ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giáo án 61 – 42 bài kệ Tê ngưu một sừng 03

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giáo án 61 – 42 bài kệ Tê ngưu một sừng 03

A A A
Module cannot be rendered as the requested content is not (longer) accessible. Contact the administrator to get access.

GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 61

42 BÀI KỆ TÊ NGƯU MỘT SỪNG 03

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 1997

Thời lượng: [01:28:14]

 

BỐN MƯƠI HAI BÀI KỆ TÊ NGƯU MỘT SỪNG – PHẦN 3

BÀI 31 – TRÚT BỎ CÁC BIỂU TƯỢNG THẾ GIAN NHƯ SAN HÔ BỎ LÁ

(00:00) Bây giờ Thầy tiếp tục cái bài kệ thứ 31… (Mất tiếng)

Hôm qua Thầy đã đọc bài kệ thứ 31, bây giờ Thầy xin đọc lại để quý thầy và các con lắng nghe cho kỹ. Đây Thầy đọc:

Hãy trút bỏ, để lại,

Các biểu tượng thế gian,

Như loại cây san hô,

Loại bỏ các nhành lá,

Dù đắp áo cà sa,

Ra khỏi nhà thế tục.

Người tu sĩ cần biết

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Bây giờ Thầy sẽ giải thích cho các thầy và các con nghe. Ở đây cái bài kệ, hai câu đầu thì Đức Phật khuyên cái người tu, khuyên chúng ta tu hành thì:

Hãy trút bỏ, để lại,

Các biểu tượng thế gian,

Nghĩa là chúng ta trút bỏ lại hết tất cả những cái cuộc sống, những cái biểu tượng, những cái hình ảnh, những cái sắc tướng, những cái tham đắm, những cái gì mà của thế gian chúng ta bỏ sạch nó đi, chúng ta bỏ sạch ra.

Đức Phật ví như hai cái câu kệ, Đức Phật ví như cái loại cây san hô nó trút bỏ cái nhành lá của nó hết, nó còn có trơ trụi, còn có những cái cọng nó mà thôi, cái cây nó mà thôi chớ còn nó không còn có gì nữa hết, thì chúng ta là những người mà quyết tâm đi tìm con đường giải thoát thì chúng ta hãy trút bỏ những cái biểu tượng của thế gian, những cái cuộc sống của thế gian.

Vì cái cuộc sống của thế gian là cái cuộc sống dính mắc, là cái cuộc sống đau khổ, là cái cuộc sống đưa đến cho chúng ta nhiều cái, tạo thành những cái nhân quả thiện ác để rồi tiếp tục ở trên con đường tái sanh luân hồi mãi mãi mà không bao giờ dứt. 

Cho nên, cái người muốn tu theo đạo Phật thì phải trút bỏ hết, để lại hết, không có mang theo, không có lấy theo một cái gì của thế gian nữa hết, bỏ xuống hết, bỏ xuống hết.

Mặc dù là chúng ta đắp áo cà sa đi tu rồi, ra khỏi nhà thế tục, nhưng chúng ta mà không hiểu biết, không có trút bỏ ra hết thì vẫn còn mang theo trong chiếc áo cà sa của chúng ta. 

Bằng chứng như bây giờ đó thì các thầy và cũng như các con cũng thấy, có nhiều người tu hành theo đạo Phật, cũng đắp áo cà sa, cũng trong hàng giáo phẩm là Đại đức, Thượng tọa, rồi Hòa thượng nhưng họ chưa có trút bỏ hết đâu. 

Họ còn sống ở trong những cái biểu tượng của thế gian, những cái hình ảnh của thế gian, những cái tham đắm của thế gian. Vào trong chùa họ mình thấy tất cả những cái gì mà thế gian sống là họ có đủ những cái đó hết. Và cũng vì vậy mà họ không thể nào mà sống độc cư được.

Cho nên, cuối cùng thì chúng ta thấy trong chiếc áo cà sa chúng ta chưa có cái trong sạch, nó còn cái ô nhiễm. Ngoài thì che chiếc áo cà sa nhưng bên trong nó còn rất nhiều cái sự ô nhiễm của nó.

Cho nên, người tu hành theo đạo Phật khi mà chúng ta chấp nhận con đường tu thì chúng ta phải xả bỏ hết, phải trút hết xuống, không có đem theo một cái gì cả hết, chỉ còn có duy nhất là hướng đến cái sự giải thoát, chấm dứt cái sự tái sanh luân hồi, không còn khổ đau nữa và chấm dứt trong một cái đời này.

(03:18) Chớ đừng có đắp chiếc áo cà sa ra, khỏi nhà thế tục, sống trong một ngôi chùa, một cái tu viện, một cái thiền viện mà cái tâm tư của thế gian, mà cái cuộc sống của thế gian, vật chất đầy đủ, máy móc đầy đủ, phương tiện đầy đủ thì thử hỏi những người đó làm sao mà giải thoát được? 

Đời sống không xa lìa cái ăn cái ngủ thì làm sao mà giải thoát được? Ăn uống phi thời, còn ăn uống lặt vặt nữa là khác. Ngủ nghỉ phi thời không giờ giấc nhất định làm sao mà không mê muội, không vô minh?

Cho nên, ở đây, Đức Phật khuyên bài kệ thứ 31: Nếu chúng ta là người quyết sống một mình thì hãy xả bỏ hết những của cải tài sản, những cái hình ảnh, những cái sắc tướng của thế gian dẹp sạch xuống thì gọi là sống một mình, sống riêng một mình như con tê ngưu một sừng.

Nếu chúng ta không xả hết, không bỏ hết, dù là chúng ta đắp chiếc áo cà sa, ra khỏi nhà thế tục nhưng cuộc sống chúng ta không buông xả thì đương nhiên coi như chúng ta chưa phải là người sống độc cư.

Độc cư không có nghĩa là không nói chuyện với mọi người, không có nghĩa là giao thiệp, tiếp duyên với mọi người mà còn phải buông xả hết mọi vật xung quanh mới gọi là độc cư. Còn mang theo cái vật này vật kia, chung quanh chúng ta còn nhiều thứ thì chưa hẳn đã là độc cư. Cho nên, độc cư phải mang đầy đủ ý nghĩa là xả bỏ hết thì mới đầy đủ ý nghĩa của độc cư.

Chúng ta chỉ còn có đi tìm con đường giải thoát, cho nên cởi bỏ hết những gì của thế gian thì mới có thể giải thoát được. Chưa cởi bỏ là làm sao mà giải thoát được? 

Vì thế Thầy cũng quyết tâm cởi bỏ hết để chúng ta tìm con đường giải thoát hoàn toàn. Còn vướng mắc một cái gì thì không ra khỏi nhà thế tục, không có trút bỏ được hết thì làm sao mà giải thoát? Như còn đồ chúng, như còn chùa, còn tu viện, còn cái này còn cái kia thì làm sao mà giải thoát được!

Cho nên phải dứt bỏ, dứt bỏ cả danh, cả lợi, tất cả mọi cái để mà chúng ta không còn gì nữa cả. Có như vậy, chúng ta mới giải thoát được, mới độc cư trọn vẹn được, mới cứu mình ra khỏi nhà sanh tử, làm chủ luân hồi, mới chấm dứt được. 

Cho nên, bài kệ này đầy đủ ý nghĩa, dù đắp chiếc áo cà sa mà không chịu trút bỏ thì cũng khó mà giải thoát được. Hình ảnh như tu sĩ Phật giáo hiện giờ khắp cùng trên thế gian này, tu rất nhiều nhưng trút bỏ để sống độc cư thì chắc chắn chưa ai đã trút bỏ hết sạch, vì thế mà chẳng tìm thấy con đường giải thoát của đạo Phật được.

Thầy xin đọc lại bài kệ để chúng ta suy ngẫm, suy ngẫm để nghiệm coi con đường tu của mình có độc cư, có sống riêng một mình chưa, có xả bỏ hết chưa. Đây các thầy và các con hãy nghe lại kỹ:

Hãy trút bỏ, để lại,

Các biểu tượng thế gian,

Như loại cây san hô,

Loại bỏ các nhành lá,

Dù đắp áo cà sa,

Ra khỏi nhà thế tục.

Người tu sĩ phải biết

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

BÀI KỆ 32 – SỐNG HẠNH KHẤT THỰC ĐỂ TÂM KHÔNG BỊ TRÓI BUỘC

(06:50) Bây giờ đến bài kệ thứ 32, Thầy xin đọc để các thầy và các con suy ngẫm những lời Phật dạy để chúng ta sống cho đúng những cái hạnh của một người tu, để tu tập mới có được sự giải thoát hoàn toàn, chấm dứt được sự sanh tử và luân hồi.

Đây, bài kệ Thầy xin đọc:

Không tham đắm vật chất,

Không tham, không tạo tác,

Không nhờ ai nuôi dưỡng,

Chỉ khất thực từng nhà,

Đối với mọi gia đình,

Tâm không bị trói buộc.

Người tu sĩ phải biết

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Ở trên thì Đức Phật bảo chúng ta trút bỏ hết tất cả các biểu tượng của thế gian, còn ở dưới này, bài kệ thứ 32 thì Phật dạy chúng ta không có tham đắm những cái vật chất, tất cả những cái gì vật chất xung quanh chúng ta, vật gì chúng ta cũng đừng có tham đắm nó hết. 

Đến cái bát của chúng ta ăn cơm hằng ngày cũng không có tham đắm, có thì dùng mà không có thì thôi chớ không có sợ hãi mất cái bát của mình, ai lấy thì tiếc, đừng có chấp cái đó.

Không tham, không tạo tác,

Không có tham lam, không có ham muốn nữa mà cũng không có tạo tác ra cái này cái kia nữa.

Không nhờ ai nuôi dưỡng,

Vì mình nhờ người khác nuôi dưỡng mình tu hành thì nó còn có những cái khó lắm, cái khó đối xử lắm. Cho nên, chúng ta chỉ khất thực từng nhà, do sự đi xin từng nhà đó thì chúng ta không có… đối với mọi gia đình thì họ không có ràng buộc. Mình xin rồi thôi, rồi mai mình xin người khác, ai có cho thì mình sống, không cho thì thôi. 

Chớ còn nhờ người khác nuôi nó có cái ơn ở trong đó, nó làm chúng ta rất khó xử lắm. Nhiều khi họ sơ suất thì làm cho mình buồn, hoặc là họ quá nồng nhiệt giúp đỡ mình thì mình thấy cái ơn nó ái ngại ở trong lòng của mình, nó khó chịu, nó làm cho tâm mình nó bị trói buộc. 

(09:03) Cho nên mình đi khất thực từng nhà, mình đi xin mọi gia đình, từ cái người nghèo đến người giàu mình không bị ai ràng buộc, không bị Phật tử ràng buộc, mình không bị trói buộc, do đó mình rất là sống thoải mái trên cái bước đường tu tập của mình.

Cho nên tâm không có bị trói buộc bởi những cái tình cảm của những người lo cho mình thế này thế khác, mình không có bị những cái tình cảm trói buộc đó.

Người tu sĩ phải biết

Mình phải rõ biết được, mình đi tu rồi mình phải rõ biết được mọi từng chút từng chút, mình phải cố gắng riêng mình, nếu mà còn để một cái sự gì mà trói buộc, một tình cảm gì trói buộc chúng ta thì chúng ta phải thấy rằng con đường tu của chúng ta sống hạnh độc cư rất là khó.

Bởi vậy trong cái thời đại của chúng ta không phải giống như trong cái thời đại của Đức Phật, chúng ta đi xin từng nhà hiện giờ rất là khó khăn, không phải dễ. 

Muốn được sống mà yên ổn tu hành thì chúng ta phải biết, phải hiểu rõ được cái hoàn cảnh, cái thời điểm của mình, phải sống làm sao để cho tâm nó không bị trói buộc, nó không bị ràng buộc thì như vậy chúng ta mới sống độc cư được. Còn có sự ràng buộc, có sự trói buộc thì khó mà sống độc cư.

Bài kệ này thì Đức Phật nói, bảo chúng ta cái điều chính của nó là đừng có tạo tác, đừng tham, mà không tạo tác, không nhờ ai nuôi dưỡng, chỉ đi ăn xin mà thôi, sống như vậy mới có thể sống độc cư trọn vẹn. 

Còn không sống được vậy thì khó mà độc cư trọn vẹn, rất khó độc cư trọn vẹn. Mà không độc cư trọn vẹn thì chúng ta khó mà đi đến con đường giải thoát, khó mà tìm lấy cái con đường đi đến cứu cánh cho chính mình ra khỏi nhà sanh tử luân hồi.

