ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giáo án 53 – Sơ lược pháp niệm Phật – Hướng tâm phá âm thanh

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giáo án 53 – Sơ lược pháp niệm Phật – Hướng tâm phá âm thanh

A A A
Module cannot be rendered as the requested content is not (longer) accessible. Contact the administrator to get access.

GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 53

SƠ LƯỢC PHÁP NIỆM PHẬT – HƯỚNG TÂM PHÁ ÂM THANH

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 1997

Thời lượng: [01:25:47]

 

1- SƠ LƯỢC VỀ PHÁP NIỆM PHẬT

(00:00) Và chúng ta sẽ tiếp tục. Hồi nãy là chúng ta Thân, Thọ, Tâm niệm Phật rồi, bây giờ tới Pháp niệm Phật chớ gì? Bây giờ Thầy sẽ lược về cái phần Pháp niệm Phật, rồi sau đó chúng ta sẽ có cái pháp hành để mà lấy Pháp niệm Phật. Để trước khi mà chúng ta hiểu rồi thì chúng ta còn phải… 

Pháp niệm Phật là sao? Đây mới là cái khó, mà quý thầy, các con thì cũng không có làm sao mà hiểu được cái Pháp mà niệm Phật. Thân, Thọ thì mình thấy mình hiểu rồi đó, rồi Tâm thì niệm Phật được rồi, Thân thì được rồi, mà giờ Pháp niệm Phật, nghe cái nó lạ lùng. 

Cái này mới là chuyện khó chớ, Pháp làm sao, miệng nó ở đâu mà nó niệm được đây? Mà Pháp thì vạn pháp, cái bàn, cái tủ, cái ghế này làm sao nó niệm Phật được? Vậy mà nó niệm được mới giỏi đó!

Đây các con sẽ nghe: Pháp niệm Phật. Vậy Pháp nghĩa là gì? 

Trước tiên mình nghe Pháp niệm Phật, thường thường Pháp đầu tiên mình hiểu là những cái lời của Phật dạy thì gọi là pháp, phải không? Rồi sau đó thì các pháp thế gian, rồi các pháp xuất thế gian. 

Một lời nói là pháp, một hành động làm là pháp, một cái bàn là pháp, một cái vật này là pháp, một cái nhà là pháp, một cái hành động gì chúng ta làm đều là các pháp hết. Cái pháp nó chỉ chung cho tất cả mọi vật, cho nên tất cả mọi hành động, tất cả mọi lời nói đều là pháp. 

Còn ở đây cái Pháp này là cái gì mà nó niệm Phật đây? Chúng ta phải hiểu cái nghĩa của nó, chớ không khéo chúng ta không hiểu rồi chúng ta cũng nghĩ rằng cái lời nói của Phật là pháp, còn hoàn toàn ngoài cái vấn đề đó là không phải pháp thì chúng ta lại hiểu sai. 

Vậy Pháp nghĩa là gì? 

Pháp không chỉ cho lời dạy của Đức Phật mà Pháp ở đây chỉ phải hiểu là pháp giới. 

Pháp giới – phải hiểu nó là pháp giới chớ không phải pháp là lời nói, là cái bài kinh. Thí dụ như nói Tứ Diệu Đế hoặc Tứ Chánh Cần đó là cái pháp, Phật nói cái pháp tu hành. Còn cái pháp này là pháp giới.

Pháp giới là gì? 

Một sắc tướng, bây giờ như các con đang ngồi trước mặt Thầy đây mỗi người đều có một cái sắc tướng, mà cái sắc tướng đó là mỗi con người có một cái thân tứ đại, thì mỗi cái thân tứ đại đó gọi là sắc tướng. 

Các con nói ra một cái lời nói, cái âm thanh, người thì âm thanh vầy người âm thanh khác, hay hoặc là con chim, con vật gì nó phát ra cái âm thanh, thì âm thanh đó gọi là pháp. 

Rồi một cái hoàn cảnh xảy đến, cái hoàn cảnh đó là một pháp. Một cái đối tượng xảy đến, một cái sự việc xảy đến, thì cái đó là một pháp, một pháp v.v… đều gọi là pháp. 

Đây là pháp giới. Pháp giới nghĩa là cả cái thế gian này, cả vạn hữu, vũ trụ của chúng ta đều là pháp hết vày thì, cái pháp niệm Phật là như thế nào? 

Vậy Pháp niệm Phật là niệm như thế nào? 

(03:02) Bây giờ chúng ta thấy nè, thân Phật là một cái pháp, đối với cái thân Phật cũng là một cái pháp, lời nói của Phật cũng là cái pháp, ý nghĩ của Phật cũng là cái pháp, tất cả mọi hành động gì của Phật đều là pháp hết.

Vậy toàn thân Phật khẩu hành, ý hành, thân hành, tất cả đều là thiện pháp.

Bắt đầu bây giờ mình xét qua ông Phật nè, những cái hành động, những cái gì của ông Phật biến ra hành động hết đều phải là thiện pháp. Nếu mà ác pháp thì làm khổ người ta, đâu gọi ông Phật được. 

Cho nên, Phật làm, Phật nói, từ cái cử chỉ đi, đứng, nằm, ngồi của Phật đều hoàn toàn là ở trong thiện pháp hết. Cho nên, cái pháp của Phật là cái pháp thiện, không thể nào là cái pháp ác được. 

Vậy các pháp niệm Phật thì phải là pháp lành. 

Cho nên, bây giờ mình lấy các pháp khác nè, mình cho nó niệm Phật nè, thì nó phải lành nó mới là niệm Phật chớ, còn nói nó pháp ác thì nó có niệm Phật được không? 

Cũng như cái hành động cái miệng ông Phật nè, ổng có chửi ai không? Thì cái pháp mà không có chửi ai, thì ổng khuyên lơn người ta, an ủi người ta cho người ta vui vẻ, thì cái pháp đó là pháp lành vày cho nên, khi các pháp mà niệm Phật thì nó cũng làm những cái điều lành chớ không thể làm cái điều ác được.

Đây Thầy đem cái ví dụ. Người trí thì nghe cái ví dụ thì dễ hiểu hơn, còn bây giờ nói thì các con khó hiểu. Cho nên, ở đây, dạy các pháp niệm Phật thì phải là pháp lành, lấy cái pháp nào, cái bàn, cái ghế, cái này cái kia niệm Phật thì nó lành? 

Bây giờ Thầy ví dụ nè, bây giờ cuốn tập này nè, có một người tranh, nói: “Đây là cuốn tập của tôi” Thì cái cuốn tập này là cái pháp, cho nên mình là cái người mà lấy Pháp niệm Phật rồi thì mình có tranh: “Cái tập này của tôi” nữa không? Phải không? 

Người ta muốn thì mình cho đi, vì vậy có ai tranh cãi đâu, thì nó phải lành không? Còn mình giật: “Cái này là của tui, chị nhận bậy rồi, cái này là sai, chị muốn giật của tui sao được!” Hai người lại đánh lộn với nhau thì pháp ác rồi! 

Còn cái này, khi mà các pháp niệm Phật, đã nói niệm Phật thì nó phải lành, người ta muốn thì cho người ta chớ sao lại muốn giật lại? Các con hiểu điều đó chưa? 

Cho nên, pháp niệm Phật thì nó thiện quá mà, mà biết như vậy thì ai muốn gì mình cứ cho hết, phải không? Cái bọc ở trong nhà mình mình để dành đựng rau mình cũng cho luôn, thì đâu có ai cãi. Đó là cái tốt nhất. 

Bởi vì trên bước đường tu theo Phật rồi, mình hiểu các pháp đều là vô thường hết, cho nên ai muốn thì đều vui lòng, mình cho hết. Thậm chí như cái bát mà ăn cơm của mình, ai có muốn cũng cho luôn, đâu có gì! Ngày mai thì… Đâu có gì, lá cây rừng nó có nhiều cái lá dầu lớn vầy nè, phải không? 

Các con thấy, Thầy bây giờ có cái bát Thầy mang đi ăn cơm, mang đi khất thực ăn cơm, nhưng mà ngày mai đi ra đường họ nói: “Thấy cái bát của Thầy đẹp quá, con muốn xin làm kỉ niệm!” Được rồi, được rồi cứ lấy đi. Thầy giờ lấy cái gì đi xin cơm đây? 

Thầy vô trong rừng Thầy mới bẻ, kéo cái nhánh cây dầu xuống. Các con biết cây dầu không, cái lá bự vậy nè. Thầy mới lấy năm, bảy cái lá vầy, Thầy kết nó lại, Thầy chầm cái bồ đoàn, phải không? Trời nắng Thầy đội lên đầu, mà hễ đi tới chỗ khất thực là Thầy để đó, Thầy xin cơm Thầy bỏ vô đây, thì Thầy đem về Thầy ăn, có gì đâu phải mang cái bát! 

Phải không? Cái người tu bao giờ cũng có trí tuệ hết. Mà người ta có xin cái đó nữa, mình cho cái đó nữa, mình về trong rừng mình hái cái lá khác mình làm nữa, làm sao hết lá rừng? Phải không, cái đời sống tu hành không có cái gì của mình hết, ai muốn, cho hết. Cho nên, gọi là Pháp niệm Phật. 

(06:21) Còn bây giờ các con thấy: “Cái này tốt quá, tui làm sao tui cho anh được!”  Thành ra nó chưa niệm Phật, pháp này là chưa tốt, phải không? Ông Phật thì ổng xả hết mà! Cho nên, vì vậy, đối với Pháp niệm Phật là phải pháp tốt, các con hiểu chớ? 

Cho nên, bây giờ, có cái y này, có người muốn, mà Thầy nói: “Thầy bây giờ có một cái y, làm sao?” Như vậy là cái pháp này chưa niệm Phật được. Phải không? Niệm Phật thì phải cho người ta chớ. Cho nên, các con thấy, ai muốn, Thầy cho hết. 

Rồi bắt đầu đó thì mình lấy những cái vật mà người ta thấy xấu quá, người ta không muốn nữa thì chắc chắn là người ta không xin. Lấy cái y rách mình đắp lên chắc không ai xin, lấy cái vải thây ma mà người ta bỏ đó, chắc người ta sợ quá người ta đâu có xin! 

Những cái này người ta còn xin, người ta thấy cái này người ta muốn để kỉ niệm. Thầy nhớ có nhiều người lấy cái đôi dép Thầy cất để dành để làm kỉ niệm, để mai mốt Thầy có chết đi họ lấy cái đó họ thờ!

Bởi vậy cho nên, tất cả những cái pháp mà niệm Phật nó là pháp lành. Bây giờ các con mới hiểu Pháp niệm Phật rồi chớ gì? Chớ hồi nào không khéo các con cứ không hiểu Pháp niệm Phật đâu. Bởi vì niệm Phật như vậy, cái Pháp niệm Phật nó làm cho tâm hồn mình giải thoát dữ lắm, nó không còn cái gì là cái của mình hết. 

Ví dụ có một người thân bị chết…

Bấy giờ đó, tức là đứng trước cái pháp tử biệt sanh ly của một cái người chết đó đó, bây giờ mình thấy có người thân mình, cha hay mẹ mình chết. 

Mình đứng trước cái người chết đó, mình thấy mình buồn khổ, tâm mình khởi buồn khổ, thì cái pháp tử biệt sanh ly mà mình buồn khổ thì pháp đó pháp thiện hay ác pháp? 

Pháp ác các con, nó khổ là pháp ác chớ sao. Mà bây giờ mình vui cười, nó thiện không? Đâu thiện con, vui cười nó cũng ác. Bởi vì thương nó cũng khổ phải không, mà vui cười thì nó cũng khổ. 

Cho nên, mình chẳng buồn khổ, mình chẳng buồn chẳng khóc, mà cũng chẳng vui. Chết thì đó là nhân quả, các pháp nó vô thường thì cha mẹ phải chết thôi. 

Vậy mà các con thấy không, khi đứng trước một cái mất mát của mình như cha mẹ mình chết đi, không phải là vô tình, mà mình biết đó là nhân quả, đó là cái tứ đại, các pháp đều là có cái sự vô thường như vậy, cho nên tâm mình nó không phải vui. 

