ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giới luật 1 – Giới luật là pháp môn quan trọng

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giới luật 1 – Giới luật là pháp môn quan trọng

A A A

GIỚI LUẬT 1

GIỚI LUẬT LÀ PHÁP MÔN QUAN TRỌNG

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian:

Thời lượng: [1:54:11]

Tên cũ: Giới Luật 1

 

1- TAM VÔ LẬU HỌC

Trưởng lão: Trả lời sự tu tập của mấy con, thì Thầy trả lời về cái phần mà hỏi về giới luật. Thì trong cái phần này nó rất là quan trọng mà hầu hết là mọi người tu sĩ cũng như cư sĩ cũng không có quan tâm về vấn đề tu về giới luật. Đây là trong cái tập mà vấn đạo kỳ này rất là nhiều, nhưng mà mỗi câu hỏi nó đều có một cái ý nghĩa rất là sâu sắc, từ cô Diệu Quang cho đến Minh Tông.

Sau này các con sẽ nghe trả lời về những cái câu hỏi của thầy Minh Tông, mà thầy tu những cái định do từ cái chỗ ức chế tâm, cho đến khi mà thầy phá âm thanh, rồi thầy gặp trường hợp cái hành thọ, rồi như thế nào tất cả những cái khó khăn trên bước đường mà nhập định thì được Thầy trả lời rất là kỹ lưỡng. Và bây giờ thì Thầy trả lời cô Diệu Quang hỏi về giới luật, đây là câu hỏi của cô.

Diệu Quang: Kính bạch Thầy! Tại sao tu sĩ Phật giáo hiện giờ không giữ gìn giới luật, sống phi giới luật, sống bẻ vụn giới luật, như vậy con đường tu của họ sẽ đi về đâu? Và có ích lợi gì cho kiếp sống tu hành của họ? Người tu sĩ giữ gìn giới luật nghiêm túc sống đúng phạm hạnh thiểu dục tri túc, phòng hộ sáu căn đầy đủ con đường tu của họ sẽ đi về đâu? Và có ích lợi gì cho kiếp sống của họ? Cúi mong Thầy chỉ dạy cho chúng con được rõ.

(01:44) Trưởng lão: Như Thầy đã dạy, Giới luật là một pháp môn tu hành của đạo Phật chứ không phải là pháp luật của một quốc gia. Cho nên các bộ Giới luật do các Tổ biên soạn thành một bộ Pháp luật của Phật giáo hơn là một pháp môn tu tập để được vô lậu.

Pháp môn Giới luật ghép cùng pháp môn Định luật và pháp môn Tuệ luật gọi chung có tên là Tam vô lậu học. Nghĩa là trong cái pháp môn mà để cho chúng ta tu tập thì chúng ta biết rằng cái vấn đề giới luật rất là quan trọng, mà hầu hết là khi chúng ta tu hành, chúng ta quyết tâm đi tìm về cái sự vô lậu để làm chủ sự sống chết, chấm dứt cái sự luân hồi của mình, thì con đường mà Thiền định của đạo Phật bắt đầu đi vào từ cái giới luật để chúng ta ly dục ly ác pháp. Nhưng mà chúng ta không biết cho nên chúng ta bị lầm lạc, do đó chúng ta tu ức chế tâm. Hầu hết là chúng ta cứ nghĩ rằng mình cố gắng mình nhiếp tâm trong một cái hơi thở hoặc là trong một câu niệm Phật hoặc là cố gắng giữ tâm đừng cho niệm thiện niệm ác để mà thực hiện cho được cái tâm mà không vọng tưởng, thì cái đó là Thiền định.

Nhưng ngược lại thì đạo Phật thì không phải là cái điều đó, mà chính Thiền định của đạo Phật là cái tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi nữa, cái tâm mà không còn thất kiết sử nữa, cái đó là cái Định của Phật, chứ không phải là cái chỗ hết vọng tưởng là Định. Cho nên sau này thì các con sẽ đọc lại cái tập vấn đạo mà cái tập 5, thì sắp sửa Thầy sẽ cho in ra và các con sẽ thấy rõ được cái điều mà chúng ta tu tập.

Cho nên hầu hết tới bây giờ, như các con cũng biết rằng có nhiều người tu rất lâu do cái pháp ức chế tâm, từ cái pháp Tri vọng cho đến cái hơi thở, mà về đây Thầy dạy mà lúc trước đó, thì đương nhiên đó là toàn là cái pháp ức chế tâm, chứ không phải là pháp xả tâm. Nhưng vì nếu mà dạy mà ngay liền xả tâm thì tới bây giờ mà người ta vẫn còn chưa tin Thầy cái lời nói đó.

Cho nên mọi người, tuy rằng cô Út thì trực tiếp dạy xả tâm còn Thầy thì giữ cái mực kêu là dung hòa không có dám nói thẳng ra, thế mà các con thì bán tín bán nghi cho nên không có thấy. Vì vậy mà đến cuối cùng thì những cái điều kiện mà rút tỉa từ kinh nghiệm bản thân tu, thì như cô Minh Cảnh…​

(04:31) Tất cả những người mà nhiếp tâm hết vọng tưởng rồi, thì trong 30 phút hoặc 1 giờ, đều biết được cái điều này rất rõ qua kinh nghiệm. Cho đến thậm chí như bây giờ chính Minh Tông bây giờ cũng vẫn thấy…​

Trước kia thì Thầy nhắc khéo thôi chứ Thầy cũng không dám nói thẳng, nói thẳng sợ người ta không đủ niềm tin ở mình. Vì tất cả các pháp khác đều do cái từ ức chế tâm mà đi vào, mà bây giờ thì Thầy lại nói xả tâm, thì chắc người ta sẽ thấy Thầy nó xa lạ, nó không có gần gũi với những cái pháp môn hiện hành người ta đang tu.

Do những cái điều mà xảy ra để cho chúng ta rút tỉa từng kinh nghiệm, chúng ta mới trực nhận ra được là khi tu tập những cái pháp mà ức chế tâm thì nó không đạt đến cái chỗ mà làm chủ sự sống chết, mà nó lạc vào những cái tưởng. Cho nên cái thế giới siêu hình nó cũng từ cái tưởng của các tôn giáo, cũng như Phật giáo Đại thừa, Thiền tông mà đã xây dựng nó, là do chúng ta bị ức chế tâm mà chúng ta thấy được cái thế giới siêu hình đó.

Cho nên cái bài mà kinh của Phật dạy trong kinh Nguyên thủy, pháp môn căn bản thì đức Phật nói: “Tất cả đều là Tưởng tri chứ không phải là Tuệ tri”. Tất cả những cái 33 cõi Trời thì đức Phật cũng xác định đó là cái thế giới của tưởng, chứ không phải là cái thế giới của thật.

Thậm chí như cái thế giới hữu hình của chúng ta hiện giờ mà chúng ta có thân nè, có cây cỏ, có nhà cửa nè, có ăn, uống, có tất cả những loài vật xung quanh chúng ta, thì với cái đôi mắt của đức Phật thì đức Phật cũng nói đó là cái thế giới duyên hợp. Mà thế giới duyên hợp thì chúng ta đừng có chấp lầm nó mà trở thành một cái thế giới thật, trở thành thế giới thật thì đó là một cái thế giới tưởng của chúng ta. Cho nên ngay cả cái thế giới hữu hình mà chúng ta đang sống thì Phật cũng xem nó là cái thế giới tưởng.

Còn cái thế giới mà vô hình là cái thế giới gọi là linh hồn, Thần thức, thì cái thế giới đó lại là càng tưởng tri hơn nữa, nó là cái bóng dáng của cái thế giới hữu hình này. Cái thế giới hữu hình đã không thật, thì cái thế giới mà siêu hình đó làm sao có thật được?

Cho nên từ đó, thì đức Phật biết rằng trên con đường tu mà ức chế tâm nó sẽ rơi vào trong những cái trạng thái rất là sai lạc. Do cái thời đức Phật mà đi tu thì đức Phật cũng thọ dụng những cái pháp của các ngoại đạo dạy. Như ức chế thân thì như các con cũng đã biết đó, thì đức Phật là khổ hạnh đến cái mức độ mà ức chế cái thân của mình từ cái ăn uống rất là ức chế, thậm chí như một ngày bảy hạt mè để rồi cái thân không có còn đứng dậy nổi, mà phải nằm dài. Đó là ức chế cái thân.

Rồi về cái pháp môn mà tu tập, các con sẽ đọc tới cái chỗ mà Minh Tông hỏi Thầy về ức chế tâm thì như thế nào? Thầy sẽ đọc lại những cái bài kinh để rồi các con sẽ thấy cái ức chế tâm và ức chế thân. Ức chế thân thì gọi là khổ hạnh. Còn ức chế tâm, thì đức Phật dùng cái hơi thở ức chế đến cái mức độ mà hơi thở nó không còn thở nữa, mà cũng chẳng đạt được đến đâu mấy con. Cho nên ở đây nó tịnh chỉ hơi thở, chứ không phải là làm cho hơi thở nín thở. Cho nên các con hiểu nhiều khi các con hiểu sai.

Cũng như các con hiểu rằng phá âm thanh không có nghĩa là làm chúng ta trở thành điếc, làm chúng ta không còn nghe âm thanh nữa, mà cái danh từ dùng để phá âm thanh tức là chúng ta ở trong một cái trạng thái lắng trong nào đó của tâm hồn của chúng ta, để rồi âm thanh nó không tác động được vào trong nơi đó, nơi thanh tịnh đó. Đó là cái lối tu của chúng ta.

(07:58) Cho nên ở đây, hầu hết là các con sống các con thấy giới luật của Phật rất là nghiêm chỉnh. Mà chúng ta muốn đạt được một cái gì đi nữa, thì cũng từ cái giới luật đó mà chúng ta mới đạt được, nó là cái pháp môn rất căn bản. Pháp môn Giới luật này nó được ghép chung với cái Định và cái Tuệ thì gọi là Tam vô lậu học. Cho nên gọi là cái pháp môn Định luật và cái pháp môn Tuệ luật ghép với cái pháp môn Giới luật, thì Giới – Định – Tuệ.

Giới – Định – Tuệ thì nó trở thành một cái pháp môn chung là Tam vô lậu học. Ba cái pháp này nó trở thành vô lậu. Nó làm chúng ta hết đau khổ. Tam vô lậu học là ba pháp môn tu tập không còn lậu hoặc, tức là ba pháp môn tu tập sẽ chấm dứt đau khổ của kiếp người, hay nói cách khác là làm chủ Sanh – Già – Bệnh – Chết.

Ba pháp môn ấy chỉ có Giới luật là pháp môn quan trọng nhất và tu tập khó nhất trên đường tìm cầu sự giải thoát của đạo Phật. Bởi thế người nào tu hành mà không giữ gìn giới luật, không tu giới luật, không sống đúng giới luật thì có tu suốt đời cũng chẳng tới đâu. Chỉ còn tu danh, tu lợi, tu tưởng mà thôi chẳng bao giờ có giải thoát.

Đó, thì các con thấy nó rất là quan trọng như vậy. Suốt cái đời mà tu hành của Thầy ở trong thất, Thầy rất là giữ gìn giới luật rất là đúng cách. Nhưng mà tu sai pháp, vì ức chế tâm biết vọng liền buông để hoàn toàn hết vọng. Nhưng lại rơi vào các trạng thái tưởng mà không có lối ra, không có biết ra. Cho nên cuối cùng thì từ cái giới luật thanh tịnh đó, phải đi vào một cái pháp hướng để mà nhắc tâm tự nó để mà nó làm chủ, chứ không phải ức chế nữa.

Cho nên khi mà đạt được, thì Thầy thấy cái pháp hướng Như Lý Tác Ý, cái pháp hướng rất là tuyệt vời. Nhưng mà đem áp dụng vào cái pháp hướng này cho tất cả mọi người, thì như trường hợp như thầy Thiện Thuận, khi tâm hết vọng tưởng thì áp dụng nó lại thành bị cái pháp hướng do tưởng, mà làm rối loạn cơ thể, hình thức là bị tẩu hỏa nhập ma.

Thầy Minh Tông thì nhờ cái pháp hướng mà vượt qua những cái cơn đau thử thách của cơ thể qua ý thức của mình và vượt qua những cái trạng thái của tưởng, nhưng lại rồi sử dụng không đúng pháp hướng. Tức là pháp hướng phải sử dụng lúc nào, tâm lúc nào mà sử dụng pháp hướng nó mới có hiệu quả. Mặc dù nó rất hiệu quả, cho nên khi một cái người dùng pháp hướng mà có hiệu quả, mà cái hiệu quả đó mà không đúng lúc dùng thì cơ thể sẽ bị bệnh tật và tai họa rất lớn.

Cho nên rút tỉa từng kinh nghiệm đó, Thầy và thầy Minh Tông có bàn ra cái vấn đề này rất rõ. Là sau khi những cái Thọ hành đã khởi sự tấn công, tấn công là do dùng pháp hướng sai, nó làm cho cơ thể bị bệnh tật. Do nhờ ở gần bên Thầy nên kịp thời chặn đứng lại được những cái Thọ hành đó. Nếu mà xa Thầy thì kể như là dùng pháp hướng và cái sự mà ức chế tâm thì rất là tai hại. Cho nên những cái trang sau của cái tập vấn đạo năm này, thì các con sẽ có rút tỉa được những kinh nghiệm rất là đặc biệt của con đường tu này. Cái pháp hướng nó có một cái lực, cái lực rất là vĩ đại mà cái bài vấn đạo về Như Lý Tác Ý, về cái pháp ám thị thì Thầy sẽ nói kỹ.

2- BA ĐỨC VÀ BA HẠNH NÒNG CỐT CỦA NGƯỜI TU SĨ PHẬT GIÁO

(11:30) Ở đây thì chúng ta đi vào cái pháp đầu tiên, mà hầu hết là các con theo Thầy tu rất lâu nhưng mà không có giữ gìn trọn vẹn cái giới luật. Không phải là giới của Tỳ kheo, mà là giới của sự tu tập để được giải thoát. Giới của sự tu tập để được giải thoát là cái giới gì? Nó đơn giản, nó ít giới, chứ nó không phải nhiều.

– Ăn; Ngủ; Độc cư. Đó là cái giới của những người tu giải thoát.

– Nhẫn nhục; Tùy thuận; Bằng lòng. Đó là cái giới của những người tu giải thoát.

Đó là cái pháp môn, cách thức sống để mà tu được giải thoát mà gọi là Giới. Các con hiểu?! Chứ không phải là 250 giới, hay là 348 giới, hay hoặc là Thập Giới Sa Di, hay hoặc là Ngũ Giới của cư sĩ, hay hoặc là Thập Thiện. Nó không phải là những cái giới đó đâu. Mà là những cái giới của chúng ta để mà tu tập, sống: “Ăn, Ngủ, Độc cư và Nhẫn nhục, Tùy thuận, Bằng lòng”.

Nó chỉ có mấy giới vỏn vẹn mà các con hầu hết là sống không đúng. Cho nên từ cái chỗ không đúng đó mà nó đưa các con đi đến cái chỗ rất là nhiều cái sự việc bất an để cho mình không xả tâm, không ly dục ly ác pháp được. Nghĩa là thay vì các con phải sống đúng cách của nó là độc cư tiếp duyên nhau mà không hề nói chuyện với nhau, đó là độc cư. Nghĩa là sống chung bên nhau mà không có nói chuyện.

Như Thầy đem câu chuyện như ba anh em tôn giả: Ông A Na Luật, ông Kim Tôn Giả và ông Hiếp Tôn Giả. Ba vị này sống chung nhau, mà trong một cái nhà chứ không phải là mỗi người ở một cái nhà đâu. Nhưng mà suốt 3 năm người ta không có một tiếng nói với nhau. Còn mình thì hở ra thì mình nói chuyện, hở ra thì mình nói chuyện, đó là mình sống không đúng cách rồi.

Cho nên mình chẳng có chuyện gì, mình là người vô sự, là người xả tâm, người quyết tìm con đường giải thoát, thì tiếng nói của chúng ta là phải tịnh chỉ. Tịnh chỉ để mà chúng ta nhập Sơ thiền. Cho nên muốn vào Sơ thiền thì phải tịnh chỉ ngôn ngữ. Thế mà ngôn ngữ chúng ta cứ phát ra mãi thì làm sao mà chúng ta tu cho tới nơi?

Mà tu không tới nơi thì các con cứ nghĩ rằng, nếu mà còn Thầy thì cái đức của Thầy thì các con sẽ ăn không hết. Còn nếu không còn Thầy thì thử hỏi ai cúng dường cho mấy con? Nhiều khi các con tu không tới nơi, tới chốn mà vả lại là chiếc áo của người cư sĩ nữa. Còn tu sĩ thì các con biết sao mà họ còn sống được không? Là vì họ có cái mỏ và cái chuông. Cho nên vì vậy đó, thì khi mà họ tu không chứng, thì đi dần từ cái chỗ Thiền định, họ phải đi dần qua cái Tịnh độ. Để rồi họ đi cúng bái, tụng niệm, cầu an, cầu siêu, đi làm đám ma chay, từ đó Phật tử mới cúng dường họ sống.

(14:05) Đó! Thì các con thấy các con đi tu, các con cũng thấy cái sự tu tập của mình nó rất quan trọng. Thứ nhất là mình phải nỗ lực tu như thế nào để được giải thoát. Thứ hai là mình làm sao để cho cái cuộc sống mà khi mà Thầy ra đi rồi các con còn đủ cái niềm tin đối với những người khác, để tạo cái duyên tốt cho người khác thì người ta mới quý trọng và kính mến mình. Do như vậy, thì các con biết rằng, không lẽ sau khi Thầy tịch rồi thì các con sẽ sống như thế nào đây? Phải làm gì? Vì vậy mà cô Út cô cũng lo, băn khoăn trên cái nỗi lo lắng.

Bởi vì các con đã từ bỏ hết cái đời sống ngoài thế gian, không còn làm lụng một cái gì để sống, mà quyết tâm theo tu giải thoát. Nhưng mà các con không giữ gìn những cái Giới hạnh cho nghiêm túc, thì làm sao các con được giải thoát được? Bởi vì chính cái đó là những cái mà quan trọng nhất cho đời tu hành của mình, để cho mình giải thoát được cái tâm của mình hoàn toàn, muốn làm chủ sanh, già, bệnh, chết hồi nào cũng dễ dàng. Và nó đủ Thần lực để chúng ta có thể làm được những chuyện phi thường mà người đời không thể lường được.

