ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Sư Phước Nhẫn vấn đạo Thiền định 01 – Lộ trình tu tập xuất hiện Bảy giác chi

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Sư Phước Nhẫn vấn đạo Thiền định 01 – Lộ trình tu tập xuất hiện Bảy giác chi

A A A

SƯ PHƯỚC NHẪN VẤN ĐẠO THIỀN ĐỊNH 01

LỘ TRÌNH TU TẬP XUẤT HIỆN BẢY GIÁC CHI

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 2000

Thời lượng: [1:32:31]

Tên cũ: 2000 – Sư Phước Nhẫn vấn đạo – 1

 

1- LỘ TRÌNH TU TẬP ĐỂ XUẤT HIỆN BẢY GIÁC CHI

(0:00) Phước Nhẫn: Trước đây, Thầy có giảng là Giác Chi là nó khó, sau khi mình tu tập các pháp khác.

Trong khi, kinh con đọc kinh Tương Ưng, quyển 5, ở Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi, trang 179, nó có đoạn như sau: “Trong khi tâm thụ động, này các Tỳ kheo, trong khi ấy, không phải thời là tu tập, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ kheo, trong khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này”.

Như vậy các giác chi này thuộc loại nào? Thì trước đây Thầy nói giác chi khỏi tu, mà tự nhiên đây cái bài này đây phải nên tu tập các giác chi…​ (không nghe rõ).

(0:47) Trưởng lão: Coi như là mình tu tập Tứ Niệm Xứ thì nó sẽ xuất hiện Bảy Giác Chi. Mà trong Tứ Niệm Xứ thì nó có cái Thân Hành Niệm. Thì Thân Hành Niệm nó xuất hiện cái Bảy Giác Chi, chứ không phải là tự mình tu tập giác chi mà được.

Nhưng mà điều kiện là khi mình tu Tứ Niệm Xứ đó, thì Bảy Giác Chi nó xuất hiện thì mình mới thấy như khinh an, hay là hỷ giác chi, khinh an giác chi hay niệm giác chi, định giác chi, xả giác chi và trạch pháp giác chi. Thì nó siêng nó xuất hiện, thì người ta thấy nó rõ ràng. Từ đó đó, mình mới tu tập nhưng mình thấy cái tâm của mình nó ở trong cái trạng thái.

Thí dụ như thụ động, thì mình không có nên tu cái giác chi nào đó, điều kiện nó thụ động thì không nên thực hiện cái giác chi đó mà phải bỏ cái giác chi đó mà phải chấp nhận cái giác chi khác, thì như trong kinh Tương Ưng đã nói.

Phước Nhẫn: Con muốn hỏi là cái giác chi là cái pháp tu hay là nó là cái kết quả?

Trưởng lão: Cái kết quả. Chứ không phải là cái pháp để tu.

Phước Nhẫn: Sao đây Phật nói là mình tâm dao động, phải thời của giác chi này, mà không phải thời của giác chi kia?

Trưởng lão: Hiểu. Khi mình đang ở trong cái pháp tu, mà cái giác chi nó xuất ra, mà khi bây giờ cái tâm mình nó bị dao động, thì mình không có được ở trong cái giác chi đó, mà mình phải ở trong cái giác chi khác. Nó có bảy cái giác chi.

Thì ví dụ như bây giờ, mình tu Tứ Niệm Xứ, nó xuất hiện trong Bảy…​ Khi đọc lại cái bài Tứ Niệm Xứ, thì mình thấy rõ ràng là khi sung mãn, khi tu Tứ Niệm Xứ rồi, thì Bảy Giác Chi, nó mới có hiện ra.

Phước Nhẫn: Con thấy cái phần đó.

Trưởng lão: Có không?

Phước Nhẫn: Cái bài kinh này, nhưng mà nó cũng hơi trái lại.

Trưởng lão: Rồi mới đầu, bây giờ tới…​

Phước Nhẫn“Trong khi tâm thụ động, này các Tỳ kheo, phải thời tu tinh tấn giác chi, hỷ giác chi”.

(2:12) Trưởng lão: Thí dụ như bây giờ, tâm thụ động, thụ động là nó bị động đó. Nó bị động thì mình, thì trong khi đó đó, thì mình thực hiện trên cái pháp Thân Hành Niệm đó, thì cái tinh tấn giác chi nó xuất hiện. Chứ còn nếu mình không thực hiện ở trên Thân Hành Niệm, thì tinh tấn giác chi nó không xuất hiện.

Cho nên trong khi đó, cái tâm mình thụ động, thụ động là nó bị động rồi, nó bị động một cái gì đó, cho nên vì vậy mà nó làm cho mình có thể nó lười biếng, làm cho mình không có siêng năng được. Thì bắt đầu đó, mình mới thực hiện…​ Không phải thực hiện cái tinh tấn giác chi được, bởi vì tinh tấn giác chi nó không có cho nên nó bị thụ động thôi. Mình phải hiểu chỗ đó hông?

Mà do đó đó bắt đầu mình phải ôm chặt cái phương pháp Thân Hành Niệm, thì khi mà ôm chặt pháp Thân Hành Niệm, mình tỉnh thức trên từng hành động của Thân Hành Niệm thì cái tinh tấn giác chi sẽ xuất hiện.

Mà tinh tấn giác chi nó xuất hiện thì mới khinh an, mới hỷ giác chi nó xuất hiện, chứ còn tinh tấn giác chi không xuất hiện thì khinh an, hỷ giác chi không xuất hiện. Nó ba cái đó, nó gần như là đi song sắt hơn, nó gần như xuất hiện song song nhau. Đó là mình, khi trên con đường tu tập, người ta mới có kinh nghiệm, người ta mới thấy nó rất rõ ràng.

Tâm nó thụ động, nó thụ động, tức là nó có cái vẻ nó lười biếng, nó không muốn tu rồi, nó ù lì rồi đó. Thì bắt đầu phải ôm chặt cái pháp Thân Hành Niệm, chứ không phải ôm tinh tấn mà mình tu được. Bởi vì mình có tinh tấn mà tinh tấn ở trên cái giác chi, thì giác chi nó đo là cái kết quả rồi, thì nó làm sao mà nó có được cho nên phải ôm cái pháp Thân Hành Niệm nó mới xuất hiện cái tinh tấn giác chi. Phải hiểu như vậy mới biết cách chứ còn không khéo…​

Phước Nhẫn: Mới đầu cái nó cũng giống nhau?

Trưởng lão: Nó giống nhau. Nhưng mà mình phải hiểu khi mà cái tâm mình bị thụ động rồi đó, thì bắt đầu đó có mình làm sao mình tinh tấn giác chi được? Tinh tấn giác chi là phải tự nó xuất hiện cái quả của nó, vậy thì phải ôm trở lại cái pháp nào mà xuất hiện cái tinh tấn giác chi.

Cho nên mình khi đó mình ôm lại cái pháp Thân Hành Niệm, ôm chặt pháp Thân Hành Niệm kiên cố như cỗ xe mà cho nó chạy như căn cứ địa thì cái tinh tấn giác chi xuất hiện …​ (không nghe rõ), nó không còn thụ động nữa.

Phước Nhẫn: Ở trong này nói mình tu tinh tấn giác chi, cái phương pháp tu tinh tấn giác chi ở trong đó nói là cái quả mà…​

Trưởng lão: Nói cái quả thôi, chứ còn không có nói tới…​

Phước Nhẫn: Không nói cái thực.

Trưởng lão: Cái thực. Không nói cái phương pháp để mà có…​

Phước Nhẫn: Cái quả thôi.

(4:44) Trưởng lão: Tầm này mình lấy cái quả, mình làm cái pháp tu thì trật rồi. Phải không? Cho nên vì vậy mà tu không được. Cho nên cái kinh nghiệm nó lại, khi mà tu tập rồi cái kinh nghiệm nó biết, để rồi qua cái kinh nghiệm, chứ còn kinh sách mà nói vậy thì người ta ngơ ngẩn, người ta không …​ (không nghe rõ).

Phước Nhẫn: …​ (không nghe rõ).

Trưởng lão: Phải không? Cho nên khi mà ở trên cái pháp mà Tứ Niệm Xứ đó, thì đức Phật đã nói là Tứ Niệm Xứ nó mới có giác chi, phải không? Khi mà có giác chi là do Tứ Niệm Xứ, chứ không phải là tự mình tu Thất Giác Chi được mà phải tu Tứ Niệm Xứ.

Mà Tứ Niệm Xứ thì nó có bài pháp Thân Hành Niệm. Phải không? Mà do đó Thân Hành Niệm nó cấu kết nó thành cái cỗ xe, nó mới tạo thành cái căn cứ địa. Do như vậy, thì Thất Giác Chi nó sẽ xuất hiện ở tại nơi cái pháp Thân Hành Niệm đó.

Do đó muốn bây giờ tâm mình thụ động, tức là nó bị động rồi, nó lười biếng rồi, nó không có còn vậy thì bây giờ tinh tấn giác chi nó không có này. Mà muốn cho tinh tấn giác chi, thì ở trong đó nói mà mình phải tu tinh tấn giác chi chứ gì? Tức là phải làm cho xuất hiện tinh tấn giác chi, có nghĩa là như vậy nó mới đúng, chứ còn mình lấy tinh tấn giác chi, nó không xuất hiện lấy cái chỗ nào, nó là cái quả mà, cái quả của Tứ Niệm Xứ rồi.

Chứ không phải là cái giác chi nó có cái phương pháp khác tu, mà phải trên Tứ Niệm Xứ trở lại mà thực hiện nó thì cái tinh tấn giác chi nó mới xuất hiện, thì cái tâm thụ động nó mới hết.

Phước Nhẫn: Con mới đọc con cứ tưởng đâu là tinh tấn giác chi là mình tu tinh tấn, là mình siêng năng đó.

Trưởng lão: Không. Mà siêng năng là siêng năng sao?

Phước Nhẫn: Dạ.

Trưởng lão: Siêng năng sao mà gọi là…​

Phước Nhẫn: Thụ động mà làm sao siêng năng.

Trưởng lão: Làm sao mà siêng năng được? Chỉ còn mình ôm một cái pháp khác, mình tu tập ráng cố gắng ở trên cái pháp đó thì nó mới xuất hiện, cái này mới được thì nó mới là tinh tấn giác chi.

Phước Nhẫn: Chứ con tập, mới tập nó, hai cái này nó mâu thuẫn với nhau nó…​

Trưởng lão: Mình phải hiểu vậy nó mới đúng tập. Bởi vậy nếu mà thật sự ra Thầy mà không có kinh nghiệm này nè, kể như người ta không hiểu. Người ta không hiểu đâu, người ta nghĩ rằng giác chi là mình phải có pháp giác chi để mình tu tập. Chứ còn không ngờ là từ cái Tứ Niệm Xứ mà tu tập nó mới xuất hiện ra tinh tấn giác chi.

Rồi mình muốn có giác chi đó mình phải tu tập cái gì, tu tập ở trên Tứ Niệm Xứ mà tu tập cái gì không phải là…​ Cho đúng cách của nó thì nó xuất hiện ra, tự nó xuất hiện ra nó có…​ Bởi vì giác chi là, cái Thất Giác Chi là Thất Bồ Đề mà, bảy cái sự giải thoát của người ta mà, bảy cái năng lực, cái kết quả tu giải thoát của nó rồi. Sư thấy.

Cho nên vì vậy mà chúng ta tu chỉ cần Bảy Giác Chi này xuất hiện. Cho nên, đức Phật nói: “Tâm định tĩnh, nhu nhuyến dễ sử dụng”“Nhu nhuyến dễ sử dụng”, tức là Bảy Giác Chi. Mà “định tĩnh” là chỉ cái phương pháp tu ở trên Thân Hành Niệm hay hoặc là Tứ Niệm Xứ để cái tâm định tĩnh mà thôi. Tức là “định tĩnh” là không phóng dật, không phóng tâm.

(07:33) Cho nên vì vậy mình thấy được cái kết quả của nó và cái phương pháp tu của nó để mang đến kết quả đó, kết quả đó nó sẽ xuất hiện ra Bảy Giác Chi. Cho nên khi mà tâm định tĩnh mà không phóng dật rồi, thì Bảy Giác Chi nó mới có. Mà nó căn cứ vào trong cái thời gian mà phải quyết định rằng định tĩnh nó phải có cái thời gian nữa.

Cho nên, nó rất hay là cái chỗ, đức Phật đã xác định được cái thời gian là mười hai tiếng đồng hồ Nhất Dạ Hiền, mười hai tiếng đồng hồ đó thì Bảy Giác Chi nó mới xuất hiện đủ. Còn nếu mà cái tâm mà định tĩnh nó chỉ trong vòng chừng một giờ, hai giờ thì chưa xuất hiện đủ đâu.

Nó làm cái hay của đạo Phật là dạy cho chúng ta ôm cái pháp đó tu tập, mà cái sức định tĩnh của chúng ta nó phải căn cứ vào cái thời gian nhất định, nó sẽ đủ Bảy Giác Chi. Tức là nó khi mà “Tâm định tĩnh thì nhu nhuyến dễ sử dụng”, nhưng bây giờ mình cũng có định tĩnh nhưng mà định tĩnh tức là sao? “Nhu nhuyến dễ sử dụng” chỗ nào đâu? Mà đức Phật dám căn cứ vào cái chỗ Nhất Dạ Hiền, để rồi mười hai tiếng đồng hồ để rồi nó sẽ nhu nhuyến dễ sử dụng.

Thấy được cái chỗ đó và nếu mà cái tâm mà chúng ta mà xuất hiện Bảy Giác Chi, thì chỉ có phương pháp Thân Hành Niệm. Nhưng mà người ta tu pháp đó người ta, ai cũng bỏ cuộc hết, thấy hầu hết vậy. Họ không tu nổi.

Bởi vì, nếu mà không cấu kết nó thành một cái cỗ xe trong thân hành của mình mà cấu kết nó thành cái cỗ xe để mà nó chạy được, nó kiên cố để mà nó chạy được đó thì người ta thấy quá nhọc nhằn, quá khó khăn. Bởi vì từng cái hành động người ta phải lưu ý trên từng cái hành động của họ mà phải cấu kết, chứ không phải là tu quán ở trong hành động được.

Khéo léo là chỗ đức Phật nói, mình phải tu tập như thế nào để mà nó thành cái cỗ xe đó. Đó là cái kết hợp, kết hợp lại cái những cái Thân Hành Niệm của mình, để tạo thành một cái cỗ xe. Cái đó là cái khó! Mà người ta từ thuở giờ, là những cái nhà học giả mà đọc tới chỗ này họ không biết như thế nào mà thành cỗ xe.

Đọc lại cái bài Thân Hành Niệm là con thấy những cái lời đức Phật nói, rồi bây giờ đọc qua cái kinh Tương Ưng, thì con thấy như mình không biết đâu mà trở nữa. Ở trên Tứ Niệm Xứ, thì thấy nó đúng rồi ha? Thầy nói đúng rồi ha? Bây giờ bắt qua Tương Ưng cái thấy, bây giờ muốn tu tập tâm bị thụ động, thì phải tu tập mà tinh tấn giác chi. Nhưng mà tu tinh tấn giác chi mà nếu mà không nắm vững, không biết cái phương pháp nào tu để mà nó thực…​ Hay là mình phải nỗ lực, mình ráng mình tu, trong khi tâm mình thụ động là không làm được điều đó.

(10:24) Giác chi nó xuất hiện là tự nó tinh tấn chứ không phải là mình lấy cái cố gắng mà tinh tấn, mà làm tinh tấn được. Mà phải cố gắng tu một cái pháp gì đó, thì cái tinh tấn giác chi xuất hiện, thì như vậy trong kinh Tương Ưng gọi là tu tinh tấn giác chi là như vậy.

Nhưng mà nếu mà không nắm vững, không có kinh nghiệm chỗ này thì không biết cái pháp nào, mà để cho cái tinh tấn giác chi này nó xuất hiện ra. Mà trong kinh Tương Ưng gọi là tinh tấn giác chi phải tu tập. Đó.

Phước Nhẫn: Con nghe hơi lầm, cái tâm, cái ý, không có phân biệt hiểu rõ cái đó Thầy.

Trưởng lão: Đúng vậy! Khi mà cái câu kinh Pháp Cú nói: “Tâm dẫn đầu các pháp”, phải không? “Tâm tạo tác, tâm làm chủ”, phải không? Thì người ta không biết cái “Tâm” này là cái ý hay cái tâm, nhưng mà sự thật cái này là ý không phải tâm, cái ý thức của chúng ta.

Bởi vì mình mới vào nó, mình thấy rõ ràng cái ý của mình nó muốn cái gì, muốn thiện, muốn ác, cái dục tham, dục sân, dục si đều hoàn toàn cái ý không chứ đâu có cái tâm chỗ nào đâu? Cho nên cái này là cái ý, là cái nó chủ động đó.

Vì vậy mà chính cái chỗ này mà đức Phật xác định được cái pháp Như Lý Tác Ý, lấy cái ý mà tu. Cho nên, dẫn tâm vào đạo, chứ đừng dẫn đạo vào tâm. Đó là cái chỗ cái ý đó, mà con đường của đạo Phật là luôn luôn lấy cái ý mà tu chứ không có lấy cái tâm.

2- Ý CĂN CHỈ CÓ MỘT

(11:52) Phước Nhẫn: Câu số hai đó là, con thường gò bó, trói buộc bởi ý căn, bởi cái thức đó Thầy. Vậy làm sao, ý căn có một cái tâm thức nào khác không? Ví dụ ý mình muốn làm thiện hoặc làm pháp thiện, còn có cái gì biết cái ý muốn làm điều đó, còn cái căn nào …​ (không nghe rõ).