Vui thì nó cũng là pháp ác, mà buồn khổ thì nó là pháp ác. Cho nên, hai cái này – bởi vì trong cái vui nó sẽ có cái buồn, nó đối đãi mà, thì tức là các con vui tức là các con không thương cha mẹ: “Ông bà hồi đó đối xử với tui quá tệ, cho nên giờ ổng chết là tui mừng”, phải không? 

Nhưng mà các con cười tức là các con vui, là hồi đó cha mẹ của mình đối với mình như thế nào đó cho nên bây giờ mình vui lắm, thì đó cũng là pháp ác rồi, đâu có đúng, cho nên mình không vui.

Bởi vì trước cái sự luân hồi sanh tử của mỗi người, ai cũng giống như ai, cho nên mình không khổ trước cái chỗ mất mát đó, mà mình cũng không vui trước cái chỗ mất mát đó, đó là cái tâm thanh thản của mình. Các con thấy không? Đó là cái thiện pháp, đúng là cái pháp lành. 

(09:16) Chớ còn không khéo mình nói không buồn, mình vui thì nó hai cái pháp đối đãi rồi. Nó đối đãi thì nó có buồn có vui thì nó mới có những cái nhân quả của nó chớ. Còn nếu mà không buồn không vui thì tức là đâu có thiện đâu có ác đâu mà, thành ra mình giải thoát hoàn toàn. 

Vì vậy mà trong đạo Phật, trước cái mất mát đó người ta không có khóc mà người ta cũng không có cười, mà người ra rất thản nhiên vì người ta đã biết được nhân quả. Cho nên, các pháp niệm Phật là phải thản nhiên. Cho nên, nó chẳng là bất lạc, bất thọ khổ mà, nó thản nhiên ở trong cái cảnh đó. 

…nếu quý vị buồn tức là pháp ác, nếu quý vị không buồn tức là pháp thiện.

Không buồn mà không vui đó, thì nó là pháp thiện, chớ vui nữa thì không được. 

Vậy pháp thiện tức là Pháp niệm Phật.

Cái tâm mà thanh thản trước cái sự mất mát đó, đó là mình đang ở trong cái Pháp niệm Phật, cái pháp đó nó đang niệm Phật, nó mới giữ được cái tâm của mình lúc bấy giờ. 

Nếu quý vị bị người ta mắng chửi đó là quý vị gặp pháp ác.

Nghĩa là mình gặp pháp ác. 

Nhưng quý vị dùng pháp đó niệm Phật thì pháp đó có tức giận nữa không? 

Nếu người ta chửi mình, mình nói bây giờ mình gặp cái pháp ác rồi đây, mình nên lấy cái pháp này cho nó niệm Phật đi, thì trong khi nó niệm Phật thì tâm mình có chửi người ta không? 

Các con thấy phải không? Bây giờ mình gặp pháp ác mà, là bắt pháp nó phải niệm Phật. Bởi vì cái pháp đó nó đến với mình, người ta chửi mình chớ phải chửi người khác sao, mình bắt cái pháp của người ta niệm Phật được sao, phải không? 

Bây giờ người ta chửi mình chó nè, như vậy là bây giờ mình gặp pháp ác rồi. Tui sẽ lấy cái pháp ác này tui bắt nó niệm Phật, thì do đó cái tâm của mình bắt nó niệm Phật, nó có chửi không? Ông Phật ông đâu có giận, phải không? 

Còn các con lại không bắt cái pháp niệm Phật cho nên các con sùng lên: “Mày chết đó nghen, mày chửi tao chó thì mày cũng phải trâu!” Phải không, các con thấy điều đó không? Đó là các con không có lấy pháp mà niệm Phật. 

Còn Thầy ở đây lấy pháp niệm Phật, cho nên tâm Thầy không giận. Phải không? Như vậy là Thầy biết tu, tức là Thầy biết lấy pháp niệm Phật. Có đúng không? Phải đúng chớ, lúc bấy giờ chúng ta biết lấy pháp niệm Phật mà. Ông Phật thì đâu có giận. 

Vậy thì pháp này nó có ác đi nhưng tâm chúng ta biết lấy nó niệm Phật thì tức là nó phải thiện liền. Vì vậy mà, cái bà này hay cái ông kia chửi mình một hơi, nói: “Chửi sao mà như chửi gộc cây vậy, không biết gì hết!”

Tại vì pháp của ông, ông đem lại tui, tui bắt nó niệm Phật hết rồi, cho nên bây giờ, nó đâu có giận. Thôi bây giờ, ông về chớ ông chửi một hơi nữa tui bắt nó niệm Phật hết, cái tiêu cả ông luôn! Cuối cùng thì không ai làm gì mình được hết mà mình giải thoát. Phải không, các con thấy không? 

Đó, đó là mình biết lấy pháp mà niệm Phật. Đó Thầy nói đơn giản vậy phải không? Cho nên, các con, nhiều khi các con không biết lấy pháp mà niệm Phật mà trái lại, thí dụ như bữa đó, cô Út rầy rà mắng Thầy luôn, Thầy lấy pháp Thầy niệm Phật, trời ơi, vì vậy mà tâm Thầy ngồi như cục đất, còn Đào thì cái mặt sù sụ. Có không? Thầy nói thật mà. 

Tại vì không biết lấy pháp niệm Phật, còn Thầy biết lấy pháp niệm Phật. Cho nên, Thầy biết lấy bốn chỗ niệm Phật mà Thầy giải thoát, còn các con chẳng biết niệm Phật cho nên không giải thoát. Có không? Thầy nói thật mà. Ở đây bằng chứng cụ thể mà, cho nên các con thấy rõ ràng phải không. 

(12:28) Bởi vậy cái người tu mà người ta có pháp rồi mà pháp của bậc Thánh, bậc chân nhân rồi thì làm sao mà người ta khổ được, người ta như cục đất rồi. Còn các con không có pháp cho nên cái miệng méo xẹo, con mắt đổ nước mắt đó, không có giải thoát được.

Ở đây Thầy dạy cụ thể quá mà, pháp hay quá mà, tại các con không chịu tu thôi chớ chịu tu là giải thoát từng phút, từng giây. Cho nên, đạo Phật nói: Đạo Phật không có thời gian, đến sẽ thấy được sự giải thoát của nó”. Bây giờ đó thì các con lần lần mới hiểu pháp niệm Phật rồi chớ gì? Hay quá phải không? 

Nếu không tức giận đó là pháp niệm Phật, còn tức giận thì pháp đó không niệm Phật. 

Phải không, thấy rõ phải không? 

Nếu quý vị bị nhức đầu, đau nhức, khó chịu, quý vị gặp pháp thọ này rồi…

Cái đầu mình đang nhức tức là mình biết cái pháp nhức rồi, cái pháp thọ đây nó nhức rồi. Cũng như mấy con, trời ơi cái vai tui đau quá, tui đau khớp xương nhức quá, như vậy kiếm thuốc đồ uống, như vậy là các con bị pháp đó mà quên không lấy nó niệm Phật mất rồi, chớ còn lấy nó niệm Phật thì đâu có đau. 

Phải không, các con nhớ. Ở đây Thầy đi từng bậc từng bậc để các con thấy dùng pháp niệm Phật để cho nó thấy nó giải thoát mà. Bởi vì biết niệm Phật là giải thoát hết. 

Nếu quý vị bị nhức đầu, đau đớn, khó chịu, quý vị gặp pháp thọ này lấy đó mà niệm Phật thì pháp đó không còn lo sợ, đau đớn, thống khổ nữa đối với quý vị.

Nếu mà quý vị biết dùng cái pháp đó tức là bắt nó niệm Phật thì nó niệm Phật thì nó sẽ hết đau nhức. Tại sao vậy? Tại vì có một lần Đức Phật nói như thế này nè: “Khi mà chúng ta gặp cái thọ đau nhức đến cái sức chịu đựng tận cùng của sinh mạng của chúng ta mà tâm chúng ta bất động thì nó sẽ mát lạnh”

Phải không? Bây giờ mình bắt nó niệm Phật thì nó mát lạnh chớ có gì đâu, bởi vì ông Phật ổng mát lạnh chớ ông đâu có nhức đầu đâu. Đó cho nên chúng ta thấy, do bắt cái pháp đó niệm Phật, bắt cái pháp thọ khổ này niệm Phật thì mình cũng sẽ hết đau khổ. 

Bởi vậy, các pháp đến với quý vị mà quý vị biết lấy đó niệm Phật thì tâm của quý vị có kết quả giải thoát ngay liền. 

Đó, thì quý vị thấy cái chỗ tu tập của Phật pháp nó thực tế và cụ thể. Mà đây là chúng ta mới có – đầu tiên là lấy Thân, Thọ, Tâm của chúng ta niệm Phật, phải không? Lấy Thân, Thọ, Tâm, Pháp mà niệm Phật, Thầy vừa dạy rồi, rồi bắt đầu từ đây về sau chúng ta lấy Thân, Thọ, Tâm, Pháp mà niệm Pháp, phải không? Rồi từ đây về sau chúng ta lấy Thân, Thọ, Tâm, Pháp của chúng ta để niệm Tăng. 

Bây giờ để kết luận cái chỗ này, cái chỗ mà lấy Thân, Thọ, Tâm, Pháp của chúng ta mà niệm Phật. 

(15:14) Vậy thì còn những cái pháp hành của lấy Pháp mà niệm Phật thì tiếp tục ngày mai, ngày tới Thầy sẽ dạy các con về pháp hành lấy Pháp mà niệm Phật. 

Vậy thì còn pháp hành, mà nãy giờ Thầy chỉ giải thích cho các con hiểu chớ các con có pháp hành chưa? Các con mới hiểu mà chưa có pháp hành phải không? Mới có hiểu sơ sơ thôi. 

Vậy thì Thầy sẽ dạy cho các con cách thức, cái pháp hành lấy Pháp mà niệm Phật. Còn hồi nãy lấy Tâm mà niệm Phật, lấy Thọ niệm Phật, lấy Thân niệm Phật, nó có pháp hành kèm theo rồi phải không? 

Ở đây thì Thầy mới tổng quát cho hiểu. Bởi vì Pháp niệm Phật nó khó hiểu, phải giải thích cho các con hiểu đã. Rồi khi hiểu rồi bắt đầu mới dạy cho các con: Mỗi cái pháp mà nó đến thì mình phải trạch pháp nó như thế nào để mình áp dụng như thế nào. 

Cũng như người biết áp dụng rồi thì người ta biết lấy cái pháp liền, người ta áp dụng liền qua một cái trạch pháp, người ta có ngay đối tượng người ta mắng mình thì ngay đó mình trạch cái pháp đó ra, mình nhắc: “Bây giờ phải lấy cái pháp này mà niệm Phật liền, đừng có để cái tâm mình động, phải bất động!” 

Do đó cái bắt đầu mình nghe người ta chửi mà cái tâm mình nó bất động, bởi vì bắt cái pháp của họ nó vô niệm Phật rồi. Mình lấy cái pháp của người ta đó mình đem vô cho nó niệm Phật rồi, thì do đó cái tâm mình nó bất động, nó giải thoát, nó ly hết tất cả cái các pháp ác ra rồi, nó không còn ở trong tâm mình. 

Vậy thì Thầy sẽ tiếp tục ngày khác Thầy sẽ dạy các con về cái hành pháp, cái giới hành của cái Pháp niệm Phật, để các con học được những pháp này để cho nó trọn ở trong cái vấn đề tu tập của mình là lấy Thân, Thọ, Tâm, Pháp mà niệm Phật. Rồi sau đó thì các con sẽ học đến lấy Thân, Thọ, Tâm, Pháp mà niệm Pháp, lấy Thân, Thọ, Tâm, Pháp mà niệm Tăng. 

Đây là mới bước đầu vô mà các con đã thấy nó có những cái đặc biệt và những cái vi diệu của con đường tu tập của nó. 