(15:20) Còn bây giờ các con thấy trải qua một thời gian theo Thầy rất lâu, ba bốn năm trời, nhìn lại thì tâm nào cũng còn tật nấy, chưa phải là hoàn toàn là xả hết. Cho nên chúng ta khi không tu thôi, đã quyết tu thì chúng ta phải tu cho tới nơi tới chốn, phải tu như thế nào đúng. Mà những lời Thầy dạy hầu như các con cũng đã nghe rất nhiều, nghe rất nhiều, thế mà các con cũng không giữ trọn.

Đây, những cái pháp này chúng ta cố gắng mà chúng ta giữ, để rồi chúng ta thực hiện các cái pháp mà để chúng ta xa lìa, xa lìa cái tâm đau khổ của chúng ta, tâm tham, sân, si, tâm ác pháp của chúng ta, làm cho chúng ta không còn đau khổ nữa.

(16:04) Như ở đây, từ cái ngày mà cô Minh Cảnh về đây tu tập, như cô Huệ Ân về đây thì sức khỏe còn rất tốt. Nhưng mà đến hôm nay thì cái cơ thể vô thường, cái sức khỏe nó lần nó hoại diệt. Cơ thể nó càng ngày nó yếu nó đi xuống. Nó có thể dễ dàng trong một giây phút nào đó mà chúng ta sẽ bỏ cái thân này. Nhưng mà hiện giờ chúng ta xét lại, chúng ta thấy mình có làm chủ được gì? Hay là trước những cơn bệnh tật đau khổ đấy rồi chúng ta cũng sẽ rên la trên giường bệnh? Cũng thấy đau nhức, cũng khổ sở? Rồi cũng chết? Rồi cũng chẳng biết mình đi về đâu? Khi cái thân này tự nó đưa đến sự hoại diệt đó, mà không phải sự làm chủ của mình.

Trải qua thời gian cũng rất là dài, như cô Minh Cảnh nhập thất sống một mình rất lâu. Cho đến giờ này mà con đường tu nó sẽ đi về đâu đây? Phải đặt ra câu hỏi. Mà tại sao lời Thầy dạy lại không làm đúng? Làm đúng như thế nào? Phải sống độc cư, phải sống ăn, sống ngủ như thế nào? Phải tu như thế nào vừa với sức của mình?

(17:24) Thứ nhất, Thầy đã nói điều quan trọng thứ nhất là muốn nhập được Sơ thiền để ly dục ly ác pháp, để làm chủ cái tâm của mình không còn tham, sân, si giận hờn, phiền não, đau khổ nữa. Thì tịnh chỉ ngôn ngữ là điều thứ nhất. Tịnh chỉ ngôn ngữ mới nhập được Sơ thiền. Mà điều thứ nhất là tịnh chỉ ngôn ngữ, tức là không nói chuyện.

Mà chúng ta nói chuyện là nói chuyện làm gì? Có gì đâu mà phải nói. Chuyện thiên hạ mặc ai mình chẳng để ý, chẳng biết. Như có cái gì mà liên hệ với mình, thì người khác nói, thì mình thấy cái điều kiện đó quan trọng vì cái cuộc sống chung thì mình trả lời. Mà vì cái chuyện mà nó không quan trọng, mà hỏi về đạo thì mình cũng chưa có gì để làm sao dám dạy ai, cho nên mình từ chối. Tôi chẳng biết!

Mà hỏi về đời thì tôi là người lánh đời thì tôi chẳng hiểu đời. Thì dù mình có hiểu biết đời cho mấy đi nữa, mà khi mình vào đây tu hành thì cuộc đời mình xả rồi, thì người ta hỏi chuyện đời thì đừng nhắc lại cái điều mà mình đã biết trong cuộc đời của mình. Vì đời là đau khổ có gì đâu mà phải tỏ ra những kinh nghiệm hiểu biết đó. Cho nên xả xuống, đừng nói chuyện đời, tức là chuyện phiếm đó.

Mà cũng đừng nói chuyện đạo, vì đạo mình cũng chẳng tới đâu, cho nên chẳng nói mà chỉ giữ gìn. Chỉ có điều kiện là người khác cần mình giúp đỡ họ quét sân hoặc là khiên một giỏ rác nặng hay hoặc là khiên một cây củi hay hoặc là giúp một cái gì đó thì vui vẻ bằng lòng giúp đỡ họ liền. Nghĩa là trong hiện tại cái chuyện gì giúp người khác được liền thì mình giúp liền. Mà trong khi giúp đó, thì khi người ta nhờ: “Cô Minh Cảnh hãy giúp giùm cái giỏ rác này giùm tôi”. Thì tức là mình đến mình giúp liền. Hay là cô Minh Cảnh nhờ một người khác: “Bây giờ em nhờ chị giúp cho em một cái xô nước vì cái xô này nặng quá, em xách không nổi”. Thì người khác lại giúp mình rồi cũng không nói chuyện.

Thì như vậy mình nói, chứ không phải là mình câm. Vì mình thấy cái chuyện mình làm không nổi nhờ người khác, tức là phải nói chứ không thể làm thinh được. Mà nói rồi thì cái chuyện đó là cái chuyện cần thiết cho đời sống của mình cho nên mình nói. Còn cái chuyện tào lao, cái chuyện không đúng thì mình không nói.

(19:40) Do như vậy thì các con thấy từ ngày mà theo Thầy tu cho tới bây giờ, về cái hạnh độc cư thì các con thấy chưa có ai mà làm đúng trọn vẹn. Người mà khá nhất, được trọn vẹn nhất đó là Thầy Minh Tông, nhưng vẫn còn bị một vài lỗi nhỏ là vì gia đình chứ còn không tiếp duyên với quý thầy, không tiếp duyên với một người nào cả. Chỉ có gia đình, tình cảm gia đình đến, nhiều khi đòi hỏi ở cái chỗ hiểu biết để tiếp duyên. Do đó, mỗi lần mà tiếp duyên như vậy đều thấy có sự động rất lớn. Còn các con thì hằng ngày tiếp duyên, cho nên các con không thấy. Đó là những cái điều sai.

Vậy mà khi đã tịnh chỉ ngôn ngữ như vậy rồi, mà tu hành dùng pháp hướng hoặc là tu hành ức chế tâm, nó còn đi còn trật đường, còn sai! Còn huống hồ là chúng ta luôn luôn không giữ gìn cái giới, thì như vậy thì chúng ta nó còn sai biết bao nhiêu đường.

3- GIỚI LUẬT LÀ PHÁP MÔN RẤT QUAN TRỌNG TRÊN CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT

Cho nên đối với đạo Phật nó không khó, mà nó rất khó! Nó rất khó là vì chúng ta giữ gìn giới luật không đúng. Bởi thế người tu hành mà không giữ gìn giới luật, không tu giới luật, không sống đúng giới luật thì có tu suốt đời cũng chẳng tới đâu. Chỉ còn tu danh, tu lợi, tu tưởng mà thôi, chẳng bao giờ có giải thoát. Nếu không tu giới luật mà tu định thì Thiền định đó là tà thiền, tà định.

Đó! Bằng chứng như các con cũng thấy rằng giới luật không nghiêm chỉnh, mà bây giờ các con nhiếp tâm không vọng tưởng, thì các con sẽ rơi trong các trạng thái tưởng như thế nào không? Đó là tà thiền, tà định.

Tới bây giờ các con có thấy người nào mà làm chủ sự sống chết được chưa? Và làm chủ được cái tâm của mình còn phiền não giận hờn, còn ác pháp trong đó chưa? Cho nên mặc dù nhiếp tâm hết vọng tưởng, nhưng các con cũng chưa thấy hết được, cho nên cũng chưa làm chủ được.

(21:35) Nếu không tu Giới mà tu Tuệ, thì tuệ đó là kiến giải, tưởng giải, là nhai lại đờm dãi của người xưa, thêm râu ria, vẽ rắn thêm chân. Nghĩa là các con bây giờ đem ra lý luận bằng cách này cách kia, thì cũng vay mượn của kinh sách, vay mượn lời của Hòa thượng, vay mượn lời của Thầy để mà nói ra, thì không phải đó là nhai lại đờm dãi của người khác sao? Các con thấy không?

Bây giờ các con có nói cái gì? Các con có nói cái của các con đâu? Các con nói cái của Thầy, cái kinh nghiệm của Thầy, nói những cái Thầy nói chứ các con cũng chả biết cái đó là như thế nào. Cho nên những cái đó là cái mà Thầy dùng đờm dãi.

Nghĩa là cái chất nhơ bẩn đó, đừng có nhai lại! Mà hãy nhai những cái gì mà của mình sạch sẽ, chứ đừng có nhai lại cái đó. Mặc dù đó là lời Phật nói, đó là Tổ nói, đó là Thầy nói, nhưng Thầy vẫn xem đó là cái đờm dãi, cái chất dơ bẩn. Từ xưa đến giờ các Tổ chỉ lập đi lập lại lối mòn của nhau, chỉ dùng từ hiện đại cho lạ tai mà thôi. Chứ lối mòn vẫn là lối mòn, không thể nào lối mòn là đường cái được.

(22:36) Đó, đường cái! Thí dụ bây giờ các con thấy Thầy nói nó không có đi vào cái con đường của các Tổ, mà dạy không có lặp lại cái ý của các Tổ. Cho nên Thầy không có nhai lại đờm dãi của người. Thầy hiểu qua cái chỗ tu hành của Thầy. Thầy biết cái sai của các Tổ, Thầy biết cái đúng của cái sự làm chủ sanh tử, Thầy nói rất rõ ra. Thì cái đúng này, thì lật kinh điển của Phật ra, thì người ta đọc người ta thấy rất đúng, không có sai.

Cho nên gần đây, thầy Chơn Trí về đây, thì Thầy cho Chơn Trí mượn cái tập Trung bộ kinh tập 1. Do đó những cái bài kinh mà Chơn Trí được Thầy chỉ cho đọc. Thì lúc bây giờ Chơn Trí đọc thấy quả đúng là Thầy dạy như thế nào, thì Phật dạy như thế nấy, không có khác. Đó là những cái điều mà Thầy dạy qua kinh nghiệm của Thầy. Nhưng mà trong kinh điển của Phật còn ghi lại. Thầy không nhai lại cái lời, cái ý của Phật, mà Thầy nói cái kinh nghiệm của Thầy tu, mà thật nó không sai!

Như trên Thầy đã dạy, giới luật là pháp môn quan trọng nhất trong Tam vô lậu học. Ba pháp môn Định học nè, rồi Tuệ học nè, mà cái Giới học là quan trọng, rất là quan trọng. Đó thì bằng chứng các con theo Thầy, từ nào tới giờ, nhiếp tâm hết vọng tưởng, thì các con lần lượt các con thấy hết vọng tưởng. Nhưng mà cái giới luật, mà để cho các con trọn vẹn, cho đạt được, thì các con xét coi có đứa nào mà đã giữ gìn giới luật trọn vẹn đâu?

(24:01) Vì muốn thoát ra sự đau khổ của kiếp người, đức Phật dạy: “Vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đệ tử, những việc ấy ta đã làm xong”. Nghĩa là cái giới luật của Phật, Phật nói, đức Phật đã làm xong được, cho nên đức Phật thấy rằng con người tu tập được cái giới luật, chứ không phải là khó khăn lắm. Thế mà đức Phật mới thương các đệ tử của mình, thương người mà đức Phật mới dạy, mới nhắc lại: “Vì lòng thương tưởng ta dạy các ngươi”. Một bài kinh mà đức Phật đã khéo nhắc nhở cho các vị Tỳ kheo tu tập giới luật, vì giới luật rất quan trọng trên đường cầu giải thoát.

Bài kinh ước nguyện Trung bộ tập 1 trang 79 Phật dạy: “Này các Thầy Tỳ kheo, hãy sống đầy đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn, sống phòng hộ với sự phòng hộ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chơn chánh lãnh thọ và học tập các giới”.

4- MỤC ĐÍCH TU TẬP CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC LÀ ĐỂ XẢ TÂM CHỨ KHÔNG PHẢI ỨC CHẾ TÂM

(24:57) Trong cái thời gian Chơn Trí ở gần bên Thầy trong một tháng, nữa tháng mấy ở gần đây, thì Thầy chỉ nhắc mỗi lần một hành động nào đó, mà con thấy được cái sai của con, không đúng giới luật của Phật, thì đó là đều con tỉnh giác, con tỉnh thức. Chứ không phải con tập tỉnh thức, con đi kinh hành con biết đi kinh hành. Để cho con áp dụng vào cái chỗ biết cái sai, cái đúng của con, chứ không phải là con đi kinh hành biết đi kinh hành, mà không biết cái lỗi cái sai của con, thì như vậy không có nghĩa là con tỉnh thức, mà con bị ức chế tâm trong sự đi kinh hành. Các con nhớ kỹ! Các con hiểu chỗ đó chứ?

Nghĩa là bây giờ các con đi kinh hành các con biết từng bước đi kinh hành cho 1 tiếng, 2 tiếng đồng hồ mà tỉnh thức, tỉnh thức biết cái đi kinh hành đó, mà đối với cái tâm của các con ham muốn cái này, khởi ra ác pháp cái kia mà các con không biết thì cái đó các con cũng chưa phải là tỉnh thức. Mà vì cái tỉnh thức đó do các con ức chế tâm buộc tâm con phải tập trung gom lại bước đi để biết bước đi chứ không phải tỉnh thức.

Đó thì cái quan trọng là cái ở chỗ này. Khi mà tập tỉnh thức như vậy, để rồi nó còn ở chỗ nào? Ở chỗ cái tâm niệm của mình nó khởi ra cái niệm này niệm kia, nó ham muốn, nó tranh hơn thua hoặc là nó ganh tị hoặc là nó hiềm khích, thì đó là những cái tâm niệm khởi lên mà mình biết được cái đó để cho mình xả cái tâm, mình kịp thời mình ngăn chặn cái tâm. Thì mình ngăn chặn cái tâm thì lúc bây giờ thì đó là mình tỉnh thức. Mình tỉnh thức, tĩnh giác.

Còn cái mà tĩnh giác mà đi kinh hành biết mình đi kinh hành, hít vô mình biết hít vô, thở ra mình biết thở ra mà không hiểu được cái tâm của mình đang ở trong cái gì, cái ác pháp gì hoặc là cái lòng ham muốn gì, mình không biết nó, cho nên cái tỉnh thức đó gọi là ức chế tâm tỉnh thức, chứ không phải là tỉnh thức. Cho nên xê xích một chút xíu là chúng ta đã biết mình, do mình tu ức chế tâm, mà do mình không tu ức chế tâm.

Và khi một người biết được cái tâm niệm của mình nó đang ở trong ác pháp, trong thiện pháp. Thì lúc bây giờ biết nó ở ác pháp thì tâm liền xả, nó không còn bị dính mắc nữa và nó không còn bị phiền não đau khổ nữa, thì đó là cái chỗ tu của đạo Phật gọi là xả tâm diệt ngã, chứ không phải chỗ ức chế tâm. Mà chỗ xả tâm diệt ngã đó nó làm cho tâm chúng ta thanh tịnh, nó không còn giận hờn phiền não đau khổ nữa, thì cái tâm đó gọi là tâm Thiền định. Chứ không phải cái tâm hết vọng tưởng mà Thiền định, hay hoặc là cái tâm tỉnh thức mà biết đi kinh hành biết hơi thở ra vô là Thiền định. Cho nên cái tu sai là cái chỗ sai đó của các con.

Bởi vậy đức Phật dạy Chánh Niệm Tĩnh Giác. Khi mà tĩnh giác thì phải ở trong cái Chánh Niệm. Tức là tỉnh thức ở trong cái niệm chơn chánh làm cho cái tâm của chúng ta không có giận hờn phiền não, tức là ly dục ly ác pháp đó. Thì các con hiểu được như vậy mới biết được con đường của đạo Phật là Thiền định xả tâm để cho cái tâm thanh tịnh. Chứ không phải mình tu tập để tỉnh thức để đi đến sự tĩnh lặng ở trong cái trạng thái hết vọng tưởng, thì cái điều đó là cái điều của thiền của ngoại đạo, của Đại thừa, của Thiền Đông Độ, chứ không phải là của thiền của đạo Phật.

Vì đạo Phật nhắm vào cái chỗ làm chủ sanh, già, bệnh, chết. Thì cái sanh là cái đời sống của chúng ta, thì do cái chỗ tu tập của chúng ta để cho đạt được cái tâm không còn phiền não đau khổ nữa. Đó là cái tâm Thiền định. Và từ cái tâm Thiền định đó, các con sẽ có đủ cái đạo lực, cái đạo lực đó các con dùng cái pháp hướng mà điều khiển, sai khiến để chúng ta nhập các định Như Ý Túc, như ý muốn của mình.

Nghĩa là mình muốn nhập như thế nào thì nó nghe theo như thế nấy, tức là cái tâm thanh tịnh đó. Cho nên vì vậy muốn có Định thì phải có cái sự xả ly cái tâm thì nó mới có Định. Xả ly cái tham, sân, si phiền não, chứ không phải xả cái niệm vọng tưởng. Mà cái tâm tham, sân, si phiền não nó còn mãi thì làm sao mà có Định được.

Cho nên ở đây chúng ta thấy khi mà xả ly được cái tâm như vậy thì chúng ta đã làm chủ được cái cuộc sống của chúng ta, tức là làm chủ sanh, cái đời sống của mình. Cho nên mình không còn phiền não giận hờn, không còn lậu hoặc ở trong đó nữa. Đó thì các con thấy ngay từ cái chỗ xả ly là chúng ta đã làm chủ được một cái làm chủ của chúng ta rồi. Và khi làm chủ được cái đó rồi thì bắt đầu chúng ta mới làm chủ được cái thân của chúng ta.

5- MUỐN NHIẾP PHỤC TÂM HAM MUỐN, KHIẾP ĐẢM THÌ PHẢI TU TẬP GIỚI LUẬT VÀ BỐN PHÁP ĐỊNH

(29:20) (mất tiếng) …​ Cầu khẩn như vậy.

Còn bên mà Nguyên Thủy thì họ dạy mình chỉ sống đúng giới luật là nó sẽ tai qua nạn khỏi, tất cả những cái điều mà xảy đến cho mình đều là được an ổn hết.

