có kinh nghiệm hẳn hòi đàng hoàng, nhưng người sau sắp xếp lại bài kinh này là người sau làm sai, họ là người không có kinh nghiệm. Chứ không lý mà ông Ca Diếp mà không biết điều này mà để mà kết tập Kinh Điển bằng cách là lấy trái làm phải, lấy phải làm trái như thế này sao? Cho nên nếu mà các thầy, các con, mà chúng ta có đủ cái Túc Mạng Minh, chúng ta trở về với cái thời quá khứ, chúng ta nghe cái bài pháp Thân Hành Niệm này Đức Phật đã dạy. Thì chúng ta biết rằng đúng hay sai, và người viết lại bài kinh này sai hay đúng? Chúng ta biết rõ.

(14:04) Bây giờ một mình Thầy khó mà xác định, nhưng mà Thầy dám xác định ở đây trước quý thầy. Nhưng không phải là chỗ quý thầy đem cái bài kinh này ra mà nói người ta làm sai, này kia. Quý thầy lấy chỗ nào chứng minh? Cho nên quý thầy hãy tu như Thầy đi, rồi quý thầy trở về nghe Đức Phật Thích Ca nói lại cái bài kinh này Thân Hành Niệm. Trong khi Đức Phật dạy cho một số Tỳ Kheo này thì quý thầy sẽ nghe rõ từng bài trước, bài sau rất rõ ràng, chứ không phải như thế này.

Đây bây giờ Thầy nói về cái bài đầu tiên Thân Hành Niệm mà Đức Phật dạy là Chánh Niệm Hơi Thở. Thầy xin đọc tiếp: “Chánh niệm vị ấy thở vô, chánh niệm vị ấy thở ra”. Chánh niệm tức là biết hơi thở, biết hơi thở vô và biết hơi thở ra.

– Hay “Thở vô dài vị ấy biết tôi thở vô dài, hay thở ra dài vị ấy biết tôi thở ra dài”.

– Hay “Thở vô ngắn vị ấy biết tôi thở vô ngắn, hay thở ra ngắn vị ấy biết tôi thở ra ngắn.”

“Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“An tịnh thân hành tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các thầy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo tu tập Thân Hành Niệm.”

Cái bài pháp nó như vậy. Bây giờ Thầy sẽ giải thích cho các thầy thấy: “Chánh niệm vị ấy thở vô, chánh niệm vị ấy thở ra”, nghĩa là Chánh niệm, tức là Đức Phật muốn nhắc là mình phải biết, chứ chưa có nhắc gì hết. Bây giờ mình hít vô mình biết mình hít vô, thở ra mình biết mình thở ra, gọi là Chánh niệm.

(16:04) Còn bây giờ kế thì Đức Phật dạy: “Thở vô dài, vị ấy biết tôi thở vô dài” hay “thở ra dài, vị ấy biết tôi thở ra dài”. Thì câu “thở ra dài” hay là “tôi thở vô ngắn” hay “tôi thở vô dài”, thì cái thở ra, thở vô…​

Bắt đầu cái chữ Chánh niệm là mình chỉ cần biết mà mình không có hướng tâm, mình không có nhắc. Mà đến cái chỗ mà thở “Tôi thở vô dài, tôi biết tôi thở vô dài”, hay là “Tôi thở ra dài, tôi biết tôi thở ra dài”, thì cái đó là Pháp Hướng kèm theo. Cho nên nó thường đóng và nhấn mạnh cho chúng ta biết rằng cái chỗ đó, để mà chúng ta nhắc cái tâm của mình kèm theo cái Pháp Hướng.

Cho nên ở đây chúng ta mới thấy cái kế của Đức Phật dạy: “Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô”, nghĩa là mình hít vô, mình nhắc. Bây giờ mình không có nhớ cái thân của mình là cảm giác như thế nào, nhưng mình nhắc thì mình thấy có cái cảm giác của thân của mình. Cho nên “Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô, cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra”, phải không? Mình nhắc như vậy làm cho cái tâm mình nó chú ý vào cái cảm giác của cái thân của mình trong lúc mình đang tu.

Rồi “An tịnh thân hành tôi biết tôi thở vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Đó thì cái bài pháp Đức Phật bảo mình nhắc mình như vậy để cho mình biết cái sự an tịnh, rồi “an tịnh thân hành”. Thì ở đây do cái chỗ chúng ta tu tập cái thân, cho nên “cảm giác toàn thân”, rồi “an tịnh thân hành”, thì rõ ràng là chúng ta đang tu tập ở trong cái Thân Hành.

(17:52) Nhưng có cái bài pháp, để sắp tới đây thì Thầy đọc tới. Thì trong cái Thân Hành Niệm mà lại dạy nó lộn nữa. Ở đây thì “An tịnh thân hành” là đúng pháp, mà “An tịnh tâm hành” là sai.