Thầy xin đọc lại bài kệ này để cho quý thầy và các con suy ngẫm, mà suy ngẫm để sống cho đúng cái hạnh độc cư, để sống cho đúng cuộc sống riêng một mình:

Không tham đắm vật chất,

Không tham, không tạo tác,

Không nhờ ai nuôi dưỡng,

Chỉ khất thực từng nhà,

Đối với mọi gia đình,

Tâm không bị trói buộc.

Người tu sĩ phải biết

Hãy siêng sống một mình

Như Tê ngưu một sừng!

BÀI KỆ 33 – TỪ BỎ, DỨT SẠCH CÁC TRIỀN CÁI VÀ KIẾT SỬ

(11:30) Bây giờ Thầy đọc đến bài kệ thứ 33:

Từ bỏ năm triền cái,

Che đậy trói buộc tâm,

Đối với mọi kiết sử,

Hãy trừ khử, dứt sạch,

Không y cứ nương tựa,

Chặt đứt ái sân hận.

Người tu sĩ cần biết

Hãy riêng sống một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Nghĩa là bài kệ này Đức Phật khuyên chúng ta chỉ có sống một mình thì chúng ta mới từ bỏ được năm cái triền cái. Năm triền cái là tham, sân, si, mạn, nghi, luôn luôn nó che mờ, nó làm chúng ta không thấy, nó trói buộc chúng ta rất chặt. 

Và thất kiết sử – bảy cái kiết sử mà bài kệ trước Phật đã nhắc nhở: Hãy trừ khử, dứt sạch các cái kiết sử, các cái dây này, không có y cứ nó mà nương tựa vào nó.

Nghĩa là ái kiết sử thương ghét, đừng có y cứ vào cái chỗ thương ghét đó. Người ta thương mình thì điều đó cũng là tai hại, cũng nguy hiểm cho sự tu tập của mình, làm cho mình khó mà có thể vượt qua, có thể sống độc cư trọn vẹn được. Làm sao mà vượt qua được những cái ái kiết sử đó.

Chặt đứt ái sân hận

Cái kiết sử sân hận này nó cũng là cái nguy hiểm hết sức, nó làm chúng ta khó mà có thể độc cư được. Mà chỉ có độc cư thì chúng ta mới dứt sạch được ái kiết sử, ái sân hận, ái tham, ái si, ái vô minh, tất cả những cái này nó nhờ độc cư mà có thể mới dứt được.

Cũng như cái ngũ triền cái – tham, sân, si, mạn, nghi che đậy, phủ mờ làm chúng ta không có thấy, mà người độc cư thì mới dứt sạch, mới từ bỏ được năm cái triền cái này, còn không có độc cư thì khó mà từ bỏ năm cái triền cái và thất kiết sử được, bảy cái kiết sử. 

(13:34) Cho nên người tu sĩ phải thấy rõ được cái điều này rất là quan trọng là phải sống độc cư, phải sống riêng, sống một mình thì mới dứt được năm triền cái, mới ly được năm triền cái, mới đoạn dứt bảy kiết sử.

Đó là cái bài kệ thứ 33, muốn dứt trừ năm triền cái và thất kiết sử thì phải sống độc cư, phải sống riêng một mình thì mới chặt đứt được tất cả những cái này, thì chúng ta không còn nương tựa nó được. 

Còn nếu mà chúng ta không sống một mình thì chúng ta sống có người này người kia người nọ rồi thì tức là chúng ta nương tựa thất kiết sử và năm cái triền cái này, vì vậy con đường tu hành của chúng ta chẳng đi tới đâu hết, cuối cùng thì đời chẳng ra đời mà đạo chẳng ra đạo.

Như chúng ta dù có đắp chiếc áo cà sa mà không sống độc cư thì muôn đời ngàn đời chúng ta cũng khó mà có thể giải thoát được, thì trong chiếc áo cà sa đó dẫy đầy những năm cái triền cái và thất kiết sử trói buộc cái vị mà đắp áo cà sa đó. 

Bằng chứng như các thầy cũng như các con đã thấy tu sĩ chúng ta hiện giờ khắp cùng trên thế giới này về đạo Phật rất đông nhưng họ vẫn sống không đúng hạnh độc cư, họ không sống riêng một mình, cho nên họ bị năm triền cái và thất kiết sử trói buộc rất chặt chẽ, không thể nào mà họ thoát ra khỏi.

Cho nên họ luôn luôn – có thể nói rằng cuộc đời của họ liên tục, tiếp diễn ở trong sự luân hồi tái sanh, trong sáu nẻo ba đường, không bao giờ thoát ra khỏi. 

Họ tu từ kiếp này đến kiếp khác cũng không bao giờ tìm lấy con đường giải thoát được vì cái lối sống của họ, vì họ sống không đúng hạnh, họ sống không độc cư, họ sống không riêng sống một mình, họ không giống như con tê ngưu một sừng cho nên, họ luôn luôn bị trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, có khi đọa địa ngục nữa là khác. 

Như vậy cái bài kệ này nhắc nhở chúng ta, mỗi một cái bài kệ đều có một ý nghĩa của nó để đưa chúng ta đi vào cái sự sống đúng cái hạnh sống độc cư, sống riêng một mình để thực hiện con đường giải thoát của đạo Phật.

BÀI KỆ 34 – XOAY LƯNG VỚI DỤC LẠC ĐỂ XẢ TÂM THANH TỊNH

(15:48) Bài kệ thứ 34:

Hãy xoay lưng trở lại,

Đối với lạc và khổ,

Cả đối với hỷ ưu,

Được cảm thọ từ trước,

Hãy chứng cho được xả,

Tâm an chỉ thanh tịnh.

Người tu cần phải biết

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Đức Phật dạy chúng ta xoay lưng trở lại với cuộc đời, chớ không phải chạy theo cuộc đời mà xoay lưng trở lại, nghĩa là sống ngược trở lại. 

Người ta chạy theo vật chất thì chúng ta ngược lại là xả bỏ hết vật chất. Người ta thương yêu giận hờn thì chúng ta xoay lưng trở lại không còn thương yêu giận hờn. Chúng ta xả hết, xả hết.

Đối với những cái lạc của thế gian, cái cám dỗ của thế gian làm cho thích thú thì chúng ta xoay lưng nó trở lại, không có tìm cái lạc cho mình. Và đứng trước những cái khổ, cái thọ khổ của nó chúng ta cũng chẳng hề sợ hãi. 

Trước cái sự thọ khổ của con đường đi tìm đường giải thoát gặp những cái khó khăn, khổ sở, chúng ta chẳng sờn lòng, tiến bước đi về phía khổ sở. Mặc dù bữa đói bữa no là cái khổ, bữa lạnh bửa lẽo, áo y không đủ mà chúng ta vẫn vui vẻ, sống xoay lưng lại, đi ngược lại với cuộc sống đầy đủ của vật chất thế gian.

Dù là từ trước đến giờ chúng ta có những cái thói quen, đã cảm thọ những cái lạc, cái khổ và cái hỷ ưu, những cái vật chất của thế gian đã cám dỗ chúng ta, đã thành những thói quen từ trước, nhưng bây giờ khi mà chúng ta đã quyết tìm con đường giải thoát thì nhất định chúng ta phải xoay lưng trở lại, chúng ta phải xả bỏ nó. 

Cho nên, chúng ta phải chứng được cái sự xả đi, xả ly nó ra. Nghĩa là chúng ta phải làm sao bỏ cho được. Mà muốn bỏ được thì chúng ta phải sống độc cư, sống riêng một mình. 

Chỉ có sống độc cư, sống riêng một mình thì chúng ta mới xả được nó, còn nếu mà không có sống riêng một mình, không có sống độc cư thì làm sao mà chúng ta xả được nó?

Cho nên câu kệ nói, dạy chúng ta:

Hãy chứng cho được xả,

Tâm an chỉ thanh tịnh.

Nếu mà chúng ta sống độc cư được thì chúng ta mới xả được, và chúng ta xả được thì tâm chúng ta mới có an chỉ, mới có thanh tịnh được. Còn nếu mà xả không được nó, không xoay lưng được lại với nó thì chúng ta không bao giờ mà có sự thanh tịnh, có sự an chỉ được. 

(18:13) Cho nên, hiện giờ, như các thầy cũng như các con đã thấy, mọi người tu người ta không xoay lưng lại với cuộc đời, vì thế mà tâm người ta không có an chỉ đâu, tâm của họ không có thanh tịnh đâu.

Do cái chỗ này chúng ta phải biết rằng cái mấu chốt của cái sự tu tập của chúng ta là cái cuộc sống phải sống riêng một mình, phải sống độc cư thì chúng ta mới từ giã, mới xả được cái thọ của hỷ ưu, cái thọ của lạc, cái thọ của khổ, mới xoay lưng lại với cuộc đời mới được. 

Cuộc đời thì người ta thích hội họp vui vẻ, lý luận cái này, nói chuyện kia làm cho vui vẻ với nhau. Còn chúng ta xoay lưng trở lại, chúng ta sống thui thủi một mình, sống trầm lặng một mình, sống cô đơn một mình, đó là cái lối sống của bậc tu sĩ.

Muốn được vậy thì các thầy phải nỗ lực, phải cố gắng, phải sống cho đúng cách, sống cho riêng một mình, sống độc cư. Không phải ở chỗ độc cư là cái chỗ mà chúng ta câm, không nói, nhưng chúng ta biết lúc nào mà đúng thời chúng ta nói, mà không đúng thời thì chúng ta không nói. 

Cho nên, sống độc cư có nghĩa là sống riêng một mình nhưng cái đúng thời, chúng ta nói những cái gì đúng thời, hợp lẽ hợp lý chớ không có nói tầm bậy tầm bạ, mà không có hội họp.

Cho nên, những gì mà người ta cần hỏi mình thì mình cần trả lời, hoặc những gì cần thiết cho con đường tu tập của mình thì mình hỏi, chớ đâu phải là mình câm! 

Mình nói chuyện nhưng không phải nói chuyện tào lao, nói chuyện tầm bậy, không kết họp, không đi tới chỗ này chơi, không đi tới chỗ kia chơi. Mình xoay lưng ngược trở lại với cuộc đời là mình sống như vậy, nó mới đúng cái chỗ mà mình tu tập.

Đó thì cái bài kệ 34 là cái bài kệ dạy chúng ta xoay lưng lại với cuộc đời, xoay lưng lại với thọ khổ thọ lạc, xoay lưng lại với hỷ ưu mà cố gắng để mà xả cho được, xả cho hết. Mà xả được thì tâm mới an chỉ, mới thanh tịnh thì mới sống độc cư trọn vẹn, con đường tu tập giải thoát, chấm dứt sự sanh tử luân hồi mới được dễ dàng.

BÀI KỆ 35 – SIÊNG NĂNG, KIÊN TRÌ, DŨNG MÃNH ĐẠT ĐƯỢC LÝ CHÂN ĐẾ

(20:23) Bây giờ Thầy đọc đến bài kệ thứ 35:

Tinh cần và tinh tấn,

Đạt được lý chân đế,

Tâm không còn thụ động,

Không còn có biếng nhác,

Kiên trì trong cố gắng,

Dũng lực được sanh khởi.

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Bây giờ Thầy sẽ giảng cái bài kệ thứ 35 này.

Chữ “tinh cần”“tinh tấn”: Tinh cần nghĩa là siêng năng, cẩn thận, cần kiệm, mỗi mỗi chúng ta trong cái pháp tu chúng ta rất là ân cần mỗi cái pháp, siêng năng ở trong mỗi cái pháp. Còn tinh tấn đây có nghĩa là siêng năng, siêng năng. Nghĩa là tinh cần, luôn luôn chúng ta phải cần mẫn trong những cái pháp mà Thầy đã giảng xong, những cái pháp hành thì quý thầy phải cố gắng để mà tu tập, để mà thực hiện, để mà hằng ngày siêng năng làm những cái việc như trau dồi Tứ Vô Lượng Tâm, hay hoặc là mình sẽ dứt bỏ như tu Tứ Chánh Cần, rồi dùng cái pháp hướng, rồi dùng tu tập cái Định Vô Lậu, rồi tu tập cái định Chánh Niệm Tỉnh Thức, rồi tu tập siêng năng đi kinh hành để tu tập cái tâm từ, tâm bi, tâm hỷ và tâm xả mình, rồi tu tập cái Định Niệm Hơi Thở nữa, rồi nỗ lực mà tu tập cái định Diệt Tầm Còn Tứ, tất cả những cái vấn đề đó đều là cần phải tu tập, nhất là cái Định Vô Lậu thì cần phải tu tập hơn nhiều nhất nữa. 