Kinh sách Đại thừa, lối dạy tu tập đều cầu tha lực Tam Bảo gia hộ, cho đến những ước nguyện cho mình, cho người đều dựa vào tha lực. Còn ngược lại kinh sách Nguyên Thủy dạy tự lực muốn lợi mình, lợi người thì người ấy phải tự mình tận lực sống đúng giới hạnh. Nói một cách khác là phải sống đúng thiện pháp, không được sống trong ác pháp. Nói chung Phật dạy con người muốn có cuộc sống an vui hạnh phúc thì phải có đầy đủ đạo đức không làm khổ mình, khổ người thì được toại nguyện.

Đọc qua bài kinh Pháp Môn Căn Bản ta thấy rõ Phật giáo không dẫm lại lối mòn của các tôn giáo khác. Tự mình vạch ra một lối đi độc đáo, tự lực cụ thể không mơ hồ, chính xác để giải quyết kiếp sống con người thoát ra cảnh khổ, tạo thế gian thành thiên đàng.

Để chiến thắng sự ưa thích dục lạc thế gian, sự không ưa thích, sự bất toại nguyện và sự khiếp đảm sợ hãi, Phật dạy: “Này các Thầy Tỳ kheo nếu Tỳ kheo có ước nguyện mong rằng ta nhiếp phục lạc và bất lạc chứ không phải lạc và bất lạc nhiếp phục ta”. Mình vì nó mà mình bị nó nhiếp phục, mình sợ liền. Còn trái lại một người mà giữ giới luật thì không có để cho nó nhiếp phục mình, mà mình nhiếp phục nó.

Cũng như giờ ăn miếng ngon, cái bắt đầu mình nhớ, mình thèm nữa, thì bị cái lạc đó nó nhiếp phục mình. Bây giờ cái đau nhức cái đầu hay hoặc nhức cái chân, cái mình bị nó nhiếp phục mình liền, cái mình sợ, cái mình bắt đầu mình ăn uống, mình ăn phi thời, mình không dám giữ gìn đúng cái giới luật. Hoặc là bây giờ cái giờ mình tu, mà nghe nó mỏi mệt, nghe nó nhức đầu, cái bắt đầu thôi đi nằm đi. Thì trong lúc đó mình bị cái thọ khổ đó nó nhiếp phục mình, làm cho mình sợ hãi mình bỏ cuộc. Trái lại mình phải nhiếp phục nó, chứ không để cho nó nhiếp phục mình.

Ở đây đức Phật nói chúng ta muốn nhiếp phục được cái đó, cái lạc và cái bất lạc này nó khởi lên thì chúng ta phải tu tập giới luật, thì giới luật nó sẽ giúp chúng ta sẽ nhiếp phục được cái lạc và bất lạc đó: “Mong rằng ta sống luôn luôn nhiếp phục lạc và bất lạc được khởi lên, mong rằng ta nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi chứ không phải khiếp đảm và sợ hãi nhiếp phục ta”.

Ví dụ như con Chỉnh nó sống một mình, nó sợ ma, thì đó là cái sự sợ hãi, cái sự sợ ma đó nhiếp phục nó, chứ không phải là nó nhiếp phục cái sự sợ hãi. Còn bây giờ mình sống, bây giờ bỏ mình ở khu ở đằng sau có một mình, mà mình không sợ ai, tức là mình nhiếp phục sự sợ hãi. Bỏ mình trong rừng trong núi một mình, mình nhiếp phục, mình không sợ hãi, sợ cọp, sợ rắn độc, sợ thú dữ, sợ ma, sợ đủ loại, sợ một mình chết rồi không ai biết, sợ bệnh đau rồi không ai giúp đỡ, sợ không cơm ăn áo mặc, đói lạnh, mình sợ đủ thứ. Thì đó gọi là cái sợ nó nhiếp phục mình. Còn trái lại mình tu tập mình biết, thì mình nhiếp phục cái sợ đó, cho nên mình làm chủ lại nó.

Mà muốn được như vậy thì tức là cái người đó phải giữ gìn giới luật. Không có giữ gìn giới luật thì không có nhiếp phục được: “Tỳ kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định” – tức là tỉnh thức. “Thành tựu quán hạnh vô lậu, thích sống tại các trụ xứ không tịch, độc cư” – nghĩa là luôn luôn chúng ta phải sống ăn, ngủ, độc cư, nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng. Sống đúng những cái giới luật như vậy, thì chúng ta sẽ khắc phục được những cái sự mà khiếp đảm đó. Còn nếu không thì chúng ta sẽ không khắc phục được.

Chẳng hạn bây giờ chúng ta ở trong cái cảnh này, chị em này kia quay quần nhau, lao tác với nhau thì chúng ta thấy như vầy nó bất an quá, đi tìm một cảnh nào mà cho an, đó là chúng ta bị cái lạc nó nhiếp phục. Cái lạc thích chỗ yên tịnh, cho mình tu một mình. Đó là mình bị nó nhiếp phục mà mình không hay biết, mình tưởng đó là mình đi tìm cái cảnh giới để cho mình yên ổn tu hành. Nhưng sự thật ra nó đâu phải. Mình ở đây, trong khi mình sống chung với mọi người mà mình giữ gìn được cảnh giới yên tu hành của mình là chỉ có độc cư. Ai làm công việc thì mình giúp với nhau mình làm mà không nói một tiếng nào đó, thì nó là cái cảnh yên tĩnh để cho mình tu, chứ không phải có cảnh yên tĩnh ngoài cái cảnh nào khác hơn hết được.

(33:55) Lời dạy trên đây rất cụ thể: “Muốn nhiếp phục tâm ham muốn, tâm sợ hãi thì chỉ có Giới luật và Bốn pháp định. Định Chánh Niệm Tĩnh Giác, Định Niệm Hơi Thở, không gián đoạn Thiền định, nội tâm định tĩnh, Định Sáng Suốt, thành tựu quán hạnh Định Vô Lậu. Thích sống tại các trụ xứ không tịch, độc cư”. Nghĩa là mình thích sống tại cái trụ xứ. Bây giờ ở đây mình thích sống cái độc cư, thì mình tạo cái tư thế, cái cách sống của mình độc cư, mình trầm lặng. Thì nó là có độc cư, chứ không phải nghe nói thích sống độc cư tại trụ xứ không tịch, thì mình đi tìm cái nơi nào đó để mà nó được độc cư không tịch.

Ví dụ như Thầy Chơn Trí đi vào khu Giếng Chén ở có một mình trong đó, tưởng là cái khu không tịch. Nhưng mà không ngờ, lại là nó không tịch, vì ở đó nó đủ các thứ, nó làm cho tâm mình động, chứ không phải là không tịch. Rồi mình ở một mình mình, thì cái tâm nó khởi lên, nào là muốn ăn cái này, muốn ăn cái kia, rồi lại nhớ nghĩ cái này kia, thì như vậy là có không tịch không? Đâu có không tịch! Còn mình sống ở đây, hoàn toàn như thế này, mà mình khắc phục được cái tâm mình nó khởi lên cái niệm gì, nó chướng, nó trái hoặc là bất toại nguyện, hoặc là nó có những cái điều kiện làm cho mình ham thích này nọ kia. Thì lúc bây giờ đó mình khắc phục nó, mình làm cho nó trở về với sự không tịch. Thì đó là mình đã sống ở trong cái trụ xứ không tịch. Tức là độc cư.

6- Ý NGHĨA CỦA BÀI KINH ƯỚC NGUYỆN

(35:22) Trong bài kinh Ước Nguyện đức Phật dạy nhập Bốn Thánh Định rất rõ ràng và dễ dàng, không có khó khăn. Vì muốn nhập Bốn Thánh Định này không khó khăn, không có ức chế tâm như các nhà học giả kiến giải dạy ra. Chỉ cần sống đúng giới hạnh và tu tập các pháp Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ để xả tâm cho thật sạch không còn tham, sân, si, mạn, nghi nữa.

Đây các con nghe lời của đức Phật dạy mà khi chúng ta nhập Bốn Thiền Định. Mà hầu hết là các con từ lâu tới giờ cố gắng để mà nhập cho được Tứ thiền để tịnh chỉ hơi thở chứ gì, để phá âm thanh chứ gì. Nhưng mà tới giờ này thì chưa có ai làm được là tại vì các con tu không đúng: “Này các Thầy Tỳ kheo, nếu các Thầy Tỳ kheo có ước nguyện, mong rằng tùy theo ý muốn không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức ta chứng được Bốn thiền thuộc Tăng thượng tâm”. Tức là thuộc về định cao quý nhất: Hiện tại lạc trú. “Tỳ kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì nội tâm”. Nghĩa là phải giữ gìn giới luật rất là kiên trì. Nghĩa là lúc nào cũng không có để mà vi phạm giới luật thì cái người đó mới thực hiện Bốn thiền nó rất dễ dàng không có khó khăn.

Như Thầy đã nói khi cái tâm thanh tịnh là cái tâm không còn tham, sân, si. Thì cái tâm đó nó mới có thể thực hiện Bốn thiền một cách dễ dàng. Nghĩa là bảo nó nhập tịnh chỉ hơi thở là ngay đó nó tịnh chỉ liền, bảo nó tỉnh thức phá ly 18 cái loại hỷ không còn mộng mị chiêm bao nữa, thì nó tỉnh thức suốt đêm mà nó không có mệt nhọc không có khổ sở.

Các con biết rằng khi mà tu tập tỉnh thức để phá cái chiêm bao đó thì cái người đó tỉnh thức không có ngủ. Mà không ngủ thì cơ thể họ bắt đầu bệnh. Trường hợp đó là cái trường hợp Minh Tông ở đây nè. Khi nghe Thầy nói muốn nhập Tứ thiền thì phải ly 18 cái loại hỷ tưởng. Mà ly 18 loại hỷ tưởng thì nó sẽ không ngủ. Cho nên nó tập không ngủ để cho không có chiêm bao chứ gì. Nhưng mà tập được không ngủ rồi, dùng pháp hướng tập nó không ngủ thì cơ thể nó phát bệnh. Coi như người mà mất ngủ thì phải bệnh. Từ đó nó phải tập luyện làm sao mà cho cái thân nó ngủ trở lại. Bây giờ nó mất ngủ nó không chịu ngủ, nó cứ tỉnh hoài nó không chịu ngủ, thì bắt đầu cơ thể nó mệt nhọc. Ngồi thiền nó ngồi hết muốn nổi và đi kinh hành nó đi hết muốn nổi nữa, nó mệt nhọc nó làm cơ thể uể oải. Cho nên nó thấy nguy hiểm rồi, bắt đầu từ đó nó phải tập ngủ trở lại.

Hồi đó tập cho nó tỉnh thức, tập ngủ trở lại thì nó chiêm bao lung tung, nó đủ thứ chiêm bao hết. Thì các con thấy nguy hiểm ghê gớm chưa. Nó trải qua biết bao nhiêu những cái điều mà khi mà ngồi mà rớt ở trong những cái trạng thái bị ngủ, mà Thầy nhắc đi nhắc lại Thầy bảo tỉnh thức xả tâm chứ không phải là tỉnh thức mà để lặng vô trong đó mà ngủ. Nhưng mà cuối cùng thì mọi người để đến khi mà nhắc đi nhắc lại cho thời gian nó dài rồi mới rút tỉa được kinh nghiệm từ bản thân của mình thấy cái đó là sai rồi mới chịu bỏ. Chứ còn hồi Thầy nhắc thì ít có ai nghe.

(38:30) “Tỳ kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì nội tâm tịch tĩnh, sáng suốt định” – tức là giữ cái tâm sáng suốt, mình thanh thản hằng ngày đó. “Không gián đoạn Thiền Định” – nghĩa là luôn luôn giữ cái tâm đó, tức là Thân Hành Niệm nội và ngoại, tức là hơi thở và đi kinh hành. “Thành tựu quán hạnh” – tức là Định Vô Lậu xả tâm. “Thích sống tại các trụ xứ không tịch” – tức là tạo cái trụ xứ không tịch để cho mình sống ở trong cái trụ xứ đó. “Nếu người nào muốn tu tập Thiền định đạo Phật, nhập Bốn thiền làm chủ sanh, già, bệnh, chết thì không có khó khăn chỉ cần thành tựu viên mãn giới luật.” – tức là sống đúng giới luật.

Xét ra từ khi đức Phật nhập diệt đến giờ không có ai mà nhập được Bốn thiền, chỉ vì không thành tựu viên mãn giới luật. Nếu đã có người nào viên mãn được giới luật, sống đầy đủ chánh hạnh thì Phật pháp đâu bị ngoại đạo biến thể như thế này, để trở thành một tôn giáo hỗn tạp mang đủ thứ pháp môn, 84.000 ngàn pháp môn. Còn mang những danh từ ngã mạn, cống cao Đại thừa, Tối thượng thừa.

Như trên Phật đã dạy trong bài kinh Ước nguyện: “Từ đức hạnh làm người sống không làm khổ mình, khổ chúng sanh để đem lại sự giải thoát cho nhau trên hành tinh này. Thì hãy sống đầy đủ Giới hạnh, đầy đủ Giới bổn, sống phòng hộ sáu căn với sự phòng hộ của Giới bổn. Đầy đủ uy nghi, chánh hạnh thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chơn chánh lãnh thọ và tu học các giới học. Thì được toại nguyện, mãn nguyện làm người có đạo đức đầy đủ.” Đây là giới của người cư sĩ.

Nếu muốn thành tựu những đức hạnh của bậc Thánh nhân và thực hiện Thiền định làm chủ sự sống chết của bậc chơn nhân mà người đời thường hay ưa thích tu Thiền định. Nhưng không biết Thiền định nào đúng sai, cứ nghe Thiền định là cứ tu. Nhắm mắt tu đùa tu không suy nghĩ. Đã mất công sức tu hành, lại còn mất tiền mất của, bỏ đời sống thế gian, bỏ vợ, bỏ con, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ thân bằng quyến thuộc v.v…​ Chỉ vì muốn làm bậc Thánh nhân nhưng lại tu sai. Thánh nhân đâu không thấy, giải thoát đâu không thấy, ngẫm lại mà đau lòng bị lừa đảo mà không dám nói ra, ngậm miệng tự an ủi mình phải tu nhiều kiếp: “Kiếp này chưa xong thì kiếp khác tu nữa. Phật Thích Ca xưa còn tu vô lượng kiếp mới thành Phật”. Câu này là câu an ủi nhất của những người tu lạc, tu tà pháp, họ nuôi hy vọng ảo huyền để mà hy vọng.

(41:10) Như trong bài kinh ước nguyện Phật dạy: “Tùy theo ý muốn không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, tu chứng được Bốn thiền thuộc Tăng thượng tâm hiện tại lạc trú”. Ở đây đức Phật nói những cái Thiền định đó tu tập nó không có khó khăn gì hết, nó không có mệt nhọc gì hết. Nhưng chúng ta phải biết là vì chúng ta chỉ có cần giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh mà thôi. Để rồi chúng ta xả tâm ly dục ly ác pháp, thì cái Bốn thiền định mà làm chủ sự sống chết này nó không có khó.

Cho nên chúng ta tu Bốn thiền định này khó phá âm thanh nè, phá thọ nè, rồi tịnh chỉ hơi thở nè chúng ta thấy sao mà khó quá! Khó vô cùng khó! Mà mệt nhọc quá, đêm nào cũng thức dậy ngồi thiền lim dim suốt đêm. Khuya dậy thức dậy tu tập, thế mà tới giờ này không nhập được trong bốn cái loại thiền này. Rất khó! Mà xưa đức Phật thì tu quá dễ, rất dễ. Không có khó!

Thì tại sao? Tại vì chúng ta giới luật mà không có giữ trọn, chứ đâu có gì. Giữ trọn giới luật, sống đúng những hạnh để xả ly tâm tham, sân, si, phiền não của mình thì cái gì lại không đạt được! Đó! Thì cái Thiền định gì mà không có làm chủ được. Thì các con thấy trong cái vấn đề tu nó không phải lâu. Mà tại vì các con không có chịu bỏ cái tâm của mình. Tại sao kỳ vậy?

(42:30) Như vậy Thiền định tu tập đâu có khó khăn. Thế mà người tu thiền thời nay lại tu quá khó khăn. Tu mãi từ hai ba chục năm nhưng không thành tựu. Các tổ như ngài Đại An 12 năm, ngài Diệu Cao Phong 30 năm mà chỉ triệt ngộ những công án mà thôi, còn làm chủ sanh tử thì chẳng biết gì, tâm sân hận vẫn còn cao ngút. Giải thoát đâu không thấy, làm chủ sanh, già, bệnh, chết đâu không thấy. Chỉ thấy được mồm mép bén nhạy, đối đáp như gió thổi cơ phong. Còn một số người nữa lại tu vào các loại thiền khác xuất hồn, khí công, Yoga, Mật tông, luyện bùa, niệm chú, bắt ấn v.v…​ Biến dần tu sĩ này thành, thay vì tu giải thoát họ lại làm Thầy trị bệnh trừ tà ếm quỷ hoặc tập luyện dưỡng sinh. Tức là Thiền định biến thái thành phương pháp ngừa bệnh.

Các con thấy bây giờ người ta tập dưỡng sinh là cái lối phương pháp tu Thiền chứ gì. Mà chính trong lúc đó những cái phương pháp này là những cái phương pháp Thiền ức chế tâm. Cho nên dần dần nó không có đạt được cái ước vọng của họ, mong rằng họ sẽ làm chủ sự sanh, già, bệnh, chết chứ gì, họ làm chủ được cái tâm tham, sân, si họ chứ gì. Nhưng mà tập luyện riết không có làm chủ được, thì bắt đầu bây giờ nó biến thái nó đẻ ra những cái hành động để mà dưỡng sinh, để mà tập cho mình ngừa bệnh đừng có xảy ra những cái bệnh tật khổ sở. Đó bây giờ biến Thiền nó trở thành là dưỡng sinh. Chứ đâu phải tự dưng mà khi không mà người ta đẻ ra dưỡng sinh đâu. Người ta tu Thiền mãi nó không được người ta đẻ nó ra dưỡng sinh.

Thiền định thời nay biến dần thành phương pháp ngừa bệnh dưỡng sinh chứ đâu còn là Thiền định làm chủ sự sống chết. Nhìn sự tu hành của Phật giáo hiện giờ ta rất buồn cười. Thiền định của Phật thì không tu mà lại tu thiền của ngoại đạo. Chỉ vì Thiền ngoại đạo không có giới luật nghiêm túc. Đời sống theo dục lạc dễ dàng, ăn uống ngủ nghỉ phi thời. Do đó tu mãi mà chẳng kết quả thì chạy sang các pháp môn khác, vừa tu Thiền vừa Niệm Phật như các tổ Vĩnh Minh, Vân Thê, Từ Vân.