Mình đâu phải tu trên cái tâm hành, mà mình tu trên cái thân hành, phải không? Mà mình nhắc “An tịnh tâm hành” là sai. Hay “Cảm giác toàn tâm tôi thở vô, cảm giác toàn tâm tôi thở ra”, thì cái đó là ở đây không phải là cái Thân Hành Niệm, mà cái Tâm Hành Niệm. Cho nên từng cái pháp ở đây, thì trong cái bài Thân Hành Niệm, nó có cả cái cảm giác Tâm Hành, thì Thầy sẽ đọc tới.

Cho nên ở đây cái bài này nó rất đúng là vì:

“Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra, cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô”.

Rồi “An tịnh thân hành tôi sẽ thở ra, an tịnh thân hành tôi sẽ thở vô”.

Ở đây mình đọc cái bài kinh, mình phải thấy rõ: Khi mà nói về thân hành thì cái cảm giác này là cảm giác của thân. Mà khi nói về tâm hành thì nó là cảm giác của tâm, hít vô, hít ra, nó do cảm giác của tâm.

PHÁP THÂN HÀNH NIỆM CÂU HỮU VỚI TỨ CHÁNH CẦN

Bây giờ đó khi mà mình đã hướng tâm, mình nhắc như vậy, thì vị ấy phải sống như thế nào? Sống tâm không phóng dật. Chứ không phải là mình phóng dật, mình phóng dật mà mình hướng tâm, mình tu vậy không kết quả đâu. Cho nên Đức Phật dạy ở trong cái bài kinh này trong khi vị ấy mà tu tập như vậy thì “cái tâm không có được phóng dật; nhiệt tâm, tinh cần, siêng năng”, tức là nhiệt tâm đem hết cái sức nhiệt tâm của mình, và tinh cần là siêng năng. “Các niệm và tư duy thuộc về thế tục đoạn trừ”: lúc mà mình tu tập cái pháp hơi thở như vậy, thì mình đoạn trừ các cái pháp đó đi.

Thì sự thật ở đây nó chưa phải là trên cái pháp vô lậu, mà nó cũng chưa phải là trên cái Tứ Niệm Xứ. Mà nó chỉ mượn cái Thân Hành Niệm, mượn cái Định Chánh Niệm Tỉnh Giác ở trên cái hơi thở này mà để tu tập làm cho các ác pháp, ngăn chặn không cho sanh khởi.

(20:07) Ngăn chặn không cho sanh khởi. Mà ác pháp không sanh khởi, thì các thầy thấy cái câu chỗ này nè, thì cái tâm của người đó có phóng dật không? Không có phóng dật, phải không? Cái tâm của người đó phải siêng năng rồi, thì những cái chuyện mà thế tục, những cái chuyện ham muốn, những chuyện danh, chuyện lợi thì có đoạn trừ không? Lúc bây giờ mà mình cứ giữ cái niệm hơi thở như vậy thì nó sẽ đoạn trừ tất cả những cái tâm đó. Và vì vậy mà mình an tọa ở trong cái chỗ tu hành của mình, mình ngồi nó rất là an ổn. Chuyên nhất và định tĩnh, cái tâm mình nó định tĩnh ở trong cái hơi thở đó.

Như vậy là một vị Tỳ Kheo tu về Thân Hành Niệm. Mà ở đây chúng ta thấy cái bài Thân Hành Niệm này, nó không phải độc lập là cái pháp Thân Hành Niệm, mà cái pháp này nó giúp cho chúng ta để đoạn trừ các pháp ác trong Tứ Chánh Cần.

Bởi vì khi mà tâm mình hướng ra, hướng vô như vậy thì nó có một ý gì mà nảy sinh ở trong đầu của chúng ta được không? Mà nó không có nảy sinh ra được thì cái tâm có phóng dật không? Không có phóng dật! Mà nó không có phóng dật thì các cái việc mà về thế tục, mà nó ham muốn thì nó có đoạn trừ không? Nó đâu còn ở trong tâm của mình được nữa.

Cho nên nó cụ thể và rõ ràng. Và vì vậy mà ác pháp không có sanh khởi được, và thiện pháp thì tăng trưởng. Thì ngay về hơi thở thì chúng ta đã tu tập được như vậy rồi.

Thì bây giờ kế tiếp Đức Phật lại dạy cái (Thân Hành Ngoại đây) Thân Hành Nội. Thay vì cái Thân Hành Ngoại đi trước, mà Thân Hành Nội phải đi sau mới đúng cách. Bởi vì mình phải tu tập Tỉnh Thức, rồi mình mới ngồi lại mình mới tu tập mới được.

Bây giờ Đức Phật lại dạy tới cái Thân Hành Nội. Thì trong khi ở đây, cái bài đầu tiên thì các thầy lại thấy nè: “Các vị Tỳ Kheo đi đến một khu rừng hay đi đến một gốc cây hay một ngôi nhà trống” rồi mới tu về hơi thở đó. Mà nếu bây giờ “Lại nữa”, cũng đang ngồi mà làm sao đi?