2- TU TỨ BẤT HOẠI TỊNH CHỨNG ĐƯỢC QUẢ DỰ LƯU

(17:02) Bây giờ Thầy sẽ kết cái phần kết này để cho thấy rằng Đức Phật cũng đã xác định cho chúng ta biết rằng cái pháp Tứ Bất Hoại Tịnh, như Thầy đã nói, đã dạy cho các con biết, nó còn có những cái tên mà Thầy đã nói ra cho các con biết, còn gọi là cái tên Tứ Kỉnh Pháp, tức là cái pháp mà cung kính nơi Phật – Pháp – Tăng, tức là ba cái ngôi Tam Bảo mà người ta gọi là quy y Tam Bảo đó, thì mình biết cái Tứ Bất Hoại Tịnh này nó còn gọi là Tứ Pháp Kính, bốn cái pháp kính. 

Vậy thì bốn cái pháp kính này, mà cái người mà biết cách tu hành thì ngay cái đời sống chúng ta đã giải thoát được cái tâm của mình, không còn đau khổ nữa. Không có cần tu nhiều pháp đâu, tu bây nhiêu đây chúng ta cũng đã thấy chấm dứt được sanh tử luân hồi. Ở đây Phật có kết luận: 

Tứ Pháp Kính là gì? 

Là Thánh đệ tử sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn…

Nếu muốn, thì người ấy trải qua cái thời gian mà tu tập, nếu mà người đó thật sự tu tập rồi thì thấy được cái kết quả của nó.

…người đó có thể tự tuyên bố về mình như sau:

Sau một thời gian mà tu tập cái pháp Tứ Bất Hoại Tịnh này, người đó sẽ tuyên bố cho chúng ta biết rằng – ở đây Phật nói cái người đó mà thực hiện thì họ sẽ tuyên bố như thế nào? Họ sẽ tuyên bố cái pháp họ tu hành, nó như thế này: 

“Đối với ta sẽ không còn ở địa ngục nữa”

Nghĩa là bây giờ mình có lúc nào mình hờn giận đâu các con, phải không? Mình đâu có lúc nào mình buồn khổ nữa đâu các con! Bởi vì Thân Thọ Tâm Pháp của mình hoàn toàn nó niệm Phật hết thì nó giải thoát hoàn toàn, nó đâu còn địa ngục nữa. Cho nên, Phật nói: “Đối với ta không còn địa ngục nữa. Sẽ không còn có tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú nữa”

Nghĩa là tất cả – khi cái người mà tu cái pháp này thì coi như là không có địa ngục đối với họ, không có sanh vào cõi bàng sanh, không có cái cõi ngạ quỷ, đọa xứ đau khổ, ác thú nữa, nghĩa là họ không bao giờ sanh trở thành ác thú được. Tâm họ nó quá thiện rồi, nó đâu còn gì nữa đâu mà nó trở thành những cái cõi ác đâu. Đó là cái tuyên bố đầu tiên của họ. 

(19:13) Ta đã chứng quả (Dự Lưu)…

Nghĩa là con đường đi chưa đến tới cái đích nhưng mà dự lưu, thì chúng ta đã dự vào cái phần Thánh, nghĩa là ta đã chứng vào, dự vào cái phần – trở thành những bậc Thánh chớ không phải còn là những phàm phu tục tử nữa. 

“…nhất định không đọa ác đạo, sẽ đạt được Chánh Giác”

Nghĩa là ngay từ cái chỗ mà tu cái Tứ Bất Hoại Tịnh này, chúng ta sẽ tuyên bố rằng chúng ta sẽ đạt được Chánh Giác, nghĩa là trở thành những bậc giải thoát hoàn toàn, chấm dứt sanh tử luân hồi, chớ không phải là còn… Thấy biết rất rõ ràng. 

Thôi bây giờ Thầy nói thật sự, các con cứ nghiệm xét đi. Nếu mà các con nãy giờ nghe Thầy giảng như vậy mà các con sống đúng như vậy, từ Pháp niệm Phật nè, từ Thọ niệm Phật nè, từ Tâm niệm Phật như vậy nè, từ cái Thân niệm Phật như vậy, các con thấy lòng các con có bao giờ mà buồn khổ không? Có cảnh giới nào mà lôi các con được không? Phải không? 

Như vậy là còn cái cảnh địa ngục, còn ác thú, còn cái ngạ quỷ ở chỗ nào ở trong những cái vấn đề hiện tại này nữa. Cho nên, các con – ngay cả pháp đó là các con đã thành Chánh Giác rồi, thành bậc Chánh Giác rồi. Cho nên, ở đây người ta còn khiêm tốn, Phật còn khiêm tốn: “Sẽ thành Chánh Giác”

Cái tâm mà giải thoát như vậy là cái tâm ly dục ly ác pháp rồi. Mà ly dục, ác pháp rồi thì cái sự sử dụng để cho các con nhập Tứ Thiền để làm chủ sanh tử thì nó bao lâu? Chớp mắt mà thôi, đâu còn lâu nữa. 

Nhưng các con thấy cái pháp Thầy dạy, từ lâu chưa từng ai mà dạy các con niệm Phật kiểu này, mà hôm nay có Thầy dạy các con niệm Phật kiểu này, Thầy nói một năm mà các con niệm kiểu này đi rồi các con sẽ thấy các con sẽ thành ông Phật chớ đừng nói! 

Phải không? Các con sẽ tu đi. Đừng có tu cái gì khác hết. Mà hồi nào tới giờ các con niệm Phật bao lâu không? Nhất là cô An Tịnh này niệm Phật dữ lắm nè. Phải không? Con niệm Phật dữ lắm, mà bây giờ chưa có hết phiền não trong bụng. Còn người ta dạy niệm Phật thì mau hết liền. 

Tu sinh:… (Không nghe rõ)

Trưởng lão: Ờ, thì con thấy nè: Lấy Thân niệm Phật. 

Tu sinh:… (Không nghe rõ)

Trưởng lão: Thôi, bây giờ con sẽ nghe băng lại. Đó thì con sẽ niệm, lấy Thân niệm Phật nè, lấy Tâm niệm Phật nè, lấy Thọ niệm Phật nè, lấy các Pháp niệm Phật như Thầy giảng rồi đó, các con nghe rồi, rồi nó ở đâu nó có trạch pháp ở đó, để mà các con lấy đó mà các con nhắc tâm mình hằng ngày, để tới khi mà gặp đụng nó thì các con biết sử dụng liền, thì ngay lúc bấy giờ địa ngục không có ở dưới tâm các con nữa. 

Như vậy là niệm Phật theo cái kiểu Nam Mô A Di Đà Phật tới bây giờ thì chưa giải thoát, mà Thầy dạy như vậy, nếu một năm mà chuyên cần thì chắc các con niệm Phật mau giải thoát lắm á! 

Đúng không? Phải ráng đi chớ! Nghe hay thì phải làm chớ! Hay mà không làm thì ai làm cho? Bởi vì Phật nói phải tự thắp đuốc lên mà đi, chứ không thể nào mà người khác thắp đuốc cho mình được. Đó, như vậy là các con đã hiểu biết được rồi thì phải cố gắng thêm lên cho cái sự tu tập của các con có tiến bộ hơn. 

3- TRẢ LỜI GÓP Ý VỀ ĐÀO TẠO NGƯỜI DẠY ĐẠO ĐỨC NHÂN QUẢ

(22:01) Và đồng thời hôm nay thì có một người bên nam có gởi cho Thầy một bức thơ nhân dịp vì không có thời gian và Thầy cũng góp ý thêm với các con có những cái ý kiến, bởi vì ở đây qua cái sự giảng dạy của Thầy và qua cái tâm nguyện của Thầy thì mọi thầy cũng có góp những cái ý kiến. 

Sau các con sẽ nghe băng là có người thì góp ý kiến với Thầy là ngày tháng gần hết rồi, xin Thầy dạy cho biết Tứ Thiền và Tam Minh để chúng con nắm cho vững cái đó mà tu hành cho nó nhanh chóng, chớ còn cái thời gian nó không còn lâu nữa mà mỗi pháp thì cái thời gian dài quá, nhất là cái pháp hành thì nó lại còn nhiều nữa. Do như vậy thì Thầy sẽ trả lời ở trong đó.

Còn ở đây là một cái góp ý rất là to lớn ở trong cái bước đường vì lợi ích chúng sanh, vì cái sự giải thoát cho mọi người, vì cái hạnh phúc cho mọi người ở trên thế gian này, thì vị thầy này có góp ý kiến với Thầy như thế này: 

“Nam Mô Bổn Sư… (Mất tiếng)

Con được nghe Thầy giảng dạy, được biết nguyện vọng to lớn của Thầy cứu độ chúng sanh với ước vọng lập trung tâm an dưỡng, từ thiện xã hội. 

Khuya rồi, sau khi đi kinh hành, con dừng lại và nhớ đến những chương trình mà Thầy đã vạch ra. Con tự nghĩ nếu Thầy không làm thì ai làm được cho đất nước, cho xã hội mình? Con tư duy và bỗng có một ý kiến sáng lên trong tâm con, con xin trình bày cho Thầy nghe, nếu có gì sơ sót cúi xin Thầy miễn thứ cho.

Kính bạch Thầy! 

Với hoàn cảnh đất nước và xã hội hiện thời không có người đủ gương hạnh để dìu dắt quần chúng làm điều thiện, tránh điều ác, nên việc cần thiết là phải đào tạo một số người có khả năng hiểu biết giáo lý Phật pháp, đạo đức nhân quả, đầy đủ giới hạnh nghiêm túc. Sau khi được Thầy huấn luyện hai, ba năm, Thầy cho về địa phương, ở trong chùa hoặc cất cốc riêng, việc sống và tùy duyên, tùy hoàn cảnh để đi hoằng hóa Phật pháp theo chương trình Thầy dạy. 

1. Từ gương hạnh Thầy dạy, quý vị này sẽ làm gương hạnh tại địa phương, hòa đồng với dân chúng. 

2. Gương hạnh này sẽ thu hút được lòng tín ngưỡng của nhiều người, họ có thể hướng dẫn thêm nhiều người bước dần về đạo.

3. Còn một việc quan trọng mà con muốn nói đây là quý vị đó sẽ đến các viện dưỡng lão, cô nhi viện, bệnh viện, trại cùi, trường học, nhà thương, câu lạc bộ, cán bộ hưu trí để hòa nhập và phổ biến đường lối đạo đức nhân quả.

Như vậy, Thầy sẽ có vô số trung tâm an dưỡng, sẽ có một trung tâm an dưỡng to lớn của xứ Việt Nam và có thể lan truyền đến nhiều nước khác, mà Thầy không tốn kém tiền bạc xây dựng, nuôi dưỡng mà sự thành công sẽ to lớn và dễ dàng hơn. 

Nên con kính đề nghị xin Thầy tổ chức Tu viện với chương trình đào tạo hai loại tăng ni: tăng ni thể nhập và tăng ni thể hiện. Các vị tăng ni thể nhập chuyên tu để làm gương hạnh là trụ cốt của đạo Phật. Còn các vị tăng ni thể hiện sẽ phục vụ một thời gian, sau đó có thể trở về Tu viện để tiếp tục tu giải thoát. 

Chỉ cần một thời gian, tư tưởng đạo đức nhân quả sẽ lan rộng thấm nhuần lần lần trong dân chúng, người dân chỉ biết làm việc thiện, nước Việt Nam sẽ là cõi cực lạc. 

Kính bạch Thầy! 

Với ý nghĩ thô thiển của con, với tâm lành con có ý như vậy, nếu có gì sơ sót, kính xin Thầy miễn thứ cho. 

Kính bạch Thầy!”

Đó là cái lời gợi ý và góp ý với Thầy. Thầy thấy một cái điều này thì nó rất là hay, nhưng các con biết rằng làm một cái việc gì cũng phải có nhân sự. 

Cái nhân sự đó là phải đào tạo, nhưng mà cái giáo trình đạo đức nhân quả thì mặc dù từ lâu Thầy có dạy nhân quả nhưng cái giáo trình nó chưa được viết và đồng thời thì cái giáo án về Phật pháp từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, thì hiện bây giờ nó chưa có cái giáo án nữa, cho nên người ta chưa biết con đường của đạo Phật thế nào đúng mà thế nào sai. 

Đó, bây giờ cái giáo án mới ra đời nè. Rồi lần lượt cái giáo trình của đạo đức nhân quả thì Thầy mới lần lượt… Có một mình Thầy mà làm mọi mặt thì các con hiểu. 