(12:10) Trưởng lão: Cũng ở một ý căn thôi! Bởi vì trong cái ý căn đó nó có hai phần, cái bài mà kinh Pháp Cú đó, đức Phật cũng đều là có hết đưa ra hai cái bài kệ.

Một cái bài kệ thứ nhất đó là nói cái tâm tức là cái ý của mình đó, cái ý của mình nó làm chủ, nó tạo tác thì cái ý của nó nếu mà nó tạo tác thiện đó, phải không? Nó tạo tác ác chứ nó không có hai cái mà chỉ có một cái thôi. Thiện thì nó hạnh phúc đến với mình, mà ác thì nó sự khổ đau đến với mình. Phải không?

Trong cái bài kinh Pháp Cú xác định được cái ý của chúng ta rõ ràng là nó chỉ một chứ không còn cái nào mà biết ở núp sau đó, để mà đối chọi lại với cái ý của chúng ta hết, mà chỉ có cái ý thôi. Nếu ý thiện thì nó mang đến tốt, ý xấu thì nó mang đến cái xấu cho chúng ta, cái quả nó xấu. Rõ ràng đây là một chứ không hai.

(12:59) Qua cái bài Song Kệ này chúng ta thấy rất rõ à. Thấy không? Thấy rõ ràng đức Phật đã xác định được cái chỗ, cái ý của chúng ta, chứ không có cái thứ hai mà để đối lại. Mà bây giờ, có cái tâm thiện, mà có cái ý ác thì không bao giờ có, mà chỉ có cái ý này nó làm chủ, nó tạo tác thì do đó nó làm chủ, nó tạo tác thì nó thiện thì nó tốt mà nó ác thì nó phải thọ lấy khổ, ở trong này hai cái bài mà này chúng ta thấy rất rõ ràng phải không? Cho nên có một chứ không phải hai.

Phước Nhẫn: Con thắc mắc ở chỗ này, thấy chiếc Dream (xe máy) khởi ý mình tham, cái khởi ý tham nó thuộc ý căn.

Trưởng lão: Thuộc ý căn.

Phước Nhẫn: Dạ. Rồi một cái niệm khởi lên mình nói: “Vậy là tham rồi”.

Trưởng lão: Ừ.

Phước Nhẫn: Cái niệm sau khởi lên là cái đó là gì?

Trưởng lão: Đó thì hai cái bài kệ của đức Phật, cái trước cũng vẫn cái ý, cái sau cũng vẫn ý, mà cái trước là ý ác, mà cái sau là ý thiện. Trong cái bài Song Tầm là cái ý của chỗ này nè, Song Tầm. Tức là cái trước cũng là một tầm chứ gì? Tầm ác chứ gì? Cái sau là tầm thiện gì. Cũng một tầm thôi cho nên nó là ý chứ không có gì. Nó đọc ra bài Song Tầm với đọc cái bài kinh Pháp Cú có phải giống nhau không? Nó là bài Song Tầm rồi đó. Nó không có gì khác.

Phước Nhẫn: Vậy là cái ý nó thiện ác.

Trưởng lão: Ừ.

Phước Nhẫn: Ý ác nó cũng phát xuất ra.

Trưởng lão: Phát xuất ra mình cũng biết.

Phước Nhẫn: Còn ý căn, còn ý thiện cũng phát xuất ra.

Trưởng lão: Cũng phát xuất ra, cũng biết.

Phước Nhẫn: Vậy là thằng này một mình nó hai mặt.

Trưởng lão: Nó hai mặt à, một mình nó hai mặt.

Phước Nhẫn: Con thấy sao nó hai mặt. Nó…​

Trưởng lão: Đó, đó chính cái chỗ này mới biết được cái pháp của Phật tu. Nếu mà Phật thấy cái ý mà nó không làm chủ, nó không tạo tác thì chắc chắn là con đường đạo Phật không tu được rồi.

Nhưng mà thấy được cái ý nó làm chủ, nó tạo tác, mà chính nó thiện với ác nó cho nên cái bài Song Tầm nó mới xuất hiện. Có bài Song Tầm, mà bài Song Tầm thì có bài kinh Pháp Cú để xác định chúng ta thấy rõ rằng là, thằng này nó hai mặt, có một mình nó mà hai mặt thiện với ác thôi, chứ không có hai đâu.

Phước Nhẫn: Nó làm mà nó sửa luôn.

Trưởng lão: Nó làm nó sửa. Đó chính chỗ đó mà con đường đạo Phật nó mới xuất hiện. Chứ còn nếu mà nó làm mà nó không sửa thì chắc chắn là coi như là không còn ai mà có thể sửa cho nó hết, thì coi như là ác không chứ không có thiện nữa. Cái chỗ đó là chỗ hay của đạo Phật, đã tìm thấy được cái đường đi của nó.

(14:47) Cho nên trong Bát Chánh Đạo thì mới Chánh Kiến, Chánh Tư Duy. Đó là cái chỗ này. Phải không? Nếu mà cái tà, tức là ác pháp chứ gì? Tà kiến, tà tư duy chứ gì? Thì nó có cái Chánh Kiến, Chánh Tư Duy nó mới dẹp tà. Thì đó, rõ ràng là cái tầm thiện và tầm ác, nếu tầm thiện nó là Chánh Tư Duy phải không? Chánh Kiến, Chánh Tư Duy rồi, mà cái tầm tà ác là tà kiến, tà tư duy chứ gì? Đúng không?

Cho nên, nó nằm ở trên Bát Chánh Đạo rồi, nó không sai. Mà Bát Chánh Đạo là một cái chân lý trong Bốn Chân Lý của đạo Phật. Cho nên cái bài kinh Pháp Cú cũng đúng nè ha, rồi tới cái bài Song Tầm ở trong kinh Trung Bộ mình thấy cũng đúng rồi, nó xác định rất rõ cái nghĩa đó luôn. Đó có hỏi như vậy, mới thấy được cái đường đi của mình.

Phước Nhẫn: Vậy con tưởng là thí dụ cái ý sau đó là ý thiện đó …​ (không nghe rõ).

Trưởng lão: Không phải.

Phước Nhẫn: …​ (không nghe rõ).

Trưởng lão: Cũng biết vậy đó. Nó cũng có cái ý, họ cũng biết thiện ác. Nhưng mà vì cái tâm mà tham muốn đó, thành ra nó nặng hơn cho nên nó lôi cái ý thiện của họ, họ cũng…​

Cũng như thằng ăn trộm, nó cũng biết rằng ăn trộm là xấu, thì như nó không biết sao? Nhưng mà vì nghèo đói hay hoặc là vì cái thói quen nó, rồi nó bỏ không được, nó phải đi ăn cướp, ăn trộm của người ta thôi. Chứ nó biết, chứ đâu phải nó không biết đâu. Thật sự ra nó biết mà.

3- SONG TẦM TỨC LÀ TRÊN TÂM QUÁN TÂM

(16:23) Phước Nhẫn: Với cái phần trình bày Tứ Niệm Xứ, vừa rồi có một cái mà con chưa có nói Thầy, đó là quán tâm trên tâm, …​ (không nghe rõ) không phải là cái thân, tứ quán trên cái thân…​

Trưởng lão: Tứ Niệm Xứ.

Phước Nhẫn: …​ (không nghe rõ) như cái tâm đầu tiên đó, tâm tham, sân si, tâm sân rất nhiều. Như mình đang ngồi cái con chuột chạy ngang, họ nói nặng mình, họ chửi mình, cái tâm sân nó xuất hiện, cái tâm thứ nhất là mình đang tu, đó mới ban đầu nó vậy.

Tâm sân thứ nhì, kế đó có cái tâm Chánh Niệm là cái tâm giận nó sân …​ (không nghe rõ) mình quán tâm trên tâm. Thì cái tâm thứ ba đó là quán cái tâm thứ nhì, đó là khi người ta quan sát, nên cái tâm này quán trên cái tâm kia là tâm …​ (không nghe rõ) là ba cái, cái thứ nhất …​ (không nghe rõ) cái tiếp thu. Đó cái thứ nhất là tâm tiếp thu, rồi cái tâm thứ hai đó là tâm Chánh Tri Kiến là tâm tiếp thu, tâm thứ ba là tâm quan sát …​ (không nghe rõ) vì vậy mà nó quán tâm trên tâm đó là cái quán cho tâm …​ (không nghe rõ).

(17:33) Trưởng lão: Cái đó là cũng là các cái nhà này giáo dục cũng như là nhà tâm lý học phân cái tâm mình ra cho nhiều. Mà theo Thầy thiết nghĩ thì coi như vậy thì nó cũng được chứ không phải không. Nhưng mà nó trở thành cái xốn cho người tu.

Bây giờ đó trong cái đứng ở trong về phương diện mà bài Song Tầm đó, thì chúng ta thấy ở trên tâm quán tâm đó, thì cái tâm của chúng ta nếu bình thường đó, thì nó không có cái niệm gì, thì coi như đương nhiên là mình không thấy cái tâm của mình, để mà sự thật ra mình không biết nó là thanh thản, an lạc, vô sự. Tức là cái tâm mình nó vẫn thanh thản chứ nó…​

Còn có cái niệm mới thấy rõ cái tâm, khi nó có một cái niệm nó rõ tâm. Nhưng mà có cái niệm đó thì trong đó có cái bài Song Tầm, thì đức Phật đã nói rồi, tầm tức là mình có sự tư duy ở trong đó rồi. Thì khi mà có một cái niệm thì tức cái tầm rồi, mà cái tầm cái niệm này nó thiện hay là ác. Tức là cái tâm của chúng ta nó thực hiện qua cái tâm hành đó.

Thí dụ như mình giờ nói thân hành, Thầy đưa cánh tay ra, Thầy bước đi, thì đó là thân hành. Mà nói tâm hành là cái gì? Thì tức là cái niệm của nó khởi ra, nó có hoạt động rồi, thì lúc bấy giờ trúng khi mà nó hoạt động rồi thì nó phải có tư duy rồi, thì dù là ác, dù thiện đều là có tư duy hết.

Cho nên khi đó đó, thì trong khi đó cái bài Song Tầm thì đức Phật dạy, khi một cái niệm mà khởi ra nó…​ Khi đó chúng ta thấy nó là ác thì chúng ta dừng nó lại, mà nó thiện thì chúng ta tăng trưởng chứ không có gì hết.

Là do như vậy, thì chúng ta thấy nó rất rõ ràng ở trên cái phương pháp tu của đạo Phật đó, thì trên tâm quán tâm chẳng qua là Song Tầm chứ không có gì hết. Có đúng không? Còn bây giờ mình chia chẻ ra nó nhiều tâm thì nó cũng hay, chứ nó cũng không phải là cái gì nhưng mà rốt cuộc rồi cũng trên tâm quán tâm thôi, có gì đâu.

Còn bây giờ, ngay bây giờ ở trên bài Song Tầm thì cũng là trên tâm quán tâm, chứ không có gì hết. Bởi vì cái tâm này nó khởi ra một cái niệm tức là tâm hành rồi. Thì bắt đầu bây giờ đó, mình mới quan sát cái này, coi nó thiện hay ác.

Thấy nó là ác, thì tức là dừng nó lại, diệt nó chứ không có cho nó tác động vào cái tâm của chúng ta. Tức là làm cho chúng ta phiền não đau khổ, cho nên vì vậy mà chúng ta không cho nó đi vào ác pháp nó rồi, tức là ngăn diệt nó. Mà khi mà ngăn diệt nó thì nó là, có cái sự tư duy mà để ngăn diệt nó tức là nó là tầm thiện rồi.

(19:53) Như vậy là trên tâm quán tâm trong cái bài Song Tầm, là tức là đức Phật đã dạy mình trên tâm quán tâm chứ gì? Để khắc phục tham ưu chứ gì? Ác không còn có thì tham ưu còn không? Có nghĩa là trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu, có phải ở trong bài Tứ Niệm Xứ đức Phật đã nói vậy không? Mà nói vậy, tức là cái bài Song Tầm, thì cũng là trong mục đích đó chứ gì sai nữa. Cho nên, bài Song Tầm tức là trên tâm quán tâm chứ không có gì hết.

Chúng ta thấy rõ ràng, những cái điều mà đức Phật đã xác định chúng ta tu Tứ Niệm Xứ là có những cái bài pháp rất cụ thể, rõ ràng. Còn chúng ta lý luận bằng cách này, cách kia nó làm thêm rắc rối. Phải không? Nó rắc rối làm cho mình phải hiểu cái này kia, nhưng mà rốt cuộc rồi thì nó cũng nằm ở trên Song Tầm, chứ không thể nào đi ra ngoài khỏi Song Tầm.

4- THỨC TRONG TỨ NIỆM XỨ VÀ THỨC TRONG NGŨ UẨN

(20:44) Phước Nhẫn: Trên tâm quán tâm, cái tâm thứ nhất trên tâm hành là cái thứ nhất mà…​

Trưởng lão: Nó xuất hiện.

Phước Nhẫn: Tâm này là tâm tham. Tâm tham rồi, cái ý căn nó quán cái tâm tham đó Thầy.

Trưởng lão: Cái ý, cái ý.

Phước Nhẫn: Ý căn nó quán cái tâm tham, nó biết cái tâm này nó tham. Đó, rồi còn cái Thầy nói là cái thân mà Tứ Niệm Xứ, nó quán cái Thân Ngũ Uẩn là thật …​ (không nghe rõ).

(21:07) Trưởng lão: Thầy nói thì, bây giờ cái tâm này là cái tâm gì? Tâm của chúng ta này, bây giờ nó khởi cái niệm là cái tâm gì? Có phải là tâm ngũ uẩn không? Nó thuộc về cái ý thức của chúng ta, tức là thuộc về ý thức là thuộc về cái sắc thức của chúng ta. Thì nó thuộc về cái phần mà tâm của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc coi thọ, tưởng, hành, thức.

Sắc, thì trong sắc nó có cái sắc thức, phải không? Thì nó có cái tâm của chúng ta chứ gì? Cái biết đó, cái biết là ý thức đó, phải không? Thì bây giờ nó khởi ra một cái niệm, phải không? Khi mà nó khởi ra cái niệm đó, thì chúng ta có cái sự tư duy để mà xem xét cái niệm, thì đó không phải là trên tâm quán tâm sao? Xem xét cái niệm đó tức là trên tâm quán tâm chứ gì? Có phải không?

Bây giờ, nó khởi ra một cái niệm, mà trong khi cái niệm này mình chưa có biết nó thiện, ác. Cho nên, mình mới quan sát, tư duy cái niệm này, rồi mới thấy nó là tâm mình tham.

Có nhiều khi nó tham rất rõ ràng thì mình biết ngay liền, có nhiều khi nó tham mình không biết. Cho nên bây giờ trên tâm quán tâm của mình, tức là trên cái tâm hành có cái niệm ra, chúng ta mới quan sát cái niệm đó. Cho nên chúng ta mới thấy nó là ác hay hoặc là nó là thiện.

Nếu ác thì chúng ta ngăn diệt nó, không có cho nó tác động chúng ta. Vì vậy mà chúng ta không có tham ưu, tức là khắc phục tham ưu. Như vậy là, không phải là trên cái tâm của ý thức của chúng sao? Trên cái tâm của sắc thức của chúng ta đó, là sáu thức của chúng ta.

(22:35) Thì rõ ràng là mình luôn luôn mình ở trên cái ý thức không, chứ cái tâm của mình, nói tâm chứ sự thật là ý thức chứ không phải là cái gì khác hơn hết. Thì bấy giờ ở trong này chúng ta rõ ràng nè, ở trong cái Thân Ngũ Uẩn của chúng ta đó, sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Còn cái thân Tứ Niệm Xứ thì nó có Thân – Thọ – Tâm – Pháp, phải không? Thân – Thọ – Tâm – Pháp, vậy thì cái tâm này là nó thuộc về ý thức, chứ nó đâu có cái tâm gì đâu, chúng ta đâu còn có cái tâm gì nữa khác hơn hết.

Thì nó bốn chỗ Thân – Thọ – Tâm – Pháp, mà cái tâm này hiện bây giờ chúng ta là cái tâm ý thức, chứ không thể nói cái tâm Tam Minh được. Bởi vì Tam Mình mình chưa có làm được, mình chưa có nhập định, mình chưa có thực hiện được Tam Minh, thì đâu có nói nó là cái tâm Tam Minh được.

Bây giờ chỉ ở trên Tứ Niệm Xứ để tu Tứ Niệm Xứ thì chỉ có…​ Nói về tâm thì chỉ có ý thức mà thôi. Tức là cái biết của ý thức thôi. Chứ không thể nói hoàn toàn ngoài cái ý thức được. Không thể nói là thức uẩn được ở chỗ này đâu. Còn nói về Thân Ngũ Uẩn đó, thì cái sắc thức của nó là cái tâm của Tứ Niệm Xứ này.

Cho nên, Tứ Niệm Xứ là trên thân quán thân, mà trên tâm quán tâm, thì quán tâm là quán về cái tâm ý thức, chứ không phải là quán tâm về cái tâm khác được. Cho nên trên Tứ Niệm Xứ thì phải thấy cái ý thức là cái tâm của nó, chứ không thể nào mà ngoài cái ý thức mà gọi có cái tâm khác ở trên Tứ Niệm Xứ này được.