Thì ở đây “Lại nữa” là cái bài kế, Đức Phật lại dạy Thân Hành Niệm đây:

(22:06) “Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo đi biết rằng tôi đi, hay đứng biết rằng tôi đứng, hay ngồi biết rằng tôi ngồi, hay nằm biết rằng tôi nằm. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân thể như thế ấy. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần các niệm và tư duy thuộc về thế tục đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo tu tập Thân Hành Niệm.”

Như vậy là cái bài này ở cái đoạn sau này, Thầy nói rằng khi mà chúng ta thực hiện Tứ Chánh Cần thì cái chỗ “Trong khi vị ấy sống không phóng dật”, chúng ta lúc bấy giờ có phóng dật không? Bây giờ cái hành động Thầy đưa tay, Thầy biết Thầy đưa tay. Thầy đi, Thầy biết Thầy đi. Thầy ngồi Thầy, biết Thầy ngồi. Thầy nói, Thầy biết Thầy nói. Thầy nằm, Thầy biết Thầy nằm. Thầy mặc y, Thầy mang bát, Thầy biết. Mỗi hành động Thầy làm Thầy đều biết cái hành động đó.

Cũng như bây giờ Thầy đang quét sân, Thầy biết Thầy đang quét sân. Mà Thầy sợ nó quên quét sân đi thì Thầy nhắc: “Tôi quét sân, tôi biết tôi quét sân”. Thì như vậy luôn luôn lúc nào, Thầy giữ gìn cái tâm của Thầy luôn luôn lúc nào cũng ở trên cái hành động của mình. Thì như vậy là những dục lạc của thế tục nó còn cám dỗ Thầy được không? Tâm Thầy nó còn phóng ra theo các pháp được không? Nếu mà phóng ra, thì nó là niệm ác mất rồi.

Cho nên áp dụng vào Tứ Chánh Cần thì chúng ta thấy rằng trong cái Thân Hành Niệm nó làm chúng ta tỉnh táo, rất tỉnh táo và chúng ta đoạn dứt, chấm dứt các pháp ác, không có cho nó sanh khởi. Đó là cái pháp tu Thân Hành Niệm.

Và như vậy cái đầu tiên chúng ta thấy bài kinh này Đức Phật phải dạy đi, đứng, nằm, ngồi, hành động của chúng ta bên ngoài trước, thì tới cái hơi thở sau là nó hay nhất. Bởi vì cái ngồi nó có thời gian ngắn, mà cái đi, mà làm tất cả những công việc nó có thời gian dài chúng ta để tập tỉnh thức.

(23:53) “Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo khi bước tới, bước lui biết rõ mình đang làm. Khi ngó tới, ngó lui biết rõ mình đang làm”.

Nghĩa mà biết mình đang ngó tới, ngó lui.

“Khi co tay, khi duỗi tay biết rõ mình đang làm. Khi mang áo Tăng Già Lê, mang bát, mang y biết rõ mình đang làm. Khi ăn, uống, nhai, nếm biết rõ mình đang làm. Khi đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng biết rõ mình đang làm. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ, nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo tu tập Thân Hành Niệm.”

Rõ ràng đây là phần chúng ta tu tập Thân Hành Niệm, rất rõ mà. Nhưng mà để ý ngược lại, cái bài tu tập này nó nằm ở trước, thứ tự của nó phải trước. Rồi sau đó chúng ta mới tu tập về hơi thở của chúng ta về Thân Hành Niệm, thì cái đó nó hay, quá hay và tuyệt vời. Đúng là biết cách sắp xếp cho từng cái giai đoạn tu trước, tu sau.

Còn bây giờ ngay vô tu hơi thở thì người đó ngồi chút xíu là bắt đầu họ bị đau hoặc này kia, họ bất an rồi, họ bị Thọ đánh rồi. Rồi họ ngồi một hơi đó thì bắt đầu họ rơi vào vô ký, hôn trầm. Bởi vì đang ở trong cái chánh niệm thì họ không có vọng tưởng thì họ cũng bị rơi vào vô ký. Chừng đó họ biết ở đâu mà họ lại chánh niệm được nữa, họ mất đi. Cho nên đây là cái sai.

Mà khi mà tu tập Thân Hành Niệm ngoại này, nó đã tỉnh thức rồi, bắt đầu họ ngồi nửa tiếng, một tiếng là tỉnh thức, nó không bị rơi vào hôn trầm, thùy miên, vô ký. Đó là những cái kinh nghiệm đã dạy mình. Cho nên mình biết rằng khi mà bố cục một bài pháp thì phải cái pháp nào nói trước, cái pháp nào nói sau. Bố cục như vậy là bố cục sai.