Như trong băng Thầy đã nói, trong cái cuộc đời mà tu hành xong rồi, cách đây 17 năm, khi mà tu xong rồi thì Thầy trở về thăm Hòa thượng. Cái đầu tiên trước nhất là Thầy về thăm Hòa thượng, trình lại cho Hòa thượng biết rằng Thầy tu hành như thế đó. Kết quả làm chủ được cái sự sống chết như vậy và đồng thời thì Thầy xin Hòa thượng nhập Niết Bàn. 

(27:15) Nếu mà Hòa thượng đồng ý trong lúc đó đó thì Thầy sẽ xin Hòa thượng: 7 ngày đêm Thầy sẽ nhập định ở tại Tu viện Chơn Không và cái ngày mà xuất định ra, Thầy sẽ xin xả bỏ cái thân này trong một cái sự tu tập của mình để làm niềm tin chung cho tất cả chúng, cho tất cả Phật tử. 

Hầu như là những người này đang theo Hòa Thượng tu hành, người ta thấy rằng trên con đường tu tập có một bậc ngồi thiền suốt 7 ngày đêm bất động, đó là làm cái gương cho người ta thấy rất cụ thể. Bởi vì Thầy về tại Tu viện Chơn Không bây giờ thì tức là cái gương hạnh đó làm sao mà ai lại không đến xem, phải không? 

Cái thứ hai là cái ngày cuối cùng mà Thầy ra định, xuất định ra đó, thì cái ngày đó là cái ngày mà Thầy xả bỏ thân này, Thầy nhập diệt, bằng cách tự tại hẳn hòi đàng hoàng, muốn đi là hồi nào đi. Như vậy sau khi Thầy ra đi rồi thì Thầy để lại cho Hòa thượng cái tài liệu, cái kinh nghiệm tu hành đó, Hòa thượng sẽ nghiên cứu mà dạy chúng. 

Từ đó Thầy hoàn toàn là không có danh lợi, Thầy từ giã, Thầy ra đi rồi, nhưng mà Thầy để lại cái kinh nghiệm đó để cho Hòa thượng độ người ta, dạy người ta tu hành, để người ta cũng kết quả được làm chủ như Thầy. 

Đó là cái vai trò thứ nhất, trong cái lời thỉnh nguyện mà sắp sửa các con sẽ nghe, Thầy đã có nhắc lại trong cái lời thỉnh nguyện đó. 

Cái phần thứ nhất thì nó không đạt được kết quả, Hòa thượng yêu cầu Thầy ở lại để giúp Hòa thượng chấn hưng Thiền Tông chớ không cho Thầy nhập diệt, cho nên cái điều kiện thứ nhất là không thành rồi. 

Đến cái điều kiện thứ hai là sau khi mà Thầy được Hòa thượng giao cho một khu đất ở Phước Hải, Thầy nhận cái khu đất đó, rồi Thầy tổ chức ở khu đất đó. Lúc bấy giờ đó thì coi như là quý thầy ở Thường Chiếu đăng ký ra ở ngoài đó hết, làm cho Thường Chiếu náo động. 

Lúc bấy giờ thì coi như là, thấy cái sự náo động ở Thường Chiếu như vậy là nó đã tan vỡ cái vai trò thứ hai rồi. Lẽ ra quý thầy tuần tự, Thầy chọn người nào thì ra đó, đây các thầy đều ào ào xin đăng ký ra đó hết, bỏ Thường Chiếu hết, trống bóc à! Lúc bấy giờ nó rất là náo loạn, làm cho trong Thường Chiếu rất là khó khăn. 

Cho nên, Thầy cũng gặp cái khó khăn đó, cho nên cái chương trình mà… Vì vậy mà có cái lời thỉnh nguyện sám hối đó. Những cái điều kiện khó khăn đó là do quý thầy ham tu chứ không phải gì, muốn theo cái cách thức tu hành của Thầy để làm chủ sanh tử chớ không phải gì, cho nên xin ra đó hết. Đó là cái khó khăn thứ hai. 

Đến cái khó khăn thứ ba là sau khi mà ra thất ở đây 3 năm, nhập thất ở đây, Thầy mới soạn ra hai cái cuộn băng. Cái cuộn thứ nhất là “Phật Môn Bảo Huấn”, các con được nghe rồi chớ? 

Cái cuộn thứ hai là “Trở Về Với Đức Phật”, Thầy so sánh giữa hai cái loại thiền: Thiền Đông Độ và Bốn Thiền của Phật để cho Hòa thượng nghiệm xét cái đó, để cuối cùng Thầy chỉ cần Hòa thượng muốn hỏi Thầy: Tại sao mà so sánh hai cái thiền như vậy, giải thích cho Hòa thượng nghe? Thầy chỉ cần giải thích cho Hòa thượng như thế nào để cho thầy trò nắm cho vững cái cách thức kinh nghiệm tu tập này. 

(30:15) Đồng thời thì ngay tại Trúc Lâm đó thì Hòa thượng vẫn giảng dạy họ như thường, nhưng mà trong đó Thầy chọn những cái người mà đã quyết tu để mà tìm lấy cái sự giải thoát, đâu phải cái số đó là nhiều được? Năm, sáu người là hết sức rồi chớ gì? Do đó Thầy chọn năm, sáu người đó, Thầy xin Hòa Thượng cho họ ở trong cái khu vực riêng biệt.

Và Thầy về Trúc Lâm, Thầy ở một bên với các vị đó mà Thầy dẫn dắt các vị đó, đào tạo họ trong 5 năm hay 3 năm hoàn toàn họ tu xong, thì đó là những cái người nòng cốt của Tu viện Trúc Lâm. Từ đó thì coi như là Thầy xong cái nhiệm vụ giúp Hòa Thượng rồi. 

Thầy đã nói ở trong băng mà, Thầy chỉ làm cái viên gạch để cho Hòa thượng xây lại cái tòa nhà của Phật giáo mà. Thì đó là Thầy muốn mình làm cái viên gạch, không có để cho người ta biết tai tiếng mình là người như thế nào hết. 

Chớ không phải là Thầy dạy như bây giờ đâu, mà Thầy chỉ âm thầm ở đó để mà Thầy độ cho những người mà làm được, để từng đó người ta thấy con đường Thiền Tông của Hòa thượng có những người tu làm chủ được sanh tử. Rồi những người mà muốn được như vậy thì sống đúng giới hạnh của Phật qua cái sự hướng dẫn của Thầy. 

Còn những người nào mà chưa sống được, ăn ngày ba, bốn bữa thì cứ sống, Hòa thượng giảng kinh, thuyết giảng cho họ sống thường thường, để chọn lấy những cái người mà đi sâu vào và đồng thời thì những cái người đó họ còn làm những việc từ thiện hay hoặc này kia cho xã hội thì còn tốt thôi. 

Nhưng mà ba lần không đạt được, ba lần không đạt được. Cho nên, cuối cùng thì Thầy phải viết cái giáo án này ra để dựng lại những cái gì của Phật pháp, để làm sáng tỏ. 

Chớ nếu những người này mà được hướng dẫn mà tu xong rồi thì lần lượt người ta cũng đã biết rằng cái đường nào đúng, cái đường nào sai rồi, cho nên những cái gì lần lượt rồi họ sẽ bỏ đi, mà âm thầm, nó không có bị chống đối, phải không? Nó âm thầm ở trong đó, đâu có chống đối. 

Người ta thấy cái đúng là người ta cứ theo, người ta thấy người giữ gìn giới hạnh, ăn ngày một bữa, sống tu hành mà có kết quả, còn những người ăn ba, bốn bữa không kết quả, tự ngầm nó bỏ ra hết, các con hiểu điều đó, mà không có nghe nói bây giờ chống cái này là người ăn hai bữa người ăn ba bữa.

Như bây giờ là con thấy cái giáo án của Thầy Thầy đập sạch xuống hết, thì không phải là người ta điên cái đầu người ta sao? Người ta tự ái người ta chịu nổi không? Đâu có chịu nổi, phải không! Nhưng nếu dựng lại Phật pháp mà không chỉ cái sai của họ thì người ta cứ vẫn nói người ta đúng không à, còn mình vạch ra như vậy người ta mới thấy được cái sai cái đúng. 

Do đó bất đắc dĩ mà đến cái giai đoạn cuối cùng này, Thầy nói không phải là Thầy sợ ai mà Thầy trốn, mà Thầy ẩn bóng để làm một cái gương, để may ra đủ cái duyên mà người ta hướng đúng cái đường lối mà Thầy đã vạch ra họ đã nghe, cái việc đúng mà họ đã theo tu như vậy, thì cái con đường mà của Thiện Huệ, của Chân Huệ mà vạch ra mà trong giáo án Thầy đã dạy thì các con thấy rất rõ hai cái lộ trình. 

(33:02) Cái lộ trình thứ nhất là cái lộ trình của một cái người cư sĩ, tức là thể nhập, thì cái người này phải thực hiện cái đạo đức nhân quả chớ gì? Đem cái nhân quả này mà dạy cho từng mọi người trên thế gian này, trên cái hành tinh này, một cái hành động thiện thì người ta chấp nhận người ta làm mà hành động ác người ta không làm, người ta biết đó là ác. 

Nhưng bây giờ cái giáo trình nhân quả đã viết ra thì người ta sẽ học cái giáo trình này người ta biết cái hành động đó là hành động ác, hành động đó là hành động thiện. Người ta biết, mà hành động ác người ta không làm thì tức là người ta đem lại cái kết quả tốt cho họ, cái đời sống giải thoát cho họ, thì ai lại không ham cái giải thoát, ai lại muốn mang cái khổ đến cho mình? Các con hiểu điều đó. 

Cho nên, do đó cái người mà thể nhập ở trong con người thì đó là những người cư sĩ chớ không phải là người tu sĩ. 

Cho nên, cái lộ trình thứ nhất mà Thầy nói đó là cái lộ trình chiếc áo cư sĩ, hoàn toàn họ đem cái đạo đức giải thoát này họ dạy. 

Rồi trong các trường học được đem cái đạo đức này dạy cho các em mầm non của Tổ quốc, đều là trang bị cho nó một cái đạo đức nhân quả, vì vậy mà nó lớn lên không bao giờ mà nó có thể giết người được, không có thể nó làm một cái điều ác, không bao giờ nó có thể lấy trộm hay cướp giật của ai được hết, hoàn toàn nó thấy những cái điều đó là những cái điều không đúng, những điều xấu. 

Còn bây giờ mình không dạy nó cái đạo đức nhân quả, nó biết cái gì đâu là thiện, biết cái gì đâu là ác? Cho nên, từ những người này cho đến những người khác đều là phải học đạo đức nhân quả. Đó là cái bổn phận và trách nhiệm đầu tiên mà Thầy mới có cái ý định xây dựng cái trung tâm an dưỡng từ thiện để đem cái này. 

Nhưng mà bây giờ thì Thầy đã di chúc lại, Thầy ủy thác lại cái này cho những cháu còn trẻ tuổi, có đứa thì mới sanh, có đứa thì năm, sáu tuổi, có đứa thì mười tuổi, mười mấy tuổi, có đứa còn đang đi học.

Tất cả những người này đều là những người thông minh, những đứa con thông minh của Tổ quốc. Những đứa con có cái khả năng giỏi và có đủ cái duyên phước, cha mẹ có thể cho đi học ở các trường đại học ở ngoại quốc.

Để làm gì? Để sau này nó đem về, nó trở thành những cái đứa nhân tài của Tổ quốc, thì nó đem cái đạo đức đó mà nó truyền cho đất nước của chúng ta, nó truyền cho tất cả những người dân của chúng ta. 

Bởi vì, nó là những người – thí dụ như nó lãnh đạo đất nước thì tức là nó phải có những cái quyền hành của nó, nó mới ban hành ra: Bây giờ đem cái đạo đức nhân quả này… 

Mà Thầy đã mớm, đã dạy cho gia đình nó từ lúc bé cho đến bây giờ, nó đã được những cái đạo đức đó. Nó đã học được những cái đạo đức nhân quả đó, nó đã thấm nhuần, nó trở thành những đứa con rất là ngoan ở trong gia đình, những đứa học trò rất giỏi ở trong gia đình, cho nên nó toàn là những học trờ giỏi, giỏi cả nước chớ không phải là giỏi ở trong sơ sơ đâu. 