Thì các tổ như các con biết như tổ Vĩnh Minh ngài nói vừa tu Thiền mà vừa tu Tịnh độ thì như cọp mọc sừng, 10 người đạt được 10 người. Nhưng mà cuối cùng các con thấy có người nào mà họ làm chủ sanh tử luân hồi chưa? Cũng chẳng có gì. Mà lời của tổ Vĩnh Minh nói ngày đó vẫn còn. Cho nên tổ Vân Thê nè, tổ Từ Vân nè đã biết bao nhiêu là ca ngợi về cái pháp môn Tịnh độ. Rồi cuối cùng thì để lại cho chúng ta những ngôi chùa Tịnh độ rất là ê chề. Một vị Thầy thì đi đám tụng niệm ê a, ăn thịt cá, uống rượu say sưa, vất mã đủ loại đủ cách. Làm cho chúng ta thấy một Phật giáo đau lòng vô cùng.

(45:25) Trong chùa thì hầu hết là Thầy không biết chứ chung quanh đây khi mà đi họp thì nghe Thầy chánh tri sự ở tỉnh, Thầy nói quý thầy trừ ra có Thầy Thông Lạc, Thầy Mật Hạnh với sư Minh Bửu là không có vợ con thôi. Còn bao nhiêu quý thầy đây, người nào cũng có vợ con hết. Ổng nói như vậy để làm gì? Bởi vì bây giờ người ta biết ổng là làm lớn như vậy mà ổng có vợ con, mà bây giờ có nhiều người không biết quý thầy kia có vợ con hay không? Cho nên ổng lôi ra hết cả đám với nhau, chung một đám vậy thì ổng đâu có mắc cỡ, đâu có xấu. Mà trừ ra có mấy người ít như vậy thì đâu có bằng cái số của mấy ổng. Cho nên do đó ổng lôi ra như vậy thì các con thấy. Từ lâu tới giờ Thầy đâu có ngờ trong cái cuộc họp như vậy, nhìn ông nào mặt ông nào cũng có vợ con hết, Thầy mới “Trời! Như vậy là toàn bộ hết như vậy sao?”

Đó! Đó là những cái điều kiện mà làm cho mình thấy nó đi từ cái thoái pháp, từ cái Thiền tông. Con thấy cái Tịnh độ tông nó đâu có trước Thiền đâu. Cho nên Thiền nó đi qua Trung Hoa rồi sau đó thì ngài Huệ Viễn mới thành lập cái Liên Trì Thư Xã. Trong cái thế kỷ thứ 18 thì ngài mới thành lập cái Liên Trì Thư Xã mới sớ giải những cái kinh Đại thừa mà thuộc về Tịnh độ, để mà đưa ra cái pháp môn Tịnh độ. Từ đó, từ cái chỗ tu Thiền mà nó không có kết quả, cho nên các ngài mới chạy qua Tịnh độ. Thì trong đó có những ngài mà xương minh Tịnh độ nhất là ngài Vĩnh Minh, ngài Vân Thê, ngài Từ Vân.

Đó! Thì các con thấy cuối cùng Tịnh độ đi dần dần đến. Ban đầu thì nhiếp tâm để cầu vãng sanh, niệm Phật để đi đến Thiền định chứ gì. Rồi sau Thiền định nó không được, nhiếp tâm nó hết vọng tưởng mà nó chẳng tới đâu. Do đó bây giờ mới cầu vãng sanh, để mà mong cho mình lên cõi Cực Lạc mà tiếp tục tu nữa để giải thoát. Chứ ở thế gian này tu chắc không nổi rồi. Do đó cuối cùng thì đưa đi đến cái chỗ mà chúng ta thấy các chùa thì ông thầy trở thành đi tụng niệm cúng bái làm chuyện mê tín. Rồi có vợ, có con sinh hoạt sống như một cái gia đình thế gian.

(47:26) Mới đầu thì người ta vừa tu Thiền mà vừa tu Tịnh độ. Rồi lần lượt người ta bỏ luôn hẳn Thiền. Bỏ luôn hẳn Thiền thì chúng ta cũng biết có rất nhiều người bỏ luôn Thiền mà chỉ tu Tịnh dộ không. Có người thì chuyển sang Tịnh độ hẳn, chuyên ròng niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc. Như các tổ Tông Bổn, như tổ Khánh Anh, Thiện Hoa, Thiện Hòa. Cho nên khi mà Hòa thượng Thanh Từ mà đi sang qua Thiền thì coi như là Hòa thượng Thiện Hoa là Thầy của Hòa thượng cũng không bằng lòng lắm. Không có bằng lòng, nhưng mà đệ tử nó muốn sao nó muốn chứ còn Hòa thượng không có bằng lòng.

Đó! Từ cái Thiền định người ta đi về Tịnh độ. Bây giờ người ta không có chấp nhận cái Thiền định nữa. Và có một cái số người thì tu mãi không có thấy ở Tịnh độ như thế nào, mà lại phạm giới phá giới quá là triệt để như vậy. Cho nên có một số người triển khai trở lại để chấn hưng Phật pháp tốt trở lại. Một vị tu sĩ không có vợ con cho nên mới phát triển Thiền tông trở lại. Rồi Thiền tông tu mãi ở đây thì một thời gian sau không có kết quả gì hết thì bắt đầu các vị Thiền sư như Hòa thượng, Thầy nói như Hòa thượng bây giờ thì người ta còn theo Hòa thượng nhưng mà cuối cùng khi Hòa thượng tịch rồi người ta thấy không tu ra gì hết, không làm chủ sanh tử, thì bắt đầu Phật tử người ta lơ dần người ta không đến chùa nữa. Thì bắt đầu quý thầy muốn sống như thế nào? Phải làm sao sống đây? Phải làm sao như thế nào?

(48:43) Tu không giải thoát làm sao người ta cúng dường mình? Cho nên bắt đầu xách mỏ đi tụng. Tụng rồi bắt đầu người ta mới cúng dường, mới có sống chứ còn không khéo ở trong chùa mình rồi bắt đầu đây rồi phải lao tác, phải cấy lúa, phải làm lụng, phải thế này thế khác để mà sống. Cho nên mới vào hồi nãy Thầy nói với các con nếu các con không tu Thầy tịch rồi thì ai mà cúng dường cho các con? Thì các con cũng phải làm những công việc để mà sống. Rồi từ đó các con nghĩ như thế nào?

Cho nên nếu mà các con không có chịu mà học mấy cái bài kinh tụng niệm cầu siêu, cầu an, đi làm đám ma thì chắc chắn là các con cũng phải ra đồng cày ruộng hoặc là cấy hoặc là trồng trỉa hoặc là buôn bán bằng cái này, bằng cái kia sống chứ làm sao bây giờ? Các con thấy cái nỗi khổ chưa? Đó! Còn nếu mà còn Thầy thì các con đâu có lo chi. Không có lo gì hết. Nghĩa là an tâm mà lo tu mà thôi. Mà không còn Thầy rồi thì các con có ngồi không mà tu được không?

Nhưng mà các con hôm nay thấy Thầy như thế nào? Già hay là còn trẻ? Bao lâu nữa? Cỡ cái tuổi đời của Thầy còn thêm bao lâu nữa? Mà trong khi Thầy phải làm công việc rất là nhiều. Đủ thứ việc để lại một cái giáo pháp cho đúng để làm lại những cái gì mà con người đang đòi hỏi, đang cần thiết có một cái đạo đức. Đạo đức nhân quả, đạo đức không làm khổ mình, khổ người, để đem lại sự an vui hạnh phúc cho loài người. Thì cái nhiệm vụ và trọng trách của Thầy đang làm rất nhiều cái điều này. Và đồng thời muốn mà duy trì được Phật pháp một cái đường lối sâu thì nhờ cái công lực của các con tu tập. Nếu các con tu tập thì đâu có gì mà khổ. Mà các con không có chịu xả ly cái tâm, cái tâm quá là nhỏ mọn, quá là phàm phu tục tử đó, bỏ xuống đi! Dẹp xuống đi!

Có cái gì đâu mà giận hờn, có gì đâu mà lại tạo cho mình bất an. Mình phải sống trầm lặng với trong cái hoàn cảnh của mình độc cư trọn vẹn. Để rồi nở một nụ cười sung sướng khi thấy tâm hồn mình không còn tham, sân, si, không còn ác pháp nữa. Bỏ xuống hết thì các con sẽ thấy đủ cái lực mà các con làm chủ sự sống chết. Chứ đâu có cái gì khác, đâu có cái tu tập gì khác. Chỉ cần dẹp cái tâm tham, sân, si phiền não các con xuống. Chỉ cần thấy là một ác pháp, là một cái sự đau khổ cuộc đời người, muôn đời muôn kiếp và tiếp tục những cái thói quen mà ác pháp này mà gọi là nghiệp lực nó tiếp tục tái sanh luân hồi trong những cái nghiệp lực này. Chỉ cần bỏ đi mà thôi!

(51:14) Cho nên ở đây cái bài kinh Ước Nguyện Phật dạy chúng ta chỉ có giới luật mà thôi, làm cái chuyện gì đi nữa cũng chỉ có giới luật mà thôi để đưa chúng ta đi đến cái cảnh giới giải thoát hoàn toàn làm chủ sự sống chết.

7- GIỚI LUẬT KHÔNG NGHIÊM CHỈNH THÌ CUỘC ĐỜI TU HÀNH KHÔNG BAO GIỜ GIẢI THOÁT

Thế mà giới luật chúng ta bị bẻ vụn mất đi rồi. Chúng ta bẻ vụn ra từng mảnh rồi chúng ta sống từng mảnh nhỏ. Thật sự ra thì các con cũng đã biết rằng Thầy nói bẻ vụn nhưng mà các con nói cái giới luật làm sao bẻ vụn?

Đây ví dụ như Phật cấm chúng ta cái giới luật không ăn phi thời. Người nào mà ăn uống phi thời sẽ phạm vào cái tội đọa địa ngục. Đức Phật muốn nói như vậy tức là tội Ba Dật Đề. Trong giới luật đã xác định người ăn phi thời là phạm vào cái tội Ba Dật Đề, tức là tội đọa địa ngục. Thế mà chúng ta lại bẻ vụn cái giới đó ra để làm cho chúng ta sống mà nó không có phạm tội.

Bẻ vụn như thế nào? Cho nên các nhà mà viết giới luật thì nói rằng: “Chư Thiên ăn buổi sáng, Phật ăn giờ ngọ, chúng sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn đêm nghe chén bát khua trong cổ phần lửa”. Đó là cái giới luật mà các ngài đã bẻ vụn ra. Bẻ vụn cái giới ăn phi thời ra. Do vì vậy đó bây giờ các ngài ăn sáng là coi như là chư Thiên rồi. Đâu có đọa địa ngục được. Cho nên cái giới đó gọi là giới đọa địa ngục, mà bây giờ mình ăn theo kiểu tiên thì đâu có làm sao đọa. Trưa mình ăn buổi. Phật đâu có cấm uống cho nên chiều mình uống bột, uống sữa được như thường. Cho nên nó đâu có đọa, nó trật đi, làm cho cái giới nó bẻ vụn ra như vậy, làm cho cái giới nó không đúng cái lời của Phật dạy. Thì các ông coi như là không có tội và không có tội đối với cái tâm của các ông.

Nhưng mà các con nhớ rằng trên con đường tu của chúng ta nó có tội thật sự là vì chúng ta bẻ vụn cái giới đó ra để mà chúng ta coi như không có phạm. Nhưng mà chúng ta không có đạt được cái sự giải thoát làm chủ sanh tử. Do chúng ta chạy theo dục lạc của cái ăn. Các con thấy cái chỗ mà bẻ vụn giới chưa?

Một cái giới đó mà nó bẻ ra như vậy nó làm vụn cái giới đó ra, rồi nó sống nó không thấy tội. Thì đó là bẻ vụn ra. Mà ai làm cái này các con biết không? Các tổ của chúng ta chứ ai! Mà bây giờ nói đến các tổ thì chúng ta quá sợ hãi. Sợ mình nói tổ rồi mình phạm xuống địa ngục. Cho nên không ai dám nói. Từ đó cứ ngậm miệng mà chịu đựng và đồng thời thấy cũng thích. Sáng mình ăn, trưa mình ăn, chiều ăn thì cũng nghe ngon ngọt. Sướng gần chết mà có gì đâu! Còn giờ không ăn nghe nó thèm, nó khát. Ăn tới trưa mà dồn vô một bữa thì nghe nó đâu còn ngon ngào gì nữa đâu. Cho nên mấy ông này khôn thiệt. Chạy theo dục mà tạo cho người nào cũng thích như vậy. Cho nên bây giờ hàng tá tu sĩ chúng ta đều là chạy theo những cái giới đó hết. Bỏ cái giới của Phật, bẻ vụn cái giới đó ra thì họ chạy theo hết.

(53:48) Đó! Thì hôm nay tất cả những cái điều mà căn bản của sự tu tập Thiền định mà ở trong cái giới luật để chúng ta ly dục ly ác pháp. Mà đến giờ phút này Thầy nhắc nhở rất nhiều. Để cho các con thấy được, mà nỗ lực tu hành. Để đi đến cái chỗ rốt ráo. Thầy mong rằng trong 1 tháng, 2 tháng mà các con sống thanh thản, an vui không có một cái chuyện gì mà khởi trong tâm các con có một ác pháp làm cho các con phiền não đau khổ. Các con sống độc cư suốt ngày này qua ngày khác chẳng hề có một tiếng nói gì hết, chẳng biết cái chuyện gì của ai hết, thì mình là người vô sự rồi. Mà vô sự mà chuyện gì của ai mình cũng biết hết thì như vậy làm sao vô sự? Phải không các con? Đã quyết tu giải thoát mà tại sao còn dính mắc chi những chuyện phàm phu đó? Mà sống không đúng giới luật?

(54:37) Có người tu Tịnh độ lâu ngày chẳng thấy gì chuyển qua tu Thiền. Mình tu Tịnh độ riết rồi không có thấy kết quả vãng sanh được cái chuyển qua tu Thiền, chạy theo tu Thiền. Cũng có người tu Mật tông lâu ngày chuyển qua Thiền tông. Con người hiện giờ tu theo Phật giáo Đại thừa cứ theo ba pháp môn Thiền, Tịnh, Mật. Tức là Thiền tông, Tịnh độ tông, Mật tông chuyển qua, chuyển lại tu tập cứ thế tu tập cho đến bây giờ chẳng ai tu đến đâu. Cứ loanh quanh luẩn quẩn trong vòng luẩn quẩn loanh quanh. Có không các con cứ suy xét phải coi có không?

Cứ nhìn bây giờ Thiền, Tịnh, Mật nè thì có ai mà có thể nói làm chủ sanh tử không? Bây giờ ở trong cái đất nước của chúng ta nè, ba cái pháp môn này không có chùa Tịnh độ thì ít ra có chùa Thiền. Mà không có chùa thiền thì ít ra trong đó là chùa Mật tông. Thì tất cả những cái pháp môn mà tu loanh quanh luẩn quẩn này có cái chùa nào mà người nào làm chủ sanh tử không? Mà có cái chùa nào mà giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh không? Không bao giờ có hết.

(55:37) Các con cứ xét coi. Đâu phải Thiền tông mới xuất hiện một ngày, hai ngày. Từ cái ngày Hòa thượng mà triển khai tới giờ là hai mươi mấy năm, gần 30 năm trời rồi. Mà nhìn lại một số mà huynh đệ chúng ta tu hành, ai là người đã làm chủ sanh tử đâu? Hay là chỉ là nói ở miệng mà thôi? Rồi bây giờ Tịnh độ ai là người được vãng sanh Cực Lạc nè? Ai là người được ghi tên trên hoa sen ở trên Tây phương nè? Hay là chúng ta tưởng thôi? Nếu mà được như vậy thì anh hãy nắm tay tôi dẫn tôi lên trên đó coi thử coi có tên anh trên đó không. Nếu mà có dẫn tay tôi đi lên trên đó tôi xem thấy tui mới tin chứ. Còn anh nói dóc, nói tưởng của anh, thì chẳng hạn anh nằm chiêm bao anh nói, thì tui đâu có tin được.

Cho nên có nhiều người nói: “Tôi niệm Phật bây giờ tôi thấy tên tôi đã ghi ở trên đó rồi. Ông Xoài, ông Mít bây giờ có tên ở trên hoa sen rồi. Tôi mà chết đi thì cái hoa sen nó nở thành tòa sen tôi trèo lên trển tôi ngồi, tôi bay lên trời”. Thì cho nên đó là cái tưởng của anh. Nếu mà có thật vậy anh nắm tay tôi dẫn lên trển đi, tôi xem rồi tôi về tôi mới tin. Chứ còn cái mà anh nói mơ nói hồ như vậy tôi không bao giờ tôi tin được.

Đó! Thì các con thấy trong cái vấn đề đó chúng ta là một cái người đâu phải mới tu đây. Hồi nhỏ Thầy 8 tuổi xuất gia tu tới bây giờ rồi. Rồi các con ít ra cũng hai ba chục năm trời nay rồi, chứ đâu phải là một cái người mới tu đây. Như mấy cháu này nè mới vô tu thôi không nói gì. Chứ còn như cô Minh Cảnh nè! Đó! Thì các con tu cũng rất lâu rồi! Thì các con cũng biết rồi! Xem đi thử coi có người nào mà làm chủ đâu?

Tịnh độ tông thì rơi vào sắc thinh tưởng, thấy cảnh giới Tây phương Phật Di Đà và Thánh chúng, thấy hoa sen, thấy tên họ được đăng ký trên hoa sen và thấy ánh sáng hào quang. Mật tông thì rơi vào tha tâm tưởng nên biết chuyện quá khứ vị lai khiến cho mọi người quá nể phục. Tất cả những sự việc đã xảy ra khiến cho người ta tưởng mình đã chứng đạo. Nên trong kinh pháp môn căn bản Phật dạy: “Tất cả kết quả đó đều là tưởng tri chứ không phải thực chứng là giải thoát liễu tri”. Ở trong kinh đức Phật cũng đã nhắc tất cả những cái điều đó là tưởng tri chứ không phải liễu tri.