(25:41) “Lại nữa, này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy quan sát thân này, từ bàn chân trở lên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da chứa đầy bởi những vật bất tịnh, sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật , đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu. Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống, đựng các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra mà quan sát: đây là hột gạo, đây là hạt lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hạt lúa đã xay rồi.

Cũng vậy, này các Tỳ Kheo! Một Tỳ Kheo quan sát thân này từ dưới bàn chân trở lên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da chứa đầy bởi những vật bất tịnh, sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.

Khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần các niệm tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo tu tập như vậy gọi là tu tập Thân Hành Niệm.”

Cái bài pháp này có phải Thân Hành Niệm không, các thầy? Khi nghe như vậy, có phải là Thân Hành Niệm không? Bây giờ chúng ta ngồi đây, cái ý của chúng ta quan sát cái thân này như một cái bao, nó chứa nào là răng, móng, lông, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, phèo, phổi. Thì đây là cái bao nó chứa đầy đủ các thứ ở trong đó hết. Mình ngồi mình quan sát cái thân của mình, như vậy có phải là Thân Hành Niệm không?

(27:54) Đối với bài kinh như thế này mà gọi nó là Thân Hành Niệm thì các thầy có chấp nhận không? Như vậy có phải là cái người mà kết tập kinh điển này là kết tập sai không? Thân Hành Niệm là cái thân phải có sự động của nó mới Thân Hành Niệm chứ, còn đằng này có động đâu. Cái ý của chúng ta đang quan sát cái thân, tức là quán sát cái thân của chúng ta nó như là một cái bao để chứa tất cả những cái đồ bất tịnh này, phải không?

Như vậy là Định Vô Lậu quán bất tịnh, chứ không phải là Thân Hành Niệm. Nó đâu phải là Chánh Niệm Tỉnh Giác.

Bởi vậy khi đọc cái bài kinh, chúng ta mới biết được bài kinh sai hay bài kinh đúng. Mà đây là kinh Nguyên Thủy hẳn hòi, đàng hoàng, kinh Pali, chứ đâu phải là kinh Đại Thừa đâu. Còn nếu mà Đại Thừa mà Thầy đọc, bởi vì Thầy viết cái bộ Đường Về Xứ Phật mà trước đây, Thầy bác biết bao nhiêu bài kinh của Đại Thừa không? Thầy đập xuống biết bao nhiêu. Nhưng bây giờ Thầy không có cho ra những thứ đó đâu, nó động chạm biết bao nhiêu. Còn đây là bài kinh Nguyên Thủy mà họ dám kết hợp như thế này, để mà gọi là Thân Hành Niệm trong cái bài như thế này, thì thấy chỗ này có phải là cái bài Thân Hành Niệm không?

Đây là Thầy muốn nói để chúng ta biết được cái sai, cái đúng của kinh sách hiện giờ là nó quá, người ta không biết được cái đúng, cái sai. Mà đặt một cái tên Thân Hành Niệm là nó phải thực hiện, hồi nãy Thầy có giải thích từ cái tên của nó phải thực hiện hành động của nó ở trong cái pháp môn. Mà đây đặt cái tên của kinh này là Thân Hành Niệm, mà chỗ này có phải là Thân Hành Niệm không?

Ngồi quán sát thân, cái thân nó cứng đờ đó, chớ nó có rung động chỗ nào mà gọi là nó hành, như vậy nó có đúng với cái tên không? Như vậy là sai. Nó chỉ có một cái bài thứ nhất là hơi thở, một cái bài thứ hai là hành động của thân của chúng ta bên ngoài, đó là đúng nhưng mà sự sắp xếp thì nó không đúng, cái trước, cái sau.

Các thầy cứ lấy trí tuệ, suy nghĩ của mình mà nghe những lời Thầy nói có đúng hay là sai. Chớ đừng có tin cái miệng của Thầy. Thầy nói theo cái ý của Thầy, cái sự hiểu biết của Thầy, còn quý thầy suy nghĩ cái lời của Thầy nói là đúng hay là sai. Bởi vì hầu hết quý thầy đều có một cái trí tuệ ở trong cái trí tuệ. Cho nên Đức Phật ngày xưa cũng nói: “Ta nói đừng có tin Ta, những gì Ta nói mà làm có ích lợi, có sự giải thoát thì hãy tin. Mà không có ích lợi, không có sự giải thoát, người ta chê thì đừng có làm, nó không đúng đâu”.

(30:04) Thì những lời mà Thầy nói ở đây, thì các thầy còn suy nghĩ những lời Thầy nói đúng hay sai.

Đó thì toàn bộ cái bài kinh này nó rất nhiều, chứ không phải họ nói kết hợp lại nó đủ thứ ở trong này, nó tất cả những cái. Thậm chí như bốn Thiền nó cũng ghép vô đây, bốn cái Định nó cũng ghép vô đây, mà nó nói gọi là Thân Hành Niệm của nó. Thì tất cả những cái này đều là cái sai của nó. Thân Hành Niệm chỉ có một cái khoảng thời gian hành động nội và hành động ngoại và nội, ngoại một lượt mà thôi.