Nhưng mà phải nói rằng đó là những cái di chúc của Thầy, để những tuổi trẻ này sau này nó sẽ mang cái đạo đức này, nó trở thành những cái môn học cho tất cả những người dân ở trong đất nước của chúng ta, thì đó là cái hoài bão, cái ước vọng của Thầy. 

Nhưng ở đây thì Thiện Huệ thấy rằng chúng ta cần phải tiếp tục ở trên con đường này sớm chừng nào tốt chừng nấy cho nhân loại. 

(36:14) Như các con là phần bên nữ, các con cũng có thể là những nhân vật, những người mà có thể đem lại những cái đạo đức nhân quả cho mọi người, chớ không phải không. Nhưng mà các con thấy từ cái ngày mà các con về đây, các con chuyên tâm để mà tu thiền định để giải thoát chớ các con đâu có nghĩ rằng nhân quả. 

Cho nên, bây giờ mà nói về mở một cái lớp đào tạo hai năm, ba năm về đạo đức nhân quả, cái đạo đức nhân quả đó nếu mà muốn mở nó thì phải có cái giáo trình của nó, chớ còn nếu mở nó mà không có giáo trình thì làm sao? 

Cũng từ lâu tới giờ, các con thấy Thầy dạy nó có cái giáo án nào mà dạy về tu theo đạo Phật không? Chưa có đâu. 

Các con về các con tu hơi thở Thầy dạy hơi thở, các con tu cái gì thì nương theo cái đó mà dạy mà dẫn dắt các con chớ chưa có đặt ra một cái vấn đề gì hết. Mà Thầy chỉ có đặt kỷ luật ra là ăn, ngủ rồi độc cư, rồi bắt đầu đó thì nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng thôi, mà người nào không chấp nhận được thì chịu thôi, chớ chưa có cái giáo án nào hết. 

Bây giờ mới là viết ra cái giáo án. Viết ra cái giáo án thì vạch ra hai cái lộ trình để cho các con thấy rõ cái nào đúng, cái nào sai, có vậy thôi chớ chưa có dám nói gì hết. 

Mà nhiều khi Thầy giảng Thầy thấy những cái sai trên cái bước đường giảng, rồi kinh sách nó để lại những cái sai quá sai, bắt buộc Thầy đập những cái kinh sách đó đi thì nó đụng chạm với quý thầy, với các bậc tôn túc quá nhiều. 

Cho nên, hầu hết là cái số băng của chúng ta, sau khi chúng ta chia nó làm hai phần. Cái phần mà xây dựng Phật pháp thì chúng ta sẽ được cho người khác nghe, còn cái phần mà đập phá những cái sai của Phật pháp thì chúng ta chưa cho nghe. 

Tại sao vậy? Tại vì nghe thì bây giờ họ đang sống như vậy, họ chột bụng chột dạ họ quá đi. Bởi vì, họ đang sống cái kiểu đó thì ai lại chịu nổi được cái lời nói mà Thầy đập thiệt, Thầy đập tan nát đi, Thầy bảo họ hôi bò, hôi heo không à. Phải không? Họ tức quá đi. 

(38:06) Chớ phải chi nói vừa vừa thôi, đằng này Thầy nói quá nặng đi, cho nên không có thể nào mà chúng ta (cho) nghe cái đập phá. 

Nhưng mà sau khi cái xây dựng họ được nghe, họ chấp nhận đúng, chừng mà nghe cái đập phá thì họ không có chột bụng nữa. Còn bây giờ, đương không vầy mà nghe nói họ hôi này, hôi kia thì họ tức quá, chê họ thúi cái này, thúi cái kia thì họ giận quá rồi, họ không thể chịu đựng nổi. 

Cho nên, ở đây chúng ta phân biệt cái số băng của chúng ta ra thì nó có những cái số băng xây dựng. Như các con nghe Thầy dạy Pháp niệm Phật thì đó là xây dựng lại cái Pháp niệm Phật mà không nói cái niệm Phật của người khác sai, nhưng mà đem lại cái ích lợi của Pháp niệm Phật. 

Cũng như Thầy nói tu Tứ Vô Lượng Tâm, tu tập cái Tâm Từ mà bằng cái sức tỉnh thức của các con, thì các con thấy cái đó nó là thực tế, cho nên nó mang lại cái kết quả của sự tu tập. 

Vì vậy, các con thấy những cái mà Thầy dạy, cái đó gọi là xây dựng lại, dựng lại những cái Phật pháp mà họ đã quên cái pháp hành đi. Họ không hiểu cách thức tu tập, cho nên nó không có đem đến cái sự giải thoát cho họ, vì vậy mà bây giờ họ thấy dạy như vậy hay quá rồi, niệm Phật kiểu này là giải thoát ngon quá rồi, họ thấy xây dựng ngon quá rồi. 

Nhưng mà tới chừng mình cho nghe những cuộn băng đập xuống thì rõ ràng là tại họ sống tầm bậy, không đúng giới luật, cho nên họ hôi gà, hôi bò, hôi heo đồ tùm lum thì họ không buồn nữa. 

Đúng là ổng dạy hay quá mà, bây giờ ổng nói mình vậy là đúng! Bây giờ hồi nào tới giờ mình đâu có tưởng mình hôi, ai dè ổng nói bây giờ mình mới nhìn lại, thiệt là cái mình mình hôi heo thiệt! Tại vì mình ăn thịt heo phải hôi chớ sao? 

Đó, thì bắt đầu mấy ổng mới nhận ra được. Chớ còn bây giờ đùng một cái mình vừa xây dựng mà vừa đập phá thì không được đâu, nó khó lắm. 

Cho nên, sau những cái cuộn băng, cái lời giảng của Thầy thì tức là Thầy kiểm tra lại hết, Thầy mới soạn lại hết, thì như vậy là sau này. Đó là những cái chương trình, sau những cái ngày mà ra hạ rồi thì các con về thăm nhà, hoặc là người nào mà về tạo chỗ tu hành thì cứ về, còn riêng Thầy thì Thầy cũng đi tìm cái nơi nào mà yên ổn nhất để rồi Thầy mới ngồi lại Thầy soạn tiếp tục cái chương trình giáo án này. 

Và đồng thời thì Thầy cũng sẽ nhuận lại cái số băng này cho đàng hoàng rồi Thầy cũng gởi về cho cô Út. Đồng thời Thầy soạn luôn cái giáo án, cái giáo trình của đạo đức nhân quả để giúp. 

Bây giờ con chuẩn bị con về. Ừ!

4- HIỂU ĐƯỜNG ĐI CỦA NHÂN QUẢ THỰC TẾ, KHÔNG MƠ HỒ

(40:30) Trưởng lão: Đó là những cái điều mà Thầy bàn với các con. Cho nên, trong cái vấn đề sau này mà có đủ cái duyên, khi mà cái giáo trình đạo đức nhân quả ra đời thì có lẽ là có những cái lớp của các thầy sau này như Chơn Huệ hoặc là như Minh Tông bắt đầu sẽ dạy đạo Phật. 

Không phải vô ngay dạy thiền đâu, không phải dạy các con tu thiền đâu mà bắt đầu dạy đạo đức nhân quả, tức là cái lộ trình thứ nhất của người cư sĩ để chuẩn bị cho họ. Họ phải học nhân quả. 

Bây giờ nói về nhân quả các con có biết nhân quả là như thế nào đâu, chỉ nói nhân quả: Thiện thì nó đem đến cái phước, mà ác thì nó như vậy. Cái nhân quả không có đơn giản đâu. Chẳng hạn là như các con làm một cái hành động thiện đó mà hành động thiện đó nó sẽ đem đến cái quả gì, các con sẽ không hiểu. 

Bây giờ người ta nhức cái đầu nè, các con đem cái viên thuốc cảm cho họ uống nè, cái cơn nhức đầu của họ giảm đi, giảm bớt nhức đầu đi, thì cái quả sau này khi mà giúp cái viên thuốc đó nó đem đến cái quả gì cho con. Chớ không phải là con đem cái viên thuốc cho người ta uống nhức đầu, rồi sau này con có lúa gạo, có cơm ăn đâu, không phải cái điều đó, trật. 

Hay hoặc là con đem viên thuốc cảm cho người ta uống cho giảm bớt cái nhức đầu đó, nó đem lại cái quả cho con là sau này con lại có nhà cao cửa rộng hay làm quan, làm Vua, không phải đâu. Cái hành động thiện đó nó sẽ đem cái quả thiện của nó trực tiếp vào cái chỗ đó, chớ không phải cái khác được. 

Cho nên, đường đi nhân quả mà thông suốt thì chúng ta mới biết được cái hành động. Thí dụ như bây giờ, mình đem một bát cơm cho người khác thì ngày mai mình không có thiếu cơm ăn. 

Mình đem một cái áo hay hoặc là vải mình cho một người khác, thì ngày mai hay hoặc là một lát nữa mình không có áo thì sẽ có người ban áo cho mình, hay hoặc là cái phước đến, mình làm ra cái áo mặc của mình rất nhiều, không có thiếu. 

(42:25) Đó, mình làm cái gì thì có cái nấy. Cũng như bây giờ mình đem cho họ viên thuốc, thì thay vì hôm nay mình bị nhức đầu, nhưng mà mình không có điên gì mà mình đi tắm trong lúc đổ mồ hôi cho nên mình không nhức đầu, mình khỏi uống thuốc, vì người ta uống thuốc cho mình rồi. Các con hiểu không? 

Thay vì mọi lần thì như thế này: Mình đang đổ mồ hôi như thế này cái mình chạy ra bồn tắm mình tắm liền, vô cái mình bị cảm liền. Nhưng đằng này, khi mà cho người ta viên thuốc rồi thì bữa nay nó có cái chuyện gì đó, cho nên trong lúc đổ mồ hôi thì mình lại ngồi nói chuyện với người ta mà quên đi cái chuyện tắm của mình đi, do đó nó qua cái cơn mà có thể mình bị cảm nó làm cho mình nhức đầu. 

Chớ không phải là cho người ta viên thuốc rồi nó đem đến cái quả khác cho mình được, mà nó đem đến cho cái quả của mình là những cái cơn đau nhức đầu đó. Nó nhân nào thì quả nấy chớ. 

Cho nên, mình phải hiểu biết như vậy, thành ra cái hành động của mình làm cái gì đó mình biết được cái quả nó. Mình biết được cái quả nó cho nên mình sáng suốt từng cái chỗ đó, vì vậy mà cái đường nhân quả mình không lầm. 

Mà mình không lầm thì tức là mình đâu có bị nhân quả chi phối mình được, cho nên mình giải thoát chớ gì? Vì vậy mà hằng ngày mình đem lại cái phước do chính hành động của cái hiểu biết của mình trong cái nhân quả.

Nhưng mà ai là người viết nhân quả để nói được cái hành động nhân đó quả đó mà cho nó đúng thì người đó phải thông chớ còn không thông làm sao viết được. 

Cũng như trong kinh nhân quả mà mấy người Trung Hoa họ viết, bảo rằng đem tiền bạc để cho người ta sơn son thiếp Phật hay hoặc là đúc tượng Phật, hay hoặc cất chùa thì sẽ được làm quan, làm này kia, bà con xúm với nhau muốn làm quan mới đem tiền bạc cất chùa.

Cất riết rồi không thấy làm quan làm Vua gì hết mà gần như là đem tiền bạc của mình đem riết rồi lo làm ăn một cách gian xảo ở trong đó, thì cuối cùng tưởng là cất chùa to đó là mình sau này được làm quan, không ngờ lại quan bắt mình bỏ tù! Cái nhân đó là cái nhân nó ngược ngạo như vậy. Thành ra cái người viết nhân quả đó nó không đúng. 

Mà thậm chí người ta nghe thấy nhân quả là người ta lại nói phải đi xuống địa ngục, cho nên có cái cuốn Hồi Dương Nhân Quả mà cái con thấy đó. Các con đọc cuốn Hồi Dương Nhân Quả đi xuống địa ngục ở dưới, thì như vậy là viết nhân quả kiểu đó là viết trong cái mê tín mất rồi. 