Tại sao phải tinh cần? Tinh cần nghĩa là cần mẫn, siêng năng tu tập cái Định Vô Lậu? Tại vì cái Định Vô Lậu nó làm cho chúng ta có những cái tri kiến sáng suốt và hiểu biết. Do cái chỗ mà siêng năng tu tập, mà tinh cần trong cái Định Vô Lậu thì càng ngày chúng ta càng phát triển ra được cái trí tuệ. 

Cái trí tuệ đó nó sẽ thấu suốt được cái lý chân đế. Cái lý chân đế – cái lý thật của đạo Phật, cái lý thật của đạo giải thoát. Nó làm cho quý thầy thấu suốt được cái lý, chứng được cái lý chân đế. 

(23:01) Trong cái chân đế thì chúng ta thấy nó có bốn đế: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế. Hằng ngày mà chúng ta nỗ lực tu tập để mà phá năm cái triền cái và thất kiết sử thì chúng ta mới rõ thấu được cái lý của chân đế.

Khổ – chúng ta sẽ thấu rõ được cái lý khổ chân thật của đời người. Khi con người sinh ra là mang cái khổ từ ngày sinh cho đến cái ngày chết, rồi tiếp tục cái đời khác, kiếp khác thì mãi mãi ở trong cái sự đau khổ của cái nhân quả luân hồi mà không bao giờ chấm dứt. Đó là khổ.

Tập là cái nguyên nhân để mà kết hợp lại, cái nguyên nhân để mà tập hợp lại tất cả những sự đau khổ của kiếp con người. Chúng ta sẽ thấu rõ được cái nguyên nhân đó, đó là một cái chân đế, một cái lý của chân đế. Chúng ta thấu suốt được cái khổ của kiếp người tức là chúng ta thấu suốt được một cái lý chân đế của kiếp người đầy đau khổ.

Rồi Tập Đế thì chúng ta lại thấu suốt cái lý của Tập Đế. Cái lý của Tập Đế là cái nguyên nhân tập hợp lại bao nhiêu cái sự khổ của kiếp con người.

Rồi tiếp tục chúng ta sẽ đạt được cái lý của Diệt Đế, tức là cái Niết Bàn, cái cảnh giới, cái trạng thái an ổn, cái trạng thái bất động tâm giải thoát, cái trạng thái thanh thản, nó không có làm cho chúng ta đau khổ nữa. 

Đó là cái Niết Bàn, tức là cái lý chân đế của cái Niết Bàn. Nó không có mơ hồ, nó không có trừu tượng, nó không có siêu hình mà nó sự thật trong cái trạng thái tâm hồn của chúng ta. Đó là cái lý chân đế giải thoát, cái lý chân đế Diệt Đế.

Đến cái lý gì mà, cái lý chân đế Đạo Đế thì chúng ta sẽ rõ nó có tám cái nẻo để mà chúng ta thực hiện, để mà diệt cái tập khởi, cái Tập Đế, diệt cái nguyên nhân tụ tập, câu hữu lại để làm cho chúng ta khổ suốt cả đời của chúng ta. Đó là cái lý Đạo Đế, cái lý chân đế của Đạo Đế làm chúng ta thấu suốt được.

Cho nên chúng ta tu tập càng siêng năng thì tất cả những cái lý chân đế chúng ta đều thông suốt, đều đạt được cái lý chân đế, tức là chúng ta chứng được cái lý chân đế. Mà chứng được cái lý chân đế tức là tâm chúng ta bất động, không còn dao động nữa, cho nên nó không còn bị động.

Ở đây cái câu kệ thứ ba của bài 35:

Tâm không còn thụ động

Nếu mà đạt được cái lý chân đế rồi thì cái tâm của chúng ta không còn bị động nữa, không còn thụ động nữa, tức là không còn bị các pháp thế gian lôi cuốn chúng ta, tâm chúng ta bất động như như. 

Và khi mà chúng ta đã thấu được cái lý chân đế rồi thì không còn biếng nhác nữa, tức là chúng ta tinh tấn, siêng năng chớ chúng ta không còn có biếng nhác nữa, và cũng từ đó chúng ta nỗ lực hằng ngày siêng năng.

(26:08) Vì vậy cho nên ở đây quý thầy mà thấu suốt được rồi thì quý thầy cố gắng mà tu tập để chúng ta thấu được cái lý của chân đế. Cái lý của chân đế tức là bốn cái đế mà chúng ta cần phải thấu suốt. 

Chỉ có tu tập, chỉ có nỗ lực thực hiện con đường Định Vô lậu thì chúng ta thấu suốt mau đạt được cái lý chân đế rốt ráo, nhanh chóng, không có thời gian kéo dài. Còn nếu mà chúng ta ít có tu cái Định Vô Lậu thì chúng ta khó mà thấu suốt được cái lý chân đế. 

Cho nên, chúng ta không còn biếng nhác, không còn lười biếng nữa mà rất là siêng năng, rất là tinh tấn trong cái sự tu tập. Cho nên, trong mọi cái sự khó khăn thì chúng ta đều có cái sự kiên trì trong cái sự cố gắng.

Tuy là bước đường tu tập hằng ngày chúng ta hướng tâm Như Lý Tác Ý để thấu được cái lý chân đế, nhưng nó còn có những cái khó khăn. Hoàn cảnh khó khăn, cuộc sống khó khăn, rồi nghiệp thân khó khăn, nó cứ đau bệnh này, bệnh kia nó làm cho chúng ta cũng khó khăn.

Cho nên, những cái khó khăn đó nó cũng làm cho chúng ta phải có một cái nghị lực, phải có kiên trì trong cái sự cố gắng tu tập. Chớ nếu mà không có sự kiên trì, không có sự cố gắng tu tập thì chúng ta chẳng đạt được cái lý chân đế đâu.

Bởi vậy trong cái bước đường mà tu tập theo đạo Phật thì quý thầy phải sáng suốt, phải siêng năng, phải tinh cần, phải nỗ lực, không có được biếng trễ. Vì có cố gắng, có kiên trì, có nỗ lực, có tinh cần thì cái lý chân đế mới đạt được. 

Và cũng từ cái sự kiên trì cố gắng đó nó không còn có lười biếng thì cái dũng lực ở trong ta nó được sanh khởi.

Mà muốn đạt được cái sự tu tập từ tinh cần, siêng năng để đạt được cái lý chân đế, tâm không còn thụ động, tâm không còn biếng nhác, có cái sự kiên trì, có sự cố gắng, có đầy đủ nghị lực, dũng lực phát khởi trong ta thì người ấy phải sống riêng một mình. 

Người ấy phải sống độc cư, nếu mà không sống độc cư, không sống riêng một mình thì không thể nào có tinh cần, tinh tấn, có đạt được lý chân đế, có tâm không còn bị thụ động, tâm không còn lười biếng. 

Phát khởi những cái sự kiên trì, cố gắng, dũng lực, những cái này sẽ được phát khởi thì chỉ có duy nhất là phải sống độc cư. Còn nếu không sống độc cư thì không bao giờ có được những cái này. 

Nghĩa là cái người mà không chịu sống độc cư thì không bao giờ có sự tinh cần, có sự tinh tấn, không bao giờ mà có đạt được cái lý chân đế, không bao giờ có cái tâm bất động được, không bao giờ hết lười biếng được, không bao giờ có nghị lực, có kiên trì, có cố gắng, có dũng lực được để mà đạt được cái sự tu tập này.

Cho nên chỉ duy nhất là chúng ta phải sống riêng một mình. Sống riêng một mình để thực hiện những gì mà Thầy đã dạy, Phật pháp đã dạy, kinh sách Phật đã dạy, lời Phật đã dạy. Đừng quên những điều này.

Cho nên ở đây Phật nói:

Hãy sống riêng một mình.

Như Tê ngưu một sừng!

Đó thì cái bài kệ nào Đức Phật cũng nhắn nhủ chúng ta muốn đạt được những cái gì ở trên cái bài kệ đã nói, cái mục đích của bài kệ đã nói thì chỉ có duy nhất là phải sống riêng một mình. 

Có sống riêng một mình thì chúng ta mới có đạt được cái kết quả vô cùng vĩ đại đó, còn nếu không có được thì chắc chắn chúng ta khó mà có thể kết quả được.

BÀI KỆ 36 – LUÔN ĐỘC CƯ, THIỀN ĐỊNH, TÙY PHÁP, NHẬN THỨC SÁNG SUỐT

(29:52) Đến đây Thầy sẽ đọc tiếp bài kệ thứ 36:

Không từ bỏ độc cư,

Không viễn ly thiền định,

Thường thường sống hành trì

Tùy pháp trong các pháp,

Chơn chánh nhận thức rõ,

Nguy hiểm trong sanh hữu.

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Đó, ở đây bài kệ thứ 36 Đức Phật vô cái câu kệ đầu, Đức Phật khuyên không được từ bỏ độc cư, nghĩa là không được sống riêng một mình và không có tách lìa các thiền định. 

Như Thầy đã dạy các thầy thấy, như thiền, như Thánh chánh niệm phòng hộ sáu căn nè, thiền Chánh Niệm Tỉnh Giác Định nè, Định Vô Lậu nè, Định Sáng Suốt nè, Định Niệm Hơi Thở nè, Định Hiện Tại An Lạc Trú nè. Tất cả những cái loại định này thì quý thầy cần phải siêng năng mà tu tập, đừng có lười biếng mà bỏ qua, đêm ngày nỗ lực tu tập. 

Cho nên ở cái câu kệ thứ hai Phật nói:

Không viễn ly thiền định,

Câu thứ ba thì Phật dạy:

Thường thường sống hành trì,

Nghĩa là luôn luôn phải hành trì thiền định, luôn luôn phải hành trì cái hạnh độc cư. 

Đó thì nhớ những cái lời mà Phật đã dạy ở trong cái bài kệ 36 này, thì thứ nhất là không có được bỏ cái hạnh độc cư, làm sao phải khép chặt mình trong cái hạnh độc cư để mà tu tập, đó là cái thứ nhất.

Cái thứ hai thì đừng có xa lìa, đừng có nghĩ tu bữa nay mình nghỉ, ngày mai rồi hãy tu thiền nữa, hãy ngồi thiền. Không, ngày nào cũng phải giữ gìn giờ giấc nghiêm chỉnh chứ đừng có viễn ly thiền định. Phải luôn luôn hành trì, phải luôn luôn tu tập, đừng có giờ giấc nào mà bỏ nó. Lúc nào mà có thể tu tập được là có thể cứ hành trì các cái loại thiền mà Thầy đã dạy.

Nhất là muốn giữ gìn được hạnh độc cư thì tức là chúng ta phòng hộ sáu căn của chúng ta rất là cẩn mật. Vì tâm của chúng ta còn quá yếu mà chúng ta đi tới đi lui, nói chuyện này chuyện kia thì tâm dễ bị động, dễ bị dính mắc. Và dễ bị động, dễ bị dính mắc thì không có thể thực hiện con đường tu tập theo đạo Phật được. 

(32:20) Cho nên bài kệ thứ 36 Phật khuyên:

Không từ bỏ độc cư,

Không viễn ly thiền định,

Thường thường sống hành trì,

Tùy pháp trong các pháp,

Tùy theo cái cơ thể, tùy theo sức lực của mình mà tu tập, rồi nương vào các cái pháp, theo các cái pháp trong các pháp mà tu tập, cái pháp nào thì tu theo cái pháp nấy cho đúng.

Thí dụ như tu Tứ Bất Hoại Tịnh thì phải tu Thân niệm Phật như thế nào, Tâm niệm Phật thế nào, Thọ niệm Phật thế nào, Pháp các pháp niệm Phật thế nào. Rồi Thân niệm Pháp như thế nào, rồi Tâm niệm Pháp như thế nào, rồi Thọ niệm Pháp như thế nào, rồi các Pháp niệm Pháp như thế nào. 

Rồi đến Thân niệm Tăng như thế nào, Tâm niệm Tăng thế nào, Thọ niệm Tăng thế nào, các Pháp niệm Tăng như thế nào. Rồi đến Thân niệm Giới như thế nào, Thọ niệm Giới như thế nào, Tâm niệm Giới như thế nào, các Pháp niệm Giới như thế nào.

Đó thì chúng ta tu Tứ Bất Hoại Tịnh thì chúng ta phải thông suốt, phải rõ, và hằng ngày chúng ta nỗ lực thực hiện những cái điều mà Thầy đã dạy ở trong Tứ Bất Hoại Tịnh. 