(57:47) Bởi vậy một người tu tìm cầu sự giải thoát là phải sống đầy đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn, sống phòng hộ sáu căn với sự phòng hộ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chơn chánh lãnh thọ và tu học của các giới. Nếu mà một người mà không sống đầy đủ trong giới luật, không phòng hộ đầy đủ như vậy thì người đó không có giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh như vậy thì dù người đó có tu ngàn đời, dù tu Thiền định hay là tu Mật tông hay hoặc là tu Tịnh độ tông thì cũng chẳng đi đến đâu, phí uổng một đời tu hành của mình.

8- KHÁC NHAU GIỮA THẦN THÔNG CỦA NGOẠI ĐẠO VÀ PHẬT GIÁO

Rồi cuối cùng thì họ sao? Họ cũng chạy theo danh lợi buôn Phật bán pháp bằng hình thức mê tín này, bằng hình thức mê tín khác mà sống. Sống trong cách thức lừa đảo tín đồ để ngồi trong mát ăn bát vàng. Nghĩa là mình nói khéo: “Ờ! Bây giờ phải cầu kinh như vậy, phải vẽ cho họ, phải trai Tăng cúng dường như thế này, thế này, để cầu cho vong linh người đó như thế này thế khác”. Mình có biết được cái vong linh đó có thoát sanh hay là chết? Hay hoặc là đi về đâu? Mình đâu có biết! Nhưng mà mình bày vẽ cho người ta đủ cách, để rồi mình làm cái đó rồi mình ăn tiền người ta bằng cách này, bằng cách khác. Không phải đó là cách thức lừa đảo người ta sao? Không phải là cách thức đó bán Phật bán pháp sao? Để cho mình ngồi trong mát mình ăn bát vàng.

Thay vì mình phải ra đồng mình cày cấy, mình làm lụng cái này kia mới có tiền ăn. Còn bây giờ mình bày vẽ cho người ta, người ta bỏ tiền ra: “Bây giờ phải đốt tiền vàng mã nè, phải dán kho nè, phải dán xe honda, tủ lạnh nè, gửi xuống cho bà con của mấy bà chết ở dưới có mà xài chứ ở dưới bây giờ khổ lắm, không có ai sản xuất được cái thứ đó”. Thành thử rồi bày đặt như vậy bây giờ người ta dán đồ mã đủ loại đủ thứ hết. Mà làm sao cái đồ giấy đó mà xài cái gì? Thế mà chúng ta cũng tin theo mấy cái miệng của ông Thầy. Nói mấy ông Thầy chắc là Thần Thánh, nói đâu có đó. Cho nên tu riết rồi chúng ta sẽ bị gạt gẫm mà không biết.

(59:45) Thần thông của ngoại đạo dù cho tưởng tu tập như Yoga, Mật Tông, khí công, nội công v.v…​ Vừa rồi các con nghe báo công an mà cô Út có đem tờ báo. Thì trong cái chuyến đi mà về Phước Hải thì Minh Tâm có nói chuyện với Thầy.

Là cái ông đó tự dưng ổng có tới cái ngày nào đó, ổng có vợ con rồi, ổng bảo vợ ổng: “Thôi đi lấy người khác đi, ổng bây giờ không thể sống chung vợ con được”. Mà ổng đang ăn mặn đồ vậy, bắt đầu ổng ăn chay. Ổng ăn chay rồi tự cái thần lực của ổng trong đó nó phát hiện ra, rồi ổng trị bệnh người ta. Cho nên nó có những cái đặc biệt công an đến cái gia đình đó. Từ công an ở cái vùng đó, rồi công an ở thành phố ra, mới đăng lên trên báo công an.

Những cái hành động của ông ta làm rất là đặc biệt. Ví dụ như ổng chỉ thổi một hơi thì cái người bệnh đó họ ngã xuống họ té họ mê man tàn tịch, họ không biết gì hết. Lấy cái tay của cái người bệnh đó mà dộng ở dưới đá, dưới gạch, dưới ván đùng đùng vậy mà cái người bệnh không có giật mình, không có tỉnh lại, không có biết gì hết. Mà khi mà ông hà một hơi thổi trong mặt cái người đó thì người đó tỉnh lại. Thì hỏi người đó có đau, có nghe đau gì không? Thì người đó nói không có đau gì hết, không biết gì hết. Mà hỏi cái bàn tay chỗ này có ê không? Thì nó hơi ê ê chỗ đó. Mà cái ông đó ổng đi ở trên cái thân của người khác ổng dậm đùng đùng ở trên thân của người ta mà không có sao hết. Cách thức mà công an nó diễn tả như vậy.

Nhưng mà Minh Tâm nói bây giờ hết rồi. Ông đó chỉ có một thời gian thôi. Ổng chỉ ước ao rằng ổng làm cái điều này. Nghĩa là ổng phải dùng cái lực của ổng đó, ổng đẩy cái khối cỡ 20kg hay 50kg từ cái chỗ này ổng xê dịch lại chỗ kia, bay lại chỗ kia được. Thì cái chuyện mà ổng nói để mà ổng làm cái chuyện đó thì ổng chưa làm. Nhưng bây giờ hoàn toàn là ổng không còn làm được gì hết, không còn trị bệnh được ai hết, không còn hà hơi thổi ai mà mê man bất tỉnh nữa hết. Nghĩa là hoàn toàn là coi như là biến mất, cái thần thông của ổng biến mất rồi. Thì trong một cái bài vấn đáp, tức là một cái bài vấn đạo hỏi, thì Thầy có nói rằng đó là những cái tưởng. Khi mà cái phước nó đến thì cái người đó không có làm ác, chứ còn nếu mà cỡ làm ác thì cái ông này vẫn là khi mà cái phước nó hết rồi, thì ông sẽ đi ở tù.

Cho nên có một số ngoại đạo tu về Mật tông luyện có những cái Thần thông biết chuyện quá khứ vị lai. Như ở trên Đà lạt chẳng hạn, như Giáo chủ sương mù ở Đà lạt. Thì ông này ổng biết chuyện quá khứ. Công an đến bao vây cái chùa ổng thì ổng biết ngày mai hay ngày mốt có công an đến xét chùa ổng biết liền. Nhưng mà tới chừng mà ổng phạm vào những cái tâm mà danh lợi, dâm dục, ổng rớt vào trong đó thì cái thần thông nó mất đi. Cho nên công an đến bao vây bắt ông ta thì bắt quả tang ngay tại trận. Cho nên từ đó mà đem về điều tra ổng, thì vì vậy mà trên báo chí công an đăng cái ông Giáo chủ sương mù này làm cho chúng ta thấy cái gia đình Phật giáo chúng ta có nhiều cái rất là tệ. Đó là thuộc về Mật tông đó các con.

(1:02:37) Cho nên cái tưởng mà khi mà còn trong sạch thanh tịnh đó thì nó có cái thần thông. Nhưng mà khi mà cái tưởng đó nó đã bị ô nhiễm đi, vì cái tâm dục họ không ly mà cho nên họ bị ô nhiễm ở trên sắc dục, trên nữ sắc, cho nên họ sa ngã. Rồi họ sa ngã thì họ sẽ sa vào cái lưới pháp luật của Nhà nước của công an, rồi họ sẽ bị bắt. Đó là những cái điều kiện mà xảy ra và đồng thời cái người mà thanh niên ở ngoài trung này mà có những cái thần thông như vậy do đó ông ta chỉ trị bệnh không lấy tiền của ai hết. Ông chỉ ước ao rằng Nhà nước nếu mà công an hoặc là Nhà nước mà vì một cái điều kiện gì ông dùng thần thông này mà nếu mà ông chỉ ước ao rằng những nhà hảo tâm, những người giàu giúp ổng chừng 3 tỷ bạc ông làm việc từ thiện mà thôi. Nhưng mà ông chưa có được 3 tỷ bạc thì cái thần thông ông đã mất rồi, không còn nữa.

Đó! Thì các con thấy đừng có đi trên con đường mà sai lệch của Mật tông. Nó dùng những cái thần thông tưởng để rồi chúng ta phạm vào một cái danh lợi nào đó thì những cái thần thông đó chẳng còn và nó đưa đến chúng ta sẽ vào cái sự sa đọa trong danh lợi và sắc đẹp. Mà tâm dục chưa diệt do tưởng tu tập nên có thần thông, mà tâm dục chưa diệt ác pháp chưa trừ nên dễ sa ngã trong nữ sắc danh và lợi v.v…​ Do sa ngã nữ sắc danh lợi nên thần thông mất dần.

(1:04:07) Ở đây Thầy nhắc lại đó các con thấy không? Ở đây thì thần thông của ngoại đạo do dùng tưởng mà tu tập. Nhất là những cái phương pháp Yoga. Yoga nó cũng luyện khi mà dìm ở trong đất, dìm trong nước, chôn sống nó, nó không có chết. Đi ở trên lửa nó không có nóng. Đó là những cái phương pháp nó luyện về tưởng. Mà nó biểu diễn người ta thấy rất là thần thông. Mật Tông thì các con biết nó luyện tập nó biết chuyện quá khứ vị lai. Còn khí công như cái ông hồi nãy mà Thầy nói đó là khí công. Còn nội công là những cái người mà người ta luyện nội công đó trọng công đó. Người ta biểu diễn đó như một cái đống đá vầy người ta dùng cái tay người ta chặt xuống đá nó bể ra hay gạch nó bể ra, đó là trọng công hay là nội công.

Tất cả những cái sự luyện tập như vậy để biểu diễn cái tâm danh của mình. Cho nên từ đó khi mà tạo nên cái thế danh nó có rồi thì bắt đầu từ đó những cái pháp, cái thần thông đó lần lượt nó sẽ bị mất đi, nó không còn đối với người đó nữa. Cho nên họ biểu diễn một lần, hai lần rồi dần sau đó thì mình thấy vắng bóng không thấy ông ta nữa, là lúc bấy giờ ông ta đã mất đi.

Thì các con cũng biết rằng trong phim nó có những cái người mà người ta biểu diễn. Vạn lý trường thành như vậy họ chỉ đi qua vạn lý trường thành như thế này thì thấy nó qua bên kia, thì họ đi xuyên qua đá, qua vách đá một cách dễ dàng. Họ bay lơ lửng ở trên không cho chúng ta xem. Nhưng mà chỉ có một thời gian rồi họ không làm được nữa. Cho nên họ biểu diễn có một lúc mà thôi. Đó là những cái người mà luyện về Mật tông, tu tập về Khí công, tu tập về Yoga và Nội công thì họ sẽ có thần thông. Nhưng mà khi mà có danh rồi thì họ bị sa ngã liền. Họ dễ sa ngã trong danh lợi và sắc đẹp. Cho nên từ đó họ mất những cái thần thông đó.

(1:05:48) Do sa ngã nữ sắc danh lợi nên thần thông mất dần. Vì vậy có nhiều vị Giáo chủ mới xuống núi danh sắc đầy đủ uy nghi chánh hạnh khiến cho mọi người ai cũng kính nể. Lại có thần thông kêu mây hú gió, sai binh khiển tướng, tàng hình biến hóa, đi trên nước lửa, ngồi trên hư không như chim bay, đi xuyên qua vách đá, chui xuống đất như đi trong hư không v.v…​ Những hành động này đã khiến cho mọi người kính trọng đem dâng của cải tài sản và ngay cả sắc đẹp. Tâm dục chưa trừ nên thấy của cải tài sản ham thích nên lần lần sa ngã và thần thông tiêu mất. Cho nên thỉnh thoảng báo chí công an phát giác ra đăng tin vị Giáo chủ này, vị Giáo chủ kia, ông Đạo nọ, ông Đạo kia làm chuyện lừa đảo tín đồ nhẹ dạ.

(01:06:38) Ngược lại Thần thông của đạo Phật không do tu tưởng mà có. Chỉ ly dục ly ác pháp, diệt ngã xả tâm đoạn dứt tâm tham, sân, si mạn nghi cùng diệt sạch thất kiết sử. Do tu tập đoạn dứt những điều này mà tâm được thanh tịnh. Muốn có tâm được thanh tịnh thì phải tu tập giới luật sống đúng giới hạnh. Do đó thần thông của đạo Phật là thần thông vô dục, vô ác pháp.

Nhờ giới luật mà diệt trừ được dục và ác pháp nên trong kinh ước nguyện Phật dạy: “Nếu Tỳ kheo có ước nguyện mong rằng ta chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, ta hiện hình tất cả các loài vật, biến hình đi ngang qua vách qua thành, qua núi đá như đi ngang qua hư không, ta độn thổ trồi lên ngay qua đất liền như trong nước, ta đi trên nước không chìm như đi trên đất liền, ta ngồi kiết già đi trên hư không như chim bay với bàn tay ta chạm và rờ mặt trời, mặt trăng. Những vật có đại oai lực, đại thần lực như vậy ta có thể. Thân ta có thần thông bay đến phạm thiên”. Đó là đức Phật nói nếu mà chúng ta muốn mà có thần thông như vậy thì phải giới luật, phải ly dục ly ác pháp thì chúng ta sẽ đạt được thần thông.

Nhưng mà các con thấy một người mà có thần thông như Phật ly dục ly ác pháp rồi. Thì có danh lợi, tiền tài, sắc đẹp có cám dỗ họ được không? Đâu làm sao cám dỗ được. Còn những người mà tập luyện như vậy, không có đúng giới luật cho nên vì vậy mà làm sao ly dục ly ác pháp được. Mà không ly dục ly ác pháp được thì do đó tâm dục nó còn, mà khi có những thần thông thì danh với lợi và sắc đẹp của phụ nữ sẽ dễ cám dỗ cho những vị này sa ngã. Và sa ngã thì mất dần và đi ở tù.

“Muốn được vậy Tỳ kheo hãy sống đầy đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn, sống phòng hộ sáu căn với sự phòng hộ của giới bổn. Đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt. Chơn chánh lãnh thọ và tu học các giới học”.

(1:08:36) Đó! Thì các con thấy ở đây nó rất rõ là đức Phật muốn dạy chúng ta phải đi từ giới. Muốn có thần thông, muốn làm chủ sanh tử luân hồi, muốn hết vô lậu thì đều là do giới luật mà ra. Thế mà chúng ta cứ bẻ vụn giới luật. Chúng ta sống cứ chạy theo loanh quanh sự sống chết của thân này. Hở ra một chút, hở đau một chút là chúng ta đã phạm giới rồi. Không có chịu giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh. Thầy nói thiệt trong cái đời Thầy tu hành thà chết nhất định là không bao giờ phạm giới luật. Ai làm gì làm nhất định là không phạm là không phạm. Cho nên tu cho đến giờ này các con có thấy Thầy thị hiện thần thông mà biểu diễn cho các con xem bao giờ không? Không bao giờ mà Thầy làm cái chuyện mà mê man, mê mờ.

Có một lần Thầy về với Tâm Như một lần ngồi nói chuyện, nó nói như thế này: “Con gần như là con thấy Thầy là coi như là có đầy đủ thần thông, mà chưa hề mà thấy Thầy thị hiện thần thông. Còn Hòa thượng Thanh Từ thì Hòa thượng thị hiện Thần thông con thấy rất rõ ràng”.

Đó! Thầy nói, thì các con so sánh. Thầy nói là đúng ở trong giáo pháp của Phật không sai một chút. Nhưng mà các con chưa từng mà thấy Thầy thể hiện thần thông. Không bao giờ mà đứng trước một cái cám dỗ nào làm cho Thầy xúc động để mà Thầy thị hiện thần thông.

Ví dụ như hôm đó như cháu Chỉnh nè ba nó đi vô đây kiếm nè, Thầy cũng không thấy ba nó khóc, nhưng mà nghe cô Út nói ba nó khóc, ba nó rất là khổ đau. Cho nên cô Út cổ động lòng, cổ mới đưa ba nó đi ra ngoài chùa thầy Thông Uyển, rồi đi ra ở ngoài chùa cô Diệu Hảo để dẫn ba nó đi tìm. Còn riêng đến nói với Thầy thì Thầy chỉ thấy đó là nhân quả mà thôi, chứ Thầy không có nói ra một lời nói nào. Hoàn toàn là Thầy không bao giờ mà có một cái chút nào mà Thầy thị hiện thần thông mà nói: “Bây giờ cháu Chỉnh nó ở chỗ này, ở chỗ khác, ở chỗ nọ”. Không bao giờ mà Thầy mở miệng mà Thầy nói ra. Mặc dù nước mắt của họ mà có đổ ngập cả biển đi nữa. Thầy cũng chẳng bao giờ mà Thầy động lòng trước để mà thị hiện thần thông. Trừ ra có một cái điều kiện lớn lao nhất là vì chúng sanh, là vì Phật pháp như thế nào…​

(1:10:48) Thầy tu mà thôi, thì như vậy thì nó không có đúng. Mà phải có một hai người thì lúc bây giờ thì Thầy trò sẽ thị hiện, để rồi người ta nói không phải có một mình. Còn bây giờ người ta nhiều khi người ta phỉ báng Thầy người ta nói chỉ Thầy tu như vậy được chứ không ai tu được! Thì cái chuyện đó họ cũng làm cụt hết mọi người rồi.

Cho nên ở đây các con thấy từ ngày tới giờ Thầy nói rất đúng ở trong giáo pháp ly dục ly ác pháp sẽ có. Mà các con có tin hay không tin thì mặc ở các con. Nhưng mà ở đây là lời Phật nói các con có tin không? Còn nếu mà các con không tin, các con cứ tu ngang xương thì các con sẽ biết rằng cái nỗi khổ. Nếu mà đạt được thần thông thì các con lại nguy hiểm. Mà chưa đạt thần thông thì lại càng khổ sở hơn nữa.

Ví dụ như Mật Hạnh tu có được cái chuyện xảy ra cho nó biết được những cái trực giác như vậy. Thì đâu phải cái chỗ đó là cái chỗ hoàn tất được con đường đâu. Nhưng mà cuối cùng thì các con sẽ thấy khi mà cái tâm nó quay trở ra nó phóng dật ra rồi thì cái đó nó còn không? Nó đâu còn. Khi nó quay vô thì nó thanh tịnh nó được cái trực giác như vậy. Nhưng mà khi mà nó quay ra rồi thì cái trực giác nó mất đi rồi nó còn cái gì nữa. Nó có lợi ích không?

Cho nên khi mà chúng ta có được những cái giả mà không thực là do cái tâm dục chúng ta còn chúng ta chưa ly nó. Mục đích chúng ta ở đây là tu tập làm chủ, cái sống của chúng ta là chúng ta phải tâm chúng ta quay vào để mà ly dục ly ác pháp để không còn đau khổ nữa. Và đồng thời từ cái không đau khổ đó chúng ta đi đến cái chỗ làm chủ sự sống chết. Qua cái pháp hướng để cho nó điều khiển được cái sự sống chết của cái thân chúng ta. Chúng ta không còn sợ hãi trước cái sự sống chết của chúng ta nữa. Đó là cái mục đích chính của chúng ta. Còn cái chuyện mà điều khiển được sự sống chết của cái thân này thì thử hỏi điều khiển mà như là thần thông đó chúng ta điều khiển được không? Được chứ sao lại không được!