Một nhà nho bị bắt lộn, bị diêm vương lôi linh hồn lộn rồi đem xuống dưới đi dạo dạo chơi đồ, ít bữa cho về, cái kiểu đó thiệt là nói dóc không à!

Cho nên, ở đây Thầy nói để cho các con thấy rằng trong cái sự tu tập của mình, cái nhân quả nó là cái thực. Bởi vì chúng ta sống từ trong nhân quả, sanh ra từ nhân quả mà chết đi ở trong nhân quả, cho nên nó là cái thực không thể nào là cái mơ hồ được. 

Vì vậy mà cái người viết ra bộ sách nhân quả… Con có đọc cái cuốn nhân quả của thầy Thông Huyễn viết chớ? Nhưng mà nó còn ở trong cái tưởng quá nhiều, phải không? Nghe thì nó cũng hay hay, nhưng mà sự thật ra nó đâu có phải vạch cái đường đi nhân quả như vậy. 

Thầy có nói với thầy Thông Huyễn không phải viết cái luận về nhân quả như vậy được mà phải viết sửa lại. Ở đây, mình viết trong cái tưởng chứ chưa phải là viết thực của nhân quả. 

(45:22) Thực nhân quả: Xắt trái ớt, cho người ta trái ớt thì mai mốt mình cũng ăn lại trái ớt chớ không thể nào ăn trái chanh được, hay hoặc là ăn trái cam được đâu, phải không? Trái ớt cay thì mình cũng phải cay thôi, mà trái cam ngọt thì mình cũng phải ngọt thôi. Nó không thể nào mà khác được, cho nên gọi là nhân quả. 

Hiểu như vậy thì chúng ta mới thấy cái người viết nhân quả không phải là cái người không hiểu mà viết được, muốn viết nhân quả hồi nào là viết được. 

Bởi vì nhân quả nó ba cái thời gian lận. Hiện giờ thấy cái người đó ở trong cái quả của họ đang sống như thế nào thì người ta biết quá khứ họ đã làm cái việc ác hay việc lành. Rồi thấy trong hiện tại bây giờ họ đang sống đó, người ta biết tương lai cái người đó họ sẽ ở trong cái cảnh giới nào, người ta biết được, do người ta nhìn cái hiện tại. 

Nhưng như vậy nó chưa đủ, mà nó còn phải thông suốt cái đường đi lối về của nhân quả nó mới trọn vẹn được. 

Trong kinh nhân quả của Phật dạy thì nó đứng ở trong cái hiện tại mà nó suy ra cái quá khứ và nó đứng ở trong hiện tại mà nó suy ra cái vị lai. 

Còn chúng ta ở đây thì chúng ta không phải như vậy, mà chúng ta bằng cái đôi mắt thực tế của nhân quả, đường đi lối về của nhân quả. Cái vị này làm cái chuyện đó thì phải đem đến cái quả đó, mà vị kia làm cái chuyện đó phải đến cái quả đó. Cái nhân đó thì cái quả đó, dạy cho người ta thấy. 

Bây giờ anh làm cái chuyện này thì anh sẽ được cái này, anh làm cái chuyện kia anh sẽ được cái kia, anh làm cái chuyện nọ sẽ được cái nọ, mà anh làm cái quả ác này thì anh sẽ thọ lấy cái ác này, nó không sai chút nào thì người ta mới tin nhân quả. Mình nói trật người ta không tin. 

Chẳng hạn bây giờ người ta làm chuyện đó mà nó được cái quả khác thì người ta đâu tin? Người ta làm cái điều ác đó mà nó lại xảy ra cái điều ác khác thì người ta đọc kinh nhân quả người ta thấy đâu tin được! Cho nên, nhân quả phải nói cho đúng chớ nói sai là rất khó, không phải dễ. 

Cho nên, nói đâu nó phải có kết quả đúng y như vậy thì cái nhân quả đó nó mới là cái bài học xác thực. Khó lắm chớ không phải chuyện dễ đâu. Các con đừng tưởng mà viết nhân quả… Thầy có thể viết cái giáo án này của đạo Phật thì dễ đó, mà viết nhân quả không phải dễ đâu. 

Nó cần phải còn cái trí tuệ suy xét có đúng hay là không mới dám kê cái bút lên mà viết cái điều đó, chớ không phải viết bừa được. Nói làm sao mà cho nó thực tế và cụ thể để người ta tin cái nhân quả chớ còn mình nói bừa thì cái đạo đức nhân quả này ai tin, chỉ gạt người ta thôi, chớ đâu có phải dễ đâu.

Cho nên, trên vấn đề làm cái việc viết giáo trình nhân quả không phải là cái chuyện của người tầm thường làm được, mà cũng không phải cái chuyện của cái người mà không có cái khả năng đó mà làm được đâu. 

Phải hết sức thận trọng và viết phải hết sức – mỗi một cái nhân quả mà nói ra, hết sức thận trọng chớ không phải muốn nói bậy nói bạ được đâu. Khó lắm chớ không phải dễ đâu. 

Làm cho cái nhân quả sống ở trong cái đời sống của người ta được mà người ta hành được cái nhân quả để đem lại cái sự lợi ích là một cái nhiệm vụ và trọng trách rất lớn. Mình phải nói sao cho thực chớ đừng có nói láo ở trong đó thì không được, chớ không phải thường đâu. 

Các con đừng tưởng nghe nói viết nhân quả đâu phải chuyện dễ đâu. Như Thông Huyễn viết kiểu đó là thời gian sau cuốn đó người ta chỉ đọc hồi đó thôi chớ ít hôm, năm năm hay là mười năm sau người ta để nó ở trên giàn bếp chớ người ta chưa thèm đọc nữa. Bởi vì nó tưởng thôi, nó đâu có đúng sự thật đâu. 

Đến đây bây giờ các con tiếp tục nghe băng. 

5- HƯỚNG TÂM PHÁ ÂM THANH

(48:30) Trước khi tiếp tục cái bài học của giáo án lấy Pháp mà niệm Phật – chúng ta đã học lấy Thân niệm Phật, lấy Thọ niệm Phật, rồi lấy Tâm niệm Phật, rồi bây giờ lấy Pháp niệm Phật, nhưng trước khi học lấy Pháp niệm Phật thì Thầy trả lời cho thầy Thiện Thuận có hỏi Thầy trong cái vấn đề tu tập. 

Và Thầy thấy cái vấn đề này là cũng rất quan trọng cho nên Thầy cũng thu vào cái băng, để coi như là rút tỉa từng những cái kinh nghiệm để chúng ta tu đừng có sai lệch.

Đây là thầy Thiện Thuận hỏi Thầy:

“Bạch Thầy!

Cho con xin hỏi thêm về cách phá âm thanh. Nếu ám thị bằng câu trạch pháp như trên thì con phải ám thị ra lệnh lúc ngồi thiền khi còn ở hơi thở 5 giây hay 10 giây hoặc 20 giây, hay là ám thị cùng một lúc với ra lệnh cho các hành ngưng và hơi thở ngưng? Xin Thầy chỉ thêm!”

Đó là một cái điều  rất là quan trọng mà hầu hết là cái số người dùng cái pháp hướng khi mà nó chưa đúng cách, ở trên chỗ đó mà hướng tâm bảo nó ngưng hơi thở hoặc là bảo nó phá âm thanh thế này thế khác mà chưa đúng cái trạng thái. 

Khi mà chúng ta ở trong một cái mức định nào đó thì chúng ta mới phá được cái âm thanh, hoặc là phá cái thọ. Còn chưa ở trong cái định mà chúng ta vội hướng tâm ám thị phá âm thanh, thì coi như là một cái người bình thường như vầy mà bảo âm thanh đừng có nghe thì chắc chắn là muôn đời nó vẫn nghe chớ không bao giờ nó hết nghe được.

Cho nên, ở đây thầy Thiện Thuận hỏi: “Khi mà ngồi thiền thì còn ở trong hơi thở 5 giây hay hoặc là 10 giây hoặc là 20 giây” – nghĩa là thí dụ như cái hơi thở bình thường là 5 giây, rồi bây giờ thở chậm ở trong 10 giây hay hoặc là đến 20 giây rồi mới ám thị, hay là cùng một lúc mình ám thị – nghĩa là mới vào mình tréo chân lên rồi mình ám thị nó, nhắc nó đừng nghe âm thanh hoặc là các hành phải ngưng đồng thời một lượt. 

Như vậy thì ở đây Thầy sẽ trả lời.

“Và khi xả ra bằng những câu nào?”

Lúc xả ra thì phải ám thị như thế nào? Đó là những cái điều rất là quan trọng và kế thì thầy Thiện Thuận có báo cáo trạng thái đang tu của mình:

“Bạch Thầy!

Con dùng câu pháp hướng phá âm thanh của Thầy chỉ kết quả qua những lần đau rát chân nay đã không còn đau nữa mà âm thanh vẫn còn nghe, không giảm tí nào. Hiện giờ ngồi thiền thì chân nó cứ bung ra hoài, vừa kéo chân lên xong con mới ám thị chưa được nửa câu thì chân đã bung ra rồi. Xin Thầy chỉ thêm cho biết!”

(51:34) Đó là những cái điều kiện mà rất là quan trọng khi mà chúng ta biết dùng cái pháp hướng. Nếu mà không biết dùng cái pháp hướng thì chúng ta không có làm sao mà nó có cái hiệu quả của cái pháp hướng được, nó phải đúng cái trạng thái nào.

Muốn dùng pháp hướng phá âm thanh, khi nào xét thấy sáu thức bám chặt và nằm yên trên tụ điểm.

Đó, bây giờ đó là ngay Thầy nói bây giờ muốn phá cái âm thanh bên ngoài cho đừng có nghe đó, thì lúc bấy giờ chúng ta phải nhận xét sáu cái thức. 

Trước tiên chúng ta mà kéo chân lên ngồi thì chắc chắn chúng ta phải điều cái thân rồi, điều cái thân cho nó vững vàng rồi, coi ở đâu cho nó vững, ngồi rất là vững vàng, rồi tới điều cái tâm. 

Thì điều cái tâm tức là điều sáu cái thức cho nó nằm yên trên một cái điểm. Lúc bấy giờ sáu cái thức nó đã bám chặt, nó nằm yên trên một tụ điểm thì nó có một trạng thái yên lặng trong thân và ngoài thân.

Quý thầy lưu ý cái phần này rất là quan trọng. Nếu mà khi nó chưa có sự yên lặng mà vội hướng, hay mới kéo chân lên mà vội hướng thì nó không có kết quả đâu. 

Mà cái hơi thở chúng ta thở mới còn 5 giây thì tức là chúng ta còn ở trong cái dạng của hơi thở bình thường. Bây giờ chúng ta ở trong cái định nào? 

Khi bắt đầu mà chúng ta đã ly dục, ly ác pháp được thì chúng ta biết rằng chúng ta có một cái tâm thanh thản và cái tâm thanh thản đó chính là cái tâm ly dục ly ác pháp. Luôn luôn chúng ta có Tầm Tứ, nhưng Tầm Tứ đó nó đều là thiện pháp chớ không phải ác pháp nữa, luôn luôn… Bởi vì chúng ta ly dục, ly ác pháp rồi thì nó đâu còn là ác nữa, cho nên hoàn toàn cái Tầm Tứ đó đều là thiện. 

Nhưng chúng ta phải tiến tới một cái giai đoạn nữa là thay vì cái hơi thở chúng ta 3 giây hay hoặc 5 giây trong cái bình thường của một cái trạng thái thanh thản của Sơ Thiền đó – mà chúng ta biết rằng chúng ta đã ly dục, ly ác pháp rồi, thì biết cái tâm thanh thản đó là cái tâm đang ở trong cái trạng thái của Sơ Thiền.

Nhưng không có nghĩa là chúng ta đang ở trong cái trạng thái Sơ Thiền này mà phá âm thanh được, cho nên, ở cái trạng thái như là cái hơi thở 3 giây hay 5 giây này mà chúng ta thở thì chúng ta hướng tâm, bảo âm thanh không nghe, bảo cái nhĩ thức đừng có nghe âm thanh nữa thì chắc chắn là không thể kết quả đâu.