Cho nên trên Tứ Niệm Xứ, Thầy giảng về Tứ Niệm Xứ, các con sẽ thấy rõ. Ở trên Tứ Niệm Xứ, bắt đầu thì chúng ta tu về Nhân Tướng nó trước. Rồi sau đó chúng ta mới tu về cái Hành Tướng của nó, Hành Tướng Ngoại và Hành Tướng Nội. Sau khi Hành Tướng Ngoại và Hành Tướng Nội xong rồi thì chúng ta tu Hành Tướng Nội và Hành Tướng Ngoại đồng thời một lượt. Nó hai cái, vừa tu ở ngoại, mà vừa tu ở trong nội nữa.

Cũng như bây giờ quý thầy tu Chánh Niệm Tỉnh Giác, vừa đi mà vừa nương hơi thở, cả hai cái chứ không phải một cái, thành ra nội và ngoại. Thì hơi thở của chúng ta như thế nào, là nội, phải không? Mà ngoại là hành động của chúng ta đi kinh hành là ngoại. Lấy cái hành động nội này mà thực hiện với cái hành động ngoại kia, thì hai cái nội, ngoại đồng thời tu một lượt. Thì do đó không phải là sức tỉnh của chúng ta cao lên sao? Cho nên ở trong Tứ Niệm Xứ xác định rõ mà, nội, ngoại đồng tu mà. Còn bắt đầu tu cái ngoại, rồi tu cái nội, rồi mới nội, ngoại đồng tu.

Thì ở đây nó có những cái sai mà Thầy phải dạy để cho các con thấy rằng trong khi chúng ta phải lấy được những cái đúng, thế nào đúng để mà chúng ta tu tập. Chứ không phải đọc bài kinh như thế này rồi bắt đầu chúng ta ngồi đây mà quán bất tịnh. Mà Quán Bất Tịnh tức là tu Định Vô Lậu để đoạn diệt các pháp ác, đoạn dứt các pháp ác.

Các pháp ác chưa sanh thì tu Chánh Niệm Tỉnh Giác và Định Niệm Hơi Thở để ngăn chận, không cho nó sanh. Các thầy hiểu chứ? Bởi vì ngăn chận tức là chúng ta tu ở trong tỉnh thức thì không có nó khởi ra được, phải không? Tỉnh thức ở trong hành động ngoại, tỉnh thức ở trong hành động nội, rồi tỉnh thức ở trong hành động nội và ngoại. Đó là như quý thầy kết hợp giữa hơi thở và bước đi kinh hành của mình hay việc làm của mình, đó là nội – ngoại.

(32:12) Còn bây giờ mà quán bất tịnh, tức là tu Định Vô Lậu, mà vô lậu là các pháp ác đã sanh cho nên chúng ta phải đoạn diệt. Mà nó sanh các pháp gì? Bây giờ nó chấp cái ngã nè, nó sân, si, nó phiền nào nè, thì chúng ta phải coi nó chấp cái thân này là ngã hay chấp cái tâm. Mà nếu chấp thân thì chúng ta mới quán bất tịnh. Quán xem coi cái thân này, là cái bao da này nó sẽ chứa những cái gì, cái gì hôi thúi bẩn thỉu như thế nào, thì đó để mà chúng ta đoạn dứt cái chấp ngã của chúng ta.

Mà nó kiến chấp thì nó thuộc về tâm, thì chúng ta phải quan sát cái tâm để mà chúng ta tu Định Vô Lậu, “Trên tâm quán tâm” mà, tu Định Vô Lậu để quét sạch cái kiến chấp của chúng ta, nó làm cho chúng ta đi vào đúng con đường của Đạo Phật.

Như vậy thì quý thầy thấy rằng trong con đường tu tập của mình, thì những cái bài kinh như vậy, thì chúng ta làm sao mà tin nổi được, mà chúng ta theo đó mà chúng ta tu? Mà nếu mà cứ đọc bài kinh Thân Hành Niệm này rồi tôi tu đủ thứ, tôi cứ đọc như vậy, mà cái danh từ đọc thì các thầy thấy cái chỗ mà để khắc phục tham ưu, cái chỗ mà đoạn trừ các ác pháp thì Đức Phật nói như thế này, chúng ta biết cái pháp nào mà chúng ta đoạn dứt nó nè:

“Trong khi vị ấy sống không phóng dật”.