Phước Nhẫn: Vậy ý thức nó thuộc về ý căn?

Trưởng lão: Ý căn.

Phước Nhẫn: Nó nằm trên là sắc thức.

Trưởng lão: Ờ sắc thức.

Phước Nhẫn: Còn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cái thức nó không phải là ý thức Thầy?

Trưởng lão: Không. Nó không phải là ý thức đâu. Nó lại khác rồi.

Phước Nhẫn: Cái thức là không phải ý thức?

Trưởng lão: Không phải ý thức. Khi nào mình đóng cái ý thức của mình lại, mình đóng cái tưởng thức mình lại. Tức là trong giấc ngủ mình thấy mình có nằm chiêm bao mình biết đó, mình cũng đóng dẹp nó lại. Thì bắt đầu mình nhập Tứ Thiền, thì nó tịnh chỉ các hành hết. Lúc bấy giờ thì cái tâm thức nó mới xuất hiện được.

Nó ba cái thức ở trên cái chỗ mà Ngũ Uẩn, cái sắc thức đầu tiên là thuộc về ý thức, cái tưởng thức là cái mộng mị của mình chứ gì? Còn cái tâm thức nó hoàn toàn chưa có hoạt động. Mà một cái người mà nhập Tứ Thiền, mà thực hiện Tam Minh thì cái tâm thức này nó mới hoạt động nè. Nó khác rồi.

Phước Nhẫn: Mình như vậy, mình đang nói về phần sắc thức là ý thức?

Trưởng lão: Ý thức không à.

Phước Nhẫn: Chứ còn cái thức trên cuối cùng là nó không dính dấp.

(25:19) Trưởng lão: Nó không dính dấp gì, nó không có hoạt động gì chỗ này, vô trong chỗ này được hết. Cái này là đợi khi mà chúng ta sắp sửa mà chúng ta thực hiện Tam Minh rồi, nhập được Tứ Thiền rồi, thì nó mới xuất hiện được, nó mới hoạt động.

Phước Nhẫn: Bảo giảng cái thức đó là cho biết đó hả? Nó không đúng?

Trưởng lão: Không biết, không đúng. Cái biết này hoàn toàn là ý thức của chúng ta. Chứ nó không còn sắc thức. Còn cái biết của tưởng thức là trong mộng mị thì dễ thấy rồi, bởi vì cái ý thức của chúng ta lúc bấy giờ nó không hoạt động rồi, nó ngủ rồi. Phải không? Cái phần mà ý căn của chúng ta đó, là cái phần trong đó nó có nằm cái phần ý căn chúng ta là nó tổng, nó tổng thể của nó, nó có chia ba nhóm tế bào.

Cái nhóm thứ nhất đó thuộc về ý thức, ý thức là tức là mình hoạt động trong cái cuộc sống hằng ngày của mình đang tỉnh táo như thế này nè. Rồi khi mình ngủ, thì nó có cái nhóm tế bào để hoạt động cái phần mà chiêm bao. Rồi khi mình nhập Tứ Thiền đó, thì nó cái phần hoạt động của cái tâm thức để mà thực hiện Tam Minh. Thì cái nhóm tế bào này nó lại hoạt động của cái biết của nó về cái phần khác.

Cho nên, nó có từng nhóm ở trong cái ý thức của chúng ta, chứ không phải hoàn toàn ở ngoài cái ý thức của chúng ta, mà đi tìm cái để hoạt động cái này thì không bao giờ có. Nó cũng nằm ở trong cái phần mà ý căn của chúng ta.

Cho nên ý căn là cái bộ não của chúng ta, mà cái bộ não của chúng ta thì nó có cái nhóm tế bào ý thức, nhóm tế bào tưởng thức và nhóm tế bào tâm thức. Mà trong cái ý căn thì nó có ba nhóm, cho nên nó cũng là cái biết, nhưng mà cái biết của cái nhóm nào thì nó biết theo nó hoạt động theo cái nấy, chứ nó không thể nào mà nó hoạt động giống nhau được.

Đó cũng như bây giờ cái nhóm mà tế bào của tưởng thức đó, nó hoạt động đó thì không cần tai chúng ta cũng nghe, không có cần cái lỗ tai, cái nhĩ căn nó cũng nghe, không cần cái nhãn căn nó cũng vẫn thấy. Bởi vì lúc bấy giờ mình ngủ, thì tai mình nó không nghe rồi, mà mắt mình thì không thấy, nhưng mà khi mà trên mộng, thì mình vẫn thấy, vẫn nghe. Có đúng không?

Như vậy là nó nghe, nó thấy không phải cần cái sáu cái căn kia đâu. Nó không cần sáu…​ Thậm chí như cái ý thức nó cũng không cần nữa. Có phải không? Bởi vì nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức là sáu cái thức của sắc thức. Phải không? Của sắc.

Cho nên vì vậy mà lúc bấy giờ nó hoạt động cái tưởng thức, nó hoạt động thì nó không cần cái thứ này nữa. Phải không? Do đó mà cái ý thức, cho nên cái ý thức mà nếu nó ở trong cái mộng của mình nó còn ý thức thì nó phải có tai nghe, mắt thấy của nó luôn. Bởi vì sáu cái thức của nó một chùm của nó mà. Còn cái này, cái tưởng thức, nó chỉ có một chứ nó không có một chùm, phải không? Một mà nó hoạt động, nó cũng nghe thấy biết, nó cũng y như một chùm của sáu cái thức này.

(27:15) Phước Nhẫn: Tưởng thức là không phải tưởng uẩn?

Trưởng lão: Không. Tưởng thức là tưởng uẩn đó. Còn sắc thức là sắc uẩn đó. Sắc thức là sắc uẩn, còn tưởng thức là tưởng uẩn đó.

Phước Nhẫn: Nó kiểu một nhóm à Thầy? Hay độc lập?

Trưởng lão: Thì nó coi như là nó…​ Không. Nó cũng nhóm ở trong cái Thân Ngũ Uẩn. Cái Thân Ngũ Uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức phải không? Đó là một cái nhóm của cái thân. Nhưng mà bây giờ về những cái biết của nó, nó có từng nhóm riêng ra, chứ không thể nào nó nhóm này nó, cái nhóm này nó hoạt động chung cho cái Thân Ngũ Uẩn của nó.

Nhưng mà khi mà nó hoạt động từng cái phần ngũ uẩn của nó thì nó hoạt động phận riêng. Như sắc uẩn thì nó hoạt động cái thức của nó riêng, mà tưởng uẩn đó thì cái biết của tưởng uẩn lại nó làm riêng chứ nó không có chơi chung với cái anh sắc uẩn này được.

Rồi bây giờ cái thức uẩn đó thì nó lại biết riêng, nó không có chơi chung với hai cái anh này nữa, hai anh này dừng thì nó mới làm việc, còn hai anh này không dừng thì nó không làm việc, cái thức uẩn này không làm việc. Cũng như cái anh sắc uẩn này, anh dừng thì cái tưởng uẩn anh mới…​ Cái biết của cái tưởng uẩn anh mới làm việc, cho nên nó chung nhưng mà nó có những cái làm việc riêng của nó, chứ không phải nó hợp chung nhau đâu.

5- NĂNG LỰC NGHE CỦA TƯỞNG

(28:54) Phước Nhẫn: Cái sắc uẩn thì nó cần cái lỗ tai nó nghe được?

Trưởng lão: Ờ.

Phước Nhẫn: Còn cái tưởng uẩn đó nó không cần lỗ tai vẫn nghe được.

Trưởng lão: Nó không cần đâu, nó vẫn nghe được.

Phước Nhẫn: …​ (không nghe rõ) tu Mật tông, mà ở nhà ông biết mấy người công sở nói gì hết trơn hết, vô công sở ở nhà nói gì ông nghe hết trơn. Ông cũng không tin nữa, đến khi bạn hỏi thì nó nói y chang vậy đó, đâu có lỗ tai đâu.

Trưởng lão: Đâu có lỗ tai.

Phước Nhẫn: Hồi đó là sau ông đi tu cái lỗ tai ông điếc luôn.

Tu sinh: Sao kỳ vậy.

Phước Nhẫn: Còn tu thì cứ ai nói gì nghe hết trơn hết, nói xấu cũng nghe…​ (không nghe rõ).

Trưởng lão: Đó là cái…​

Phước Nhẫn: Cái đó là nó không cần.

(29:37) Trưởng lão: Nó không cần cái căn của cái lỗ tai nữa rồi. Nó nghe bằng cách khác rồi. Do đó, sau cái thời gian mà nó, cái đó hoạt động rồi. Thì lúc bấy giờ, nó nghe bằng cái sức của cái nhóm tế bào đó. Mà tới khi, mà cái nhóm tế bào mà nó hoạt động với cái lỗ tai mình nghe đó, tức là những cái thần kinh mà nó hoạt động vô cái lỗ tai mình nghe đó, thì sau cái thời gian mình tu tập thì cái này bị tê liệt, nó không hoạt động nữa rồi. Bởi vì mình nghe kiểu đó, thay vì cái lỗ tai mình nghe thì nó có hạn cuộc cái không gian và thời gian, phải không?

(30:05) Cho nên, cái xa xôi người ta nói không nghe, mà gần thì mình mới nghe được. Còn cái này xa mà vẫn nghe, thì nó không phải là nghe ở trong cái nhóm tế bào đó, cho nên cái nhóm tế bào mà nghe mà như Thầy đi, con mà ngồi mà tiếp chuyện nhau đó, thì đó là thuộc về cái nhóm của tế bào ý thức rồi. Cho nên, nó nghe với nhau sát với nhau, còn cách xa quá nó không nghe.

Còn cái ông này, nói bao xa cũng nghe, thì tức là nó hoạt động kiểu khác, cho nên cái nhóm mà nghe gần này hoàn toàn nó ngưng, nó không hoạt động. Sau đó cái nhóm này nó không hoạt động, ông nghỉ, cái này nó cũng không hoạt động nữa cái ông điếc luôn, có phải vậy không?

Tức là tại vì nó ngưng hoạt động, để cho ông nghe cái nghe của một nhóm hoạt động khác, bây giờ ông không tu nữa, thì cái nhóm mà hoạt động nghe này nó lại không nghe nữa, nó không nghe nữa bây giờ ông thành điếc, có vậy thôi chứ có gì đâu. Tức là hai cái nhóm này đi đều ngừng lại hết, nó ngưng lại hết. Còn nếu mà ông tu thì ông còn được nghe, phải không?

Mà giờ ông không tu nữa, ông thấy ông sợ quá, ông không tu nữa thì tức là cái nhóm kia nó không hoạt động thì cái nhóm này nó cũng không thèm hoạt động nữa, rốt cuộc rồi thì cái lỗ tai ông bây giờ nó không nghe thật sự, nó dừng lại nó điếc.

Phước Nhẫn: Cái tưởng có cái năng lực của nó, nó nghe.

Trưởng lão: Có chứ con, cái tưởng nó có năng lực nghe. Bởi thường thường như là mình, cái suy nghĩ không tưởng đó thì nó vẫn nghe bằng cái hoạt động của cái tưởng của nó, chứ không phải là nghe cái lỗ tai đâu.

Đó cho nên, thí dụ, như một cái người mà tu mà lọt vào cái thiền tưởng rồi, thì con kiến mà đi ở trên cái mặt này là nghe được cái tiếng động, chứ còn cái lỗ tai, căn tai của chúng ta, cái hoạt động của căn tai thì không nghe tiếng động đó đâu, nhưng mà cái tưởng nghe, nó nghe nó đi “xộc xộc xộc”.

Cho nên có một lúc mà Tứ Tổ mà nằm ngủ mà hai cái con rệp mà nó giành máu của Tổ nó ăn, nó rớt xuống, nó té rồi nó rên la đó, Tổ đều nghe hết, thì đó là Tổ chỉ ở trong cái thế giới tưởng thôi, nó mới nghe. Chứ không phải là chứng đạo đâu, mà đó là Tứ Tổ Đạo Tín ngày xưa đó, chứ không phải là bây giờ đâu.

Nhưng mà khi mà tu tập tới đây rồi, Thầy mới thấy rõ rằng, bởi vì mình có cái trường hợp xảy ra với mình, mình mới lấy kinh nghiệm mình mà mình suy lại Tổ, mình mới thấy được cái chỗ đó bây giờ tưởng.

Chứ còn cái mà cái tuệ mà Tam Minh, nó cũng thông suốt, nó cũng nghe được âm thanh rất nhỏ. Nhưng khi nào mà nó phải ở trong một cái trạng thái của định là nó mới xuất hiện, chứ còn không có thì nó không phải vậy, nó bình thường thì nó không xuất hiện.

(32:39) Khi mình muốn mình sẽ vào định tức là mình sẽ thực hiện nó, thì nó nghe cái gì nó cũng nghe, bởi vì nó có cái sự điều khiển. Còn cái tưởng đó, nó ngoài cái vấn đề điều khiển của mình. Khi mình nhập vào cái định tưởng rồi, thì lúc bấy giờ tự động nó nghe, nó làm như có cái sức tự động thôi. Cho nên nó hoàn toàn nó ngoài cái sức của mình.

Cho nên, trong cái con đường của đạo Phật, là chúng ta phải có Bảy Giác Chi xuất hiện rồi chúng ta mới làm được cái chuyện này. Nếu Bảy Giác Chi không xuất hiện chúng ta không làm được.

Nhất là cái Trạch Pháp Giác Chi, tức là cái Dục Như Ý Túc đó. Bởi vì Trạch Pháp Giác Chi nó xuất hiện thì chúng ta coi như là chúng ta có bốn cái Ý Như Ý Túc. Thì bốn cái Như Ý Túc đó là chúng ta có cái Dục Như Ý Túc, cái Định Như Ý Túc, cái Tuệ Như Ý Túc, cái Tinh Tấn Như Ý Túc.

Thì lúc bấy giờ, chúng ta muốn cái gì là nó sẽ làm cái nấy được. Đó là cái chỗ mà cái người đó thực hiện được cái Tâm Thức của họ rồi. Còn mình bây giờ thì hoàn toàn chưa có nếm được cái mùi vị đó. Cho nên mình không làm được đâu.

6- PHÓNG TÂM, PHÓNG DẬT TRONG THÂN HÀNH NIỆM

(33:44) Phước Nhẫn: Còn cái liên quan đến cái Thân Hành Niệm á Thầy, bên Miến, bên ta thì cũng có dạy là đi kinh hành Thất Giác Chi. Thì là tác ý trong mỗi bước, tác ý trong mỗi hành động cái khoảng đường đi không được xa, là mình bước hai chục bước trở lại thôi. Nhưng mà cái tâm mình vẫn rịt vô đó hết, toàn bộ cái tâm chú ý tất cả các hành động hết, hay là đi trở bước đạp, coi di chuyển của nó, coi cái cảm giác của bước chân.

Đó rồi xong mình biết ra cái “Đất, Nước, Gió, Lửa”, xong rồi mình đi. Đó rồi mình đi, mình chú ý tất cả vậy đó, mình quên ở ngoài hết rồi. Tất cả mình gom vô cái hành động đi, tất cả ở ngoài mình quên hết. Thấy cái đó với cái pháp mà năm hơi thở …​ (không nghe rõ).

(34:45) Trưởng lão: …​ (không nghe rõ). Theo Thầy thấy nó có khác. Là tại vì cái phương pháp mà Thân Hành Niệm mà Thầy cấu kết cho nó trở thành một cái cỗ xe như trong kinh Thân Hành Niệm, mà đức Phật đã nói đó, phải tạo thành một cái cỗ xe. Thì lúc bấy giờ Thầy đã rút tỉa từ cái kinh nghiệm tu tập của mình, mà cấu kết lại thành cái cỗ xe thì nó phải có khác như thế này.

Khi bắt đầu vào tu đó, thì cái mục đích mà cái người tu thì tập cho đúng cách, tác ý trước khi những cái bước, những cái hành động thân của nó, nghĩa là trước khi những hành động thân của nó làm. Thì lúc bấy giờ khi mà tập đúng như vậy, thì trong vòng khoảng ba mươi phút hoặc là cao hơn thì nó có một cái tinh tấn giác chi nó xuất hiện. Nên nhờ những cái đó mà có thể nó đẩy mình đi tới nữa, chứ còn nếu mà không có thì kể như cái người tu không bao giờ mà tu tập nổi pháp này.

Là cho nên, số người mà tu mà không có tinh tấn giác chi mà xuất hiện, thì họ sẽ bỏ cuộc, họ bỏ cuộc, họ không có tu nổi nữa. Cho nên vì vậy mà cái tinh tấn giác chi như thế này, khi nó xuất hiện đó thì nó làm như cái hành động thân của chúng ta, nó cứ bắt cái hành động thân của chúng ta.

Thí dụ như đứng lên ngồi xuống, co tay, duỗi chân hay hoặc hít thở, nó làm nó bắt buộc chúng ta phải làm, nó cứ thúc đẩy nó làm như có cái lực nó đẩy, cũng như mình đi đi vậy đó. Nó đẩy mình là phải giở chân lên, bước lên bước xuống mà rất là nhịp nhàng. Kiểu đó là tinh tấn giác chi nó xuất hiện.