Do đó, chúng ta phải thở chậm và nhẹ để chúng ta diệt cái Tầm, còn cái Tứ. Diệt cái Tầm, còn cái Tứ đó là một cái định chớ không phải… 

Bởi vì cái Sơ Thiền Tầm Tứ nó có, nhưng bây giờ, chúng ta muốn diệt cái Tầm mà chúng ta còn cái Tứ, như Minh Tông đã nói đó: Diệt cái Tầm còn cái Tứ là luôn luôn lúc nào mình phải có cái pháp hướng mình nhắc cái tâm của mình, chớ không phải là hướng phá âm thanh, mà hướng để cho cái Tứ của mình tác ý ra mà cái Tầm hoàn toàn nó không còn có nữa.

(54:27) Còn bây giờ mình Tầm Tứ đã diệt hết rồi, nếu mà cái không ,không Tứ – diệt hết rồi không còn gì nữa, mà cái hơi thở đó nó khoảng 5 giây hay hoặc là 10 giây, hay hoặc là 20 giây, mà đến khi đó thì chúng ta thấy không còn nhận ra cái hơi thở vì hơi thở quá nhẹ. Cái thời gian của hơi thở thì nó khoảng là 10 giây, hay là 20 giây hay hoặc là 5 giây, nhưng hơi thở chúng ta lúc bấy giờ chúng ta không thấy hơi thở, tức là không còn cái niệm hơi thở nữa. 

Do đó thì chúng ta biết rằng Tầm Tứ đã diệt, tức là chúng ta đã nhập Nhị Thiền. Nhưng chúng ta đâu có ở trong cái trạng thái của Nhị Thiền, vì vậy mà chúng ta giữ cái hơi thở, chúng ta còn biết hơi thở ra và hơi thở vô, do đó chúng ta nằm ở trên hơi thở ra vô đó. 

Chúng ta biết rằng có cái niệm thì không phải là Nhị Thiền, nhưng có cái niệm là để chúng ta nằm ở trên cái lộ trình đó, mà chúng ta ở cái trạng thái đó để chúng ta phá các cái loại tưởng.

Vì ở cái trạng thái của Nhị Thiền thì bước sang qua cái Tam Thiền là nó có những cái trạng thái tưởng nó xảy ra như hào quang, ánh sáng hoặc là thân bay bổng, hoặc là cái thân cảm giác khinh an, hỷ lạc, hoặc là những trạng thái này trạng thái kia nó xảy đến trong cái thân và tâm của chúng ta lúc bấy giờ.

Bởi vì Tầm Tứ diệt đương nhiên chúng ta xem như là một cái người đang ngủ, chúng ta xem như cái thân của chúng ta đang ngủ, vì thế mà cái giấc chiêm bao nó sẽ thực hiện. 

Nhưng mà ở đây cái giấc chiêm bao nó không phải là cái người nằm ngủ mà mộng chiêm bao, mà ở đây do chúng ta tu tập mà chúng ta diệt Tầm Tứ, cho nên ý thức của chúng ta nó phải ngưng. Nó ngưng vì vậy mà nó không có Tầm, có Tứ, mà không có Tầm Tứ thì cái tưởng thức nó phải thể hiện.

Cho nên, vì vậy mà cái đoạn đường này chúng ta phải bám cái hơi thở, chứ mất hơi thở thì những cái trạng thái của tưởng nó sẽ xuất hiện thì nó giống như là một cái người đang mộng, đang chiêm bao.

Biết rõ như vậy thì chúng ta muốn phá âm thanh thì nó phải ở chỗ nào? Hiện bây giờ, chúng ta chưa phải phá được âm thanh mà chúng ta đang phá các loại tưởng. 

Chúng ta biết rằng chúng ta phải phá các loại tưởng, vì vậy mà nằm ở trên cái hơi thở mà diệt Tầm Tứ này, không có Tầm Tứ này thì nó có một cái trạng thái yên lặng, chớ nó chưa phải là vắng lặng. 

Do nằm ở trên cái trạng thái yên lặng này thì sáu cái thức của chúng ta phải bám chặt trên cái tụ điểm, không được cho nó di chuyển chỗ này đến chỗ khác. Nó phải nằm yên lặng ở đó, nó phải thấy cái hơi thở từ cái chỗ tụ điểm đó xuất phát cái hơi thở ra và cũng từ cái tụ điểm xuất phát hơi thở vô. 

Chớ không phải thấy hơi thở hoài đi vô mũi, rồi cũng từ ở trong mũi này thấy cái hơi thở đi ra và cái biết chúng ta bám tại nhân trung đây, biết hơi thở đi ra đi vô như vậy, không phải. Cái đó là cái sai của quý thầy.

Cái mà quý thầy phải nhận ra từ cái tụ điểm đó đó, nó phải thấy cái hơi thở nó xuất phát, nếu hít vô thì thấy cái hơi thở từ chỗ cái nhân trung đó nó có hơi thở xuất phát nó đi vô trong cái lỗ mũi của quý thầy, nó đi vô ở trong cơ thể của quý thầy.

(57:22) Cũng từ khi quý thầy thở ra, nó không phải ở trong phổi của quý thầy thở ra, mà quý thầy phải thấy từ cái tụ điểm đó nó đang có hơi thở thở ra, chớ không phải là từ ở trong mà thở ra. Vì vậy mà, sáu cái thức của quý thầy mới bám chặt ở trên cái tụ điểm đó, nó mới nằm yên lặng ở trên đó được. 

Vì vậy mà nó sẽ không xảy ra cho quý thầy một cái trạng thái hỷ lạc, khinh an, hoặc cảm giác nặng của thân ở chỗ này hay chỗ khác hoặc là nhức đầu, hay hoặc là nặng đầu, hay hoặc là nó có nhiều cái mà có thể xảy đến cho quý thầy. 

Hễ càng đi xa hơn thì nó có những thần thông đặc biệt của nó hơn, nó càng đi sâu hơn trong cái kéo dài cái thời gian dài ra.

Ở trong cái trạng thái này thì quý thầy luôn luôn lúc nào cũng cảnh giác hướng tâm ám thị phá các tưởng chớ không phải phá âm thanh. Chừng nào mà quý thầy thấy cái sức tỉnh của mình, ngủ mà không còn chiêm bao nữa thì bây giờ quý thầy phá âm thanh mới là có kết quả.

Là khi nào mà chúng ta muốn qua được, muốn nhập được Tam Thiền thì phải ly hỷ toàn bộ, không còn cái trạng thái xảy ra cho cái tâm ta vui mừng nữa, thì lúc bấy giờ chúng ta mới ở trên chỗ cái trạng thái yên lặng của cái hơi thở của Tam Thiền này mới phá âm thanh và phá thọ.

Cho nên, Phật gọi là xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh là cái chỗ này là cái chỗ buông hết, buông sạch hết tất cả những âm thanh, sắc tướng, tất cả những cái thọ, cái đau đớn, tất cả mọi cái đều là buông xuống hết. 

Nhưng buông xuống thì chúng ta phải nương như thế nào? Phải ở trên cái hơi thở của Tam Thiền chớ không phải ở trên hơi thở của Nhị Thiền. 

Ở trên cái hơi thở của Tam Thiền thì cái đầu tiên là quý thầy nhận ra được mình có ly được các hỉ chưa. Mà ly được các hỉ thì chiêm bao của quý thầy đã hết rồi, cho nên quý thầy nằm ngủ suốt đêm mà thân thì ngủ ngáy, mà tâm thì biết hơi thở ra vô, không có mê.

Còn nếu mà quý thầy còn chút chiêm bao thì hãy cố gắng mà tu tập cái tỉnh thức ở trong giấc ngủ, để cho cái tâm nó tỉnh, nó không mê thì nó mới không chiêm bao. Mà nó không chiêm bao thì các thầy mới ly các cái trạng thái hỉ. 

Mà ly các trạng thái hỉ được thì đương nhiên cái hơi thở của quý thầy đang dùng thì tức là nó sẽ ở trong Tam Thiền. Chỉ cần mất hơi thở là quý thầy đã nhập Tam Thiền, mà còn hơi thở tức là còn cái niệm thì đó là còn cái đường đi để chúng ta tiến tới Tứ Thiền, quý thầy hiểu như vậy.

Do như vậy là chúng ta phải giữ cái tâm của mình ở chỗ cái trạng thái của hơi thở và cái trạng thái yên lặng, cái nơi của Tam Thiền đó thì mới hướng tâm phá âm thanh, thì lúc bấy giờ cái pháp hướng của quý thầy nó có hiệu quả, nó làm cho quý thầy không còn nghe âm thanh bên ngoài nữa.

Chớ còn cái hơi thở của quý thầy đang ở Nhị Thiền, mới diệt Tầm Tứ, mà chiêm bao của quý thầy còn mà quý thầy vội phá âm thanh thì phá chưa được đâu. Bởi vì, những cái trạng thái tưởng mà quý thầy chưa có ly thì làm sao mà quý thầy đi tới nữa được? Đâu có tiến tới nữa được. Cho nên, rất là khó.

(01:00:41) Cho nên, xét cuối cùng, do cái chỗ mà quý thầy biết được cái cấp độ yên lặng của nó, cái yên lặng của Nhị Thiền nó không giống như cái yên lặng cái trạng thái của Tam Thiền.

Do phân biệt được cái chỗ này, khi sáu cái thức mà nằm yên ở trên cái trạng thái của Nhị Thiền, mà bám chặt cái tụ điểm của Nhị Thiền, thì lúc bấy giờ chúng ta sẽ hướng tâm ám thị để mà phá cái gì? Tức là chúng ta phá cái hỉ.

Vì vậy mà tiếp tục ở trên cái bước đường tu tập này, thì trong khi sắp sửa ngủ thì quý thầy phải tập tỉnh thức ở trong giấc ngủ: Đặt cái niệm hơi thở trước mặt của mình, rồi biết hơi thở ra, biết hơi thở vô, để giữ tâm mình cho đến 5 phút, 10 phút rồi mới bắt đầu cho nó ngủ. 

Sau đó chúng ta tăng dần tăng dần cho đến khi chúng ta nằm ngủ hoàn toàn nó tỉnh thức, cái tâm thì tỉnh thức mà cái thân thì nó ngủ, thì lúc bấy giờ chúng ta đã biết chúng ta đã vượt qua được, ly được các cái trạng thái hỉ rồi, cho nên bây giờ ngủ mà nó không có mê, nó vẫn biết được cái hơi thở. Do đó gọi là đặt niệm hơi thở, tỉnh thức ở trong giấc ngủ. 

Vì vậy mà chúng ta không có mệt nhọc, không có mất ngủ mà chúng ta rất là tỉnh táo và cái sức tỉnh rất là cao và vì vậy mà khi đến ở cái mức độ yên lặng của Tam Thiền thì cái sức tỉnh nó phải hơn cái sức tỉnh thức ở cái Nhị Thiền.

Quý thầy hiểu cái điều đó. Do đó khi mà muốn phá âm thanh thì quý thầy phải đến cái trạng thái của Tam Thiền, tức là cái sự yên lặng của Tam Thiền rồi mới hướng tâm phá âm thanh để chúng ta phá sạch, xả lạc, xả khổ và xả niệm thanh tịnh đó, thì lúc bấy giờ đó cái tâm của chúng ta nó vắng lặng.

Khi mà xả hết rồi không còn nghe âm thanh, không còn cái thọ mà tác động ở trong thân của chúng ta, không còn một cái cảm giác nào, nó chỉ còn một cái trạng thái của không gian và thời gian lúc bấy giờ, nó rất là vắng lặng.

Quý thầy nhớ kỹ, nó vắng lặng tức là cái trạng thái của định Tứ Thiền. Thầy muốn nói dùng cái danh từ như vậy, nhưng khi mà quý thầy đã nhập đến đó thì quý thầy sẽ biết được cái trạng thái vắng lặng.

Cũng như Minh Tông nó nói rằng con đã nhận ra được cái trạng thái của Tứ Thiền, tức là trong khi đó nó có nhận ra cái trạng thái vắng lặng, lúc bấy giờ không nghe âm thanh nào mà tác động vào.