9- NHỮNG LỜI TÂM HUYẾT THẦY CĂN DẶN TĂNG NI, PHẬT TỬ

Khi mà một ngày nào mà Thầy thị tịch, Thầy tịch rồi thì các con mới thấy hỡi ôi! Mình tin Thầy nhưng mà chưa trọn vẹn cho nên không có nỗ lực thực hiện cuối cùng, bây giờ Thầy mất đi có những cái khó khăn thì biết làm sao bây giờ? Biết làm sao hỏi ai bây giờ?

Còn bây giờ Thầy còn đang có mặt ở đây thì những cái mà Thầy quyết định cho các con phải xả bỏ đi, bỏ hết đi rồi tới chừng đó có những cái khó khăn nữa thì còn có Thầy, Thầy chỉ dẫn tới. Còn bây giờ không chịu xả bỏ thì làm sao chỉ dẫn tới các con được cái gì nữa bây giờ? Các con hiểu?! Bởi vậy còn Thầy là còn những cái điều kiện có chỗ thưa hỏi. Nếu mà không có Thầy thử hỏi Minh Tông ngày hôm nay Minh Tông có khổ sở không? Có bệnh tật không? Có thể nói rằng mất mạng nữa là khác.

(1:13:24) Các con chưa biết đâu để rồi sau này lần lượt sẽ có những cuộc vấn đạo giữa Thầy với nó. Thầy sẽ trả lời những cái điều mà các con sẽ thấy rất là nguy hiểm chứ đâu phải thường. Các con tu thấp thì các con chưa thấy. Cho nên có Thầy là một cái điều rất là lợi lớn rất lớn. Mà không có Thầy là một cái điều rất tai hại. Bước xa thì vào Thiền định không phải đơn giản, sai một chút ức chế tâm là các con đã tự đổi cái mạng sống của mình rồi đó.

(1:13:54) Cô Cảnh…

Mà cất cái thất tu học, tu ở dưới. Tưởng là mình về đó yên ổn mình nỗ lực tu, nhưng cuối cùng lại sanh bệnh. Nếu mà không có Thầy thì chạy về đâu mà hỏi đây. Rồi bây giờ thì chỉ còn có nước…

Các con thấy còn Thầy thì ăn ngủ hoặc là tất cả mọi cái các con đâu cần lo. Mà rồi không còn Thầy thì các con phải tự lo lấy cái đời sống của mình. Ăn như thế nào, rồi phải làm như thế nào để có mà sống. Còn Thầy che chở đủ mọi mặt. Còn Thầy tu sai một cái gì thì có Thầy nhắc nhở. Cần cái gì thì có Thầy. Nếu phỏng chừng như cô Minh Cảnh mà ở Long Thành mà bây giờ Thầy đã ẩn bóng, Thầy đi mất rồi không còn nữa, thì thử hỏi bây giờ biết hỏi ai bây giờ?! Khi mà gặp những cái lúc như thế này không còn biết hỏi ai để mà sửa cho đúng.

(1:14:48) Đó! Cho nên đó là những cái điều rất là tai hại, rất là nguy hiểm. Cho nên tuy rằng thay vì Thầy sẽ ẩn bóng, nhưng mà vì các con nếu mà các con bỏ đi hết. Ví dụ như cô Minh Cảnh đi rồi, rồi mấy đứa này cũng bỏ đi hết rồi, thì trong khi đó là Thầy thấy vừa đúng để cho mình đi. Vì họ đi rồi thì coi như là mình không còn trách nhiệm nữa. Mình dạy theo đó thì họ cứ như theo đó mà tu.

Thì sự thật ra nó đâu có phải như vậy, đơn giản như vậy đâu. Cho nên còn lại mấy đứa ở đây thôi, cho nên Thầy ở lại đây để mà cố gắng để mà giúp đỡ cho mấy đứa đi tới cuối cùng để đủ kinh nghiệm. Để sau khi mà có một người. Nhất là Thầy nói Minh Tông còn bám chặt theo Thầy làm sao Thầy bỏ nó được. Cho nên Thầy không thể nào mà bỏ nó được, vì bỏ nó, tức là tự nó sẽ đi đến vào cái chỗ chết chứ làm sao mà sống được. Cho nên không bỏ nó. Vì vậy mà các con còn cái duyên mà gặp Thầy. Chứ còn không khéo thì các con đã rời khỏi đây rồi…

(1:15:56) Mà các con sống chưa đúng giới luật thì các con có thấy phá được không? Không phá được tức là các con tu tà thiền, tà định rồi đó. Các con thấy chưa?

Tại sao vậy? Tại vì lìa khỏi pháp môn căn bản của đạo Phật. Mà cái pháp môn căn bản đó là cái pháp môn Giới luật của Phật mà Phật gọi là pháp môn căn bản. Tức là Giới luật, một pháp môn đầu tiên của ba pháp môn vô lậu Giới – Định – Tuệ.

Bởi vậy nhìn tu sĩ Phật giáo mà biết Phật giáo suy hay thịnh, mất hay còn, không phải ở số đông tu sĩ Phật giáo. Không phải ở chỗ Phật giáo được chấp nhận là quốc giáo. Không phải giáo hội Phật giáo được tổ chức như một quốc gia, có các trường học từ sơ, trung và cao đẳng. Để tu sĩ học tập có cấp bằng cử nhân tiến sĩ v.v…​ Cũng không phải ở chỗ xây chùa to tháp lớn kiến trúc kiên cố vĩ đại. Mà ở chỗ tu sĩ phải sống đầy đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn. Sống phòng hộ sáu căn với sự phòng hộ của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt. Nói tóm lại vị Tỳ kheo phải giữ gìn giới luật nghiêm túc thì Phật giáo mới còn và hưng thịnh. Còn chúng Tỳ kheo phá giới luật Phật giáo mất và không hưng thịnh.

Lời di chúc năm xưa của đức Phật còn vang mãi trong tai chúng ta: “Giới luật còn là Phật giáo còn, giới luật mất là Phật giáo mất”. Đó là cái lời di chúc của Phật khi mà Phật sắp mất mà đức Phật đã nói.

Hỡi quý vị Tăng Ni và Cư sĩ. Quý vị có muốn Phật giáo trường tồn với loài người trên hành tinh này chăng? Hay để cho Phật giáo suy tàn chìm mất trong lớp bụi mù dày đặc của tà pháp ngoại đạo đang phủ trùm che khắp?

Nếu muốn nó được trường tồn và hưng thịnh mãi mãi. Đem lại hạnh phúc an vui cho loài người không làm khổ mình, khổ người thì người cư sĩ đệ tử Phật tại gia hãy giữ gìn giới luật của người cư sĩ mà đức Phật đã dạy. Phải nghiêm túc khi đã thọ Tam Quy Ngũ Giới và Thập Thiện. Phải lấy nó phòng hộ cuộc sống của mình. Phải gìn giữ đầy đủ oai nghi chánh hạnh. Phải thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt thì Phật giáo sẽ còn với quý vị và với loài người.

Còn Tăng Ni đệ tử xuất gia của đức Phật, nếu muốn Phật giáo được trường tồn làm ngọn đuốc sáng soi đường cho mọi người trên quả địa cầu này đi tìm chân lý giải thoát, thoát khỏi kiếp khổ đau của loài người và cũng chính bản thân của quý vị. Quý vị có muốn làm chủ bốn sự khổ đau sanh, lão, bệnh, tử đang tấn công quý vị hằng giây, hằng phút? Nếu quý vị lơ đễnh rồi thì ôi thôi! Uổng một kiếp người!

Nếu muốn làm chủ bốn sự đau khổ này thì quý vị đã thọ Cụ túc giới, phải nghiêm chỉnh sống đầy đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn, không bẻ vụn giới luật như các tổ đã làm. Mà quý vị đang chịu ảnh hưởng rất nặng. Quý vị phải sống phòng hộ sáu căn với sự phòng hộ của giới bổn, phải đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chơn chánh lãnh thọ và học tu các giới.

Thì đó! Thì các con thấy trong cái sự tu tập ở đây là cái bài cuối cùng về giới luật. Đó là cái lời nhắc và muốn Phật pháp sống thì phải làm như vậy không thể nào khác hơn và muốn cứu mình ra khỏi sự đau khổ của kiếp người thì không phải ngoài pháp môn giới luật mà làm chủ được, mà ở trong pháp môn giới luật.

Đó! Thì muốn tu tập được như vậy thì các con phải cố gắng và cố gắng hơn để mà thực hiện cho được sự làm chủ, sự làm chủ của kiếp người. Mà hầu hết là từ khi mà Thầy dạy về giới luật cho đến nay thì hầu như Thầy thấy các con quá thờ ơ với những cái lời dạy và quá thờ ơ với sự xả tâm. Phải cố gắng xả đi đừng có giữ nó làm gì trong tâm của chúng ta để mà khổ. Mọi cái duyên sự gì bên ngoài thì chắc chắn là nhân quả thì của ai thì người ta phải chịu lấy, chúng ta có nghe được mà giúp đỡ họ thì cứ lấy giới luật mà nhắc nhở họ mà thôi. Được hay không được là do ở quyền của họ còn mình hãy cứu mình. Chứ còn nếu mình không cứu mình thì ai cứu mình cho được.

(1:20:38) Cho nên ở đây Thầy khuyên các con bây giờ còn lại không có mấy người Thầy cũng không có muốn nhận thêm. Vì trong một cái số tu sĩ ở ngoài Biên Hòa mà các cô cũng như là các Thầy muốn về đây ở tu. Nhưng mà Thầy không chấp nhận là vì cái người mới quá biết đâu chừng giới luật người ta không thể nào sống được. Người ta ham thì như vậy trong một, hai ngày, nhưng mà lâu rồi người ta sẽ chểnh mảng và coi thường giới luật. Vì chúng ta đã sống ở đây quá nhiều người rồi chúng ta biết rồi. Bây giờ có muốn nhận họ thêm thì cũng chỉ qua là làm cực thêm mấy con mà thôi. Rồi lại cực Thầy thêm chứ cũng không gì hơn. Cho nên khéo léo từ chối không để làm mích lòng thôi. Chứ con đường của Phật pháp quá khó. Khó tại vì giới luật. Khó tại vì đức hạnh của chúng ta. Phải xả tâm ly dục ly ác pháp. Cho nên cái con đường này rất khó không phải dễ!

Nếu là Thiền định của Đông độ, của Đại thừa, của Tịnh Độ, của Mật tông thì chắc chắn không khó bởi vì đời sống chạy theo những dục lạc thế gian. Ăn ngủ phi thời thì chắc chắn là không khó rồi. Còn đời sống của chúng ta khó quá là vì ăn ngủ không được phi thời, sống trầm lặng một mình. Còn cái kia thì vui chơi nói chuyện này kia nọ đủ thứ. Cho nên làm sao mà họ theo được. Vì vậy mà Thầy chỉ mong làm sao chúng ta chỉ một, hai người là cũng đủ nói lên được Phật pháp rồi. Chứ còn trông nhiều người thì không thể nào hy vọng được hết.

Đó! Thì hôm nay ở đây thì các con còn lại mấy người. Thì các con phải ráng mà nỗ lực. Đứa nào có quyết tâm thì giải thoát cho chính bản thân mình và cũng là sự sáng lại ngọn đèn của Phật pháp. Còn lại không được mấy đứa nhưng mà còn cố bám theo Thầy. Chứ Thầy định khi mà Thầy tuyên bố ẩn bóng rồi. Thì chắc chắn lần lượt thì các con sẽ rút lui. Vì đối với cô Út thì các con biết rằng cổ không từ, không tha một người nào. Cổ mong rằng đập cho được, xả cho được tâm của mấy con mà thôi. Cho nên chắc các con là Thầy nghĩ rằng sau những cái cuộc mà ẩn bóng của Thầy thì chắc các con không còn ở đây nữa. Nhưng mà cuối cùng thì các con cũng còn được năm ba đứa mà ở lại đây. Cho nên vì vậy mà Thầy tiếp tục Thầy ghi lại cái điều đúng sai của Phật pháp để mong ngày sau có những cái tài liệu làm cảnh giác cho người sau.

Nếu người ta tu không được thì người ta cũng thấy cái đúng của Phật pháp và cái sai của Phật pháp. Chứ không khéo người ta cũng cho đó là của Phật pháp hết thì đau lòng cho đức Phật. Pháp của Phật đâu có giống như pháp của người ta. Thế mà bây giờ cái gì cũng là của Phật hết thì rất đau lòng. Lên đồng nhập cốt cũng hô Phật. Rồi bói khoa đồ cũng là Phật. Rồi làm Thầy trị bệnh cũng hô Phật. Cái gì cũng của ông Phật hết. Làm những chuyện mê tín cũng Phật cái gì cũng là Phật. Đau lòng như vậy cho nên nhân cái dịp còn ở lại thế gian trong một vài phút vạch ra cho hết những cái sai lệch của đạo Phật. Để giúp cho người sau người ta biết được Phật giáo cho nó rõ ràng hơn và chính xác hơn là cái bộ kinh Nguyên Thủy mà Hòa thượng Minh Châu đã dịch.

Thì hôm nay các con là những người mà có đủ phước duyên. Chứ hầu hết là nhìn chung các tu sĩ hiện giờ các con thấy họ có thể nào theo mình tu được không. Mà họ có biết được cái đúng cái sai đâu. Kinh sách của Thầy thì các con thấy họ đọc chỉ có một cái số. Hàng triệu người, thì Thầy nói rằng ở trên đầu ngón tay chúng ta đếm mười người chưa có đọc được đủ đến mười người nữa, huống hồ là phải nói rằng cái số đông.

Bởi vì vừa rồi thì các con biết rằng kinh sách của Thầy in ra, nó đâu có dễ dàng đâu, nó đâu có dễ đâu. Nếu mà in ra được thì nó lại còn có những khó khăn. Người ta có quyền người ta tịch thu nó được. Cho nên tất cả những cái pháp này nó không đơn giản đâu. Vì vậy mà cái phước của chúng sanh mà để đọc những cái lời kinh, lời dạy của Thầy, thì nó không phải là nhiều đâu.

Cho nên nếu mà nó nhiều thì chắc chắn là chúng sanh có phước lớn. Còn nó không nhiều chúng sanh đang thiếu phước, cho nên nó chẳng biết Phật giáo là gì, chẳng biết Phật giáo là ở góc độ nào. Cho nên nó chưa có thông suốt được Phật giáo. Còn các con là những người có phước biết được con đường tu đúng và sai. Không phải là ở lời nói của Thầy mà ở sự suy ngẫm của các con.

Suy ngẫm như thế nào? Hai mươi mấy năm trời nay thì Thiền tông từ khi Hòa thượng chấn hưng lại phải nói rằng người ta tích cực tu Thiền rất nhiều. Nhưng mà hiện giờ thì bàn tay chúng ta đếm lại cái người mà đạt được có cái ngón tay nào không? Hay là chỉ là lý thuyết suông?

(1:25:34) Nếu mà Thiền tông thì phải nói là làm chủ sự sanh tử với chấm dứt sự luân hồi chứ! Mới đúng chứ! Chứ đâu phải Thiền tông là cái lời nói suông, nói miệng không. Nhưng có ai mà nhập định bảy tám ngày, một tháng, hai tháng làm chủ được sự sống chết này chưa? Chưa nè! Quý thầy lớn có nè, quý thầy nhỏ có nè. Các vị đệ tử Hòa thượng tu 10 năm, 20 năm bây giờ có người chết. Các con thấy như các vị huynh đệ của Thầy có người bây giờ đã chết rồi nhưng họ có làm chủ được không? Họ cũng theo Hòa thượng tu rất lâu. Đến khi chết họ bệnh đau cũng khổ sở rồi họ chết. Có người nào làm chủ không?

Đây bắt đầu bây giờ các con hỏi cô Minh Cảnh nè biết thầy Thiện Pháp không? Thầy làm trụ trì Thường Chiếu trước kia đó. Thầy chết đi Thầy có làm chủ không? Bây giờ tới giai đoạn của Thầy Phước Hảo nè Thầy cũng sắp sửa nè. Thầy cũng già yếu rồi đó. Bây giờ ai về đó hỏi thầy, thầy có làm chủ được sự sống chết chưa nè?

Đó! Thì tất cả những cái này có phải trong suốt cái thời gian quý thầy nhập thất tu hành chứ đâu phải quý thầy lơ mơ đâu. Nhưng mà cuối cùng bây giờ có được gì không? Thì sau khi mà Hòa thượng tịch rồi thì các Thầy này phải sống như thế nào đây? Các Thầy phải trở về Tịnh độ thôi. Chỉ có Tịnh độ mới sống được thôi.

Thì hôm nay thì bây giờ các con mà không tu được, thì ngày mai này cái chùa này Thầy có dạy các con tụng niệm không? Người ta còn có tụng niệm nè. Mặc dù là Hòa thượng dạy Thiền nhưng mà người ta còn tụng niệm, người ta tụng Bát nhã người ta đi cầu an, cầu siêu được. Còn các con có tụng niệm gì đâu được đâu. Cuối cùng thì các con đi đến chùa người ta Phật tử đến mời các con tụng niệm.

Như Thầy Từ Minh chẳng hạn. Các con thấy ở ngoài miền Bắc người ta đến mời Thầy đi tụng niệm. Thì Thầy cũng làm lúa, chứ Thầy có dạy tụng niệm đâu, cho nên Thầy cũng xách mõ. Gõ mõ thì không đúng cách phải không? Hồi hướng thì cũng không đúng. Cho nên Phật tử mới nói dường như Thầy là người mới tụng niệm đầu tiên. Mà đúng vậy! Đầu tiên tụng niệm, thuở giờ có tụng niệm bao giờ đâu. Chuông chẳng biết đánh sao nữa chứ đừng nói.