Thì lúc bấy giờ, nó làm cho mình siêng năng. Mà lúc khi mà cái tinh tấn giác chi nó xuất hiện mà làm cho mình thấy nó có cái lực đẩy đẩy mình đó, thì lúc bấy giờ đó thì mình thấy nó chừng khoảng độ chừng mười giây, năm giây hay hoặc là một phút thôi, thì cái thân của chúng ta nghe nó nhẹ nhàng, nó an ổn. Nó có cái trạng thái đặc biệt, nó thay đổi liền, nó không có còn mà như mình giở chân là mình phải dùng cái sức của mình, còn không cái này nó nhẹ bâng lên, nó khác nó thay đổi liền thì cái đó là khinh an giác chi xuất hiện rồi.

Mà nếu mà không có khinh an giác chi chúng ta không làm nổi. Tức là đi mà cứ giở chân lên xuống hay hoặc là ngồi co tay, co chân làm từng động tác mà từng ra lệnh như vậy thì chúng ta làm không nổi. Nhưng mà nó có những cái này thì chúng ta làm nổi.

Thì bắt đầu từ đó, nó có cái hỷ giác chi nó xuất hiện, cái hỷ đó nó làm cho mình hoan hỷ trên cái hành động đó, nó nhịp nhàng nữa. Tác ý đâu nó ra đó, thì cái này, cái phương pháp của chúng ta tập đầu tiên là để cho nó tập trên cái Thân Hành Niệm này, nó phải xuất hiện ra cái tinh tấn giác chi, rồi cái khinh an giác chi, hỷ giác chi.

Ba cái này nó xuất hiện, thì nó giúp chúng ta tu từ một giờ, hai giờ, ba giờ mà không thấy mỏi mệt. Có thể đi suốt đêm không có mỏi mệt. Nhưng mà nó vẫn còn có phóng tâm, phóng dật chưa phải hết. Cho nên trong cái vấn đề quan trọng của cái sự tu tập này, là chúng ta tu ít mà không được tu nhiều, cái phương pháp này tu ít để chất lượng cao, không có phóng tâm, phóng dật.

(37:30) Chứ còn chúng ta tu thì thấy nó cũng có an, nó cũng có thích thú đó, nhưng vẫn có phóng tâm, phóng dật, chứ không phải là kiên cố hoàn toàn. Cho nên, đối với cái người tu mà thấy nó xuất hiện rồi, cứ tu cho nhiều lên, thì cái kẽ hở này họ cũng không bao giờ đạt được cái định giác chi hết.

Bởi vì, có định thì nó không phóng tâm, phóng dật mà không định thì nó sẽ phóng tâm, phóng dật. Cho nên nó chỉ có cái niệm giác chi nó xuất hiện, nó có cái niệm tức là cái hành động nó vẫn biết, nhưng mà bị phóng tâm cho nên nó không định. Niệm giác chi có mà định giác chi không có.

Cho nên khi mà tu ít, để khi mà cái định giác chi nó xuất hiện, tức là tâm định tĩnh ở trên cái thân hành của nó rồi, thì lúc bấy giờ mới cái xả giác chi và cái trạch pháp giác chi nó mới có xuất hiện. Cho nên trong cái vấn đề tu, tu cái pháp này tu ít chứ không được tu nhiều.

Thí dụ như bây giờ chúng ta, cái sức của chúng ta tu năm hơi thở, đi kinh hành hai mươi bước, thì tu cái sức đó đừng có để phóng tâm, phóng dật ở trên cái pháp Thân Hành Niệm không được. Mà nếu mà chúng ta tu tập kỹ lưỡng thì cái thân hành của chúng ta, chúng ta ôm cái tâm vào cái thân hành nó sẽ cán nát, cán nát tất cả, tức là nhiếp phục tất cả các cái chướng ngại pháp ở trên thân thọ của chúng ta liền tức khắc. Hoàn toàn là không có cái gì mà xâm chiếm được nó hết.

Cho nên vì vậy mà cái này phải cần phải tu kỹ và tu đúng. Cho nên Thầy nhắc nhở rất nhiều về cái phương pháp Thân Hành Niệm. Nhưng mà hầu hết người ta không nghe, người ta cứ để tâm phóng dật trong cái phương pháp này. Khi thấy khinh an, hỷ giác chi với tinh tấn giác chi là họ tu nhiều, họ tu một, hai giờ ba, bốn giờ.

Phước Nhẫn: Con kẹt cái chỗ này, con định hỏi Thầy, Thầy nói đó, là con thấy khinh an, nhẹ nhàng đi, nó thoải mái lắm! Nhưng mà đồng thời cái tâm phóng dật nó có, nó xuất hiện con không biết làm sao vượt qua cái đó, con tưởng đâu con lọt vô tưởng. Mà hễ mỗi lần đi một tiếng đồng hồ với con không có nhằm gì hết trơn hết, nó nhẹ nhàng lắm. Nhưng mà cái tâm phóng dật nó vẫn xuất hiện.

Trưởng lão: Không được. Cái đó là tu sai rồi, tu quá, quá sức tỉnh thức của mình. Cho nên, mình phải tu ở trong cái sức của mình, cho nên vì vậy mới đầu vô tu mình tu…​ Thầy nói tu một vòng bánh xe của nói thôi.

Tức là đứng lên ngồi xuống, hít thở năm hơi thở hai mươi bước thôi, chứ không được tu nhiều. Để xem coi cái kết quả của cái sự tu này là có phóng tâm, phóng dật ở trong này không. Nếu mà không có phóng tâm, phóng dật thì mình tiếp tục một chu kỳ thứ hai. Y như vậy lặp lại y như vậy, mà nếu không có thì tăng thêm, mà có thì dừng lại tu cho kỹ, rất kỹ từng hành động.

Bởi vì trong cái bài mà Nhất Dạ Hiền, thì đức Phật đã nói về cái vấn đề đó phải nhiệt tâm từng cái hành động của mình mà, nhiệt tâm như là bây giờ mình còn sống, lát nữa mình chết mà. Cho nên, mình tu rất nhiệt tâm đó, thì tu Thân Hành Niệm là phải tu ở trên cái phương pháp này rồi, thì không có thể nào mà tu, mà kêu là tu lấy có được. Tu rất là nhiệt tâm từng cái hành động của mình, chứ không phải là tu chơi được, cái này là tu thật.

(40:07) Còn hầu hết là người ta không nghe lời Thầy, người ta tu chơi đó, tu kêu là lấy có tu, với có thời gian dài, thấy nó an ổn, thấy nó khinh an rồi cứ tu, tu bừa vậy thì phóng tâm, phóng dật nó sẽ có.

Phóng tâm như thế nào? Nghĩa là cái tâm của mình tự nó phóng ra một niệm, thì gọi là phóng tâm. Còn bây giờ phóng dật là có một cái tiếng động, có gì nó làm cho tai chúng ta nghe, mắt chúng ta thấy rồi từ đó tâm chúng ta khởi niệm ra cái đó là phóng dật. Thầy phân tích cái này để hiểu được phóng tâm, phóng dật vậy.

Phóng dật là có đối tượng bên ngoài đánh vô mà phóng tâm. Còn tự mình đi mà không có vật gì hết nó vẫn thanh tịnh, yên lặng không có cái pháp ngoài tác động, mà nó có khởi niệm ra đó là phóng tâm.

Phân tích được cái chỗ này mới thấy được trong cái phương pháp mà tu Thân Hành Niệm, mới nhận xét rõ. Nếu mà còn phóng tâm, thì chắc chắn là phóng dật phải có thôi không thể nào trật. Bởi giờ phóng dật là bị cái các ác pháp ngoài nó tác động mạnh lắm, cho nên làm chúng ta phải phóng niệm ra.

Đó cho nên trong lúc đó đó, mà người tu mà nếu mà nghe lời Thầy tu ít thôi, rồi lần lượt mình tập dần. Tức là mình tăng tới đâu, như đức Phật nói: “Như căn cứ địa”, phải không? Cái xe mình chạy tới đâu, thì nó là trở thành căn cứ địa, cái phương pháp đức Phật đã nói rồi.

Tại vì mình không lưu ý, mình tu cái sức của mình cái xe của mình bây giờ mới có ráp được à, mà nó đâu có chạy được nhiều đâu. Thế mà mình chạy cả giờ đồng hồ, thì thử hỏi làm sao cái căn cứ địa này có được? Cho nên, phóng tâm, phóng dật nó có, vô trong này thì căn cứ địa này hoàn toàn là hư hại hết rồi, nó không thành căn cứ địa rồi. Đúng không?

Còn bây giờ Thầy tu ít, nhưng mà nó thành căn cứ địa đó, nó chạy một vòng thôi. Nhưng mà cái vòng của nó, tức là cái khoảng thời gian nó là cái căn cứ địa của Thầy. Mà nếu Thầy tăng hai vòng, thì nó lại trở thành căn cứ địa. Cho nên, khi mà Thầy tăng đúng mười hai tiếng đồng hồ, là Nhất Dạ Hiền đó, thì Thầy đã tâm định tĩnh hoàn toàn, Bảy Giác Chi xuất hiện đủ.

Còn bây giờ, mình tu mà cứ phóng tâm, phóng dật vậy bây giờ mình tu, bây giờ con có tu bây giờ một tháng mà cứ đi liên tục như vậy, cũng không xuất hiện đâu. Nhất bị phóng tâm, phóng dật là không xuất hiện, tức là tâm không định tĩnh.

Đó là trong cái vấn đề mà Thầy dạy rất kỹ, nhưng mà mọi người tu là tại vì họ tu sai, họ nghĩ sai, họ ham hoặc là họ không hiểu được ý của Thầy. Cái kinh nghiệm của Thầy nó đã rõ rồi. Nhưng mà dạy người ta, người ta không nghe, thậm chí người ta ngồi nhiều để cho người ta thấy, không cần phải đi kinh hành nhiều.

(42:24) Chứ sự thật ra cái phương pháp Thân Hành Niệm, mà khi Thầy dạy, là phải tu tập đầu tiên, là tu tập một chu kỳ mà thôi. Nghĩa là ngồi xuống hít thở năm hơi thở, đứng dậy hai mươi bước dừng lại, tu cái khác chứ không tu nó nữa. Nhưng mà một lát nữa mình lại tu, tu phải kỹ lưỡng, hẳn hòi từng cái hành động, chứ không phải là tu để lấy có không được đâu, tu lướt lướt qua là không được. Mà trước khi mỗi hành động, đều là phải tác ý kỹ lưỡng hẳn hòi, tác ý rồi mới làm lại.

Để khi mà tâm nó định tĩnh, Thầy nói khi mà nó xuất hiện cái thân mà nó được định tĩnh đó, cái thân của chúng ta chưa có làm đâu mà nó biết cái thân sẽ làm đó. Là nó lúc bấy giờ, nó xuất hiện cái trạch pháp giác chi, nó biết trước hết rồi, cái thân bây giờ Thầy chưa có, cái ý của Thầy chưa có muốn đi, vậy mà nó biết cái thân Thầy sẽ đi đó, nó ra lệnh nó: “Cái thân đứng dậy đi”. Thì bây giờ Thầy chống lại, Thầy ngồi lại nó cũng không được nữa. Cái sức định tĩnh của nó vậy, nó định tĩnh trên thân nó, nó điều khiển rồi đó.

Cho nên vì vậy mà cái pháp mà tác ý của chúng ta, nó trở thành một cái trạch pháp giác chi sau này. Cho nên, nó biết trước tất cả những hành động của thân. Thì bởi vì, nó định trên thân của nó, cho nên nó phải biết, nó biết trước.

Cho nên về cái thân Thầy chưa có, Thầy cho có ý, trong cái ý của Thầy này, chưa có muốn đưa cánh tay ra đâu. Còn bây giờ Thầy tác ý là tại vì Thầy muốn, cái ý của Thầy muốn đưa cánh tay ra, Thầy nói: “Cánh tay mặt đưa ra”, thì lúc bây giờ Thầy đưa ra. Thì đó là nó có sự điều khiển của ý, còn cái này không. Tự nó ở trong này, nó biết cánh tay này sẽ đưa ra, thì nó bảo: “Cánh tay đưa ra đi”, thì nó sẽ đưa. Nó biết trước hết.

Khi mà mình tu đúng rồi, bắt đầu mình thấy nó định tĩnh rồi, nó biết trước hết, nó biết trước cái thân nó sẽ làm cái gì, làm cái gì nó biết hết. Nó biết rồi, nó ra lệnh. Thì cái thân không có chịu cưỡng, chống lại được cái gì hết.

Nghĩa là bảo đứng dậy là nó cứ cái thân đứng dậy. Y như một cái lệnh của một cái người lính ở trong quân trường. Bảo thì cứ phải làm thôi, trườn là trườn chứ không có được mà nằm đó mà chống lại không có được. Bảo bò, trườn hay hoặc là chạy là phải xách súng chạy, chứ còn không bao giờ mà có thể chống lại. Y như là cái người lính mà ở trong quân trường.

Cho nên, Thầy nói tu pháp Thân Hành Niệm là tuyệt vời, nhưng mà điều kiện là Thầy biết mười người chưa đậu một, vì tu sai. Cho nên, con chứ nhìn xung quanh đây, mọi người ở đây, họ có tu thật, nhưng mà tu không đúng.

Phước Nhẫn: Dạ con thấy…​ (không nghe rõ).

Trưởng lão: Thầy biết hết. Chứ còn tu đúng, thì kết quả vẫn…​ Tu sai. Đó bây giờ, ở đây có một cái người đang tu, những giác chi nó xuất hiện rất tốt.

(45:09) Con đọc trong cuốn cái bốn, con thấy cái cô Nguyên Thanh không? Cái cô đó tu đúng đó. Tu đúng nhưng mà cô này sẽ trật, nếu mà Thầy không chỉnh đốn lại đó, cô này coi vậy chứ phóng tâm, phóng dật có trong đó. Cô trình bày là nó rất là thích thú đó, nhưng mà sự thật ra chưa phải là kiên cố đâu. Mà trong cái pháp Thân Hành Niệm, nó là rất kiên cố, chứ nó không thể nào mà tu như vậy được đâu.

Cho nên, lui trở lại chứ không có được mà tu cái thời gian dài, thời gian dài vậy là, Thầy bảo đảm cái người mới tu, tuy rằng nó có những cái tinh tấn giác chi, cái khinh an giác chi, hỷ giác chi, cái niệm giác chi nó có xuất hiện, vậy chứ cái định giác chi chưa xuất hiện đâu. Nó sẽ phóng tâm, phóng dật tùm lum ở trong đó hết đó.

7- HAI GIAI ĐOẠN CỦA PHÁP THÂN HÀNH NIỆM

(45:52) Phước Nhẫn: Con thấy con cũng kẹt ở chỗ con phóng dật đó. Bởi vì có những thường ta đi, mình phóng dật người ta không để ý, con phóng dật cái con biết liền, con tìm cách con khắc phục cũng không được.

Vì trong cái thời giờ mà đi kinh hành mười lăm phút, một tiếng mà trong vòng mười lăm phút có khi nửa tiếng là nó bay, nó phóng dật tùm lum hết rồi. Đó rồi xoay lại họ nói thiền quán không có sợ những điều đó. Đó, thí dụ nó khởi niệm, cái mình biết nó khởi niệm mình biết.

(46:24) Trưởng lão: Một pháp tu nói Thân Hành Niệm chứ nó có hai pháp tu. Một cái pháp đầu tiên, chúng ta tu cái định gọi là đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi đó, nằm biết nằm đó. Thì cái định đầu tiên mà chúng ta tu đó là định Chánh Niệm Tỉnh Giác, chứ không phải Thân Hành Niệm. Cũng Thân Hành Niệm nhưng mà nó thuộc về định Chánh Niệm Tỉnh Giác, nó tu khác rồi đó, nó không giống rồi ha.

Bắt đầu bây giờ Thân Hành Niệm là cái phương pháp rốt ráo cuối cùng của Tứ Niệm Xứ rồi. Cho nên, nó không phải còn như là cái Chánh Niệm Tỉnh Giác định đó nữa đâu, nó khác rồi, cái hành động tu tập nó cũng sai khác hết, nó không giống đâu. Cũng ở trên cái thân hành của nó, nhưng mà cái lối tu nó hoàn toàn khác, nó kiên cố lắm.

Còn cái kia nó không kiên cố, nó có niệm, mình biết niệm thôi và đồng thời mình cứ tu rất là tự nhiên để tỉnh thức trên mọi cái hành động. Nhưng mà sự thật cái phương pháp này chỉ là cái giai đoạn đầu của Thân Hành Niệm, chứ không phải là cái giai đoạn cuối cùng của Thân Hành Niệm đâu. Phải hiểu như vậy, mình mới biết được cái giai đoạn nào tới cái giai đoạn nào, chứ còn nếu mà không thì mình thấy sao nó giống nhau hết vậy, coi như là mình lầm.

8- TU TỪ THẤP ĐẾN CAO

(47:25) Phước Nhẫn: …​ (không nghe rõ) tỉnh đó là con nói nó có hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là sao mình mới vô …​ (không nghe rõ), giai đoạn hai mới vô nhảy chỗ đó tu đâu có được …​ (không nghe rõ), nó còn dính tùm lum mà chưa có gì hết trơn, mình tu…​

Trưởng lão: Chưa có xả đó.

Phước Nhẫn: …​ (không nghe rõ) đó rồi. Nó đụng đủ thứ hết trơn, nào thọ, nào tưởng, nó dính tùm lum hết. Đó, còn cái vấn đề mà phóng dật trong lúc mình đi kinh thành đó, con vướng cái đó. Mà trở lại cái giai đoạn mà tu chậm, con không biết, nếu mà đưa chậm chậm diệt tầm tứ một phút, hai phút, năm phút đó, đó thì mình làm cái đó nó chậm lại. Nhưng mà thời gian sau, không có khó, thường mình vô tập trung …​ (không nghe rõ).