Rồi đến Tứ Vô Lượng Tâm phải thực hiện như thế nào, từ bi hỷ xả như thế nào, phải thực hiện hằng ngày tu tập. Nhiều quá, rất nhiều điều chúng ta tu tập! 

Đó, chúng ta biết áp dụng trong cái thiền định nào, trong cái pháp môn nào, tu tập cái gì cho đúng pháp của nó, tức là:

Tùy pháp trong các pháp,

Phải sáng suốt, phải nhận rõ, chơn chánh nhận thức rõ, nghĩa là phải nhận rõ cái pháp nào, cái pháp thế gian và cái pháp tu tập, cái pháp nào nguy hiểm, cái pháp nào không nguy hiểm, cái pháp nào giải thoát, cái pháp nào không giải thoát. Chúng ta phải nhận thức cho rõ ràng, cái chơn chánh nhận thức rõ ràng, đừng có để lạc lầm. 

Nhiều khi chúng ta tu những cái pháp mà Phật đã dạy, bỗng dưng nghe các nhà Đại Thừa nói pháp này pháp nọ kia nó cao, hay, nó Tối Thượng Thừa thế này thế khác, tâm chúng ta tham đắm do những cái danh từ rỗng toét làm cho chúng ta thích thú. Do đó, chúng ta bỏ cái pháp mà Phật dạy, chúng ta chạy theo những cái pháp cao siêu hơn của các pháp Đại Thừa, của Thiền Đông Độ chẳng hạn. 

Thì trong lúc đó, chúng ta chạy đi như vậy thì chúng ta chưa đủ cái trí tuệ để phán xét đâu là đúng đâu là sai, vì vậy mà chúng ta phải mất đi rất nhiều thời gian, để rồi sau cái thời gian đó, chúng ta không thấy kết quả được, quay trở về với con đường của đạo Phật, con đường chơn chánh của đạo Phật thì cái thời gian đó quá dài. 

(35:12) Và tuổi chúng ta cũng già, sức chúng ta yếu kém dần, cho nên đến cái giai đoạn này chúng ta sống đúng cái giới hạnh của Phật rất là khó. Vì ăn ngày một bữa, sống ít ngủ, thường siêng năng đi kinh hành, tu tập Chánh Niệm Tỉnh Thức hằng ngày không có lúc nào mà để rảnh rang, để cho chúng ta có cái thời gian mà rảnh rỗi được, vì vậy mà cái sức yếu tuổi già rồi thì khó mà có thể thực hiện được cái con đường của đạo Phật. 

Bởi vậy, quý thầy thấy rất rõ là cái người già khó mà theo đạo Phật tu lắm. Bởi vì ăn ngày một bữa mà già thì đâu có thể ăn một bữa mà sống nổi, cho nên khó mà theo.

Nguy hiểm trong sanh hữu.

Mà phải thấy rằng tất cả những cái vật dụng, những cái gì mà xung quanh chúng ta gọi là có, để mà nói rằng phục vụ đời sống cho mình, thì coi chừng những cái đó nó sẽ là nguy hiểm lắm đó, nó làm chúng ta khó lắm, khó tu tập lắm. 

Cho nên, chúng ta phải thấy chữ “sanh hữu” – hữu là có, sanh là sanh khởi ra những cái có, có cái này, có cái kia, có cái nọ, đó là những cái sự nguy hiểm lắm.

Cho nên, đầu óc của chúng ta không sanh khởi cái gì có nữa hết thì lúc bấy giờ chúng ta sẽ khỏe rất khỏe. Và chúng ta cũng không chấp nhận cái gì có thêm, vì càng có thêm thì càng có sự trói buộc làm chúng ta khó mà bước ra, nó trở thành những cái kiết sử, nó hữu ái kiết sử, nó trói buộc chúng ta rất chặt. 

Cho nên, chúng ta bứt xuống, bỏ xuống được bao nhiêu thì chúng ta bỏ. Bởi vì, chúng ta phải thấy nó là một cái sự nguy hiểm rất lớn cho cái đời sống tu hành của chúng ta. 

Bỏ xuống hết, bỏ xuống hết, chỉ còn ba y một bát đi xin ăn mà thôi, như vậy mới thật sự giải thoát hoàn toàn, tu tập thiền định mới có thể đi sâu vào được. Còn không khéo thì khó mà có thể thực hiện được đi sâu vào thiền định. 

Cho nên, ở đây thì Đức Phật khuyên chúng ta:

Hãy sống riêng một mình, 

Như Tê ngưu một sừng!

Cuối cùng bài kệ thứ 36 thì Phật cũng khuyên chúng ta như vậy.

Đầu tiên thì Đức Phật khuyên đừng có bỏ độc cư, đừng có viễn ly thiền định, thường sống hành trì, tùy pháp mà theo trong các pháp mà tu tập, nhận thức cho rõ đường lối, cách thức tu tập của mình có mờ mịt hay không, có không rõ chưa, có chơn chánh hay không, có Chánh Niệm Tỉnh Thức chưa, có đủ sức mà để vượt qua những cái khó khăn chưa, phải nương theo pháp như thế nào cho đúng các pháp. 

Đó là tất cả những cái mà chúng ta cần phải xét. Nhưng muốn xét được vậy thì phải sống riêng một mình. Sống riêng một mình chúng ta mới có thời giờ để mà xét, mới rõ được các pháp, rõ được sự tu tập chúng ta có tùy pháp trong các pháp được hay chưa, hay hoặc là chưa tùy pháp được, hay hoặc là trong các pháp chưa thông?

(38:04) Cho nên tất cả những cái này chỉ có người sống riêng một mình mới suy ngẫm được cái đường lối, cách thức tu tập của chúng ta trong đạo Phật. Còn nếu không sống riêng một mình thì khó mà có sự suy ngẫm. 

Vì không có sự suy ngẫm thì con đường tu tập của chúng ta nó không có rõ ràng lắm. Mà không có rõ ràng thì tức là chúng ta tu tập lơ mơ, tu tập không có kết quả, tu tập cho có hình thức, tu tập cho có thời gian, để rồi thời gian trôi qua một cách vô ích.

Đó, thì như vậy chỉ chúng ta sống riêng một mình thì chúng ta mới có thời gian mà chiêm nghiệm, quán xét lại những cái sự tu tập của chúng ta có đúng hay sai, có rõ hay không rõ. 

Đó tất cả những cái này thì chúng ta quán xét qua bài kệ thứ 36, Phật khuyên chúng ta phải thông suốt, phải hiểu rõ, phải chơn chánh nhận thức cho rõ, tránh những sự nguy hiểm của sanh hữu.

Nếu mà không tránh những cái sự nguy hiểm của sanh hữu, của vật chất, của tất cả những cái sự trói buộc xung quanh mình thì mình sẽ không có đi trên con đường tu tập này được, và sẽ bị trôi lăn ở trong sáu nẻo luân hồi. Vì sanh hữu là những cái kiết sử, hữu ái kiết sử, nó sẽ trói buộc chúng ta vô cùng, nó khó mà bứt ra được lắm. 

Bởi vậy chỉ có cái hạnh độc cư, chỉ có cái hạnh sống riêng một mình thì quý vị mới có thể cắt ly được nó, xa lìa được nó. Còn sống mà câu hữu, kết hợp, tập hợp thì khó mà xa lìa được những cái sanh hữu. Nó sẽ sanh khởi cái này cái kia, nó làm cho chúng ta rất là khổ đau, khó mà tu tập trên bước đường theo đạo Phật.

Cho nên bài kệ này thì quý thầy và các con hãy suy ngẫm để mà nỗ lực thực hiện cho đúng, nhất là chơn chánh nhận thức. Câu kệ nói “Chơn chánh nhận thức”, nghĩa là mỗi tu tập của chúng ta chúng ta phải nhận thức cho rõ ràng, xét nó có đúng hay sai. Cái sai thì chúng ta bỏ, mà cái đúng thì chúng ta tiếp tục tu tập. 

Như các thầy, các con biết rằng có nhiều người cái sai mà họ không có nhận xét cái sai, mà nói sai họ cũng không nghe, cho nên họ cứ ngỡ tưởng nó là đúng, rồi họ tu tập họ cứ ngồi họ cứ lúc lắc, hoặc là họ ngồi cho nhiều cái thời gian ra, dài ra. 

Dạy hoài mà quý thầy và các con cũng không nghe những cái lời dạy, cho nên cuối cùng thì các con và quý thầy đều mất thời gian quá lớn, một số thời gian quá to, phí uổng hết cái đời tu tập của nó. 

Hãy cố gắng mà nghe, đây là bài kệ Phật khuyên những cái lời này, mà nếu quý thầy không có chịu tập để nghe những cái lời dạy của Phật và những cái lời khuyên của Thầy thì chắc chắn trên con đường này quý thầy và các con tu vô ích. Tốt hơn là chúng ta trở về gia đình mà sống cho ra người đạo đức cũng là quý lắm rồi.

Còn nếu mà quyết tu hành thì các thầy phải giữ gìn độc cư, phải giữ gìn, phải quán xét để cái thời gian mà độc cư một mình mình đó, nếu mình ngồi không mình nghĩ tầm bậy tầm bạ thì nó có ích gì đâu? Cho nên mình đem những cái cách thức tu tập, cái mình đã tu rồi, mình tu qua rồi, mình quan sát coi có đúng hay không. 

Hay hồi nãy mình vừa tu, bây giờ mình quan sát lại mình tu như vậy là có chính xác chưa, có đúng chưa, có diệt Tầm giữ Tứ được chưa, có diệt Tầm Tứ được chưa, hay hoặc là vô lậu hết chưa, bản ngã của mình còn hay hết, tất cả những vật chất xung quanh của mình, cái mà gọi là của mình, mình có còn chấp nó không hay là mình xả ra hết rồi?

Đó là những cái mình cần phải xét, xét cho rõ, để không rõ thì mình lại bị sai. Mà lại sai thì tức là con đường tu tập của mình nó không bao giờ tới đích được, nó không có bao giờ mà giải thoát được, uổng công tu tập của mình.

BÀI KỆ 37 – KHÔNG PHÓNG DẬT, KHÔNG ĐẦN ĐỘN, GIỮ CHÁNH NIỆM

(41:52) Thầy xin đọc bài kệ thứ 37:

Mong cầu đoạn diệt ái,

Sống hạnh không phóng dật,

Không đần độn câm ngọng,

Nghe nhiều, giữ chánh niệm,

Các pháp thường quán sát,

Siêng năng mới quyết định.

Người tu sĩ cần biết

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Đó thì ở đây cái câu kệ thứ nhất, Đức Phật khuyên chúng ta:

Mong cầu đoạn diệt ái

Cái đầu tiên mà của chúng ta, bởi vì trong Tứ Diệu Đế thì đã nói ái là cái chỗ tập hợp tất cả những cái khổ đến cho đời người của chúng ta, thì hằng ngày chúng ta quyết tâm tu hành là làm sao mà chúng ta đoạn diệt được cái ái, được cái lòng ham muốn của mình.

Đạt được cái đó tức là chúng ta sẽ có một sự cái giải thoát, tâm bất động được. Và chính chỗ đó là cái trạng thái Diệt Đế đó, tức là diệt ái đó, thì đó là Niết Bàn. Đó là cái trạng thái giải thoát của con người, của kiếp con người, nó không còn tái sanh luân hồi nữa hết. 

Cho nên người tu hành thì cái mục đích của chúng ta là nhắm vào cái nguyên nhân sanh ra muôn thứ đau khổ của chúng sanh mà đoạn diệt nó được, mong cầu cái sự đoạn diệt cho được. Mà muốn đoạn diệt được cái ái thì cái câu kệ thứ hai của bài kệ 37 thì:

Sống hạnh không phóng dật

Đó thì quý thầy với các con thấy, “sống hạnh không phóng dật” tức là cái tâm không có chạy theo vật chất thế gian, không có phóng ra ngoài, mà hãy quay nó trở vào trong mà suy nghiệm lại những cái cách thức tu tập của mình. Hãy quay nó trở vào trong, đừng có phóng ra, đừng có chạy theo các đối tượng, các dục lạc thế gian sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, đừng có chạy theo bên ngoài. 

Mà không chạy theo bên ngoài như vậy, tâm mà không chạy theo bên ngoài thì quý thầy thấy như thế nào? Mình phải sống độc cư chớ!

(44:09) Tâm mà không chạy theo ra ngoài thì mình phải sống độc cư. Muốn tâm không phóng dật, không chạy ra ngoài thì duy nhất chỉ có cái hạnh độc cư mới giữ gìn nó trọn vẹn, nó mới không phóng dật được.