Sống không phóng dật, bây giờ chúng ta sống không phóng dật, chúng ta làm sao? Cái tâm mình, nó cứ ngồi đây mà nó phóng, nó nhớ cái này, nhớ cái kia, nó không phóng dật sao? Nó phóng dật đó chứ. Vậy thì muốn không phóng dật thì phải làm sao? Thì rõ ràng là cái pháp hồi nãy, mà chúng ta nương vào cái hơi thở, mà nương vào cái hành động đi thì cái tâm nó phóng được không? Cái pháp đó nó làm cho chúng ta có phóng được không? Bây giờ chúng ta đang biết hơi thở, đang biết hành động đi thì cái tâm nó còn cái chỗ nào mà nó phóng ra không? Nó có phóng dật đâu. Cho nên chúng ta nhiệt tâm, tinh cần ở trong giữ gìn trong cái hành động thì nó không còn cái kẽ hở, thì cái tâm nó không phóng dật. Rồi bây giờ:

(33:57) “Các niệm và tư duy thuộc về thế tục.”

Tư duy tức là suy nghĩ. Các cái niệm nó chưa có khởi ra, nó vì cái pháp mà Chánh Niệm Tỉnh Giác, nó làm cho các pháp đó đoạn dứt đi, nó không có khởi ra được thì chúng ta có pháp nào đâu mà chúng ta lại tư duy nó, suy nghĩ nó như Định Vô Lậu để mà chúng ta đoạn trừ? Cho nên chúng ta có đoạn trừ gì đâu? Do cái pháp Chánh Niệm đó mà chúng ta ngăn chận các pháp ác thì các pháp ác không sanh. Cho nên chúng ta đâu có cái pháp nào mà chúng ta cần phải đoạn trừ?

Do đó thì tâm chúng ta như thế nào? Bây giờ nội tâm chúng ta sẽ an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Rõ ràng là quý thầy cứ giữ gìn vừa hơi thở, vừa hành động đi, hay hoặc trong hành động đi, hoặc chuyên nhất một hơi thở, thì do đó các thầy có thấy tâm của mình chuyên nhất và định tĩnh không? Và có thấy sự an tọa, sự ngồi hay sự đi của mình an ổn không? Chắc chắn là có sự an ổn.

Như vậy thì chúng ta có cần quán xét đoạn trừ không? Mà ở đây thì viết như vậy. Bây giờ đã tu cái pháp đó rồi, mà bây giờ còn phải đoạn trừ nó thì cái bài kinh như vậy là chúng ta đã có pháp, đã ngăn chận, đã làm cho nó không sanh thì cái gì mà còn sanh trong này mà phải đoạn trừ? Cho nên ở đây chúng ta có pháp chúng ta tu thì chúng ta không có còn lo nó nữa.

“Lại nữa, này các Tỳ Kheo! Tỳ Kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày. Thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen, nát thối ra. Tỳ Kheo quán thân ấy như thân này, tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy.”

(35:48) Nghĩa là mình quan sát cái thây ma phồng lên như vậy là. Bây giờ thì quý thầy thấy trong bài kinh này, nó là một cái quan sát một cái thân mà sình, hôi thúi như vậy, để chúng ta tu, phá cái ngã của chúng ta. Chấp cái thân là cái ngã của mình, như vậy là mình tu Định Vô Lậu, chứ không phải là tu Định Chánh Niệm Tỉnh Giác.

Cho nên ở đây, mình biết rằng trong cái pháp mà Tứ Chánh Cần thì mình cần phải tu ba cái định: Định Chánh Niệm Tỉnh Giác, Định Niệm Hơi Thở và Định Vô Lậu, nó ba cái định.

Nhưng Định Chánh Niệm Tỉnh Giác và Định Niệm Hơi Thở là nó ngăn chận các pháp ác, Định Vô Lậu thì nó đoạn dứt các pháp ác.

Chúng ta đã hiểu được như vậy, thì ở đây chúng ta chỉ nói về Thân Hành Niệm. Tức là chúng ta chỉ nói về cái thân, cái phần hoạt động của cái thân, tu ở trong các hành động của cái thân để ngăn chận các pháp ác, chứ không phải tu ở trong Định Vô Lậu, để mà quán xét. Vì chưa tới cái phần này, cho nên cái Định Vô Lậu thì phải nói trong cái phần khác, không phải nói ở trong Thân Hành Niệm, trong cái bài kinh này.

Cho nên ở đây tuy rằng chúng ta tu tập cái Định Chánh Niệm Tỉnh Giác và Định Niệm Hơi Thở thì như Thầy đã nhắc lại ở trong bài kinh này rồi. Thì chúng ta đã thấy rằng từ các hành động đi, đứng, nằm, ngồi, co tay, mặc áo, ăn, uống, tất cả mọi cái hành động đó, đều là tỉnh thức trong hành động đó gọi là Chánh Niệm Tỉnh Giác. Rồi đồng thời cái hơi thở ra biết thở ra, mà hơi thở vào biết vào thì chúng ta biết được hơi thở ra, vào như vậy, đó là Chánh Niệm Tỉnh Giác của hơi thở.