Trưởng lão: Ừ. …​ (không nghe rõ).

Phước Nhẫn: Đi đúng bừa đó tiếng, nó phóng dật tùm lum.

Trưởng lão: Nó phóng bừa tùm lum.

Phước Nhẫn: Dạ, con sợ cái đó nhất, trong khi mình quán họ nói không có sợ, nói thí dụ như mình thở thì mình biết, còn phóng dật tâm, phóng dật khởi lên mình biết. Thì những cái đó là nhè nhẹ, cường độ nhỏ, mình biết nó ngưng, nhưng mà cái nào nó niệm lớn với cường độ mạnh đó thì không có ngưng được.

Cũng như trong cái phẩm Cấu Uế trong kinh thì có nói là lúc nào mà khởi tâm tham, biết tâm tham là tối thượng, đó còn tâm tham mà khởi tâm tham không biết là hạ liệt. Đối với con, con nói không được nữa. Người tâm tham biết tâm tham mà làm sao cho nó đừng tham đó.

Trưởng lão: Đừng tham.

Phước nhẫn: Cái đó mới rốt ráo. Chứ mình mới biết là cái người tối thắng, người tối thắng chưa có rốt ráo được. Phải tâm mình tham, mình biết tâm mình tham phải làm sao cho nó đừng tham.

Trưởng lão: Đúng vậy, đúng vậy, có vậy à.

Phước nhẫn: Chẳng hạn như mình quán, con nói thí dụ tâm mình khởi lên, mình biết nó khởi, thì nó vẫn khởi nhưng nó không ngưng, nó không ngưng đó tại mình. Đó tại mình, mình nhìn nó, mình nhìn chưa có đủ sức.

Đó, thí dụ có một cuộn băng, ông Nguyên Thế Dũng giảng ở bên Cam, thì có nói, một cư sĩ đến đó tu, …​ (không nghe rõ), ái dục khởi lên, là nhớ chồng, nói tu chưa Chánh Niệm, ngủ dậy cô Chánh Niệm liên tục, thì tiếp tục cái thời gian sau đợi nó không được, đừng tiếp tục Chánh Niệm nữa. Đó, rồi cái thời gian sau cái trở lại, cô cuốn gói Tu viện.

Đó con nói cái này mình Chánh Niệm nó không có qua, cũng như tâm tham biết khởi tâm tham, tâm sân khởi tâm sân, nhưng mà nó đâu có qua đâu.

Trưởng lão: Đâu qua.

Phước nhẫn: Đó thành ra cái quan niệm mà mình nhìn nó mà nó hết, cái đó đối với cường độ nó nhỏ, thì nó hết.

Trưởng lão: Cường độ nhỏ.

Phước nhẫn: Với lại cái giai đoạn Tứ Chánh Cần đó là mình chưa có rốt ráo, mà làm sao mình qua giai đoạn Tứ Niệm Xứ nó hết được.

Trưởng lão: Đúng rồi.

Phước nhẫn: Đó phải là nó có cái sự lỡ dở hay mình biết được hết rồi. Cái giai đoạn tu Tứ Chánh Cần họ không biết, xong nhảy vô Tứ Niệm Xứ thì cái thể lực cũng chưa có. Nên họ quan niệm chưa có định lực, tuệ lực cho nên nhìn sai, nhìn không hết thì đó họ nói đúng. Nhưng mà muốn định lực, tuệ lực có thì phải làm sao, rồi mới tu Tứ Chánh Cần chứ, không tu cái nhảy vô cái làm liền đâu có được.

(50:27) Trưởng lão: Đúng rồi. Nó phải vào tu bài Song Tầm trước tiên, Tứ Chánh Cần nó trước này. Còn này nó chưa có Tứ Chánh Cần được mà nhào vô Tứ Niệm Xứ, thì không có làm sao mà nhìn nó, mà nó xả được hết.

Phước Nhẫn: Thành ra chưa có đủ lực, nhìn nó không hết. Thành ra họ nói không sao, cứ nhìn nó đi, nó hết, nhiều khi nó hết…​

Trưởng lão: Ức chế nó. Cái đó vô, nhào vô cái Tứ Niệm Xứ ngay liền tu là bị ức chế tâm đó. Bởi cứ mình nhìn là tưởng nó hết, nhưng không ngờ cứ ức chế cái tâm của mình. Tới cuối cùng mà cái lực nó không có còn nhìn nó nổi nữa, thì bắt đầu cuốn gói đi thôi.

Phước Nhẫn: Dạ.

Trưởng lão: Đó, cái đó là mình đã sai rồi.

Phước Nhẫn: Nên đối với cái niệm nó khởi đó, nhìn nó, nó hết. Nhiều khi mình nhìn nó, nó hết nhưng mà một thời gian sau, nó trở lại. Trong khi xài Định Vô Lậu thì nó hết, mà nó cũng tái đi tái lại một, hai năm sau, nó cũng trở lại nữa. Cho nên, phải diệt hết, họ mới quan niệm họ nói cái đó là thiền định rồi, thiền quán không cần. Đó, cứ nhìn nó là nó hết, nhìn nó là nó hết. Đó, nó hai cái quan niệm khác nhau.

Trưởng lão: Hai quan niệm coi như là thiền quán với thiền định, không phải đâu. Thiền của đạo Phật, đầu tiên là vào cái Định Vô Lậu là quán rồi. Quán cho nó giảm bớt, tất cả những cái cường độ tham, sân, si của chúng ta nó giảm bớt cường độ xuống, nó còn yếu.

Bây giờ nó mới nhìn nó đó, tức là Tứ Niệm Xứ mà đẩy lui chướng ngại pháp là mới nhìn nó đó. Ngồi quan sát bốn chỗ, mà để đẩy lui chướng ngại của nó trên đó đó. Thì lúc bây giờ, nó mới có đi vào cái chỗ mà vi tế của nó được. Vậy chứ mà nó chưa hết đâu.

Cho nên, mới buộc người ta phải qua Thân Hành Niệm mà. Tức là Nhất Dạ Hiền rồi, không có thể nào mà còn ở chỗ mà Tứ Niệm Xứ, mà trong cái giai đoạn mà Tứ Niệm Xứ trên Tứ Niệm Xứ nữa rồi mà bước qua cái Thân Hành Niệm, để nó cán nát hết, nó không có còn cái chỗ phải ức chế tối đa.

Mà ức chế tối đa thì cái người mà, nếu mà mới vào tu, mà ức chế là người đó bị rớt hết, không có làm sao mà rớt. Bị ức chế nó bị, cái phương pháp ức chế tối đa như Thân Hành Niệm đó, thì Thầy nói rằng cái người mà nếu mà chưa có bao giờ xả tâm đó, thì vô đây ức chế là kể như người đó là bị bệnh hay hoặc là người đó phải căng thần kinh phải điên thôi, chứ còn không cách nào khác hơn hết.

Đó là nó đi từng cái giai đoạn, giai đoạn Tứ Chánh Cần là cái giai đoạn, chúng ta tu Định Vô Lậu rồi tập Chánh Niệm Tỉnh Giác, rồi Định Niệm Hơi Thở để dắt tâm mình từng chút, từng chút huấn luyện cái tâm nhỏ nhẹ đó, kêu là an ủi nó.

(52:49) Đến cái Tứ Niệm Xứ mà trên Tứ Niệm Xứ để quán, để khắc phục tham ưu là cái giai đoạn này là có đánh roi nó rồi đó. Kêu là huấn luyện, dỗ dành nó là trên Tứ Chánh Cần, mà đến Tứ Niệm Xứ là có la, có rầy nó rồi mà nhẹ nhẹ, chứ chưa dám đâu. Mà tới chừng mà Thân Hành Niệm, là ra lệnh, chứ còn không có để cho cái tâm chúng ta cãi chúng ta được chút nào hết. Nó khác rồi!

Cho nên ở đây, mình huấn luyện cái tâm của mình, giai đoạn đầu là vỗ về, còn vỗ về cho nó ăn cái này, kia rồi này kia nọ, thuộc về Tứ Chánh Cần rồi. Mà trên Tứ Niệm Xứ thì có lúc đánh, mà có lúc răn mà có lúc vỗ về, chứ chưa phải làm thẳng tay được đâu.

Rồi đến Thân Hành Niệm là thẳng tay rồi, lệnh đâu ra đó, cũng như là mình cầm cái roi điện mà bảo con sư tử phải làm gì thì phải làm, chứ không cãi được. Đó là lúc này không còn vỗ về nó nữa mà ra roi rồi. Thì nó có những cái phương pháp từ thấp đến cao rõ ràng.

Chứ không khéo mà chúng ta lầm, lấy cái con người mới vô tu, mà lấy pháp cao tu là không bao giờ đạt được, bắt ức chế hết, thì coi như là tiêu hết rồi, rớt vào định tưởng hết rồi. Nếu mà không điên thì cũng rớt vào định tưởng.

Còn cái người mới tu mà lại…​ Cái người mà tu có cái khả năng tu cao mà lại không biết pháp tu cao, thì coi như giậm chân tại chỗ rồi. Không còn cách nào đi vô được nữa.

Cũng như bây giờ, con tu tới Tứ Niệm Xứ rồi, con thấy cái tâm của mình, những cái niệm vi tế nó vừa tác động vô cái tâm của con thì con tỉnh ngay liền, cái niệm nó chưa có thành hình, mà con đã biết nó đã phóng vô rồi. Thì những cái người này, thì chỉ còn bước tới cái giai đoạn mà tu Thân Hành Niệm. Chứ không thể nào ở trên Tứ Niệm Xứ mà dẹp nó được. Nghĩa là người ta tỉnh, rất tỉnh, người ta tỉnh thức, rất tỉnh thức, một niệm vừa nhá vô là người ta biết.

Còn cái người mà còn mê đó, tức là nó niệm, nó khởi ra nó lôi họ đi một đoạn, cái người đó còn phàm phu quá. Thì cái người này phải tu ở trên Tứ Chánh Cần, tu Định Vô Lậu rồi, chứ không có thể nào mà vào Tứ Niệm Xứ mà ngồi tu được hết.

Rồi bắt đầu bây giờ trên Tứ Niệm Xứ đó, mà thấy nó, bây giờ cái niệm nó vừa đến, mà cái hình dáng của cái niệm nó rõ ràng, thì chúng ta còn có thể tu Tứ Niệm Xứ được. Còn nó mê, nó lôi mà chúng ta mê đi, mà chúng ta một lúc chúng ta mới hay đó, thì cái người tu Tứ Chánh Cần, chứ không thể mà tu Tứ Niệm Xứ. Còn hết cái mê, nó vừa nhá vô mà chúng ta biết cái hình dáng, cái niệm nó rõ thì chúng ta tu Tứ Niệm Xứ.

Còn tới mà cái niệm nó vừa nhá vô cái, chưa có thành hình của nó, cái tâm của chúng ta nó sáng, nó định tĩnh đó, nó tỉnh thức rồi đó, cái niệm nó vừa nhá vô vậy, động đến chúng ta biết liền, nó chưa có thành hình được cái niệm, chúng ta chưa biết được cái niệm nó gì, nhưng mà chúng ta biết nó có tác động. Đó là lúc bấy giờ nó vi tế rồi, thì cái người này phải tu Thân Hành Niệm, không thể nào mà tu pháp khác được.

(55:13) Coi vậy chứ, tu Tứ Niệm Xứ rồi, chúng ta mới thấy được cái sự nhá, cái kết quả của Tứ Niệm Xứ chúng ta mới thấy được cái niệm, cái niệm ở trong đầu chúng ta nó tác động vô. Nó vừa nhá vô cái biết liền, nó không có thành hình, còn cái kia nó thành hình. Mà tu đến đỗi mà nó không thành hình, nó còn niệm chứ không phải là nói: “Tôi tu hết niệm”, không có ai mà làm nó mà một lần mà hết niệm hết.

Đi từng bước, từng bước, mỗi cái niệm đầu tiên, nó lôi mình đi một đoạn, rồi mình mới hay, mới biết nó, mình còn mê nhiều. Sau khi cái sức tỉnh nó tăng dần lên rồi, thì nó vừa nhá cái mình thấy cái niệm đó liền ngay tức khắc. Nghĩa là cái niệm nó có, biết được tên họ nó rồi.

Rồi sau cùng, nó nhá vô mà mình không biết, tức là cái sức tỉnh của mình nó vừa xẹt cái, nó dừng ra ngoài rồi nó, bởi vì cái sức tỉnh của mình nó làm cho nó đứng ở ngoài, nó không vô được, cho nên cái niệm nó không thành hình. Thì cái này, chúng ta sẽ tu đến cái giai đoạn Thân Hành Niệm là dễ dàng rồi nó sẽ mau, mau tiến lắm.

Đó, cho nên, trên cái bước đường mà tu tập, mà nếu mà biết rõ được từng tâm của chúng ta thì chúng ta biết chúng ta ở trên pháp nào chúng ta tu thì kết quả lắm.

9- LÝ DO THẦY GIẢNG PHÁP THÂN HÀNH NIỆM

(56:22) Thầy coi như là…​ Trên cho đường mà dạy tu, thì thật sự ra Thầy nghĩ rằng Thầy cũng không còn bao lâu nữa, cho nên vì vậy mà Thầy không có chờ đợi. Do đó trên những cái lúc mà Thầy thấy có những người mà tu khá được, Thầy mới đem cái pháp Thân Hành Niệm ra Thầy dạy thôi.

Cho nó, khi mà người ta biết được những cái phương pháp, cái đường đi cho nó cụ thể. Rồi một mai mà Thầy có ra đi đi nữa, thì người ta cũng còn thấy được cái lộ trình của đạo Phật, người ta biết người ta tu. Chứ còn không khéo thì lỡ mà Thầy phục hồi mình không được, Thầy ra đi thình lình thì lúc bấy giờ giảng không kịp nữa thì…​ Giảng không kịp cái phương pháp Thân Hành Niệm, không phải dễ đâu.

Thầy nói thật sự, nó không dễ đâu. Bởi vì từng cái sai, phải chỉnh lại. Cũng như bây giờ, mà nếu mà Thầy, trong khi mà Thầy gần chết, mà Thầy giảng, Thầy nói về pháp Thân Hành Niệm vậy vậy đó, thì tức là người ta sẽ tu sai. Còn bây giờ, cho người ta tập, người ta tập rồi cái sai, nhắc nhở người ta, thì người ta thấy được cái sai.

Cũng như bây giờ, Thầy cho người ta tu một tua của nó thôi, năm hơi thở, đi kinh hành hai mươi bước, rồi tác ý như thế nào. Thì lúc bấy giờ, người ta tu một giờ, hai giờ, thì người ta sai, Thầy mới nhắc lại, mới chỉ những cái điểm lại.

(57:27) Do đó, khi mà Thầy còn mạnh khỏe, Thầy chỉ như vậy, người ta tập, thì người ta thấy có những cái kết quả thật sự, người ta đã hàng phục được những cái vọng tâm và cái phóng dật của người ta. Thì do đó, cuối cùng thì có những cái kinh nghiệm để lại, dù Thầy có mất đi thì các thầy, các sư, có cái kinh nghiệm tu, mặc dù là chưa đạt, nhưng mà vẫn có kinh nghiệm vậy đấy, được nghe thấy tận tai nghe Thầy giảng sự thật. Chứ không khéo để mất.

Đó là cái điều mà Thầy, hôm nay Thầy nói cho các sư, các thầy biết cái kinh nghiệm trên cái con đường tu của đạo Phật là như vậy. Cách thức như vậy để mà chúng ta đạt được, chứ không cách nào mà chúng ta muốn vào nhập các định khác, mà không có Bảy Giác Chi, mà chúng ta thiền định được. Đó nó có cái khó như vậy.

10- CHỈ CÓ Ý THỨC MỚI THỰC HIỆN CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT CỦA ĐẠO PHẬT

(58:07) Và đồng thời, Thầy cũng xác định cho biết ngoài cái ý thức của chúng ta, để mà thực hiện con đường mà giải thoát của Phật thì không có. Nghĩa là đi tìm một cái tâm thức khác, để mà tu tập, thì cái này không có. Chỉ có lấy ý thức của chúng ta mà đi vào.

Còn nếu mà chúng ta dùng tưởng thức là chúng ta lạc đường. Chúng ta ngồi tưởng được chứ, chúng ta dừng cái ý thức của chúng ta, để mà chúng ta vào cái tưởng thức, chúng ta hoạt động, do cái tưởng thức của chúng ta. Nhưng mà cái đó là con đường lạc, chứ không đúng của đạo Phật. Nó sẽ không được giải thoát, không làm chủ được sanh tử và cũng không chấm dứt được luân hồi đâu.

Chỉ có ý thức của chúng ta mà đưa vào, để tới chừng mà Bảy Giác Chi nó xuất hiện. Thì bảy cái năng lực này, nó giúp chúng ta để mà chúng ta nhập các định. Tức là ba cái loại định sau đó và kế đó Tam Minh. Cái Bảy Giác Chi nó giúp chúng ta thực hiện được những cái bước sau.

Cho nên, đối với cái, từ cái Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, Tam Minh, thì đức Phật có nói rằng không có khó khăn, không có mệt nhọc. Có phải không? Tâm nhu nhuyến dễ sử dụng, thì không có khó khăn, không có mệt nhọc. Thế mà nó có cái khó khăn, có mệt nhọc là trong cái Sơ Thiền của chúng ta mà thôi. Chúng ta phải đạt được cái tâm định tĩnh, không phóng dật, thì lúc bây giờ, chúng ta mới đi vào những cái thiền định khác, thì nó không khó khăn nữa.