Bởi vì chúng ta sống độc cư không có nghĩa là chúng ta sống ngồi không, mà chúng ta hằng giờ, hằng phút chúng ta đều có pháp để mà thực hiện, cho nên tâm của chúng ta đâu có rảnh rang mà ngồi đó nghĩ nhớ cái này nhớ cái kia mà chạy phóng theo!

Cho nên có nhiều người lại hiểu lầm rằng khi mà chúng ta sống độc cư, không có đi đây đi đó, ngồi ở trong thất thì tâm chúng ta nghĩ ngợi cái này cái kia cái nọ, phóng ra. Đó là tại vì quý thầy không có siêng năng, không có tu tập, không có tinh cần cái sự tu tập như cái bài kệ thứ 35 Phật đã nhắc:

Tinh cần và tinh tấn,

Đạt được lý chân đế,

Tâm không còn thụ động,

Không còn có biếng nhác,

Kiên trì trong cố gắng,

Đó là những cái mà chúng ta sống ở trong thất độc cư thì chúng ta có pháp mà tu, có các pháp cho nên thời gian chúng ta đâu có rảnh rang, cho nên tâm ý chúng ta đâu còn chạy phóng ra được, nó luôn luôn ở trong các pháp để thực hiện tu tập.

Còn bây giờ quý thầy không có pháp tu thì quý thầy vào trong thất thì tâm quý thầy nó lang thang, nó phóng ra. Còn có pháp tu thì tâm đâu có lang thang phóng ra, cho nên người ta luôn người ta thích sống độc cư là vì người ta có pháp tu hành.

Cho nên có những bậc chân tu người ta ở trong núi, trong rừng, ở trong hang trong hốc một mình từ năm này đến năm khác mà người ta không thấy cô đơn là vì người ta có pháp môn người ta rèn luyện, người ta tu tập, chớ nếu sống mà không có pháp môn mà rèn luyện tu tập thì chắc cũng không ai sống độc cư nổi.

(46:02) Do tuần tự rèn luyện tu tập đó mà càng ngày chúng ta mới thấy được cái tâm bất động, vì vậy mà cái tâm hoàn toàn đứng trước các vật mà nó không bị dính mắc, nó không phóng theo các vật được. Do cái chỗ tu tập của chúng ta rèn luyện cho đến một ngày viên mãn, cái tâm nó bất động.

Còn bây giờ cái tâm chúng ta còn đang động mà chúng ta không chịu sống độc cư thì do đó cái tâm của chúng ta sẽ phóng dật, đi ra ngoài thì nó phóng theo đối tượng các vật của nó. 

Còn ở trong thất thì chúng ta chỉ có duy nhất có pháp môn để mà tu tập cho nên tâm nó cũng không rảnh rang mà nó phóng theo các cái dục lạc của thế gian. 

Đó, cho nên:

Không đần độn, câm ngọng

Nghĩa là sống độc cư không phải là sống cái kiểu đần độn, cái kiểu là không nói, cái kiểu là ngọng nghịu, mà sống độc cư có nghĩa là sống rất là sáng suốt, thông minh.

Bởi vì tu cái Định Vô Lậu mà, cần phải quán xét, cần phải suy tư, cần phải khai triển những cái gì mà mình chưa hiểu thì mình phải khai triển, hiểu cho được thấu đáo được những cái lý.

Chẳng hạn là như bây giờ mình muốn hiểu một cái thân vô thường của mình, rồi mình muốn hiểu coi mình có cái ngã hay không, mình muốn hiểu thử coi tại sao mà có cái nguyên nhân của cái ái sanh ra, nó do đâu mà có cái ái này? 

Mình đi tìm lại thì mình thấy cái lòng ham muốn của mình do đâu mà có ra những cái này. Và vì vậy mà chúng ta phân dần để chúng ta biết được cái gốc của nó mà chúng ta diệt, diệt cái tâm ham muốn của chúng ta, đoạn diệt nó mới được. 

Còn nếu mà chúng ta không chịu suy tư, chúng ta nghe nói ái là cái nguyên nhân đau khổ thì chúng ta nói cái ái, thôi bây giờ là lòng ham muốn của chúng ta, thôi chúng ta diệt lòng ham muốn. Nhưng mà chúng ta chưa biết cái nguyên nhân nào mà sanh ra cái lòng ham muốn thì làm sao chúng ta diệt nó? Cho nên chúng ta phải biết.

Do cái sự độc cư mà chúng ta tu cái Định Vô Lậu, chúng ta quán xét làm cho cái trí tuệ càng ngày càng thấu suốt, càng thấu được cái lý chân để, càng rõ được cái lý của chân đế. 

Và càng rõ được thì cái sự mà chứng được cái lý chân đế nó không khó khăn, mà chứng được cái lý chân đế thì tâm hồn bất động, tâm ta bất động, không có dao động trước các đối tượng, các pháp, cho nên chúng ta hoàn toàn giải thoát.

Chớ không phải người độc cư là cái người đần độn, câm ngọng, không biết nói năng, không biết gì. Chúng ta biết nói nhưng mà chúng ta không nói. Không nói là tại vì chúng ta thấy nói nó chẳng ích lợi gì. Nói nó sanh ra nhiều chuyện, nói nó sanh ra động tâm, nói nó sanh ra những ác pháp, nó làm cho chúng ta khổ sở, làm chúng ta khó khăn. Cho nên, chúng ta không phải là kẻ câm ngọng.

Cho nên, cô Út thường nói: “Độc cư chớ không phải độc câm.” Nghĩa là nhiều người hiểu rằng chúng ta không có nói đó là độc cư. Không phải. Chúng ta nói nhưng mà không nói bậy nói bạ, cái gì đúng chúng ta nói mà cái gì không đúng chúng ta không nói, đó là chúng ta độc cư.

Nghe nhiều, giữ chánh niệm

Nghe những cái lời giảng dạy của Thầy, biết được luôn luôn lúc nào giữ tâm ở trong một cái chân chánh của cái niệm chớ không có cái tà niệm. 

(49:14) Đó, thì khi mà nghe nhiều thì luôn luôn hiểu biết được cái pháp chân chánh, cho nên chúng ta thường giữ cái tâm ở trong cái niệm chân chánh không có để cái tà niệm, vì cái tà niệm nó làm chúng ta phiền não, đau khổ.

Cho nên vì vậy mà muốn cho được chánh niệm thì “các pháp” – các pháp ở đây không phải là cái pháp tu mà là các pháp của thế gian: Pháp ham, pháp muốn, pháp gợi tình, gợi cảnh, pháp hỷ, pháp lạc, pháp vui, pháp sung sướng, pháp tham, pháp sân, pháp si, pháp mạn, nghi, tất cả những các pháp đó thì chúng ta quán xét nó, coi nó có phải đúng hay là sai, nó đưa chúng ta đi đến chỗ đau khổ hay là chỗ không đau khổ. 

Các pháp của thế gian thường xảy đến làm cho con người đau khổ, làm con người mê thích, làm con người say đắm, làm cho con người mắc vào những cái lưới buộc chặt mà không thoát ra. Cho nên, chúng ta quán xét các pháp thế gian để rồi chúng ta xả bỏ, dứt bỏ nó mà không còn tham đắm.

Do cái sự hằng siêng năng mà quán xét như vậy đó thì chúng ta mới có quyết định được cái sự tu hành của mình, có quyết định được cái sự giải thoát cho chính mình. 

Bởi vậy, chỉ có sự siêng năng mà quán xét các pháp, chỉ có sự siêng năng mà giữ gìn được chánh niệm, do đó thì chúng ta mới quyết định được cái đời sống của chúng ta. 

Do cái sự siêng năng mà quán xét, do sự siêng năng mà tu tập Chánh Niệm Tỉnh Giác, do cái sự siêng năng tu tập đó, do cái sự siêng năng mà đoạn diệt các ái của chúng ta. Do chúng ta sống không có vừa phóng tâm, phóng dật ra ngoài như vậy thì chúng ta mới quyết định được, do cái sự siêng năng mà tu tập các pháp như vậy thì chúng ta mới quyết định được cái đời sống của chúng ta, quyết định được cái sự sanh tử luân hồi của chúng ta. Còn nếu không thì chúng ta khó mà có thể quyết định được cái sanh tử luân hồi của chính mình.

Bởi vậy, trên cái bước đường mà tu tập chúng ta cần phải quan sát kỹ, nếu không không kỹ thì chúng ta khó mà có thể đạt được cái Niết Bàn cứu cánh cho chúng ta.

Bởi vậy, bây giờ Thầy sẽ đọc lại cái bài kệ thứ 37 để cho quý thầy và các con nghe lại một lần nữa mà suy ngẫm:

Mong cầu đoạn diệt ái,

Sống hạnh không phóng dật,

Không đần độn câm ngọng,

Nghe nhiều, giữ chánh niệm,

Các pháp thường quan sát,

Siêng năng mới quyết định.

Người tu sĩ cần biết

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

(52:19) Ở chỗ cái bài kệ này có một cái câu mà đáng để lưu ý, vì các thầy các con đều có cái hiểu sai của cái pháp độc cư. Ở đây, cái câu thứ ba của cái bài kệ thứ 37 này:

Không đần độn, câm, ngọng

Quý thầy và các con hiểu, ở chỗ này Phật nói sống hạnh độc cư không có nghĩa là đần độn, ra ngơ ngơ, ngẩn ngẩn, làm như người mà không có biết gì hết, không phải, làm như người câm không có nói, không phải vậy. Cho nên cái câu này:

Không đần độn câm ngọng,

Nghĩa là chúng ta rất là thông minh, nghĩa là sáng suốt, người ta nói một cái gì đó mình hiểu biết, cái đó mình đáng nói thì mình nói mà không đáng thì mình làm thinh. 

Chớ không phải mình đi ra mình cũng giữ cái vẻ câm ngọng của mình, cái vẻ mà không nói của mình, rồi ngơ ngơ, ngẩn ngẩn, không phải vậy, đần độn như vậy, không phải.

Cái người độc cư là cái người có tu tập cái Định Vô Lậu, có phát triển được cái trí tuệ tri kiến giải thoát, cái trí tuệ của họ, do vì vậy mà khi ra họ luôn luôn họ sống được cái chánh niệm ở trong tâm của họ. 

Nhờ cái sự quan sát phát triển được, triển khai được cái trí tuệ tri kiến giải thoát của họ cho nên họ hoàn toàn họ không có đần độn. Nghe cái câu nói của người khác đó đáng trả lời thì họ trả lời, mà không đáng thì họ làm thinh, họ cười vui vẻ. 

Họ tùy thuận, họ chấp nhận, họ bằng lòng, họ nhẫn nhục, chớ họ đâu có phải là cái người ngu, họ sáng suốt. Cho nên, đúng lúc nào, họ cần phải hỏi là họ hỏi còn không hỏi thì họ làm thinh. 

Ai nói gì thì họ cũng vui vẻ chớ không phải họ gầm gầm cái mặt xuống, hoặc là sống một mình, không có chơi với ai, không phải đâu. Cũng hòa hợp với mọi người, nhưng cái đáng nói thì nói mà không đáng nói thì không.

Đó là cách sống độc cư mà bài kệ thứ 37 Phật dùng cái câu kệ: “Không đần độn câm ngọng” để chỉ chúng ta sống độc cư không phải là cái người đần độn, cái người câm ngọng.

Cho nên ở đây, cái câu kệ thứ bảy ở trong cái bài kệ thứ 37 này Đức Phật: “Người tu sĩ cần phải biết.”

Người tu sĩ cần biết

Chúng ta biết cái gì?  Biết cái hạnh độc cư của chúng ta là cái mấu chốt để giải quyết con đường sanh tử luân hồi, và biết cái hạnh độc cư không phải là người đần độn, không phải là người câm ngọng không biết nói. Phải hiểu như vậy thì mới sống cái hạnh độc cư mới trọn vẹn.

BÀI KỆ 38 – AN ỔN NHƯ SƯ TỬ, NHƯ GIÓ, NHƯ HOA SEN

(55:06) Bây giờ Thầy sẽ tiếp tục đọc cái bài kệ thứ 38:

Như sư tử, không động,

An tịnh giữa các tiếng,

Như gió không vướng mắc,

Khi thổi qua màn lưới,

Như hoa sen không dính,

Không bị nước thấm ướt.