Danh từ của nó nó gọi là Định Niệm Hơi Thở. Vì Định Niệm Hơi Thở Thầy đã nói nó là trợ pháp, để cho nó trợ các pháp khác, sau này chúng ta nhập Thiền Định thì cũng đều nương vào hơi thở này mà chúng ta nhập các Thiền Định. Nhưng đầu tiên mà chúng ta tu nó thì đương nhiên được xem nó là Chánh Niệm Tỉnh Giác Định chứ không phải là Định Niệm Hơi Thở. Bởi vì giúp cho chúng ta tỉnh thức ở trong hành động nội. Mà hành động nội tức là hơi thở ra, hơi thở vô.

(38:09) Cho nên ở đây gọi nó là Định Niệm Hơi Thở thì cũng được, hay gọi nó là Chánh Niệm Tỉnh Giác trong nội thân của chúng ta thì cũng được. Vì vậy mà cái phần, cái bài kinh này, Thân Hành Niệm thì nó chỉ có hai phần: một phần hơi thở và phần hành động thân của chúng ta. Nó xác định cho chúng ta biết hai cái định đó để ngăn chận các pháp ác ở trong Tứ Chánh Cần, nó không cho sanh ra.

Và đến cái Định Vô Lậu thì nó phải quán xét thân bất tịnh, những các pháp đều vô thường, khổ, không, vô ngã của nó. Tất cả những cái pháp đều là nó không thường còn, cho nên làm cho cái tâm của chúng ta không dính mắc và chấp đắm. Đó là Định Vô Lậu. Để các pháp khác mà nó khởi trong đầu của chúng ta ra thì ngay đó chúng ta phải quán sát nó, rồi chúng ta diệt xả nó đi, đoạn dứt nó đi, không được kéo dài nó, thì đó là chúng ta đã đoạn các pháp ác.

4- THIỆN PHÁP CỦA ĐẠO PHẬT

(39:07) Như vậy khi mà ngăn chận không cho các pháp ác sanh khởi và đoạn dứt các pháp ác đã sanh khởi thì chúng ta đã có ba cái Định để mà chúng ta tu tập, để thực hiện được Tứ Chánh Cần. Mà khi thực hiện được Tứ Chánh Cần như vậy rồi thì ngày ngày chúng ta sống trong thiện pháp. Mà trong thiện pháp thì cái thiện pháp đó thì như Thầy đã nói. Thầy xin nhắc lại là cái thiện pháp đó nó không phải là một cái việc đi làm việc từ thiện. Như từ lâu tới giờ, như các cô, các thầy ở đây tu hành, thì nghe thiện pháp thì người ta không biết là cái thiện nào đúng, mà cái thiện nào sai.

(39:58) Nhưng không ngờ là cái tâm chúng ta hoàn toàn nó không tham, không sân, không si, nó không ở trong Thập Ác thì nó là Thiện Pháp. Chứ đâu phải là cái chuyện ở ngoài kia mà đem vào nó là thiện pháp. Chuyện ở ngoài mà đem vào thiện pháp, đó là chuyện phóng sanh, chuyện đem việc bố thí, từ thiện, đó là chuyện ở ngoài. Còn cái chuyện mà thiện pháp ở trong của chúng ta nó là thập thiện. Không tham, không sân, không si, không trộm cắp, không tà dâm, không sát sanh, không nói vọng ngữ, ác ngữ, lưỡng thiệt, không nói phiếm ngữ, thì tất cả những cái đó là những cái ác pháp.

Còn cái mà chúng ta hiện giờ đã giữ gìn được, cái tâm của chúng ta không có sanh khởi những cái ác pháp đó thì tức là thiện pháp. Mà tăng trưởng cái thiện pháp đó ra, tức là chúng ta kéo dài cái thời gian của cái tâm của chúng ta không có ác pháp đó thì tức là tăng trưởng thiện pháp.

Chứ không phải là làm việc từ thiện bên ngoài mà đem vào gọi là tăng trưởng thiện pháp. Như mua chim cá phóng sanh, bây giờ mua một con, hai con, ba con là ít, bây giờ mua nhiều gọi là tăng trưởng, không phải. Mua một trăm, hai trăm, một ngàn, một triệu con gọi là tăng trưởng, không phải. Cái chuyện đó không phải là cái chuyện làm của một người tu ở trong Tứ Chánh Cần.

Cho nên hiểu đúng thì nó sẽ được giải thoát, mà hiểu sai thì không giải thoát. Mà hiểu đúng thì tức là chúng ta có pháp môn tu tập đúng. Đó là Chánh Niệm Tỉnh Giác Định, đó là Định Niệm Hơi Thở, đó là Định Vô Lậu. Vì vậy ba định này nó đã giữ cho chúng ta thực hiện được thiện pháp ở trong tâm của mình, tức là thực hiện được sự giải thoát ở trong tâm của mình. Một người biết được cách thức tu tập Tứ Chánh Cần thì Thầy tin rằng các thầy sẽ được giải thoát.