Bởi vì nó có Bảy Giác Chi xuất hiện rồi, thì nó đâu còn khó khăn, mệt nhọc chúng ta nữa. Còn nếu chưa có bảy cái này, thì bây giờ ông có tu cách gì mà ông không có thấy được Bảy Giác Chi này thì ông không có đi đúng con đường của đạo Phật đâu. Đó bảy cái giác chi là bảy cái bồ đề, tức là bảy cái trạng thái giải thoát của tâm của chúng ta khi thực hiện pháp Tứ Niệm Xứ. Rõ được như vậy, thì chúng ta mới thấy được cái chỗ tu tập của chúng ta.

Nhất là hồi nãy, con hỏi về cái trong cái kinh Tương Ưng mà về cái tâm thụ động đó. Thì cái đó là rất quan trọng. Nếu mà không hỏi cái chỗ này, thì không thấy để mà chúng ta lấy cái cố gắng tinh tấn để mà tu, để gọi là giác chi thì trật rồi, không đúng đâu. Để làm cho nó thành cái giác chi thì không có rồi. Mà phải trở lại cái pháp Tứ Niệm Xứ mà tu tập trên Thân Hành Niệm, thì cái tinh tấn giác chi nó mới xuất hiện ra, nó mới có.

(1:00:19) Muốn cho có tinh tấn giác chi, thì phải thực hiện Thân Hành Niệm thì tinh tấn giác chi mới có. Đó là cái quan trọng lắm đó chứ không phải rằng là…​ Thầy nói nếu mà không có hỏi chỗ này, thì ngày mai này tới cái bài kinh này, người ta sẽ ngơ ngẩn, người ta không biết đâu là đúng, đâu là sai đó. Đó là một cái phần rất quan trọng.

Cho nên ngay trong khi mà Thầy còn sống, các con có những cái gì mà đọc ở trong kinh sách Nguyên Thủy của Phật đó, có gì thắc mắc thì hỏi Thầy giải thích cho, chứ còn không khéo tới chừng mà Thầy chết rồi thì không còn ai giải thích nổi đâu. Thầy tin rằng người ta sẽ giải thích bằng cách lạc hướng đi, chứ không có đúng được đâu. Và bây giờ, con còn hỏi thêm gì nữa không?

11- DÙNG ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ ĐỂ TẬP TỈNH THỨC

(01:00:56) Phước Nhẫn: Cái phần phóng dật đó, con trình bày với Thầy, có lúc nó khởi, chưa thành hình, con biết. Có thời gian nó phóng tâm hay phóng dật đó thì chưa biết nó cuốn theo. Chứ không thể là suốt ngày nó khởi mình biết hết, không phải suốt ngày mà nó phóng dật là con biết hết. Đó, nghĩa là nó lộn xộn, có lúc nó vừa nhá mình biết, có lúc cái mình bị nó lôi cuốn theo. Giai đoạn là như thế nào?

(1:01:19) Trưởng lão: Cái giai đoạn đó, là thật sự ra mình có lúc mê, mà có lúc tỉnh. Tức là mình có tu tập, cho nên, mình có tỉnh rồi. Thì mà có tỉnh nhưng mà không được liên tục tỉnh. Cho nên, có lúc bị mê.

Vì vậy, mà nó nhá vô, nó lôi mình đi một đoạn hay hoặc là nó nhá vô, một lúc mình biết được, thì cái đó là lúc bị mê. Cho nên cái sức tỉnh mình nó chưa trọn, để nó xác định được cái điều, mà mình đã nhận qua cái tâm của mình đó. Thì cái sức tỉnh mình, tức là cái tỉnh thức của mình nó chưa trọn, phải tu tập sức tỉnh thức nhiều.

Cho nên, bây giờ, chưa có định tĩnh được mà phải tu tập tỉnh thức. Cho nên phải tập ở trên cái Chánh Niệm Tỉnh Giác, cái phương pháp mà Chánh Niệm Tỉnh Giác. Chứ tập Thân Hành Niệm thì chưa được, bởi vì Thân Hành Niệm là phương pháp định tĩnh rồi, nó khác rồi.

Còn mình tập cái Chánh Niệm Tỉnh Giác và mình tập 18 cái đề mục hay 16 cái đề mục Định Niệm Hơi Thở, để dắt cái tâm mình, để cho nó định tĩnh, chứ không gì. Mình muốn dắt cái tâm mình vào một cái gì đó, mà mình dắt được thì nó mới định tĩnh.

Cái phương pháp Định Niệm Hơi Thở đó, là phương pháp dắt tâm định tĩnh chứ không có gì và đồng thời cái Chánh Niệm Tỉnh Giác cũng là cái phương pháp tỉnh thức ở trên cái thân hành của mình, đi, đứng hay hoặc đi kinh thành để biết mình đi đó. Cũng là cái phương pháp tỉnh thức mà thôi.

Cho nên khi mà nó được tỉnh thức rồi, thì nó, cái niệm nó phóng vô, mình đều biết. Mà nó nhá vô biết liền. Nó vẫn có niệm, nhưng mà niệm biết. Chứ không phải nói tôi tỉnh thức nó hết niệm. Không phải đâu, tại vì cái tâm tham, sân, si của mình nó chưa hoàn toàn ly hết mà. Cho nên, nó phải có niệm thôi. Và có niệm mình biết hay không biết đây, cái đó là cái quan trọng của đạo Phật.

(1:02:50) Cho nên, khi biết được thì đó là may mắn, mà không biết được, mê đó, nó lôi mình vào trong một khoảng thời gian thí dụ như: Một phút, hai phút, năm phút, mười phút hay một giờ không chừng. Hay hoặc là ba mươi phút không chừng, cái vấn đề đó, nó lôi mình dài, ngắn mà mình mê thì nó lôi mình dài, mà mình ít mê thì nó lại lôi mình thời gian ngắn, có vậy thôi.

Cho nên vì vậy mà mình biết được cái tâm của mình, cái sức tỉnh thức còn kém thì mình phải tu những cái pháp dạy cho mình tỉnh thức. Thì Thầy dạy tỉnh thức, Thầy đã nhắc mà, Định Niệm Hơi Thở là dạy tỉnh thức.

Bởi vì dạy cách thức mình dẫn cái tâm để tỉnh thức chứ gì: “Hít vô, tôi biết tôi hít vô, thở ra, tôi biết tôi thở ra”. Tức là dạy cho mình tỉnh thức trên cái hơi thở ra vô vậy. Rồi dạy cho mình cảm giác được cái thân, cũng như: “Cảm giác toàn thân, tôi biết tôi hít vô, cảm giác toàn thân, tôi biết tôi thở ra”. Nương vào cái thân hành của hơi thở, để mà cảm giác cái thân của mình. Thì đó là dạy cho mình cách thức tỉnh thức chứ gì.

Con thấy rất rõ chứ gì? Vậy thì mình phải tu tập cái này, cái sức tỉnh thức mình còn mê mà. Tức là niệm nhá vô, mình có khi mình nhớ, có khi mình không thấy, có khi nó lôi mình một lúc, thì tức là mình còn mê. Cho nên, mình phải tập cái này. Vì vậy mà tập cái này mình chưa có sung mãn. Coi như là Định Niệm Hơi Thở chưa sung mãn, phải không? Nếu mà sung mãn thì nó không có bị mê nữa rồi.

Còn mà nếu mà nó không mê, tức là niệm nhá vô, nó còn nhá vô chứ hoàn toàn nếu mà chúng ta ức chế cho nó hết niệm, như bây giờ mình nhìn vào hơi thở, để mình quán hơi thở, mình sổ tức, để cho nó đừng có niệm, thì coi chừng mình bị ức chế, sai pháp rồi. Không đúng. Trật rồi. Để cho có niệm, mà niệm đó cái sức tỉnh thức của mình, mình nhận ra được niệm hay là mình đang mê nè.

Nếu mê, thì mình tu những cái phương pháp này, để cho cái sức tỉnh thức mình gia tăng. Sức tỉnh thức mình gia tăng thì cái niệm nó nhá vô thì mình biết liền, thì lúc bấy giờ, nó tới những cái pháp khác, để mình khắc phục nó khác. Đó, chứ không phải là nội cái phương pháp này, nội cái hơi thở không mà để ức chế nó không được.

Bởi vì, trên con đường của đạo Phật nó nhiều pháp để chúng ta tu, chứ đâu phải một pháp, nhưng mà nó, cái giai đoạn tu của nó ở chỗ nào. Chúng ta nắm được cái lộ trình này rồi, cách thức tu tập này rồi, thì chúng ta không sợ lạc đường, mà chúng ta cứ càng ngày cứ đi dần lên cái lộ trình, càng cái…​ sự tu tập càng cấp độ càng cao lên.

Thì những cái niệm, từ đó những cái tâm chúng ta ly dục, ly ác pháp, ly tất cả những cái vi tế của nó thì nó không niệm nữa. Chứ không phải chúng ta ức chế nó mà chúng ta ly, do cái phương pháp tu tập mà ly. Ly từ cái thô cho đến cái vi tế của nó, ly tất cả những cái tâm ly dục, ly ác pháp, những cái tâm của chúng ta lìa ra hết. Đó là cách thức ly.

(1:05:12) Đầu tiên thì chúng ta còn quán, sau đó thì chúng ta…​ Đầu tiên thì chúng ta quán ngay cái niệm của nó, tức là Định Vô Lậu đó, quán ngay niệm để mà xả nó, phải không? Ngăn ác, diệt ác ngay Tứ Chánh Cần đó, là cái chỗ mà quán ở trên đó để mà xả nó. Cuối cùng, thì bây giờ chúng ta quán một cách khác mà chúng ta lại xả nó. Đó là trên Tứ Niệm Xứ mà quán Tứ Niệm Xứ là quán cái Tứ Niệm Xứ để mà xả, để mà ly dục, ly ác pháp đó, cho nên nó khắc phục tham ưu. Mình quán cái này mà xả cái kia.

Còn hồi mà Tứ Chánh Cần thì quán ngay cái niệm của nó mà để xả nó. Có phải đúng không? Tức là Song Tầm đó, quán ngay cái tầm thiện, tầm ác, để mà xả nó, thì đó là Tứ Chánh Cần. Còn bây giờ Tứ Niệm Xứ, thì quán cái Tứ Niệm Xứ mà lại khắc phục tham ưu, tức là xả nó, có khác phải không? Mình phải thấy cái phương pháp tu khác rồi chứ đâu có giống nhau được đâu. Mà cho đến khi mà tu tới Thân Hành Niệm thì nó lại khác rồi. Mà chính nó xả, bởi vì nó xả giác chi nó mới hiện ra, để nó xả.

Đây là xả giác chi, tới cái xả giác chi là cái xả mà vi tế nhất. Hồi đầu đó, mình thấy Định Vô Lậu, mình ngồi mình quán cái niệm tham, sân, si của mình, ái kiết sử phải không? Mình quán, mình thông suốt cái mình xả. Thì đây là cái xả nó không giác chi đâu, mà do mình quán cái tri kiến, nó làm cho mình giải thoát, cái ác pháp, mình diệt ác pháp, làm cho tâm mình nó được thanh thản, an lạc, vô sự thôi, chứ chưa phải là xả ngay, chưa phải là xả giác chi đâu.

Rồi kế trên Tứ Niệm Xứ, nó khắc phục thôi, chứ nó cũng chưa có xả đâu. Nhưng mà tới cái Thân Hành Niệm rồi đó, chính nó, nó mới xả, xả giác chi nó mới…​ Đó là xả sạch, nó ly hết đó. Chừng đó, nó sẽ không niệm, nó định tĩnh nó sẽ không niệm.

Đó, Thầy nói như vậy là con sẽ hiểu được cái lộ trình đi rồi. Sau này, mà nếu mà Thầy còn duyên, Thầy sẽ soạn thảo cái giáo trình, mà Thầy không có duyên, thì Thầy tin rằng mấy con sẽ hiểu biết, mấy con sẽ soạn thảo được cái giáo trình tu tập, nó không có khó đâu. Chỉ cần hiểu đúng là soạn được.

12- DÙNG PHƯƠNG PHÁP ỨC CHẾ ĐỂ GIÁC CHI XUẤT HIỆN?

(01:06:46) Phước Nhẫn: Con thắc mắc ở cái chỗ là mình phải ly các pháp, mình phải xả hết mình mới …​ (không nghe rõ) được.

Trưởng lão: Ừ.

Phước Nhẫn: Mà Thầy dạy cái bài Thân Hành Niệm, ức chế tối đa. Thì như vậy ức chế tối đa, nó nghịch lại với cái mà xả. Thì con mới biết là tâm tâm mình để xả giác chi nó xuất hiện.

Trưởng lão: Để xả giác chi xuất hiện.

Phước nhẫn: Cũng như mà mình tu cái Thân Hành Niệm để có tinh tấn giác chi xuất hiện.

Trưởng lão: Ừ.

Phước Nhẫn: Cái hồi mà đầu con nghe đó, con nói: “Ủa! Sao mà cái kia nó nghịch lý rồi”. Phải diệt ngã xả tâm, ly dục, ly ác pháp mới nhập Sơ Thiền được. Còn này khi không nhảy vô ức chế rồi làm sao nhập được, lỡ lọt qua cái thiền tưởng sao?

(1:07:21) Trưởng lão: Bây giờ người mới đầu mà vô, mà ức chế theo kiểu pháp Thân Hành Niệm là không xả. Trái lại, cái người mới đầu vô là phải tu Định Vô Lậu ha, phải tu Định Niệm Hơi Thở ha, phải tu Chánh Niệm Tỉnh Giác ha. Đó là phương pháp xả, đúng hết chưa? Thấy rõ ràng là chúng ta phải quán xả trên Song Tầm rõ ràng rồi mà, đâu có gì khác đâu.

Nhưng mà trên Tứ Niệm Xứ là cũng phải xả đó, nhưng mà chúng ta lại quan sát Tứ Niệm Xứ mà khắc phục tham ưu, tức là xả chứ không có gì khác hơn hết. Nghĩa là không còn chướng ngại ở trên đó thì nó xả chứ gì?

Mà đó là, cũng là cái phương pháp xả, chứ không phải đến cái khi Thân Hành Niệm rõ ràng là cái phương pháp ức chế thực sự, nhưng mà ức chế để mà xả, chứ không phải ức chế để mà…​ Bởi vì ức chế nó để xả giác chi nó mới xuất hiện, thì xả chứ còn nếu mà không có vậy thì làm sao mà xả được.

Mà cái này là phải, người phải đến cái mức độ nào người ta mới dám tu cái này, chứ còn người chưa tu gì hết, nhảy vô ức chế coi thử coi, thử coi tu Thân Hành Niệm của họ, là người nào cũng bật ngửa ra hết sao. Phải không? Rõ ràng là bây giờ mình còn một cái một khối kêu là tham, sân, si một cái khối nó cũng như một cái núi Tu Di vậy đó, mà vô ức chế nó thì thử hỏi, ức chế nổi không? Nó không quật lại sao?

Còn người ta nó mòn, người ta tu từ Tứ Chánh Cần, người ta tu nó bốn cái loại định, nó mòn rồi, nó kêu là cái khối tham, sân, si nó mòn mỏi nó rồi, nó còn có phân nửa rồi. Tới Tứ Niệm Xứ là bây giờ, nó mười phần nó chỉ còn có một phần à, phải không? Nhưng mà cái phần này quá vi tế rồi, quá vi tế để mà ly dục, ly ác pháp. Cái dục, ác pháp ở đây vi tế quá rồi. Cho nên, cái pháp mà Tứ Chánh Cần đó với cái pháp Tứ Niệm Xứ trên Tứ Niệm Xứ không khắc phục nổi nó. Cho nên bây giờ, chỉ còn cái phương pháp ức chế này mà, có thể mà giác chi nó xuất hiện ra, nó xả ra hết. Chứ còn không ai làm nổi trong cái chỗ này.

Cũng như bây giờ, cái hơi thở, mình thở như thế này nè, thì chỉ có Bảy Giác Chi nó xuất hiện thì nó mới có thể tịnh chỉ hơi thở, chứ không ông nào mà làm được nó được. Còn cái vi tế mà xả cái chỗ này, thì không có ai mà xả được nữa hết, không có quán mà xả được hết. Vì càng quán thì nó lại càng động nó, nó không có xả hết cái vi tế của nó được.

Cho nên buộc lòng phải đi vào cái pháp Thân Hành Niệm, để mà cái xả giác chi nó xuất hiện, thì nó quét ra hết coi như mình ly dục, ly ác pháp hoàn toàn thanh tịnh. Có đúng không? Có bị ức chế không? Không bị. Ức chế mà không ức chế. Nó đi từ cái thấp cho đến cái cao, cái lộ trình của nó như vậy, nó mới chứng quả A La Hán nổi, chứ đâu phải dễ.

(1:09:46) Thấy cái lộ trình mà chứng quả A La Hán kinh không? Cái phương pháp rõ ràng và cụ thể. Không Thầy giảng rồi, sau này, mấy con còn cái tuổi trẻ rồi mấy con mà cái duyên, mấy con sẽ kết hợp lại, mấy con sẽ lập thành cái giáo trình, thì không còn ai mà bắt bẻ mấy con nổi. Nghĩa là rất đúng, không còn sai cái chỗ nào được hết. Ai mà bắt bẻ con mà nói: “Ờ bây giờ cái này sai”, không có nữa.