Thầy ở đây dạy các con đúng theo Phật là không có tụng niệm, không có đi Tịnh độ. Cho nên ở đây chuông mõ này kia Thầy dẹp sạch, không có tụng niệm kiểu đó. Cuối cùng bây giờ các con ra làm sao mà đi đám ma người ta mà sống nè. Phải không? Bây giờ không lẽ đi làm sao bây giờ? Đâu có biết. Bây giờ nếu mà muốn vậy các con phải đến mấy chùa Tịnh độ mà học một khóa lại đi. Rồi mới về gõ mõ, gõ chuông tụng niệm. Bây giờ như cô Lan đó biết tụng niệm đó. Làm kên kên đi ăn thịt thây ma được đó. Chứ còn các con đi ăn thịt thây ma họ không cho ăn đâu. Họ còn nói: “Thầy bộ mới tụng niệm lần đầu tiên”. Phải không? Các con hiểu chưa?

(1:28:06) Đó! Như Chơn Trí nó tụng niệm được đó, nhưng mà nó nói tôi cũng không muốn làm kên kên ăn thịt đám ma mà thịt người chết mà. Cho nên vì vậy mà ráng mà nỗ lực tu. Cho nên vì vậy các con thấy xét đi, xét nghĩ kỹ lại thì đó là một cái thứ nhất. Các con không thể mà biến các con thành Tịnh độ được. Thầy không chấp nhận điều đó, cho nên không dạy các con những điều đó.

Thầy từ ở trong cái gia đình Tịnh độ ra, tức là Thầy cũng biết tụng niệm rồi, nhưng mà chưa hề Thầy dạy ai về tụng niệm. Rồi bây giờ Thầy dạy các con tu mà các con tu không xong thì các con làm cái gì giờ? Rồi đến cái nghề nghiệp sống Thầy cũng chẳng có dạy các con cái nghề nào sống. Thầy nói nhìn cái đám mà các con trồng ngoài đó tới bây giờ chưa có cây nào mà nên hồn, nên vía nào hết. Phải không? Các con thấy có cái trái nào ăn đâu. Mà bây giờ Thầy giao cho Mật Hạnh rồi Thầy chỉ cho Mật Hạnh làm thì các con thấy nữa nè thơm nó ra thơm nè cái gì nó ra cái nấy. Mà nếu mà giao các con thì ba cái đống rác đó đổ riết rồi chắc nó cũng không ra cái gì hết. Thật sự ra nó không ra gì.

Cho nên xét đi, xét lại cô Út cổ lo là vậy. Biết là khi Thầy chết hay hoặc là Thầy đi đâu Thầy ẩn bóng rồi, thì bắt đầu bây giờ mình ở đây sống sao đây? Phải không? Các con hiểu điều đó. Cho nên cái khó khăn là cái chỗ này. Phải ráng tu để cứu mình. Và đồng thời cũng làm ánh sáng cho người khác soi. Và vì vậy mà cái uy tín của các con là tự các con đã thắp sáng lên. Thì chừng đó các con ngồi đó mà các con không phải cần mà người ta đem cúng dường các con đâu, các con muốn ăn cái gì nó có cái nấy. Cái đạo lực của các con, các con còn sống, các con muốn một bữa cơm chay, Thầy nói như thế này, cỡ thứ bây giờ Thầy vào trong rừng trong núi, Thầy ở một mình đó, Thầy chẳng cần củ khoai gì hết. Thầy muốn ăn cơm chay, muốn ăn hủ tiếu, muốn ăn đồ xào đồ gì, Thầy bảo: “Đem dưng đây Thầy một mâm đi”. Là cái nó đem vô. Thầy ngồi đó Thầy ăn đã thôi. Phải không các con? Thầy biểu: “Dọn đi”. Thì nó biến mất à. Không có sướng hay sao? Tu hành đến cái mức độ vậy không sướng sao? Cho nên đâu có cần gì!

Ví dụ như bây giờ Thầy muốn đi đâu, đâu cần phải đi xe hơi xe cộ gì! Thầy bảo: “Bay đi cái chỗ đó đi”. Cái thân nó bay riết tới cái chỗ đó nó đáp xuống à! Ra lệnh nó đi mà! Thì cái chuyện tu hành chúng ta nói đùa chơi như vậy. Nhưng mà sự thật ra nó tự tại như vậy! Nếu mà tự tại trong sanh tử thì phải tự tại được cái gì chứ! Chứ đâu phải.

Cho nên bây giờ tu không xong thì cơm không biết làm sao đây mà có cơm ăn. Còn tu xong rồi thì muốn ăn cỗ bàn bây giờ, nhà hàng nó có cái thứ gì mình muốn ăn cái thứ gì cũng có. Đó là cách thức muốn nói như vậy để biết rằng cái đạo lực của chúng ta tu đến mức độ đó. Mà tại sao chúng ta biết được như vậy mà chúng ta không thực hiện cho được?

Mà chỉ có chút xíu à! Thầy nói bỏ cái tâm tham, sân, si đi! Dẹp nó qua một bên đi! Ai chửi mình như cục đất vậy! Thử coi các con được không? Thầy nói các con mà cái tâm mà không có phiền não nữa rồi, các con bảo nó bay trên mây xanh là nó bay cho mà coi!

(1:30:58) Đó! Cho nên đó là những cái điều rất là tai hại, rất là nguy hiểm. Cho nên tuy rằng thay vì Thầy sẽ ẩn bóng nhưng mà vì các con nếu mà các con bỏ đi hết. Nó ví dụ như cô Minh Cảnh đi rồi. Rồi mấy đứa này cũng bỏ đi hết rồi. Thì trong khi đó là Thầy thấy vừa đúng để cho mình đi. Vì họ đi rồi thì coi như là mình không còn trách nhiệm nữa rồi. Mình dạy theo đó thì họ cứ tu theo đó mà thôi đủ rồi.

Thì sự thật ra nó đâu có phải như vậy, đơn giản như vậy đâu. Cho nên còn lại mấy đứa đây thôi. Cho nên Thầy ở lại đây để mà cố gắng để mà giúp đỡ cho mấy đứa đi đến cuối cùng để đủ kinh nghiệm. Để sau khi mà có một người nhất là Thầy nói Minh Tông còn bám chặt theo Thầy làm sao Thầy bỏ nó được. Cho nên Thầy không thể nào mà bỏ nó được, vì bỏ nó tức là tự nó sẽ đi đến vào cái chỗ chết chứ làm sao mà sống được, cho nên không bỏ nó. Vì vậy mà các con còn cái duyên mà gặp Thầy. Chứ còn không khéo thì các con đã rời khỏi đây rồi thì coi như đương nhiên là đứa nào có chỗ ở thì nấy lo cơm ăn áo mặc rồi thì đâu còn gì mà Thầy phải lo.

Đó! Thì hôm nay thì các con thấy đó có những cái khó khăn. Mà những cái khó khăn đó là Thầy biết các con đã theo Thầy, tức là Thầy có một trách nhiệm. Trách nhiệm phải hướng dẫn các con tới nơi tới chốn. Mà các con không ráng thì làm sao Thầy dẫn tới. Con đường nó còn khó chứ đâu phải dễ.

Hãy buông xuống đi! Các con hãy xa lìa nó đi! Giới luật của Phật đã dạy như vậy rồi thì chúng ta phải ráng cố gắng mà xa lìa cái tâm chúng ta. Giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh. Thầy nhắc đi, nhắc lại sự độc cư các con rất nhiều. Các con hỏi một điều gì quan trọng là hỏi. Ai hỏi một điều gì không quan trọng thì tìm cách mà lửng lờ mà trả lời: “Điều đó hỏi cô Út hoặc là hỏi Thầy, em không biết”. Thì từ chối khéo léo. Bởi vì luôn luôn mình phải cảnh giác tất cả mọi mặt. Không có nên tiếp duyên, không có nên nói chuyện đời, không có nói chuyện này, chuyện kia, không có nói chuyện ở ngoài. Vì cuộc đời của mình ở ngoài người ta không có cứu mình được đâu. Người ta không có nuôi mình được đâu. Mà chỉ mình cứu mình.

Các con chưa có thấy cái nỗi khắc khoải của cô Út. Cô Út thì cô cũng lo xa lắm, cô nói: “Bây giờ, nếu mà một mai mà Thầy đi đâu rồi, Thầy ẩn bóng đâu rồi, thì tụi con phải tự túc sống, phải làm thế này, phải làm thế khác. Chứ không lẽ mà Thầy sống đây hoài. Hoặc là Thầy nói Thầy ẩn bóng mà Thầy cứ ở đây hoài thì cũng không được. Mà Thầy đi thì tụi con làm sao sống? Cho nên do vì vậy nó là một cái nỗi khổ. Cho nên con mới định cách thức này, cách thức khác. Nhưng mà đâu phải giải quyết một ngày một giờ mà được”. Đó là cái nỗi lo của cô Út là như vậy! Thì cổ nghĩ rằng bây giờ Thầy còn sống, mai mốt Thầy sống đây rồi Thầy chết chứ đâu phải Thầy cứ sống hoài được. Không lẽ là Thầy lột da Thầy sống hoài.

Cho nên hôm nay cái bài học kinh Ước nguyện là để nhắc cho các con cái bước đầu tiên của đạo Phật là cái giới luật nghiêm chỉnh sống đúng trầm lặng độc cư. Sống ăn ngày một bữa chết bỏ nhất định là không phi thời. Chết là chết trong giới luật, không thể nào chết phạm giới.

Mà bài kinh Thừa Tự Pháp Chứ Không Thừa Tự Thực Phẩm. Cái bài kinh Thừa Tự Pháp đức Phật đã vẽ ra cho chúng ta thấy hai vị Tỳ kheo vượt qua sa mạc để đến thăm Phật. Thì một người vì đói khát mà chịu chết giữ đúng giới luật. Một người thì sợ chết mà để sống để mà tiếp tục tu, thì cuối cùng người này cũng chẳng có ra gì. Mà người đã sống đúng giới luật chết để rồi thành tựu được cái sự tu tập của mình. Có bấy nhiêu đó mà thôi.

(1:34:55) Cho nên ở đây thí dụ như Thầy, trong cái tập của cô Huệ Ân, Thầy khuyên là: “Con sắp sửa tuổi đời nó mòn mỏi rồi, nó không còn nữa. Hãy xả hết đi! Đừng nghĩ gì nữa hết! Luôn luôn giữ tâm thanh thản, sống trong Định Sáng Suốt. Luôn luôn lúc nào cũng vô sự chẳng biết gì bên ngoài. Coi như là trách nhiệm làm mẹ đối với mấy con cũng đã đủ lắm rồi không còn gì hết. Đưa cho chúng nó lớn khôn, như con trai thì có vợ có con rồi. Còn con gái thì đi tu hành rồi, không còn có lo lắng gì nữa hết. Coi như là gánh nặng mình đã buông xuống hết rồi. Chỉ còn hiện giờ là cứu lấy mình mà thôi. Cho nên giữ tâm hồn thanh thản, an lạc. Đừng để tâm bận bịu một cái gì bên ngoài nữa hết. Thì tới chừng mà con bỏ thân này thì con rất là an ổn, an nhiên chứ không còn khổ đau. Còn có những cái thân nó hoại diệt, nó bệnh đau chỗ này, chỗ kia thì chúng ta đã có pháp hướng, thành tâm, tin tưởng, nỗ lực ra lệnh triệt để mà cái bài kinh Như Lý Tác Ý mà cô Út đã hỏi tại sao Thầy dạy Như Lý Tác Ý”

Là một phương pháp ám thị mà Phật thì dạy Như Lý Tác Ý, vậy có nghĩa lý gì mà Thầy nhắc đi nhắc lại rất nhiều. Do đó Thầy sẽ trả lời sau này thì các con sẽ đọc các con sẽ hiểu được cái pháp Như Lý Tác Ý. Nó rất là hiệu nghiệm và công năng của nó rất lớn đối với cái sự tu tập của mỗi chúng ta. Biết sử dụng nó, thì chúng ta thoát ra cảnh khổ.

(1:36:34) Như vừa rồi Thầy nói như thế này. Vì trên chuyến xe đi ra ngoài Phước Hải ra ngoài Long Hải, thì Minh Tâm hỏi Thầy: “Tại sao cái tay của Thầy lại bó như vậy?”

Thầy nói: “Thầy chặt sắt phụ với Mật Hạnh. Thì cây sắt nó chĩa vào nó làm gây ra một vết thương”

Thì nó nói như thế này: “Một người mà làm chủ nhân quả chắc chắn là Thầy sẽ biết cái sự kiện mà xảy ra cho cái thân Thầy thì Thầy tránh, chứ Thầy đâu có để cho nó bị thương như vậy. Tại sao Thầy để cho nó bị thương?”

À! Đây cũng là một cái câu hỏi mà để cho thấy được một cái người mà tu chứng làm chủ được nhân quả. Làm chủ được nhân quả, các con! Làm chủ được nhân quả! Nghĩa là nhân quả đến với mình mình làm chủ được nó, chứ không có nghĩa là mình chặn nhân quả. Nghĩa là mình biết nhân quả cái giờ phút đó. Bởi vì Thầy sinh ra mang cái thân này là thân nhân quả. Mà nhân quả thì nó có cái ngày đó, giờ đó nó phải xảy ra, nó không phải ngẫu nhiên đâu. Nó xảy ra tai nạn, nó xảy ra một vết thương nhỏ. Nó đạp một cây gai, hay đạp rết rắn, hay hoặc là đạp một cái lông sâu để nó trở thành một cái bệnh tật làm cho mình khổ đau phải trả cái nhân quả đó. Thì cái này không ai chạy khỏi hết. Nghĩa là dù là chư Phật nhưng đối với cái thân này cũng không thể tránh khỏi. Nhưng mà làm chủ được cái nhân quả đó.

Bây giờ cái quả đó nó đến với Thầy thì một cái người mà không làm chủ nhân quả biết đau nhức khổ sở. Còn trái lại với Thầy, Thầy làm chủ nhân quả và Thầy đã có cái pháp hướng nữa. Cho nên cái vết thương nó làm đau nhức thì Thầy ra lệnh. “Cái Thọ vô thường hãy đi rời khỏi cái thân này không được đau nhức nữa”. Do đó Thầy giữ cái trạng thái yên lặng trong tâm của Thầy thanh thản thì một lúc sau cái vết thương không còn nghe đau đớn nữa. Gọi là làm chủ nhân quả, chứ không có nghĩa là chặn đứng nhân quả. Vì cái thân nhân quả là cái thân nó phải thọ lấy những cái bệnh tật, tai nạn, cái gì nó xảy ra cho nó đã nó sắp xếp sẵn rồi. Không thể chặn cái nhân quả đó được. Mà nó xảy đến mình có làm chủ được nó hay không? Đó! Mình làm chủ được nó hay không?

Bây giờ cái thân của Thầy nè nó phải tới giờ phút đó nó chết nè, mà bây giờ Thầy làm chủ được cái nhân quả cho nên tới giờ phút nó chết Thầy làm chủ được ở trong cái chỗ chết của nó. Mà bây giờ phút nó chưa có chết Thầy muốn chết trước Thầy cũng làm chủ được nó. Đó là cái chỗ làm chủ được cái sự sống chết của nó. Còn bây giờ cái vết thương, nó làm cái vết mà bây giờ Thầy chưa có xảy ra tai nạn gì hết. Nhưng mà Thầy biết rằng ngày mai này nó sẽ có tai nạn đến Thầy. Mà Thầy trốn tránh Thầy không phải, không đúng!

Bởi vì cái thân của Thầy là thân nhân quả, nó phải trả cái nhân quả đó. Mà tránh cái nhân quả sao được. Nhưng mà Thầy phải sống ở trong cái nhân quả đó. Tức là nó xảy ra cái tai nạn đó. Rồi từ cái tai nạn đó Thầy mới làm chủ cái tai nạn đó cho nên tâm Thầy nó bất động, nó không còn khổ đau trong cái tai nạn đó. Cho nên gọi là làm chủ nhân quả chứ không phải trốn nhân quả. Còn bây giờ Thầy biết ngày mai nè Thầy bị xe đụng nè, nhất định là ngày mai Thầy ở trong chùa Thầy không đi, để cho xe đừng đụng Thầy, tức là Thầy trốn nhân quả chứ không phải là trả, không phải là làm chủ nhân quả. Gọi là trốn tránh né nhân quả. Các con hiểu?

(1:39:46) Ở đây Phật nói làm chủ nhân quả. Làm chủ sự sống chết tức là làm chủ nhân quả. Mà làm chủ nhân quả thì trước những cái nhân quả của nó chúng ta làm chủ, chứ không phải trốn nhân quả. Còn chúng ta tránh né gọi là tránh né nhân quả. Cho nên Thầy giải thích như vậy thì nó hiểu rõ ràng.

Do đó Thầy mới nói thêm, khi một cái vết thương như vậy. Đây là một cái tâm mà, sự thật ra nó từ cái vết thương này nó sẽ xảy đến cho mình cái tâm niệm. Thì trong khi nó xảy ra như vậy rồi, Thầy băng bó cái vết thương rồi. Thì đêm đó Thầy nằm ở trên cái tảng đá Thầy ngủ, khuya Thầy thức dậy Thầy nghe sao cơ thể của mình sao nó mỏi mệt. Nó mọi lần nó không có, mà nay dậy thì nghe nó khó chịu như thế này. Mà nghe nó bị sốt. À! Thầy mới nghĩ trong đầu Thầy mới nghĩ như thế này: “Như vậy là thanh sắt này nó có vi trùng của phong đòn gánh, cho nên nó bị cái vết thương này mà nó làm cho mình cảm sốt đây. Thì như vậy là bị phong đòn gánh rồi”. Thầy mới nói: “Phong gì phong, mặc mày tao có pháp hướng thì tao sẽ đuổi phong đòn gánh đi ra khỏi đây”.

Cho nên Thầy mới ngồi kiết già Thầy mới hướng tâm Thầy nhắc: “Cái vết thương này là do giả, do nhân quả mà nó tạo ra, cho nên ở đây mày phải lui ra khỏi đây, phong gì cũng không thể thắng được cái tâm tao, tao không có sợ”.

Do đó Thầy hướng tâm Thầy nhắc như vậy: “Phải hoàn toàn là cái sốt này, cái cảm nóng lạnh này phải lui ra đi, không được ở đây nữa”. Thầy bắt đầu Thầy ngồi Thầy nương vào hơi thở, Thầy biết ra nhẹ nhàng ra vô. Bắt đầu cái hơi thở Thầy nhẹ nhẹ, nó lặng dần, lặng dần. Một lúc sau Thầy thấy không có còn mà nóng lạnh, không có còn mà đau nhức, không có còn gì hết. Hoàn toàn là tự nhiên.