Muốn vậy thì hãy sống

Chỉ sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Bây giờ đó thì Đức Phật ví một cái người mà sống độc cư như con sư tử, không có động. Nghĩa là nó luôn luôn lúc nào, dù là các cái tiếng gầm tiếng thét của loài vật khác, nó chẳng có dao động sợ một tiếng nào hết. Nó an tịnh giữa các tiếng – tiếng gì nó cũng không có ngán hết, nó không sợ hết.

Cho nên Phật ví dụ như chúng ta là người sống độc cư, không có bị cái tiếng khen, tiếng chê, tiếng chửi, tiếng mắng, tiếng này tiếng kia mà làm cho tâm chúng ta dao động.

Chúng ta luôn luôn giữ gìn cái tâm an tịnh giữa các cái tiếng gầm tiếng thét của các cái loài vật khác, như cọp, báo, hay hoặc là tiếng hét hay hoặc tiếng la của các loài vật khác, thì con sư tử nó chẳng bao giờ mà nó sợ tiếng động nào hết, tiếng la tiếng hét nào hết.

Thì chúng ta cũng vậy, một người sống độc cư thì chẳng có hề để tâm dao động trước các cái âm thanh, trước các cái lời nói, trước tiếng này tiếng kia, trước tiếng mắng tiếng chửi, nó không có dao động cái tâm của chúng ta chút nào thì như vậy là người mới sống độc cư. 

Người sống độc cư mà hễ mỗi chút đều là dao động tâm thì đâu còn là sống độc cư? Cho nên sống độc cư là sống không dao động. Mặc dù là chúng ta sống chung với mọi người nè, ai nói nặng nói nhẹ, nói gì nói mà tâm chúng ta không dao động tức là độc cư. 

Hễ mỗi chút mỗi phiền não, mỗi chút mỗi giận mỗi chút mỗi hờn thì cái người đó có sống độc cư không?

Bởi vậy phải rõ, phải biết rõ:

Người tu sĩ cần biết

Biết cái gì? Biết cái độc cư của chúng ta như thế nào. Nghĩa là tâm chúng ta không dao động trước tiếng khen tiếng chê, tiếng mắng tiếng chửi, tiếng mạ nhục như thế nào tâm chẳng dao động, thì người đó là sống độc cư. 

Còn người mà không có, lúc nào tâm cũng bị động thì dù người đó có ở trong thất riêng một mình đi nữa thì người đó cũng vẫn không phải độc cư, hình thức thì độc cư nhưng tâm chưa được độc cư. 

Đó thì sống chung đụng với mọi người mà tâm không dao động trước các tiếng khen tiếng chê, không mừng không vui, không theo những cái âm thanh, tiếng động gì hết thì cái người đó là cái người sống độc cư. Còn cái người mà luôn luôn bị dao động là cái người không sống độc cư. 

Đức Phật ví dụ người sống độc cư:

Như gió không vướng mắc,

Khi thổi qua màn lưới,

Nghĩa là như gió nó thổi qua màn lưới thì cái cơn gió nó đi luôn chớ nó không có dính mắc ở trong cái màn lưới. 

(58:12) Đó thì cái người sống mà độc cư, thật sự mà thực hành được cái hạnh độc cư thì tiếng khen, tiếng chê, tiếng mắng tiếng chửi, chuyện này chuyện nọ chuyện kia, lòng thương, lòng ghét, nó không có vướng mắc tất cả những cái gì đó, thì lúc bấy giờ cái người đó họ sống giữa chợ đi nữa vẫn gọi là người sống độc cư.

Các thầy và các con hiểu chỗ cái mục đích của độc cư qua cái bài kệ thứ 38 này chưa, có rõ chưa? Quá rõ ràng, đâu còn gì nữa! 

Nghĩa là tâm không có dao động trước anh em ruột thịt, bà con có chết có sống mặc tình, cha mẹ có chết có sống mặc tình, không có dao động, thì như vậy là sống độc cư. 

Còn dao động, còn lo còn nghĩ, còn thương còn nhớ thì như vậy là gió thổi qua màn lưới nó dính hết rồi, nó đâu còn, cho nên nó không có phải độc cư. Độc cư là không bị dính mắc gì hết gọi là độc cư.

Phật ví dụ thêm một lần nữa để chúng ta thấy cái hạnh độc cư:

Như hoa sen không dính,

Không bị nước thấm ướt

Nó như cái bông sen, nó ở dưới nước nó lên mà nó không dính chút nước nào hết. Đó thì mình sống ở trong mọi người, mình sống ở trong thất một mình mình, hình thức thì độc cư một mình, hoặc mình sống chung với mọi người nhưng tâm mình nó không bị dính một cái lời nói nào, lời khen lời chê, lời mắng lời chửi, lời châm biếm, lời nói móc, nói gì mình vẫn thản nhiên, không bị dính mắc, mình vẫn thanh thản tâm hồn, không bị dao động chút gì hết thì giống như hoa sen không dính mắc.

Đầu thì Đức Phật ví như mình con sư tử, giữa các cái tiếng của các loài khác không có làm cho mất cái sự an tịnh của con sư tử, không có làm cho nó bị động. 

Qua hai câu kệ kế đó thì Phật ví như gió thổi, nó không dính mắc, thổi qua cái màn lưới nó không bị dính ở trong đó chút nào gió hết. Hai câu kệ thứ sáu của bài kệ thứ 38, thì hai câu đó Phật ví dụ như hoa sen dưới nước, sống ở trong nước mà không bị nước thấm.

Đó thì cái ví dụ thứ nhất là như con sư tử không động, an tịnh giữa các tiếng, đó là chúng ta sống độc cư ở trong thất, ai nói gì nói chúng ta không động. Cái thứ hai, chúng ta bước ra ngoài như gió thổi trong màn lưới, nó không dính mắc gì hết cũng là độc cư đó. 

Đến cái thứ ba, từ ở cái sự sống của chúng ta, trong những cái cuộc đời ô trược, sống chung quanh bao nhiêu người ô nhiễm, họ chạy theo dục lạc thế gian, họ lôi cuốn chúng ta mọi cái, nhưng chúng ta vươn lên, do đó chúng ta không bị những cái ô nhiễm, những cái bất tịnh, những cái lôi cuốn đó làm chúng ta sa ngã, thì như vậy chúng ta không bị nước thấm ướt đó.

(01:01:04) Đó là từ cái chỗ hoa sen sống ở trong cái cảnh sống chung đụng của mọi người, người ta nói nặng nói nhẹ, nói này nói kia gì đủ loại hết, hoặc là đem cái thực phẩm, cái ăn cái uống, cái y cái áo, cái này cái kia lòe bịp hay hoặc làm chúng ta ham thích, làm chúng ta thích thú, làm chúng ta say mê, mà chúng ta không say mê, không dính mắc một chút nào hết, thì Đức Phật ví như cái hoa sen ở trong cái vũng bùn nước đọng hôi thúi mà vươn lên, mà không có bị dính một chút thấm nước nào hết.

Đó là cái bài kệ này Phật ví dụ, sáu cái câu kệ mà ví dụ ba cái trường hợp, để chúng ta thấy ba cái trường hợp sống độc cư.

Trường hợp thứ nhất là sống một mình ở trong cái nơi hoang vắng, yên tĩnh. Trường hợp thứ hai là khi đi khất thực, đi tới đi lui, đó là trường hợp như gió thổi. Trường hợp thứ ba là sống ngay cái lòng của thế gian mà vẫn độc cư. Đó là ba cái trường hợp sống độc cư. 

Muốn vậy thì hãy sống

Chỉ sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Đó thì như vậy là chúng ta thấy ba cái trường hợp sống mà luôn luôn chúng ta phải giữ gìn cái hạnh độc cư. Mà nếu giữ gìn cái hạnh độc cư thì nó có dính mắc không? Nó có dao động trước các tiếng động khác không? Nó có dính mắc những cái sự lôi cuốn của các pháp thế gian không? Nó có bị thấm nhiễm, ô nhiễm những cái pháp thế gian lôi cuốn mình không? 

Đó là ba cái giai đoạn để chứng minh cho cái hạnh độc cư của chúng ta tu tập trong cái hạnh độc cư. 

Đó thì người muốn được vậy thì phải sống chỉ riêng sống một mình, Đức Phật khuyên chúng ta muốn mà nó không có dính mắc ba cái trường hợp này thì chúng ta phải cố gắng. 

Đầu tiên thì chúng ta phải tập sống riêng một mình, nỗ lực tu tập để chứng được cái lý và tâm không phóng dật, chứng được cái lý Tứ Đế, cái lý Diệu Đế, cái lý Thánh Đế. Kế đó thì chúng ta quyết tâm đoạn dứt các cái tham, lòng ham muốn, cái ái của chúng ta, luôn luôn giữ tâm không phóng dật. 

Do cái sự tu tập đó thì chúng ta phải sống riêng một mình. Mà sống riêng một mình thì ba cái trường hợp độc cư này chúng ta hoàn toàn là đạt được kết quả. 

Chỉ muốn được vậy thì hãy sống riêng một mình. Sống để tu tập những cái gì? Diệt cái tâm, cái nguyên nhân mà tập hợp để mà sanh ra đau khổ, để mà chứng được cái lý chân đế của đạo, làm cho chúng ta được giải thoát hoàn toàn.

Đó, thì như vậy là cái bài kệ thứ 38 này Đức Phật cũng khuyên chúng ta hãy sống riêng một mình, khi nào mà chúng ta trải qua ba trường hợp, trường hợp thứ nhất, trường hợp thứ hai, trường hợp thứ ba mà chúng ta giữ gìn trọn vẹn được như vậy thì đó là chúng ta đã sống riêng một mình, đã độc cư được rồi.

Còn không được như vậy thì chúng ta hãy tiếp tục mà sống độc cư trong cái giai đoạn thứ nhất để cho tâm bất động trước cái đã, rồi sau đó mới sống độc cư ở trong cái sự vướng mắc các pháp, rồi sau đó mới ở trong các bùn nhơ, các chỗ bất tịnh mà để giữ gìn mình mà không có bị ướt thấm những cái bất tịnh đó, như vậy thì chúng ta mới hoàn thành được cái sống độc cư, cái hạnh độc cư.

Cho nên ở đây phải xem mình như là một con tê ngưu một sừng, sống trong những cái hoàn cảnh mà đạt được những cái độc cư như vậy mới gọi là con tê ngưu một sừng.

BÀI KỆ 39 – CHINH PHỤC, CHẾ NGỰ, HÙNG MẠNH NHƯ SƯ TỬ

(01:04:46) Bài kệ thứ 39, Đức Phật nhắc trở lại:

Giống như con sư tử,

Với quai hàm hùng mạnh,

Bậc chúa của loài thú,

Sống chinh phục chế ngự.

Thường sống trong các xứ,

Nhàn tịnh và xa vắng.

Người tu sĩ cần biết

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Ở đây Đức Phật đem lại cái sự độc cư đầu tiên giống như một con sư tử. Chúng ta muốn sống như con sư tử thì chúng ta phải có những cái sự hùng mạnh. Ở đây Phật ví dụ:

Với quai hàm hùng mạnh,

Nghĩa là cái con sư tử nó có cái hàm của nó rất là mạnh, cho nên nó chẳng sợ một con vật nào hết. 

Chúng ta muốn sống cho được như gió thổi mà không dính mắc các cái màn lưới, như hoa sen mà không ướt thấm những cái nước bùn nhơ thì chúng ta phải có một cái sức tu tập, cái sức tu tập đó thì như là con sư tử có quai hàm hùng mạnh, thì lúc bấy giờ chúng ta sống giữa cái loài người cũng như con sư tử sống giữa cái loài thú.

Thì chúng ta phải tu tập để mà chinh phục, chế ngự được tâm của mình, chinh phục, chế ngự được thọ của mình, chinh phục, chế ngự được tưởng của mình, và chinh phục chế ngự được các pháp. 

Thân, Thọ, Tâm, Pháp  mà chúng ta sống chúng ta chinh phục và chế ngự được chúng thì chúng ta như là con sư tử, như là bậc chúa của loài người, như con sư tử là bậc chúa của loài thú.

Còn ta sống mà chinh phục được bốn cái trụ xứ này – thân, thọ, tâm, pháp của chúng ta mà chinh phục được nó thì chúng ta là bậc chúa của loài người, chúng ta vượt qua sanh, lão, bệnh, tử, thì chúng ta sẽ ở trong các cái nơi nào, chỗ nào thì chúng ta vẫn là độc cư, vẫn là an tịnh, coi như là vắng vẻ, coi như là xa vắng, coi như là yên ổn, không còn chút nào mà tâm chúng ta động, không còn thấy cái chỗ nào là chỗ động hết. 