Phước Nhẫn: Con cũng đang nghĩ, tại vì bây giờ thân thể nó khác bớt đi, sau này giáo trình để lại …​ (không nghe rõ).

Trưởng lão: Cái giáo án là coi như là chỉ nó tổng quát, chứ nó chưa phải là cái giáo trình. Cái giáo trình nó tuần tự từ thấp đến cao, nó có lớp lang.

Phước Nhẫn: …​ (không nghe rõ).

Trưởng lão: Nhưng mà Thầy nói mấy con mà có khả năng thì mấy con cũng có thể viết được, nhưng mà điều kiện chưa có kinh nghiệm, coi chừng cũng sai đó. nó hỏng đó. Hỏng bởi vì nhiều khi mình không có kinh nghiệm đó, là chưa có đi qua được đó, rồi mình chỉ nghe thôi. Rồi mình biết cái đó tưởng, mình tưởng đó, tập đúng cái tầm vóc của cái người tu tập ở đó, nhưng mà lại nó cao, nó cao hơn người ta tu không vô, đâu có dễ.

Còn Thầy bây giờ, Thầy giảng tới đâu là Thầy có cái kinh nghiệm tới đó hết, Thầy biết được cái thấp, cái cao, Thầy soạn Thầy sẽ đưa vào được. Còn nhưng mà điều kiện là Thầy nghĩ rằng, không phải riêng mình Thầy đâu, Thầy dành cho mấy con chứ không lẽ là làm hết mình Thầy. Nghĩa là mấy con phải tu rồi, mấy con sẽ rút tỉa kinh nghiệm của mình, rồi sẽ giảng cái giáo trình này chứ. Chứ không lẽ bây giờ mỗi cái cũng Thầy hết sao?

Phước Nhẫn: Cái con thắc mắc rằng về ức chế hổm rày mấy bữa rồi. Nói sao mà Thầy xét cao độ, mà xét cao độ làm sao xả tâm?

Trưởng lão: Ừ.

Phước Nhẫn: Nó vừa dính nó vừa ức chế nó mới xả tâm được.

Trưởng lão: Ừ. Cái chỗ đó là cái chỗ mà xả giác chi nó mới xuất hiện.

Phước Nhẫn: Cái đó đâu có ai ngờ tới đâu, ức chế rốt cuộc nó phải giống qua theo nghe ngoại đạo.

Trưởng lão: Ngoại đạo rồi.

Phước Nhẫn: Vậy làm sao mình xả được.

Trưởng lão: Mà đúng cái pháp Thân Hành Niệm là pháp ức chế cao độ lắm rồi con. Nhưng mà cái người mà ở cái mức độ nào, người ta mới dám đưa cái pháp này ra. Chứ còn lơ mơ, mà cái mức độ mà chưa có qua được Tứ Niệm Xứ, để khắc phục tham ưu của nó, mà nhào vô cái Thân Hành Niệm thì không có tu nổi.

(1:12:23) Phước Nhẫn: Bởi trong cái bài này giảng, thì có câu: “Hôm nay nhiệt tâm làm, đêm ngày không mệt mỏi”, cái đó hoàn toàn ức chế rồi còn gì nữa?

Trưởng lão: Ức chế đó.

Phước Nhẫn: Chứ nếu câu đó mình đọc không kỹ, thì làm sao mà mình đêm ngày không mệt mỏi là mình ức chế rõ ràng rồi, làm sao mà được vậy?

Đó thành ra con mới sau này, con chế ra cái câu là: “Bằng tất cả tấm lòng”, tức là hễ mình vô tu là nhớ câu đó, vô tu nhớ câu đó …​ (không nghe rõ) mà phóng dật đó, con thử hỏi Thầy, cái giai đoạn nào …​ (không nghe rõ) hay là hoàn toàn hết phóng dật, Tứ Niệm Xứ hay là mình chỉ còn phóng dật ít, …​ (không nghe rõ).

13- KHI NÀO TU TỨ NIỆM XỨ, THÂN HÀNH NIỆM, ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ?

(01:13:07) Trưởng lão: Coi như là hoàn toàn là khi nào mà cái tâm của mình tu ở trên Tứ Chánh Cần đó, ngăn ác, diệt ác mà thấy mỗi niệm nó xẹt vô, mình đều nhận ra được, không còn mê, nó có vọng, nhưng mà vọng đều thấy được liền, đừng có mê để cho nó lôi mình thì có thể mình đi vào Tứ Niệm Xứ tu được rồi.

Còn nếu mà còn mê thì thôi đừng có rớ tới Tứ Niệm Xứ. Không được đâu. Mà nếu mà khi mà Tứ Niệm Xứ, mà thấy còn niệm nhưng nhá, vừa nhá vô chưa thành hình của cái niệm, nó còn niệm khởi nhưng mà nhá vô. Thì lúc bấy giờ đó thì chúng ta tu Thân Hành Niệm được.

Còn nhá vô mà còn thấy hình của cái niệm, tức cái niệm nó còn hình, biết ờ nó là kiết sử hay hoặc là nó là cái niệm đó là dục lậu, hữu lậu hay vô minh lậu gì đó, mình còn thấy được cái niệm đó, mình thấy được cái tâm mình tham nè, thấy được cái tâm mình này kia rồi thì mình còn thấy được cái niệm như vậy đó, khi mà cái niệm nó khởi mình còn thấy được rõ cái này, thì mình khoan tu Thân Hành Niệm đã.

Nó phải từng cái cấp của nó, coi như là mình phải tốt nghiệp được cái lớp học này rồi thì mới vào cái lớp khác chứ còn mình chưa tốt nghiệp được, tức là cái trình độ mình còn kém, mình lên lớp cao thì mình chới với đó.

Phước Nhẫn: Nghĩa là mình là hoàn thành cái giai đoạn mà mình chưa khởi niệm…​

Trưởng lão: Ừ.

Phước Nhẫn: Mà mình biết.

Trưởng lão: Biết.

Phước Nhẫn: Tu vô Tức Niệm Xứ được.

Trưởng lão: Tứ Niệm Xứ được.

Phước Nhẫn: Mà nếu nó vừa nhá niệm, nó chưa thành hình.

Trưởng lão: Chưa thành hình.

Phước Nhẫn: Mà mình biết.

Trưởng lão: Mình biết.

Phước Nhẫn: Tu Thân Hành Niệm.

Trưởng lão: Thân Hành Niệm được. Tức là sức tỉnh thức của mình đủ rồi đó, để mình đi tới Thân Hành Niệm để mà tập định tĩnh, chứ nó không phải là tập tỉnh thức nữa mà định tĩnh rồi, đó là mới được.

(1:14:49) Còn bây giờ nó còn nhá, với vả lại mình thấy như thế này nữa. Cái tâm của mình khi mà mình thấy trên Tứ Niệm Xứ của mình đó, mình tu tập đó, mà mình thấy cái tâm mình còn phóng dật. Tức là nó thấy người đi ngang qua cái nó, lưu ý người ta, nó thấy. Đó hoặc là bây giờ nó ngồi trong thất nó tu, mà thấy cái thất đó nó không có bật đèn lên, mà giờ này giờ tu mà, mình biết nó phóng dật, nó nói: “Cái ông này bây chắc giờ ngủ”. Thì nó phóng dật như vậy là đừng có tu Thân Hành Niệm.

Tu Thân Hành Niệm không có kết quả gì đâu. Nó mất công lắm. Coi như mình ngồi, mà mình không có phóng dật, ai làm gì làm nó không lưu ý, thì mình có thể tu Thân Hành Niệm được. Mà nó còn lưu ý ra ngoài, nó còn phóng dật điều đó không được.

Rồi còn nó phóng tâm, thì cái niệm nó khởi ra, nó vừa nhá, nó chưa thành hình, thì mình biết cái tâm sẽ phóng dật nó sẽ không có phóng dật. Mà cái tâm nó thành hình được cái niệm nó rồi, thì cái tâm này con ngồi ở đây, chứ mà ai làm ngoài kia nó đều, thoáng qua thấy họ là nó đã lưu ý rồi. Tức là nó phóng dật ra, ra pháp rồi. Thì cái này là thôi tu Thân Hành Niệm không có được đâu. Đó cho nên vì vậy mà lưu ý những cái phần này, là biết cái trình độ của chúng ta, nó sẽ tu pháp nào.

Ở đây, Thầy nói rất rõ ràng, rất cụ thể chứ không phải là muốn tu pháp nào, tu đại đâu. Nhưng mà người ta ham, người ta muốn tu cho mau, chứ thiệt ra cũng tập cho biết vậy thôi, chứ còn cái kết quả nó chưa có. Như bây giờ con tập Thân Hành Niệm để mà tập cho biết thôi, để cho nó quen, coi như mình mới rắp thử cái xe này thôi, chứ chưa dám cho nó chạy chỗ nào đâu.

Còn cái phần của mình tu là như thế nào? Như bây giờ, tu Tứ Chánh Cần đó thì Định Niệm Hơi Thở là quan trọng nhất. Nó tỉnh thức đó, bởi vì nó…​ Theo Hòa thượng Minh Châu, thì ông ghi là 16 cái đề mục của nó. Tức là ông kết hợp lại đó, chứ nó trong cái bài mà: “Xuất tức, nhập tức”, cái về cái bài hơi thở đó thì nó tới hai mươi mấy cái đề mục, chứ không phải là 16 cái đề mục.

Nhưng Hòa thượng Minh Châu thì kết hợp nó 16 cái đề mục, gọi là 16 cái đề mục thiền của Phật đó, Nguyên Thủy đó, thì Hòa thượng Minh Châu kết nó là 16. Thầy thì kết nó là 18, 18 cái đề mục của tu Định Niệm Hơi Thở. Cho nên do vì vậy đó, thì bây giờ thì các con hoặc các con tu 16 hoặc các con tu 18, chứ còn hơn nữa thì nó thừa.

Phước Nhẫn: Ráng là nó thêm hai cái đề mục nào?

Trưởng Lão: Nó thêm hai đề mục nữa. Hai đề mục là: “Với tâm giải thoát đó”.

“Với tâm giải thoát, tôi biết tôi hít vô, với tâm giải thoát, tôi biết tôi thở ra”.

“Với tâm định tĩnh, tôi biết tôi hít vô, với tâm định tĩnh, tôi biết tôi thở ra”, đó.

Thì cái đề mục định tĩnh. Bởi vì trước khi định tĩnh đó, thì chúng ta hướng tâm để cho cái tâm mình nó định tĩnh ở trong cái hơi thở, nó định tĩnh. Để cho sau khi mà chúng ta bước qua một cái giai đoạn mà tu Thân Hành Niệm nó dễ dàng.

Nghĩa là khi mà con hít thở năm hơi thở là nó định tĩnh ngay liền đó, con dẫn nó, nhắc có một cái thì nó vô định tĩnh liền. Đó là cái về tu tập Định Niệm Hơi Thở mà nó trợ giúp cho chúng ta sau này, khi mà chúng ta tu Thân Hành Niệm nó cũng có cái lợi ích cho chúng ta tu rồi.

14- LỢI ÍCH CỦA PHÁP ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ

(1:17:36) Cho nên đức Phật nói tu Định Niệm Hơi Thở nó sẽ có lợi ích rất nhiều mà, nó có lợi ích rất lớn khi mà chúng ta tu Định Niệm Hơi Thở. Thì khi chúng ta tu pháp nào ở trên Định Niệm Hơi Thở nó cũng giúp chúng ta rất nhiều, chứ không phải không.

Bây giờ thí dụ như mình ngồi tu Tứ Niệm Xứ nè, mà cái thân mình không an nè, nó bị kiến, bị ngứa, bị này kia thì mình nhắc: “An tịnh thân hành, tôi biết tôi hít vô, An tịnh thân hành, tôi biết tôi thở ra”. Thì lúc bấy giờ con nhắc như vậy chừng một chút xíu, thì cái thân con nó an ổn trở lại liền. Nó không bị ngứa ngáy, nó không bị trạo cử ở trong này.

Còn cái tâm của con mà nó cứ phóng dật, ngồi mà tu Tứ Niệm Xứ mà nó cứ phóng dật, nó phóng niệm ra đó. Nó phóng niệm này, lát nó phóng niệm kia. Bởi vì tu Tứ Niệm Xứ nó không có pháp, chỉ quan sát Tứ Niệm Xứ thôi, cho nên nó đâu có pháp nào.

Nhưng mà khi mà, không có pháp thì cái tâm mình nó ở trên hơi thở, mà ở trên hơi thở rất tự nhiên, chứ không phải định trên hơi thở đâu. Nó rất tự nhiên ở trên hơi thở, do đó khi đó đó, mà cái tâm của mình nó cứ bị trạo cử hoặc là trạo hối cái điều gì mà nó không dừng được. Do đó chúng ta nói, nhắc nó: “An tịnh tâm hành, tôi biết tôi hít vô, an tịnh tâm hành tôi…​”. Nhắc một chút xíu cho nó, cái tâm nó hoàn toàn nó không có niệm, nó an ổn trở lại.

Bởi vì cái phương pháp đó, mình đã tu ở trong cái Định Niệm Hơi Thở, mình đã quen rồi, cho nên bây giờ mình thấy cái tâm mình nó…​ Bây giờ tu Tứ Niệm Xứ mà cái tâm nó bị vậy, cái nhắc nó lại liền. Dẫn nó vô liền, cái chỗ an tịnh của nó liền, thì cái tâm nó an tịnh liền tức khắc! Bởi vì phương pháp hay lắm.

Cho nên Thầy nói tu mà cái Định Niệm Hơi Thở, mà tu mà nó nhuần nhuyễn nó, kết quả nó rồi, sau khi tu các pháp khác là chúng ta dùng cái Định Niệm Hơi Thở rất nhiều trong phương pháp khác. Khi cái thân tâm chúng ta nó có bị cái gì, là chúng ta trở với cái Định Niệm Hơi Thở, mà chúng ta lôi nó ra, thì chúng ta sẽ đạt được kết quả. Đó là cái phương pháp tu mà.

Phước Nhẫn: Con kẹt ở cái chỗ mà trạo cử, phóng dật nhiều quá Thầy.

Trưởng lão: Thì đó, đó nó có hai phương pháp dẫn tâm đó, trạo cử với phóng dật. Thì đó là cái phương pháp “An tịnh tâm hành” đó, “An tịnh tâm hành, tôi biết tôi hít vô, an tịnh tâm hành…​”. Tập cái đó cho nó nhuần, để mình dẫn cho được cái tâm của mình nó giao cái trạng thái đó, thì lúc bấy giờ, nó bị trạo cử hay bị một cái điều kiện gì, thì mình cứ dẫn nó vậy, cái nó an ổn liền à.

Nó có hai cái đề mục đó để mà dẫn cho nó vào cái an ổn. Chứ mình bây giờ đâu có giác chi đâu, đâu có khinh an giác chi, hỷ giác chi đâu mà an ổn được. Chỉ có vấp cho nó được an ổn thôi, nhắc nó vậy chứ mà nó an ổn lắm. Cứ làm đi! Rồi tu tập đi!

Thầy nói tu tập cái bài Định Niệm Hơi Thở mà tu tập cho kỹ 18 cái đề mục này rồi, nó toàn bộ nó có lợi ích. Cho nên, khi mà Thầy rút tỉa kinh nghiệm của Thầy đó, Thầy mới kê ra 18 cái đề mục là nó đủ cho chúng ta tu. Gặp cái trường hợp nào là chúng ta dẫn cái tâm chúng ta vào đó liền.

(1:20:28) Phước Nhẫn: Bởi vì mình không có biết cái đề mục nào đó, áp dụng cho cái trường hợp nào. Ví dụ như cái tâm trạo cử, phóng dật đó thì áp dụng cái câu: “Với tâm định tĩnh, tôi biết tôi hít vô tôi biết tôi thở ra”. Đó mà hợp mình, cái mình chuyển cái ca khác, áp dụng cái đề mục nào cho phù hợp? Để mình …​ (không nghe rõ).

Trưởng lão: Đề mục nữa, nó có những cái đề mục nó chứ sao.

Phước Nhẫn: Mà nên trong kinh mình không có nói cái vụ đó, mà chỉ nói tổng quát thôi.

Trưởng lão: Cái đó là cái kinh nghiệm của người tu rồi.

Phước Nhẫn: Dạ.

Trưởng lão: Cho nên mình biết khi mà tu tập nó nhuần nhã rồi, lúc bấy giờ nó bị cái gì đó, thì bắt đầu dẫn nó vô liền cái đó…​ Dùng cái pháp Định Niệm Hơi Thở là dẫn nó vô. Thì lúc bấy giờ chúng ta tu pháp gì, mà chúng ta dẫn nó vô, nó an ổn đúng rồi, cái bắt đầu chúng ta tu nó dễ. Chứ không nó bị trạo cử, trạo hối nó khó lắm. Nó làm cho chúng ta mất thì giờ vô ích.

Phước Nhẫn: Con nhớ Thầy viết cái bài mà 16 cái đề mục của nó …​ (không nghe rõ) không biết sao mà thấy cái tâm…​

Trưởng lão: Không biết áp dụng.

Phước nhẫn: …​ (không nghe rõ).