Chứ theo mà các con hoảng hồn, sáng là đi chích thuốc rồi, phải không? Chích thuốc ngừa phong đòn gánh rồi. Còn Thầy thì tự nhiên, do cái pháp hướng của mình đẩy lui tất cả những cái gì mà cái tâm nó bị dao động là đẩy lui lại, nó làm cho chúng ta an ổn trở lại liền tức khắc, tâm hồn thanh thản. Và bây giờ cái vết thương thì sắp lành rồi. Mà chỉ trong ba bốn hôm nay chứ không có lâu. Thì các con thấy cái vết thương này nó sắp lành rồi đâu còn gì nữa. Cho nên vì vậy mà đâu có thể nói rằng bị phong đòn gánh được. Chứ còn nếu mà người khác thì nghĩ rằng đó là cái thanh sắt thì chắc chắn là nó bị phong đòn gánh.

(1:42:01) Đó! Thì ở đây Thầy muốn nhắc nó như vậy để cho các con thấy là cái pháp hướng của chúng ta có hiệu quả. Cũng như bây giờ cái thân của cô Huệ Ân nó già thì nó phải suy yếu, thì nó phải nay nó bệnh tật này, mai bệnh tật kia. Nó đau nhức chỗ này, nó đau nhức chỗ kia, để nó hoại diệt chứ có gì đâu. Một cái nhà mà nó sắp sửa nó hoại diệt thì nó bao giờ nó cũng mục nát rồi nó mới sập xuống được. Chứ còn nó cứng như vầy làm sao mà nó sập được. Thì cái thân của mình nó muốn đổ vỡ, nó muốn sập thì nó cũng phải mục nát ở trong đó rồi nó mới đổ. Mà nó mục nát thì tức là nó phải đau nhức chứ? Nó đau nhức thì cái nhân quả của cái thân nó hoại diệt nó vô thường như vậy, thì mình trốn sao khỏi nó. Cho nên mình có pháp hướng mình làm chủ, mình chỉ cần giữ cái tâm mình thanh thản tự nhiên, không sợ hãi, không lo lắng cái sự chết sống, không sợ hãi cái sự đau nhức. Mà mình dùng pháp hướng nhắc thì tức là cái bệnh của mình nó sẽ mất đi và mình sống lại với cái trạng thái bình thường thanh thản, không đau, không nhức, không thọ gì. Mặc dù cái cơ thể này nó đang hoại diệt chứ không phải là thiếu hoại diệt.

Đó! Thì các con thấy cái pháp hướng của chúng ta là cái pháp làm chủ được cái thọ, được cái thân, được cái sự sống chết của chúng ta rất là rõ ràng cụ thể. Mà nếu mà các con đừng sợ hãi, đừng để tâm dao động thì pháp hướng rất hiệu quả. Còn các con có sự sợ hãi, có tâm dao động, một chút sợ nó chết, sợ này kia, lo nó phải uống thuốc, rồi phải phá giới, phải ăn thêm thì các con sẽ không bao giờ mà có hiệu quả ở trên pháp hướng đó đâu. Nó mất thanh tịnh rồi thì nó không có còn hiệu quả, nó không còn vi diệu nữa được. Còn cái người mà người ta giữ gìn đúng giới hạnh thì nó vi diệu, nó hiệu quả, nó giúp chúng ta thấy an ổn được cái cuộc sống chúng ta không ai mà động chạm.

Cho nên các con sẽ đọc tới cái pháp Như Lý Tác Ý. Mà khi mình bị người khác chửi mà chúng ta dùng nó mà chúng ta đến nỗi mà đức Phật dạy như thế này. Khi mà chúng ta quán xét từng cái hành động nó mà chúng ta chưa xả ra được, chúng ta quán nó là ác pháp, thiện pháp cũng xả chưa được, thì chúng ta đè nó lên nóc họng. Nghĩa là răng cắn chặt lại, lưỡi đè lên nóc họng, chúng ta dùng pháp hướng ra lệnh nó, thì cái tâm sân tâm, cái tâm phiền não chúng ta sẽ xuống liền. Nghĩa là chúng ta ra lệnh nó bằng cách là chúng ta cắn chặt răng lại, chuyển hết cái thân lực của chúng ta để mà dùng cái pháp hướng Như Lý Tác Ý ra, thì cái tâm sân của mình bắt đầu nó sẽ đoạn dứt liền tức khắc, nó không giận hờn phiền não nữa, nó không còn kéo dài nữa. Đó là cái lối phương pháp để dùng pháp hướng.

(1:44:38) Cho nên bây giờ cái thân chúng ta đang đau nhức. Mà bây giờ nó nhức quá chúng ta chịu không nổi. Bây giờ cắn chặt răng lại, lưỡi đẩy lên nóc họng nè, tập trung tâm mình gom lại, dùng cái pháp hướng: “Cái thọ phải lui đi, không có được ở đây nữa”. Hoàn toàn trong khi tâm chúng ta ra lệnh, mà thân của chúng ta thì cắn chặt răng lại, coi như là gom hết cái sức thân của mình lại trong cái lưỡi và cái hàm răng của chúng ta. Thì do đó chúng ta ra lệnh cái đau đó nó sẽ lui đi, không còn đau nữa. Đó là cái lời trong kinh Phật dạy mà của cái bài kinh mà các con sẽ đọc sau này thì các con biết. Cái gì đức Phật cũng căn dặn dạy chúng ta rất kĩ.

(1:45:20) Qua bài kinh Ước Nguyện, đối với đạo Phật, ta ước muốn những gì để đạt được kết quả theo ý muốn của mình, thì đều phải thực hiện tu tập và sống đúng giới luật. Đó là một nền tảng vững chắc của đạo Phật. Nếu ai bỏ nền tảng vững chắc này tu tập dù tu đúng Thiền Định của đạo Phật thì cũng trở thành tà thiền, tà định. Nghĩa là bây giờ mình có tu mình cách thức mà Phật dạy đúng như vậy mà mình bỏ giới luật thì mình cũng sẽ, những cái Thiền định đó cũng sẽ là tà thiền, tà định. Chẳng hạn bây giờ các con thấy Thầy bảo các con hướng tâm nhắc phá âm thanh nè: “Nhĩ căn, nhĩ thức, quay vô không có được nghe”. Đó là đúng pháp rồi đó.

(1:46:00) Nó đi còn hơn máy bay nữa. Phải không? Các con bảo, bây giờ đi ra miền Bắc, tức thì bây giờ ở miền Bắc. Thì ngay đây cái thân đây mất, nó ra ngoài đó, tới ngoài đó rồi. Đâu có như Chơn Trí mà đi hai ba bữa mới tới ngoài. Các con thấy không? Nó nhanh như vậy đó. Nó quyền lực như vậy đó. Các con chưa tin đâu. Tới chừng nào mà các con làm được rồi, “Trời ơi! Thầy nói hồi đó mà tôi không tin, cho nên tôi tu quá chậm”. Các con thấy không? Không phải là Thầy gợi cái tâm ham muốn thần thông các con đâu, mà cái đạo lực, cái quyền lực của người tu là như vậy.

Mà có chút xíu à! Thầy nói có chút xíu à! Cái tâm tham, sân, si bỏ xuống hết đi, bỏ xuống sạch đi. Đừng có ham, đừng có thắc mắc, đừng có rầy rà, đừng có cái chuyện lặt vặt của các con nhỏ, cái chuyện không ra gì hết mà cứ ôm ấp hoài trong lòng. Sao không bắt chước Thầy bỏ hết đi. Ai nói gì cũng như cục đất vậy có được không? Có bao nhiêu đó thôi, Thầy bảo các con bao nhiêu. Có cần gì tu, bỏ xuống cái khỏi cần tu gì hết, nó sướng gần chết. Rồi muốn đi đâu nó cũng tự tại hết. Đó thật sự ra thì như vậy đó, các con cứ làm đi.

Bởi vậy Thầy nói, cuối cùng Thầy nói có một chút sao lại tụi nó bỏ không được kỳ vậy? Có một chút à, tham, sân, si có một chút thôi, mà bỏ xuống bỏ không được. Mà bỏ xuống nè, bệnh đau không có nè, khổ đau không có. Bởi vì mình bảo nó bỏ được, thì bảo cái gì nó cũng bỏ được hết. Đó bằng chứng như cái tay Thầy nè, Thầy bảo nó không nhức, không đau, thì nó không nhức, không đau gì hết.

Đó! Thì bằng chứng các con thấy cái pháp mà nó có hiệu quả, thì nó có chút chút các con cũng thấy có hiệu quả rồi, nhưng mà nó chưa sâu, nó chưa bằng cái lực như Thầy. Các con có bệnh đau nè, các con làm cho cái tâm mình vững vàng, đừng có dao động cái chút nó hết à. Thì đó các con thấy nó hiệu quả như vậy. Đây là cái hiệu quả nhỏ nhỏ thôi. Nếu mà các con bỏ sạch cái tâm của các con rồi thì cái hiệu quả nó như thế nào các con biết không?

Bây giờ bảo ông trời sụp nó sụp xuống à, chứ nó không dám cãi mà nó nằm đó đâu. Bảo đất này tan nát nó phải tan nát hết nó chết hết cả đám với nhau đó, nó không dám cãi mình nữa. Nhưng mà mình đâu có làm chuyện ác như vậy. Làm chuyện như vậy nó sụp xuống nó chết thiên hạ sao. Cho nên Thầy ví dụ như vậy đó, mình không có làm ác như vậy. Nhưng mà mình bảo sao nó nghe vậy. Bảo trái đất này nó tan tành là nó tan tành. Cái lực của mình nó vĩ đại như vậy, nó siêu việt như vậy đó. Mà sao các con không có, chấp chi mà nhỏ mọn cái tâm tham, sân, si mà cứ ôm hoài trong bụng. Thầy mà biết nó nằm ở chỗ nào, Thầy mổ ra, Thầy lôi nó ra liền, ném ở ngoài đồng, đem Thầy chôn ở ngoài cái đám mả kia kìa. Bởi vì cái tâm đó không biết nó ở chỗ nào mà móc nó ra, chứ còn Thầy biết Thầy móc Thầy ném nó đi cho rồi. Để làm chi mà chịu cực khổ.

10- THẦY NHẮC LẠI CÁCH THỨC TU XẢ TÂM

(1:48:30) Bây giờ thì nó cũng hết giờ rồi. Bây giờ thì thật sự ra thì Thầy nhắc lại. Trong khi mà tại sao mà các con ngồi đây mà Thầy kiểm tra từ 30 phút hay hoặc là thường thường thì 30 phút thì các con ngồi thẳng thớm ngay ngắn. Tại vì các con quá sợ Thầy cho nên các con ngồi ngay ngắn. Còn ngồi một mình các con ẹo qua, ẹo lại là tại vì các con tự tại, tự do quá rồi không ngán ai hết. Cho nên theo thân của mình sao thì mình ngồi vậy. Cho nên ở đây đó các con thấy lúc nào các con muốn mà ngồi cho ngay ngắn thì các con cứ nói: “Thầy đứng đằng sau lưng đó, coi chừng đó!” thì như vậy thì may ra cái lưng của mấy con mới thẳng và tâm nó mới chơn chánh. Và đồng thời thì các con nhớ rằng trong cái vấn đề Thầy dạy nó không phải ở chỗ các con ngồi nhiều, mà tập tỉnh thức. Tỉnh thức trong cái sự tỉnh thức đó xả tâm trong cái sự tỉnh thức đó, để mà ly, để mà dùng cái pháp hướng.

Ví dụ như bây giờ các con ngồi hít thở nè. Thì chỉ trong vòng 10 hơi thở hay 5 hơi thở nó yên lặng, nó không có một tạp niệm, thất niệm thì các con hướng: “Quán ly tham tôi biết tôi ly tham”. Phải không? “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”. Các con nhắc như vậy, câu hữu như vậy để cho nó ly cái tâm tham, sân, si của mình ra. Rồi hằng ngày các con quán như vậy để cho nhắc nhở cái tâm của mình cho nó định tỉnh ở trên cái sự tham, sân, si cho nó biết, thì nó có cái sự tham, sân, si đó để cho mình nhận ra, mình thấy “Ờ! Tâm này là tâm tham, tâm này là ác pháp”. Mà khi các con biết nó là tâm tham ác pháp thì con xả xuống. Các con hiểu chưa?

(1:50:02) Bây giờ đó nó không chịu xả xuống thì bắt đầu các con mới sử dụng nó quán nó nhân quả thì nó xả xuống. Mà nó không chịu xả xuống thì các con quán cái hành, cái hành của cái niệm nhân quả đó, cái hành của cái tâm tham, sân, si đó. Các con đi tuần tự những cái hành của nó. Thì chẳng hạn cái hành nó như thế nào. Bây giờ các con quán, hồi nãy có một chuyện sự, hồi nãy nó xảy ra, nó phát khởi như thế nào? Rồi bắt đầu cái hành đó nó đi dần dần, nó ngầm ngầm ở trong tâm mình như thế nào? Nó chậm chậm lại dần như thế nào? Bây giờ nó còn ở trong dạng gì? Thì mình hướng tâm từ từ.

Ví dụ như bây giờ Thầy nói nhắc ví dụ: Một người đang chạy, họ đang chạy vùn vụt như vầy thì họ biết, họ suy nghĩ trong đầu họ, họ biết họ đang chạy. Cho nên họ ra lệnh: “Bây giờ đi chậm, không có được chạy” thì bắt đầu họ ra lệnh bảo “đi chậm”, thì cái người đó họ đi chậm lại. Rồi bắt đầu bây giờ họ đi chậm, rồi thì họ biết, họ suy nghĩ đi chậm, họ bảo: “Bây giờ không có đi chậm nữa, mà phải đứng lại”, thì cái người này họ đứng lại. Bởi vì mình ra lệnh mình bảo từ từ dùng pháp hướng mình đứng lại. Rồi bắt đầu bây giờ nó đứng lại rồi, thì bắt đầu cái người này biết mình đã đứng lại rồi. Do đó bây giờ đó là quán, quán xét các hành. Các hành của cái tâm tham của mình. Mà cái hình ảnh thì giống như là Thầy nói cái hành của một cái người chạy đi. Bây giờ đứng rồi. Nó đứng rồi thì mình biết cái tâm mình nó đứng rồi thì do đó mình mới quán. “Bây giờ đó ngồi xuống”. Mình ra lệnh nó ngồi, bây giờ mình biết nó đứng rồi, mình bảo nó “ngồi xuống” thì bắt đầu bây giờ nó ngồi. Thì bắt đầu mình ngồi xuống chứ gì? Mình ra lệnh cái mình ngồi xuống. Mình ngồi xuống rồi thì bây giờ mình biết nó đang ngồi rồi. Thì do đó bây giờ mình bảo nó “nằm xuống”. Thì bắt đầu mình ra lệnh nó nằm xuống thì nằm xuống tức là nó xả. Các con hiểu không?

Đó là quán các hành để mà xả cái tâm tham, sân, si của mình. Mà bây giờ nó không được nữa. Bây giờ nó không được nữa, nó vậy, mà nó không được nữa. Nó không xả cái tâm tham, sân, si. Nó còn tức ở trong này nè. Do đó mình cắn nóc họng cho cứng, mình ra lệnh: “Phải buông xả đi!” thì nó sẽ buông xả. Phải không? Nó năm cách thức! Mà Thầy có nói là năm cách thức ly dục ly ác pháp mà. Các con nhớ cái bài này chưa? Phải không?

(1:52:10) Cho nên khi mà chúng ta cắn chặt hàm răng, để cái lưỡi lên nóc họng, hướng tâm ra lệnh Như Lý Tác Ý: “Phải xả xuống! Không có được giận hờn nữa. Không có được phiền não nữa. Chuyện tầm thường mà không chịu bỏ, mày chết.” Ra lệnh nó vậy, cái bắt đầu nó nhẹ xuống nó hết. Nó có năm cái phương pháp để mà chúng ta ly dục ly ác pháp. Bây giờ nó xả như vậy là hằng ngày mình tập tỉnh thức như thế nào? Mình ngồi mình thở mình nhớ mình nhắc nó.

Rồi mình đi kinh hành. Đi kinh hành có hai cách. Cách thứ nhất là đi kinh hành tập trung. Tập trung là mình để tay mình trước ngực hay hoặc mình khoanh tay, hay hoặc là mình chấp tay sau lưng của mình. Vừa đi vừa nhìn dưới bàn chân mình tỉnh thức. Rồi đi chừng 10 bước hay 5 bước mình lại nhắc: “Quán ly tham tôi biết tôi đang đi kinh hành, quán ly tham tôi biết tôi đi kinh hành”. Mình cứ mình nhắc như vậy thì mình đi vậy nó tỉnh thức để mà nó ly tham, ly sân, ly si mình ra. Đó là cái thứ nhất.

Cái thứ hai bây giờ nó mệt nhọc mà thấy nó không được, mình thư giãn nó ra. Thì bắt đầu bây giờ mình vừa đi, mình thư giãn: “Tất cả các tâm cơ này đều phải thư giãn xuống, buông xuống! Buông xuống hết! buông xuống! thanh thản”. Thì mình vừa đi mình vừa biết mà vừa buông, mình không có tập trung như vậy nữa. Đi chút khoảng độ chừng năm mười bước thì mình nhắc. “Tinh thần, tư tưởng, cái thân, các cơ đều buông xuống, xả xuống thư giãn hết”. Mình nhắc như nó như vậy một lát nó thoải mái, nó dễ chịu.

Còn về cái phần mà xả hồi nãy dùng pháp hướng để mà xả thư giãn nữa. Nếu mà bây giờ nó dụng hết sức của mình mà đuổi ra không được rồi, thì bắt đầu đó mình thư giãn. Mình dùng cái pháp hướng mình thư giãn: “Bây giờ tâm tham, sân, si này nè các cơ buông xuống! Thả xuống thư giãn”. Rồi bắt đầu mình nằm dài ra mình hướng tâm mình xả xuống, thư giãn. Mình thư giãn một lúc cái nó không có sân nữa. Đó là cách thức, cách thức để mà dùng pháp hướng để mà xả nó bằng cách thư giãn.

Cho nên nó có những cái pháp để mà chúng ta thư giãn. Chứ không phải là nói bây giờ tôi quán cái nhân quả rồi cái ngay đó nó xả cái tâm tôi. Nó chưa! Có cái nó chưa chịu xả đâu, nó chưa có hết sân đâu. Bây giờ đó mình tiếp tục những cái pháp lần lượt đó mình xả. Xả riết tới cái pháp thư giãn là mình thư giãn buông hết.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 26)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.