Đó là những cái độc cư của chúng ta. Nhưng mà trước khi độc cư mà được như vậy thì chúng ta phải là con người sống chinh phục và chế ngự.

Chinh phục ai? Chinh phục thân mình, chinh phục tâm mình, chinh phục thọ mình, chinh phục các pháp. Chúng ta sống chế ngự gì? Chế ngự thân mình, chế ngự tâm mình, chế ngự thọ mình, chế ngự các pháp. 

(01:07:40) Nếu chúng ta sống mà chúng ta chinh phục được, chúng ta chế ngự được Thân, Thọ, Tâm, Pháp của chúng ta thì chúng ta ở trong cái xứ sở nào, chúng ta ở đâu thì chúng ta cũng đều là nhàn tịnh và xa vắng, tức là chúng ta cũng đều là độc cư hoàn toàn, cũng đều là độc cư.

Cho nên người tu sĩ cần phải biết: Muốn được như vậy thì đầu tiên chúng ta phải sống riêng một mình. Sống riêng một mình, sống độc cư để chúng ta thực hiện các pháp. Các pháp đó là gì? Chinh phục được Thân, Thọ, Tâm, Pháp, chế ngự được Thân, Thọ, Tâm, Pháp. 

Thì trong khi chúng ta có những pháp tu tập như phòng hộ sáu căn, Chánh Niệm Tỉnh Thức, thiểu dục tri túc, Định Vô Lậu, Định Sáng Suốt, Định Niệm Hơi Thở, Định Hiện Tại An Lạc Trú, tất cả những cái này chúng ta đều hằng ngày thực hiện nỗ lực tu tập thì chúng ta sẽ sống độc cư, sống nhàn tịnh mà không có một cái vật gì, không có một đối tượng gì mà có thể làm cho tâm chúng ta dao động được hết.

Chúng ta hoàn toàn là sống yên ổn, sống xa vắng tất cả. Tuy rằng sống bên mọi người nhưng mà vẫn xa vắng với mọi người. 

Vì họ với ta không thể nào hợp nhau được, là tại vì họ chạy theo dục lạc còn ta đâu có chạy theo dục lạc? Ta đang sống trong cảnh an vui và yên ổn của sự độc cư của chúng ta.

Đó, bài kệ 39 Đức Phật ví dụ giống như con sư tử, nhưng mà với cái quai hàm hùng mạnh của nó. Muốn có được cái quai hàm hùng mạnh thì trải qua một thời gian chúng ta phải sống chinh phục và chế ngự Thân, Thọ, Tâm, Pháp của chúng ta. 

Thì bây giờ chúng ta là bậc chúa của loài người thì con sư tử có cái quai hàm hùng mạnh của nó, cứng chắc như vậy để chiến thắng với mọi loài vật khác thì nó mới là bậc chúa của loài thú. Còn chúng ta sống mà chinh phục và chế ngự được Thân, Thọ, Tâm, Pháp của chúng ta thì chúng ta mới là bậc chúa của loài người. 

Chúng ta sống ở đâu, ở nơi nào chúng ta cũng đều được nhàn tịnh và giải thoát, đều là cũng có cái sự yên ổn, vắng vẻ, yên tịnh cho chúng ta, an tịnh cho chúng ta, không còn ai mà làm cho chúng ta dao động được hết. 

Cho nên, muốn được vậy thì hiện giờ chúng ta cần phải sống một mình để thực hiện những cái sự tu tập, để làm cho chúng ta có một cái quai hàm hùng mạnh như một con sư tử.

Khi nào chúng ta chinh phục được, chế ngự được Thân, Thọ, Tâm, Pháp của chúng ta thì lúc bấy giờ đương nhiên coi như chúng ta là một con sư tử có cái quai hàm hùng mạnh. 

Còn nếu mà chúng ta chưa chinh phục nó thì chúng ta chưa có cái quai hàm hùng mạnh, thì chúng ta hãy sống riêng một mình, và giống như con tê ngưu một sừng mà chúng ta phải nỗ lực thực hiện những pháp mà Phật đã dạy, thì chúng ta chinh phục được, để chúng ta ức chế được, chế ngự được Thân, Thọ, Tâm, Pháp của chúng ta.

Cái bài kệ thứ 39 là cái bài kệ mà khuyên nhủ chúng ta nên sống độc cư để thực hiện tu tập, để có một cái sức lực mà chinh phục và chiến đấu lại thân tâm của chúng ta, làm chủ được các pháp thế gian.

BÀI KỆ 40 – HÀNH TRÌ ĐÚNG PHÁP, ĐÚNG THỜI TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

(01:10:49) Bài kệ 40:

Từ tâm, sống trú sứ (xả),

Bi tâm, hạnh giải thoát,

Sống hành trì đúng pháp,

Hỷ tâm, phải đúng thời,

Không chống đối va chạm,

Với một ai ở đời,

Ấy là tâm xả sạch,

Các pháp trong thế gian.

Chỉ có người tu sĩ

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Đó, bây giờ Đức Phật khuyên chúng ta muốn tu tập cái tâm từ, bi, hỷ, xả, tức là Tứ Vô Lượng thì hãy sống riêng một mình, phải sống độc cư thì chúng ta mới tu tập được Tứ Vô Lượng Tâm.

Đầu tiên thì Đức Phật dạy chúng ta: 

Từ tâm, sống trú xả,

Nghĩa là chúng ta trau dồi cái tâm từ chúng ta, tức là chúng ta xả tất cả cái tâm tham, sân, si, phiền não của chúng ta. Chúng ta phải trú ở trong cái xả thì chúng ta mới có thể tu tâm từ. 

Như Thầy đã dạy, hằng ngày chúng ta câu hữu với cái định Chánh Niệm Tỉnh Thức để rồi tỉnh giác, để rồi chúng ta làm, đi, đứng, nằm, ngồi, hoàn toàn những cái hành động của chúng ta đều là tu tập ở trong cái tâm từ, để tránh cái sự vô tình mà chúng ta giẫm đạp hoặc là giết hại chúng sanh.

Thì ở đây Phật dạy:

Từ tâm, sống trú xả,

Muốn tu cái tâm từ thì phải trú cái cảnh giới xả. Thứ nhất là cảnh giới độc cư là cảnh giới xả, cảnh giới phòng hộ sáu căn. Đó là sống trú xả đó. Muốn tu cái tâm từ thì phải sống trong cái cảnh đó. Mà nếu chúng ta không sống ở trong cảnh độc cư thì chúng ta không thể nào mà tu tâm từ được, và “tâm bi, hạnh giải thoát” cũng không tu được.

Cho nên, muốn tu tâm từ, tâm bi và các hạnh giải thoát thì phải sống hành trì đúng pháp, theo các pháp thì chúng ta phải sống đúng. 

Bây giờ tu từ tâm mà sống trú xả, thì trú xả đó trú thứ nhất là gì? Trú trong độc cư, không tiếp duyên ra ngoài thì chúng ta mới có tu tập ở cái giai đoạn đầu. 

(01:13:07) Đến cái giai đoạn thứ hai thì chúng ta trú ở trong cái xả, thí dụ như bây giờ mình sống chung với mọi người thì mình lấy cái tâm xả của mình mình sống chung, thì mình sống chung ở trong cái tâm xả. 

Nó có xả thì nó mới sống chung với người ta được, mà không xả thì làm sao mình sống chung được, cho nên tâm từ mình làm sao có? Mình dễ giận, dễ hờn thì làm sao mà gọi là tâm từ?

Muốn cho được cái tâm từ mà để xả cho được thì chúng ta đầu tiên phải sống độc cư, sau đó thì chúng ta phải trú ở trong tâm xả, tức là tâm nhẫn, rồi tâm tùy thuận – tâm nhẫn, tâm tùy thuận, thì lúc bấy giờ chúng ta mới có tu tâm từ được. 

Tâm bi cũng vậy và các hạnh giải thoát cũng vậy, cũng phải trú ở trong tâm xả.

Sống hành trì đúng pháp,

Theo các cái pháp mà Phật đã dạy thì chúng ta sống cho đúng cách.

Hỷ tâm, phải đúng thời,

Nghĩa là lúc nào mà vui mừng thì phải đúng thời, chớ không phải lúc nào cũng vui được, lúc nào mà ban rải cái lòng hỷ của mình với mọi người, với loài chúng sanh. Để làm gì? Để chúng ta xả. 

Thí dụ như có một người chửi mình mà mình không có vui được, tức là mình có xả được không? Cho nên lúc bấy giờ, đúng cái thời mà là mình cần phải xả nó thì làm cho mình vui, đừng có làm cho mình khổ.

Không chống đối va chạm,

Nghĩa là luôn lúc nào mình muốn cái tâm hỷ của mình mà đúng thời thì mình giữ gìn, đừng có chống đối, đừng có va chạm với một ai, với một cái gì khác hết. Vì có sự chống đối, vì có sự va chạm thì cái tâm hỷ rất là khó hỷ. 

Mà muốn được vậy thì chúng ta phải tỉnh giác, phải tu tập cái sức tỉnh giác, biết đúng thời là mình nói, hay hoặc làm cái gì cho đúng thời. Không khéo thì nó sẽ không đúng thời, nó sẽ có sự chống đối, có sự va chạm thì cái tâm hỷ không thể thành tựu được. 

Mà tâm hỷ không thể thành tựu được thì tâm bi, tâm từ làm sao có được? Cho nên ở đây, chúng ta phải thấy được nó câu hữu, nó kết hợp từ, bi, hỷ, xả, nó bốn cái.

Không chống trái va chạm,

Với một ai ở đời,

Ấy là tâm xả sạch,

Nghĩa là luôn luôn lúc nào mình cũng giữ trọn, mình không chống lại với ai, mình không va chạm với ai, thì trong mọi cái hoàn cảnh xảy đến mà mình không hề có một cái sự chống đối, va chạm gì với ai hết thì ấy là tâm xả của mình. Còn có sự chống đối, còn có sự phiền não, còn có sự giận hờn, còn có sự đau khổ trong tâm của mình thì chưa phải xả.

Cho nên luôn luôn lúc nào, chúng ta cũng cần phải giữ gìn tâm của mình, thứ nhất là sống trong cái hạnh độc cư để tu tâm từ, tâm bi và các hạnh giải thoát, hằng ngày thì chúng ta phải tu tập theo đúng pháp Phật dạy và đến tâm hỷ thì phải đúng thời, đúng cái thời để mà rèn luyện cái tâm hỷ. 

(01:16:19) Như trong cái bài Tứ Vô Lượng Tâm Thầy đã dạy các thầy tu tập tâm từ, bi, hỷ, tất cả những cái này Thầy đã dạy, các thầy phải nỗ lực tu tập, đó là sống hành trì đúng pháp theo những cái lời Thầy dạy. 

Thì như trong cái bài kệ 40 này Đức Phật nói sống hành trì đúng pháp, nếu mà chúng ta tu đúng pháp thì tâm từ, tâm bi và tâm hỷ chúng ta sẽ đúng thời, cho nên chúng ta không còn có chống đối và va chạm với ai hết. Bởi vì từ, bi, hỷ chúng ta đã có thì chúng ta đâu còn chống đối ai hết? 

Mà không còn chống đối và va chạm ai hết – “với một ai ở đời” thì đó là chúng ta xả hết rồi, chúng ta xả sạch, chúng ta xả sạch hết, các pháp ở trong thế gian này chúng ta đã xả. 

Muốn tu tập được Tứ Vô Lượng Tâm như vậy mà xả sạch hết các pháp trong thế gian thì người tu sĩ cần phải có sự sống riêng một mình để trau dồi, để luyện tập, để dứt bỏ tất cả mọi cái. Hằng ngày chúng ta tu tập như vậy trong một năm, hai năm, ba năm, sau đó thì chúng ta mới thấy là chúng ta đã dứt bỏ các pháp thế gian. 

Và khi mà dứt bỏ được các pháp thế gian thì lúc bấy giờ chúng ta mới thấy cái sự mà sống riêng một mình, đó là một cái điều bí quyết để mà chúng ta thực hiện được con đường tu tập giải thoát. 

Cho nên ở đây, Phật ví dụ:

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Nghĩa là chúng ta muốn sống một mình như một con tê giác thì tức là chúng ta phải sống độc cư để mà tu tập cho nó chín mùi tất cả những cái lý pháp cũng như những cái tâm phóng dật đã khép chặt, không cho nó phóng dật. 