Trưởng lão: Thầy thì, Thầy nghĩ rồi mấy con, có bệnh gì thì Thầy chỉ cho phải dùng nó thôi. Cũng như bây giờ có bệnh rồi Thầy mới chỉ thuốc. Còn bây giờ mà Thầy viết sẵn cũng như là Thầy làm một cái cuốn, coi như là viết ra cái bộ sách thuốc để mà, toa này trị bệnh gì, bệnh gì mấy con coi, thì đúng rồi nếu mà có thì giờ thì cũng nên viết chứ không phải là không. Nhưng mà ngặt vì chưa có thì giờ, chứ phải có thì giờ Thầy đã viết rồi.

Phước Nhẫn: Trong kinh nói là tâm thụ động phải thời tu giác chi nào?

Trưởng lão: Ờ.

Phước Nhẫn: Mà tâm dao động thì phải thời tu giác chi nào?

Trưởng lão: Tu giác chi nào?

Phước Nhẫn: Con nói thẳng, thí dụ mình tụng cái ca đó, cái mình …​ (không nghe rõ) ra đó, mình biết được.

Trưởng lão: Biết mà biết cái chỗ đó mình tu tập, thì cái giác chi nó sẽ xuất hiện thôi.

Phước Nhẫn: Dạ.

Trưởng lão: Ờ đúng vậy đó. Đúng là nếu mà một cái người mà như Thầy đó, mà bây giờ mà được cái thì giờ mà rảnh rang, mà không có bị tiếp khách, không bị này kia nọ đó, không bị mất phí như vậy đó. Thầy ngồi Thầy soạn thảo ra, sau này mấy con có cái tài liệu rất là quý. Bởi vì, Thầy biết áp dụng nó vô.

(01:22:12) Phước Nhẫn: Con thấy, thì con không biết thì Thầy nói sao, riêng con thấy vấn đề mà Thầy tiếp khách, Thầy ra Thầy tiếp mấy cái chuyện này đó, nó cũng quan trọng, nhưng mà nó không quan trọng bằng viết giáo trình tu tập.

Trưởng lão: Ừ đúng vậy.

Phước Nhẫn: Con thấy cái kia nó nặng hơn. Thầy hướng dẫn khách một thời gian đó, thà Thầy ghi …​ (không nghe rõ) tốt hơn.

Trưởng lão: Ừ.

Phước Nhẫn: Còn cái phần mà cái tâm phóng dật đó, con nằm ưu tư cái đó hoài, cái đó mình quán đó, mà nó khởi tâm phóng dật. Đó, cái tâm phóng dật đó mình nhìn thì nó hết. Đó thì con thấy nó kiểu như là không có dục, thì qua kinh nghiệm …​ (không nghe rõ) mà trạo cử hoặc phóng dật tùm lum, mà không biết.

Trưởng lão: Ừm.

Phước Nhẫn: Tưởng đâu có đâu. Cái đó nhiều người biết, cái nhìn nó hết, mà nhiều người biết nhìn nó không hết …​ (không nghe rõ) cái tâm nó gần như chống lại.

Con thấy cái trường hợp cái phóng dật là cái quan trọng nhất, mà mình quán là nó không …​ (không nghe rõ) không phân tích, không ưu tư thì nó có, mình làm vậy cái nó hết, cho đến giai đoạn …​ (không nghe rõ) Như Lý Tác Ý rồi, mà kinh Phật có nói là thành ra tác ý nó hết, nó đúng, cái lực của mình tu tập cái đó mình đâu có đủ lực tu tập cái đó đâu.

Mình giờ mình nếu mình áp dụng cái phương pháp đó, để mình áp dụng vào …​ (không nghe rõ) không có được. Ví dụ như mình đang phóng dật …​ (không nghe rõ), Phật nói: “Ta thành Chánh Giác là nhờ không phóng dật”, mà nói cái gì nó hết thì nó hết, nó có hết đâu. Nó có mức độ nó nhẹ, thì nó hết. …​ (không nghe rõ) hết đâu.

(01:23:44) Trưởng lão: Đúng vậy. Cái nghĩ con là cái nghĩ đúng đó. Nó không phải đơn giản đâu. Bởi vì cái tâm phóng dật, khi nào cái tâm định tĩnh được, nó mới không phóng dật. Tâm không định tĩnh thì không phóng dật. Bởi vậy nó định tĩnh, mà bây giờ nó làm sao cách nào mà định tĩnh được đây? Chỉ có phương pháp Thân Hành Niệm nó mới định tĩnh, chứ hoàn toàn các pháp kia không đủ sức nó định tĩnh.

Thầy nói từ Tứ Chánh Cần cũng không đủ sức để định tĩnh, nó không định tĩnh mà nó chỉ nó tỉnh thức thôi. Tỉnh thức trên từng niệm để mà xả nó, còn tỉnh thức Tứ Niệm Xứ là tỉnh thức ở trên Thân Hành Niệm của nó để đẩy lui chướng ngại pháp. Nó cũng tỉnh thức, chứ nó đâu có định tĩnh được.

Nhưng mà chính cái pháp Thân Hành Niệm nó mới định tĩnh. Mà định tĩnh mới không phóng dật. Bởi vì nó định, cho nên nó không có ai lôi nó ra được. Còn mình không định, mình tỉnh thức thì nó bị lôi à. Cái pháp ở ngoài nó đập vô thì mình phải phóng dật ra thôi, không có làm sao mà chạy khỏi nó nữa.

Cho nên nó định rồi thì không có ai kéo nó được hết, nó định mà. Cho nên định mà tỉnh, chứ không phải là định mà mê đâu, định tỉnh. Cho nên cái định tỉnh mới nhu nhuyến dễ sử dụng. Đức Phật đã ghép ba cái danh từ này liền nhau định tĩnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Nhưng mà cái tâm định tĩnh phải cái phương pháp nào, chứ đâu phải muốn nói định tĩnh là định tĩnh đâu.

Còn nói tâm phóng dật, mình đừng có…​ Đâu trời, tâm phóng dật đâu phải dễ các pháp, bởi vì trên thân, trên pháp quán pháp, các pháp nó luôn, nó vây quanh mình. Mà nó vây quanh mình nó làm gì? Mục đích của nó là nó làm tạo cho tâm mình phóng dật chứ cái gì. Mà vì vậy, cho nên vì vậy mình không thành Chánh Giác được, là tại vì các pháp đang vây quanh mình, mà tâm mình luôn luôn bị phóng dật.

(1:25:14) Do đó, muốn không phóng dật, thì tâm phải định tĩnh. Mà cái phương pháp tu định tĩnh thì phải biết, mà không biết thì coi như là chúng ta chỉ nói: “Bây giờ không có lo nó” và chúng ta chỉ nhận nó thôi thì nó cũng hết. Sự thật bây giờ nhận ngàn lần cũng không hết đâu. Phải không nó…​

Phước Nhẫn: Họ quan niệm cái đó không quan trọng mà mình nói là: …​ (không nghe rõ). Họ nói cứ tối ngày, cứ quán ba cái niệm này hoài là…​

Trưởng lão: Nó không định tĩnh.

Phước Nhẫn: Sao tùm lum. Đó …​ (không nghe rõ) mới nói: “Định là gì? Định là chánh đạo, mà không định là tà đạo”. …​ (không nghe rõ) mà hai, ba cái quan điểm, con không biết sao. Là hiểu có một phần ba là vậy …​ (không nghe rõ) mà tâm phóng dật chắc cũng không có được. Ta nói: “Không có sao”, nói: “Không có được”, cái đó là quan trọng, chính cái đó nó lôi, nó làm mình đi xuống, mà làm sao nó không có sao.

Trưởng lão: Ừ, đúng rồi. Cái đó không phải đâu, phải có phương pháp.

Bây giờ, tâm mình phóng dật nè, tâm mình trạo cử nè, tâm mình trạo hối nè. Tất cả những cái tâm mà nó phóng như vậy đó, thì có cái phương pháp của Định Niệm Hơi Thở, mình dẫn dắt nó vô. Một lần mình dắt chưa được, hai lần dắt chưa được, ba lần dắt chưa được, bốn dắt chưa được, năm lần, mười lần sẽ được. Hễ mình tập dắt nó, dắt nó vô được. Bởi vì cái phương pháp đó là cái phương pháp, nó xoa dịu cái tâm của mình để dẫn nó vào cái mình muốn.

Thí dụ như: “An tịnh thân hành, tôi biết tôi hít vô, An tịnh thân hành, tôi biết tôi thở ra”. Bắt đầu bây giờ mình hít vô, thì trước khi mình nhận ra được cái cảm giác của mình chứ gì? Bởi vì: “Cảm giác toàn thân, tôi biết tôi hít vô, cảm giác toàn thân…​”, tức là cái đề mục đó mình phải, khi mình hít vô mình có cái cảm giác thì mới có an tịnh được. Chứ còn nếu mà chưa có cảm giác thì mình dẫn vô không được đâu. Phải không?

Đó cho nên bây giờ khi mình tu tập, mình cảm giác được rồi, thì bắt đầu đó mình mới: “An tịnh thân hành, tôi biết tôi hít vô”, khi mình hít vô, mình cảm giác, cảm giác cái gì? Cảm giác sự an ổn. Có đúng không? Thì cảm giác được, một chút xíu thì nó thực hiện ra cái cảm giác đó liền tức khắc. Cái cảm giác an tịnh đó là …​ (không nghe rõ), cái tâm cũng vậy, cái thân cũng vậy.

Cho nên bây giờ cái tâm mình bị trạo cử, cho nên cái…​ Hầu hết là người ta cứ lo ức chế để mà cho nó đừng có niệm khởi thôi, chứ sự thật người ta không biết dắt nó. Còn cái phương pháp của Phật dạy chúng ta có cái phương pháp dắt nó.

(1:27:50) Cho nên nói mình thấy phóng dật không sợ, lẽ đương nhiên là chúng tôi không sợ rồi, nhưng mà chúng tôi phải đạt được kết quả chứ, chứ bây giờ cứ để tâm phóng dật vậy rồi tôi đi tới đâu? Ngồi đó suốt, bây giờ mười năm, hai chục năm mà tâm tôi còn phóng dật như vậy, thì làm sao tôi thành Chánh Giác được?

Cho nên, phải có cái phương pháp làm sao cho không phóng dật chứ. Như vậy là rõ ràng là muốn không phóng dật phải có phương pháp tu chứ. Chứ bây giờ mình cứ nói rằng: “Không sợ nó”. Không sợ nó mình cứ quán, chưa chắc đã là hết. Cứ quán là động, làm sao hết được.

Tất cả những cái phương pháp tu, thì chúng ta phải có từng cái kết quả của cái pháp đầu tiên, rồi kế cái pháp kế rồi kế cái pháp kế nữa, nó phải kết quả, từ kết quả này nó dẫn dắt chúng ta đi vào cái chỗ tu tập, chúng ta mới có kết quả giải thoát.

15- TÁC Ý VÀ TỰ KỶ ÁM THỊ

(01:28:36) Phước Nhẫn: Còn trong cái bài kinh Thân Hành Niệm đó, con có một cái rắc rối nữa Thầy.

Trưởng lão: Ừ.

Phước Nhẫn: Trong kinh Tương Ưng Bộ Kinh, mục V, cái Phẩm Bất Tử, trang 287, có nói như thế này: “Sự tập khởi của tác ý là sự tập khởi của các pháp. Sự đoạn diệt của tác ý là sự chấm dứt của các pháp”. Đó trong lúc hồi nãy, Thầy nói ba cái pháp nó vây quanh mình.

Trưởng lão: Ừ.

Phước Nhẫn: Nó làm cho mình phóng dật, thì bây giờ mình cứ tác ý hoài, thì cái pháp nó còn hiện đó, nó hiện lên nhiều, bao quanh mình nó làm mình phóng dật.

(01:29:06) Trưởng lão: Mình phải biết rằng cái chỗ mà đức Phật nói đó. Một cái người mới tu đó, là phải dùng cái pháp tác ý, coi như là nó vây quanh mình, để tác ý cho nó, nó không có xâm chiếm mình, là cái giai đoạn kêu là không có cho xâm chiếm mình. Vì các pháp ở ngoài nó xâm chiếm vô, thì mình chỉ dùng cái loại vũ khí tác ý đó, để cho nó không có xâm chiếm vô mình được thôi.

Chứ còn hoàn toàn nó chưa yên, chúng nó còn bắn mình, chứ chưa yên đâu. Đó đó là cái phương pháp đầu tiên, chúng ta tu là cái pháp tác ý. Coi như là động nhưng mà nó vẫn là ngăn được giặc. Bởi vì, chúng bắn mình thì mình phải bắn, thì phải động rồi, không có thể nào, hai bên đang giao chiến rồi, nó chưa phải là thanh bình đâu.

Đó là cái phương pháp đầu tiên là phải tu tập như vậy, chứ không thể nào khác hơn hết. Cho nên pháp này phải đối trị với pháp này rồi, cho nên nó động rồi, chứ nó không thể…​ Chứ đó là cái phương pháp quán là phương pháp động thôi, chứ không có thể nào định tĩnh được hết. Định tĩnh là khi nào, mà giặc nó lui rồi mới định tĩnh, chứ còn giặc nó còn thì không định tĩnh được. Đã hiểu chưa?

Phước Nhẫn: Cái tác ý trong thân nó, nó qua đó.

Trưởng lão: Ừ.

Phước Nhẫn: Nó không sao hết.

(01:30:14) Trưởng lão: Nó không sao. Bởi vì, cái tác ý đó, để mà nó thực hiện cái trạch pháp giác chi. Mà không tác ý cái này thì trạch pháp giác chi không có. Bởi vì cái xả giác chi rồi mới tới trạch pháp giác chi. Chứ không phải là trạch pháp giác chi trước nghe.

Thấy bây giờ Thầy nói nè, cái tinh tấn giác chi nó xuất hiện trước nè. Bởi vì trên cái phương pháp Thân Hành Niệm tu tập sẽ thấy lần lượt nó xuất hiện từng cái, từng phần của nó ra.

Cái tinh tấn giác chi nó xuất hiện trên cái pháp hành của chúng ta, tức là trên Thân Hành Niệm. Thì lúc bấy giờ tinh tấn giác chi thì khinh an giác chi, rồi hỷ giác chi, ba cái này nó xuất hiện nè, rồi mới tới cái niệm giác chi, rồi mới định giác chi, rồi mới xả giác chi, mới trạch pháp giác chi, cái trạch pháp sau cùng. Trạch pháp là Dục Như Ý Túc rồi.

Cho nên vì vậy mà, cái tác ý của chúng ta để mà luyện nó, để trở thành cái trạch pháp giác chi, chứ không phải gì hết. Nếu mà không luyện tác ý từng hành động, không truyền lệnh nó, thì sau này nó Dục Như Ý Túc đâu được. Nó khác, còn kia tác ý để đẩy lui chướng ngại pháp kia thôi là nó, nó cũng là luyện tập, nó nội lực, nhưng mà đầu tiên chúng ta tu tập vậy đó gọi là tự kỷ ám thị.

Còn bây giờ cái pháp mà Thân Hành Niệm này, nó không phải tự kỷ ám thị, mà nó là trạch pháp giác chi. Bắt đầu, khởi sự tu tập trạch pháp giác chi, tức là chúng ta phải tác ý từng hành động của chúng ta, để cho nó tỉnh thức ở trên đó mà tạo thành cái cỗ xe, nó tạo thành căn cứ địa của nó rồi, nó khác rồi, nó trở thành cái lực, nội lực rất mạnh của nó rồi.

Cho nên cái tác ý này nó khác hơn mà những cái tác ý kia rồi, nó tác ý này nó không còn tự kỷ ám thị. Còn cái mà chúng ta mới đầu mà chúng ta vô tu, coi như là tự kỷ ám thị. Cho nên nó có hiệu quả, nó có kết quả, nhưng mà gặp cái khó khăn, nó không kết quả nổi.

Nó có kết quả, nó ám thị nó có kết quả đó, nhưng mà kết quả những cái lực nhẹ thôi, chứ mà cái lực mà cao thì cái sức của nó không đủ. Cho nên đến khi mà tới pháp Thân Hành Niệm, nó mới tạo thành cái trạch pháp giác chi, tức là cái lực rất mạnh, lực màu nhiệm.

Cho nên đức Phật đưa cái bài Thân Hành Niệm, con đọc mà cái bài Thân Hành Niệm, năm cái điều kiện sau, một cái người mà có đủ bảy cái giác chi, cái trạch pháp giác chi nó xuất hiện rồi, thì cái ý muốn là rờ mặt trời, mặt trăng, là nó ngồi đây, nó rờ được mặt trời, mặt trăng mà. Nó biến hóa tàng hình cái gì cũng được.

Bắt đầu mà chúng ta tu:

“Đưa tay ra”“Để tay lên đùi” nè.

“Để tay mặt lên”“Để tay trái lên” nè.

“Hai chân đứng dậy” nè. “Co tay” nè.

“Hai chân bước”“Chân trái bước”“Chân mặt bước”“Bước, bước, bước, bước”.

Đó là những cái lệnh của nó để trạch pháp giác chi đó. Nó không còn ám thị đơn sơ nữa đâu, kia con ám thị: “Tâm như cục đất, ly tham, sân, si hết đi, tâm là tham là khổ, tham, sân, si là khổ”. Đó là ám thị. Phải hiểu được cái phương pháp chứ.

Phật giáo nó có cái phương pháp Như Lý Tác Ý, là tại vì nó có cái chiều sâu, cho nên nó không gọi là tự kỷ ám thị, mà nó gọi là Như Lý Tác Ý. Cho nên Như Lý Tác Ý, cái lúc mà Như Lý Tác Ý đầu tiên là tự kỷ ám thị. Nhưng mà khi mà…​

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 3)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.