Và đồng thời hôm nay, sẽ đem cái bài Thân Hành Niệm, tức là cái hành động của cái thân, để mà chúng ta đặt cái niệm mà chúng ta tu Tứ Chánh Cần, như cái bài pháp Thân Hành Niệm mà Phật đã dạy ở trong Trung bộ.

(41:54) Nhưng vì cái bài kinh này nó lộn xộn, nó đủ cách, đủ thứ của nó ở trong này, cho nên Thầy đọc ra để mà quán xét được cái sai của kinh và đồng thời để nhắc lại cái bài kinh Phật dạy đúng như vậy là Thân Hành Niệm. Còn những cái khác thì chưa phải là Thân Hành Niệm để chúng ta biết. Sau này, vì cái thời gian mà các con tu xong rồi, các con cần phải nghiên cứu kinh sách này lại. Đọc lại tất cả những kinh sách hết, nghĩa là…

(Ghi chú của người chuyển ngữ trước: Đoạn sau này hình như được thêm vào từ các bài pháp thoại khác?)

(42:32) Cho nên vì vậy đó mình muốn mà cho nó nhiếp phục được thì mình nương vào hơi thở, mình tác ý, mình nhắc nó, mình phải chủ động…​

Trước khi mà học về Tứ Niệm Xứ thì Thầy sẽ nhắc lại để cho chúng ta rõ được cái Định Niệm Hơi Thở mà Chư Phật, nhất là Đức Phật Thích Ca, Ngài đã dạy rất rõ ràng trong Định Niệm Hơi Thở. Mà từ lâu thì Thầy chỉ dựa vào theo các hơi thở của các Tổ dạy như pháp An Bang, như Sổ Tức Quan tức là đếm hơi thở. Hoặc là Tùy Tức, tức là khi mà đếm quá thuần thục, thì chúng ta xả cái đếm, để chúng ta còn nương theo hơi thở gọi là Tùy Tức. Nhưng những pháp đó nó không đúng với cái Định Niệm Hơi Thở của Phật đã dạy.

Hôm nay vì soạn và viết ra để thành một cái giáo án Đường Lối Tu Tập Của Đạo Phật, cho nên những gì mà Đức Phật đã dạy thì chúng ta dạy lại, Thầy triển khai, Thầy dạy lại. Còn những cái gì không phải của Đạo Phật thì Thầy không có dạy như trước kia mà Thầy tùy thuận Đại Thừa, kinh điển Phát Triển, mà Thầy không có bỏ ra.

(43:57) Hôm nay là vì bỏ ra để chúng ta thanh lọc lại cái nào là của Đạo Phật và cái nào không phải của Đạo Phật. Cho nên chúng ta thấy Đức Phật cũng có dạy hơi thở “Định Niệm Hơi Thở” nhưng mà dạy khác hơn các Tổ. Do như vậy thì hôm nay Thầy thêm để cái phần mà định niệm hơi thở. Vì chúng ta biết rằng hơi thở ra, hơi thở vô mà khi để tu mà ngăn chặn các pháp ác thì chúng ta nó có khác.

Là vì chúng ta tỉnh thức ở trong hành động nội thân chúng ta. Như ở trong Tứ Niệm Xứ “trên thân quán thân” tu về hành tướng nội. Hành tướng nội là cái hành động của cái thân nội của mình, là cái hơi thở ra, hơi thở vô. Nghĩa là hơi thở chúng ta dài thì chúng ta nương theo dài mà chúng ta nương vào đó tỉnh thức ở trong hành động đó để làm cho các pháp ác không sanh ở trong tâm của chúng ta. Thì cái Định Niệm Hơi Thở đó là trong khi đó nó trợ giúp cho cái Tứ Chánh Cần. Trong khi mà tu Định Niệm Hơi Thở như vậy, thì các con cũng như quý thầy cũng phải biết rằng đây là tỉnh thức chánh niệm ở trong hơi thở, cho nên chúng ta thường dùng cái Pháp Hướng.

Nói chung là cái pháp nào như Chánh Niệm Tỉnh Giác Định tu ở trong mọi hành động thì chúng ta cũng có Pháp Hướng. Chứ không phải là Thầy dạy đây, Thầy không nhắc Pháp Hướng, nhưng mà quý thầy cũng nhớ là phải có Pháp Hướng. Ví dụ như mình đi mười bước, hai chục bước thì mình nhắc: “Tôi đi kinh hành, tôi biết tôi đi kinh hành”. Hoặc là tôi quét sân, mình quét năm, mười chổi thì mình nhắc: “Tôi quét sân, tôi biết tôi quét sân”. Đó là Pháp Hướng mà, để nó kềm theo, nó giữ cho cái tâm mình đi dài, một thời gian dài ra mà không có tạp niệm, hoặc không có vô ký, quên đi hành động mình đang làm công việc đó.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 3)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.