Và chúng ta đã thực hiện được những cái tâm từ, bi, hỷ, xả của chúng ta, cho nên không còn va chạm, không còn chống đối ai, ai nói hơn nói thua gì mặc họ, mình cũng chẳng cần phải hơn thua gì với ai nữa hết. Đó là chúng ta đã xả sạch, xả sạch các pháp trong thế gian, chúng ta đã hoàn tất được con đường độc cư để mà thực hiện Tứ Vô Lượng Tâm.

Bài kệ thứ 40 này tức là Đức Phật muốn nhắc nhủ chúng ta, muốn thực hiện từ, bi, hỷ, xả này thì chúng ta phải sống riêng một mình, phải sống độc cư thì chúng ta mới thực hiện được tâm từ, bi, hỷ, xả.

BÀI KỆ 41 – ĐOẠN DỨT THAM, SÂN, SI VÀ CÁC KIẾT SỬ, KHÔNG SỢ HÃI

(01:18:34) Bây giờ Thầy tiếp tục đọc bài kệ 41:

Đoạn tận lòng tham ái,

Và sân, hận, si mê,

Cắt đoạn và chặt đứt,

Các kiết sử lớn nhỏ,

Không có gì sợ hãi,

Khi mạng sống lâm chung.

Chỉ giữ gìn cho trọn

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Ở đây Đức Phật khuyên chúng ta là, cái câu kệ thứ nhất: Đoạn tận cái lòng tham muốn của chúng ta, đó là cái cách thức thứ nhất. 

Bây giờ chúng ta muốn đoạn tận được cái lòng ham muốn của chúng ta thì chúng ta phải sống riêng một mình, phải sống độc cư một mình ở trong một cái khu vực yên tĩnh nào đó để chúng ta thực hiện cái tâm, cái Định Vô Lậu mà chúng ta quét sạch cái lòng ham muốn của chúng ta.

Và sân, hận, si mê,

Nhờ cái Định Vô Lậu đó nó làm cho chúng ta không còn si mê nữa, và cũng đoạn tận cái lòng sân hận của chúng ta. Mà không si mê thì sân hận đâu có, mà không si mê thì tham ái cũng đâu có? 

Cho nên nhờ chúng ta sống độc cư, tu cái Định Vô Lậu làm cho chúng ta càng ngày càng sáng suốt, cái tri kiến giải thoát càng ngày càng minh mẫn ra, nó càng rõ ra, cho nên cái lòng tham ái chúng ta bị đoạn tận và cái lòng sân hận cũng bị đoạn mất.

Cắt đoạn và chặt đứt,

Các kiết sử lớn nhỏ,

Ở đây Đức Phật nói khi mà chúng ta đã sống độc cư, đã tu tập, đã đoạn tận cái tham ái, đoạn tận cái si mê thì chúng ta nỗ lực tiếp tục là cắt đoạn, cắt đứt đi các kiết sử lớn nhỏ, tức là bảy cái kiết sử lớn nhỏ chúng ta đều chặt đứt sạch. Nghĩa là đoạn dứt Ngũ Triền Cái và Thất Kiết Sử thì chúng ta cần phải có cái thời gian sống độc cư để mà chúng ta đoạn dứt nó.

Nghĩa là trước cái mạng sống của chúng ta, có thể nó lâm chung nhưng chúng ta đừng có sợ hãi, đừng có lo lắng, đừng có sợ. Bây giờ chúng ta còn một tấc hơi thì chúng ta phải đoạn dứt lòng cái tham ái, đoạn dứt cái tâm sân hận, si mê của chúng ta, cắt đứt bảy cái kiết sử lớn nhỏ, thì do đó chúng ta chẳng có sợ gì trước giờ phút lâm chung.

Thân của chúng ta là thân của nghiệp, nay thì mảnh, mai thì đau không dừng, nhưng chúng ta chẳng hề sợ hãi cái phút lâm chung của chúng ta. Chúng ta thấy rằng cái cần thiết là chúng ta phải đoạn dứt bảy kiết sử và ngũ triền cái, phải quét sạch nó, cái tâm tham ái của chúng ta do đó mà đoạn diệt.

Muốn được vậy thì chúng ta phải sống độc cư, sống một mình, riêng sống một mình để chúng ta tu tập cái Định Vô Lậu mà diệt cái ngũ triền cái, chặt đứt, đoạn dứt cái thất kiết sử, làm chúng ta không còn bị dính mắc, trói buộc được nữa, hoàn toàn hân hoan giải thoát trong con đường tu hành giải thoát của đạo Phật.

Đó thì cái bài kệ thứ 41 này Đức Phật khuyên chúng ta cũng nên sống một mình như tê ngưu một sừng để thực hiện cái Định Vô Lậu, để quét sạch năm cái triền cái và đoạn dứt cái thất kiết sử.

BÀI KỆ 42 – KHI ĐANG TU PHẢI TỰ CỨU MÌNH, KHÔNG PHẢI CỨU NGƯỜI

(01:21:56) Bây giờ Thầy đọc bài kệ 42:

Có những bạn vì lợi,

Thân cận và chung sống,

Những bạn không mưu lợi,

Nay khó tìm ở đời,

Người sáng suốt cứu mình,

Không phải cứu mọi người,

Trong lúc còn đang tu.

Người tu sĩ cần biết

Hãy sống riêng một mình

Như Tê ngưu một sừng!

Đó thì ở đây cái bài 42 là bài kệ cuối cùng của 42 bài kệ, Đức Phật khuyên chúng ta đừng có vì người khác, mà mình đang tu mình hãy lo mình tu, mình sống độc cư mình tu đi, đừng có vì người này người kia, mình nói mình lo, mình khuyên họ tu hành này kia để làm hạnh Bồ Tát, để độ người ta, trong khi mình tu chưa có xong. 

Và đồng thời mình phải biết rằng trong cái số người bạn của mình nó có nhiều cái loại bạn lắm. Có những bạn vì lợi mà thân cận và chung sống, có những bạn không có mưu lợi, nhưng mà cái đời mình khó mà kiếm tìm những cái người bạn mà không có mưu cái lợi ở thế gian này. 

Còn những cái người bạn mà ở đời họ mưu cầu cái lợi lộc, cái thế gian này nhiều lắm, họ chạy theo vật chất nhiều lắm, cho nên đừng có thân cận với những cái người bạn đó, chung sống với những người bạn đó.

Còn những người bạn mà không mưu lợi, họ sống mà nỗ lực tu hành, thì cái đời của mình khó tìm những cái người bạn đó lắm, không có bao giờ mà tìm được những cái người bạn.

Hở ra một chút, những người bạn mà gọi là đồng tu đồng hành đều là những người bạn mà mưu lợi không à. Còn những người bạn mà không mưu lợi khó mà tìm lắm.

Ai cũng muốn chùa to tháp lớn, ai cũng muốn có Phật tử nhiều, có tiền bạc nhiều, thì những người bạn đó không phải là những người bạn mà chúng ta thân cận, sống chung đâu, chúng ta hãy lìa họ đi. 

Họ đang sống như vua chúa, họ đang sống như quan, như chúa, họ đang sống có người hầu kẻ hạ thì những người bạn đó không phải là người tu hành đâu, là những người chạy theo, phóng tâm theo dục lạc thế gian.

(01:24:08) Cho nên ở đời chúng ta đừng có nghĩ rằng phải thương những người bạn đó, phải đem những cái pháp mà khuyên dạy họ. Họ chẳng nghe đâu! Dục lạc thế gian đã che mờ mắt họ rồi, không thể nào mà chúng ta cứu họ được đâu. Chúng ta hãy cố gắng cứu mình đi, cứu mình đi! Cho nên:

Người sáng suốt cứu mình,

Không phải cứu mọi người,

Câu này Đức Phật khuyên chúng ta. Chúng ta hãy sống độc cư, sống một mình mình đi, đừng có sống chung với những người bạn đó, khó mà tìm những cái người bạn tốt lắm. Đừng có nghĩ rằng chúng ta khuyên họ, họ nỗ lực họ tu họ trở thành những người bạn tốt. Không đâu! 

Bây giờ chúng ta chưa có tu xong đâu, cho nên chúng ta phải tránh xa hết mọi người, không có tin người nào là người bạn tốt hết. Coi chừng, hình thức của họ thì khéo léo rồi chúng ta lầm tưởng, nhưng mà rồi cuối cùng cái cuộc đời chúng ta cũng chẳng cứu được mình đâu.

Cho nên, chúng ta phải ráng mà sáng suốt, mà cứu mình cho ra khỏi, vì trong lúc mình còn đang tu. Mà lúc mình còn đang tu thì cần thiết là mình phải độc cư, không có được hai người, không có được ba người, sống một mình mình thôi. Sống một mình mình thôi không có hai ba người, để chúng ta thực hiện.

Cho nên bài kệ 42 này, Đức Phật sợ chúng ta khi mình được pháp, biết pháp, đúng pháp mình tu tập, mình thương người khác, bạn mình họ không biết, mình đem những cái lời khuyên họ thế này thế khác. 

Thôi, chúng ta khoan đã! Tu chừng nào xong rồi, có đủ kinh nghiệm hãy hướng dẫn họ, hãy khuyên họ, họ nghe cũng được mà không nghe cũng được, không có sao hết, vì chúng ta tu rồi. 

Còn bây giờ chúng ta tu chưa xong mà chúng ta cứ lo cho họ thì cái độc cư chúng ta có độc cư được không? Không bao giờ chúng ta độc cư được. Mà không bao giờ độc cư được thì thử hỏi chúng ta làm sao giải thoát được?

Đó thì hôm nay để kết thúc 42 cái bài kệ này, Đức Phật đã nhắn nhủ chúng ta nên sống độc cư. Cuối cùng cái bài kệ 42 thì Đức Phật cũng đã thấy được cái tâm thương của chúng ta đối với mọi người, cho nên chúng ta có thể khuyên lơn người bạn này bạn kia, rồi chúng ta nghĩ rằng mình khuyên rồi, hay hoặc là kết hợp với họ để cùng sống với nhau để cho có bạn. Nhưng mà sự thật họ lại là những người phá chúng ta không còn độc cư đâu.

(01:26:20) Cho nên, chúng ta tìm cái cách nào đó mà chúng ta ở cho yên để mà chúng ta thực hiện độc cư, thực hiện cho được cái sự độc cư, để chúng ta tu tập được giải thoát. Chừng nào giải thoát được rồi thì mình muốn làm gì cũng được hết, còn mình chưa giải thoát thì thôi xin phải độc cư đi, đừng có nên bỏ hạnh độc cư. 

Vì chính hạnh độc cư là bí quyết thành công trên con đường tu tập giải thoát, tâm bất động giải thoát là nhờ có hạnh độc cư. 42 cái bài kệ này không có đủ xác chứng rằng đạo Phật nhắm vào để hướng dẫn chúng ta tu hành giải thoát hay sao?

Cho nên, quý thầy phải hiểu, 42 bài kệ này nghe đi nghe lại cho kỹ để mà chúng ta thực hiện cái hạnh độc cư cho trọn vẹn, đừng có để cái hạnh độc cư chúng ta lướp ướp nửa chừng, chẳng ra độc cư gì hết, thì uổng cuộc đời tu hành của chúng ta. 

Quyết định một đời phải giữ hạnh độc cư trọn vẹn, phải sống một mình như con tê ngưu một sừng mà Đức Phật đã dạy thì mới mong chúng ta có thể kết quả được cái con đường tu tập của chúng ta. Còn nếu mà chúng ta phá hạnh độc cư thì chúng ta khó mà có thể thực hiện được. 

Đừng để tình cảm chúng ta dính mắc người thân của chúng ta thì hạnh độc cư chúng ta cũng tiêu luôn. Đừng để tình cảm của chúng ta dính mắc bạn bè thân hữu thì chúng ta cũng tiêu luôn, trên con đường khó mà chúng ta đạt được kết quả. 

Đừng để những vật chất lôi cuốn chúng ta để rồi chúng ta cũng mất cả hạnh độc cư. Đừng để mọi thứ mà làm cho tâm chúng ta mất độc cư thì chúng ta cũng không có thể đi đến con đường giải thoát cuối cùng được, và sự chấm dứt luân hồi khó mà đạt được.

Mong quý thầy và các con hãy cố gắng suy ngẫm 42 bài kệ này, rút tỉa ra từng bài kệ để mà thực hiện cuộc đời độc cư trọn vẹn mà Thầy từng nhắc nhở. Cách đây bảy, tám năm Thầy đã nhắc tới nhắc lui rất nhiều là bí quyết thành công của sự thiền định là độc cư, các thầy nhớ kỹ và các con nhớ kỹ chớ?

Đến đây Thầy…(xin kết thúc bài Bốn mươi hai bài kệ độc cư).

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 5)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.