Nhưng nó không lâu, nó còn bung ra, cho nên giữ để mà an trú, thiện xảo mà an trú, kéo dài cái trạng thái vắng lặng đó thì nó không được, nó không được kéo dài lâu. Cho nên, thấy được cái bóng dáng của Tứ Thiền nhưng chưa ở được trong đó.

(01:03:24) Vì vậy mà chúng ta biết được như vậy, chúng ta thấy được bóng dáng vắng lặng đó nhưng vì chúng ta chưa phá, chưa có trọn vẹn mà chúng ta nhập Tam Thiền. 

Giấc mộng chúng ta còn, chiêm bao chúng ta còn, hỉ chúng ta chưa ly hết, cho nên do đó chúng ta chỉ thấy được cái bóng dáng của Tứ Thiền chớ chúng ta chưa có nhập được vào nó nữa. Thấy nó được một chút thôi, đó là chúng ta mới thấy cái trạng thái vắng lặng.

Thầy nói khi mà nhập vào Tứ Thiền thì nó vắng lặng, cả không gian vũ trụ này nó không còn có một tiếng động nào hết và cả cái thọ chúng ta nó không còn có cái ngứa ngáy hoặc là mỏi mệt, hoặc là nhức chỗ này đau chỗ kia nữa. Nó không tác động được chúng ta chỗ nào hết. Như vậy mới gọi là cái trạng thái của Tứ Thiền.

Nhưng muốn biết được cái chỗ mà chúng ta dùng pháp hướng có hiệu quả hay không là phải đúng cái trạng thái yên lặng của cái mức độ nào mà dùng pháp hướng phá âm thanh, mà dùng pháp hướng phá thọ, phá các loại tưởng.

Đó, thì bây giờ một cái người mà chưa có diệt Tầm được, mà cũng hướng phá âm thanh thì Thầy thấy, Tầm chưa hết mà làm sao phá âm thanh? 

Cho nên, bây giờ chúng ta muốn diệt cái Tầm, muốn cho hết cái Tầm, tức là đừng có cho vọng tưởng đó, thì chúng ta phải hướng tâm, bắt buộc cái ý thức của chúng ta nó phải luôn luôn tác ý ra, nó như một cái lý tác ý ra: “Ý thức phải bám chặt hơi thở!” Cứ một lát lâu lâu thì mình lại nhắc nó: Ý thức nhớ bám chặt hơi thở, không có được quên!” 

Do đó, chúng ta nhắc nó vậy rồi chúng ta giữ cái trạng thái tâm của chúng ta kéo dài ra chừng một phút hai phút nó không có một cái Tầm gì hết, do đó là chúng ta tiếp tục tác ý ra nữa và cứ như vậy thì chúng ta nhập được một cái định, cái định đó gọi là vô Tầm mà hữu Tứ.

Đó, chúng ta đi từ từ. Rồi sau đó thì chúng ta mới xả, khi mà chúng ta xả hết cái pháp hướng ra mà chúng ta thấy cái Tầm nó không có tác động được, nó không có khởi ra được, thì chúng ta đã biết rằng Tầm Tứ mình sẽ diệt được. 

Do đó lúc bấy giờ chúng ta chỉ còn hướng một lần là chúng ta nhắc: “Tứ không nên tác động ra nữa!” Chúng ta không dùng pháp hướng đó nữa mà chúng ta chỉ cần nhắc: “Hơi thở phải chậm và nhẹ” hay hoặc là: “Hơi thở phải nhẹ xuống, nhẹ xuống nữa!” 

Đừng có… cái ý thức không có được nhận cái hơi thở nữa, cho nên cái hơi thở mất đi, thì lúc bấy giờ nó không còn cái đối tượng của hơi thở, thì cái ý của chúng ta nó mất cái đối tượng mà nó vẫn không Tầm, mà nó không tác ý ra, thì lúc bấy giờ là Tầm Tứ đã diệt. Do đó, chúng ta nhập cái định diệt Tầm diệt Tứ, tức là tương đương với Nhị Thiền.

(01:06:03) Thì bây giờ cái trạng thái yên lặng ở đó chúng ta đã biết nó như thế nào rồi, chúng ta vô đó chúng ta biết rồi, nhưng mà chúng ta trở ra hơi thở để biết hơi thở. Chớ còn để mất hơi thở thì tức là mất đối tượng, thì nhất tâm mới là định, còn cái tâm của chúng ta đối với cái niệm thì làm sao mà gọi là định?

Cho nên, vì vậy mà, chúng ta phải ra cái niệm, nhờ cái niệm hơi thở ra, hơi thở vô chúng ta mới ly các cái trạng thái hỉ mà chúng ta nhập Tam Thiền. 

Chớ nếu mà không có hơi thở thì chúng ta cứ nằm ở trong Nhị Thiền, thì nếu mà chúng ta khéo léo mà an trú cho nó nằm đó một ngày hai ngày thì nó cũng Nhị Thiền chớ nó không có phải từ ở đó mà đi Tam Thiền được.

Đó quý Thầy hiểu như vậy cho nên quý thầy lấy cái lộ trình hơi thở. Cho nên, trong một cái bài kinh Phật nói: “Nếu muốn nhập Sơ Thiền thì chúng ta cũng nương vào cái hơi thở ra hơi thở vô để mà chúng ta khéo tác ý nó thì chúng ta nhập cái Sơ Thiền”

Mà đến cái Nhị Thiền thì chúng ta cũng nương cái hơi thở ra và hơi thở vô, khéo tác ý nó thì chúng ta sẽ nhập Nhị Thiền. Mà đến Tam Thiền cũng vậy, mà đến Tứ Thiền cũng vậy, mà cho đến Diệt Thọ Tưởng Định thì Đức Phật cũng bảo: “chúng ta phải nương vào cái hơi thở, hơi thở ra hơi thở vô khéo tác ý nó để mà chúng ta nhập được cái Diệt Thọ Tưởng Định”.

Đức Phật dạy chúng ta qua cái bài pháp rất là tuyệt vời, lộ trình hơi thở chúng ta rất là hay để mà chúng ta sử dụng nó đi nốt cái quãng đường nhập định này, cụ thể và rõ ràng.

Và cái hơi thở càng chậm và nhẹ thì nó mới đến cái mức độ nó mới ngưng được, chớ bây giờ đương thở nó 3 giây hay là 5 giây như vầy làm sao nó ngưng được? Đó là chúng ta thấy quá cụ thể.

Do vì vậy mà trả lời cho thầy Thiện Thuận thì nhớ là cái trạng thái tâm của chúng ta phải nằm yên trên tụ điểm. Vì vậy mà, trải qua cái quá trình tu về thiền định này, Bốn Thiền này thì phải tạo cho nó có một cái tụ điểm. 

Cái tụ điểm tức là một cái cây cọc, cũng như là chúng ta đóng một cây cọc rất là cứng, rất chắc, do đó chúng ta mới cột sáu cái thức của chúng ta, sáu con vật – xem như sáu cái thức của chúng ta là sáu con vật, mà sáu con vật cột chặt ở trong cây cọc đó mà nó không có lôi, nhổ được cây cọc, thì sáu con vật nó quay một hơi thì nó sẽ nằm tại đó à.

Còn nếu mà nó lôi cây cọc đó văng qua bên nây văng qua bên kia thì mặc tình con nào nó lôi, chạy mù hết, thì như vậy là chúng ta chẳng có cái chỗ nào mà chúng ta nằm yên được.

Cho nên, ở đây chúng ta nói cái tụ điểm, nhưng sự thật đó là một cây cọc để chúng ta cột sáu cái thức của chúng ta nằm ở trên đó. Vì vậy mà, người tu là phải có một cái tụ điểm, mà nếu không có cái tụ điểm như một người cột sáu con vật mà không có cây cọc thì không thể nào mà cột được đâu.

Sáu con vật của chúng ta con nào nó cũng lôi theo nó hết. Bây giờ thí dụ như con mắt thì nó lôi theo cái hình ảnh, mà cái lỗ tai thì nó lôi theo âm thanh, tất cả mọi cái nó lôi theo nó chớ nó không có chịu đi chung một hướng đâu. 

Cho nên, vì vậy mà chúng ta phải cột chặt nó. Đó là cái tụ điểm. Nếu không có tụ điểm thì quý thầy không làm sao mà phá âm thanh, phá tưởng được và diệt tác ý được, phá không được đâu.

Lúc bấy giờ dùng pháp hướng cũng phải thiện xảo. Nếu không…

(01:09:05) Nghĩa là khi mà chúng ta nằm đúng ở trên cái vị trí của sự yên lặng của thân, của nội thân trong thân và ngoài thân rồi, chúng ta biết được cái trạng thái đó rồi thì bây giờ mà chúng ta dùng cái pháp hướng phải thiện xảo, phải khéo léo. 

Nếu mà quý vị tác ý thô quá là nó cũng làm mất cái trạng thái yên lặng của quý vị trong lúc đó rồi. Mà quý vị sợ quá, không dám hướng tâm cho nó mạnh thì nó lại cũng không có đủ cái sức để cho đủ cái lực tinh thần của quý vị, thì nó cũng chẳng có phá được.

Cho nên, phải thiện xảo, khéo léo, biết cái mức độ nào mà có thể phá được, hướng tâm ra, nhẹ nhàng như thế nào mà không bị sốc sự yên lặng của cái trạng thái lúc bấy giờ chúng ta nằm ở đó. Phải khéo léo lắm. Cho nên, Phật nói thiện xảo an trú ở trong định, vì thế mà nó không bung ra. 

…âm thanh không phá được, mà trạng thái yên lặng của thân và tâm lại mất.

Nghĩa là mình hướng tâm, mình nhắc cái câu đó, cái pháp hướng đó mà nó lại quá động, nó làm cho cái âm thanh không phá mà cái trạng thái yên lặng của định nó cũng lại không có được, nó lại mất cái trạng thái yên lặng đó đi.

Và ngay đó cái tụ điểm sáu thức cũng bung ra.

Nghĩa là lúc bấy giờ, khi mình xốc động, mình hướng tâm quá mạnh đi, thì bắt đầu cái tâm nó không còn – sáu cái thức nó không còn nằm ở tại cái tụ điểm, do đó bắt đầu mình thấy như nó chạy bên đây hay chạy bên kia, nó ở chỗ khác.

Bởi vậy phải thiện xảo, khéo léo dùng pháp hướng phá âm thanh mới có kết quả.

Tức là trong cái lúc mà dùng cái pháp hướng đó, trạch cái pháp ra nó cũng phải đúng tên đúng họ của nó nữa. Chớ nếu mà mình dùng sai tên sai họ thì mình có gọi mình hướng đi nữa nó cũng chẳng biết đâu mà nó vâng lời mình.

Cho nên, dùng pháp hướng phải đúng cách và dùng cái pháp hướng nó phải có cái thực của nó, mình phải suy nghĩ cái kinh nghiệm của mình như thế nào, mình trạch cái pháp đó ra cho nó đúng, để làm một cái câu, để mà nhắc nó trở thành một cái lực, thì như vậy nó mới có cái kết quả.

Lưu ý: Khi tréo chân lên ngồi kiết già, thân ngồi kiết già, lưng thẳng và đợi cho toàn thân yên tĩnh.

Nghĩa là khi mà tréo chân lên rồi không có nghĩa vừa tréo chân lên chừng một chút là mình lo mình hít thở rồi mình điều khiển, mình ám thị thế này kia, không phải.

Cái người tu là phải cẩn thận và ý tứ, hết sức ý tứ. Hầu hết, chúng ta không phải là người tu vội vàng hay hoặc là nông nổi, mà cái người tu chúng ta ngồi tréo chân lên hẳn hòi, đàng hoàng, thân ngồi rất vững vàng và nghe cái trạng thái của thân toàn bộ đang bắt đầu yên lặng. 

Bắt đầu yên lặng của toàn bộ cái thân, không nghe nó còn cấn hay hoặc là khó chịu chỗ này hay khó chịu chỗ kia, hay hoặc còn cảm giác nực hay hoặc còn cảm giác lạnh, hay hoặc là còn cảm giác tức, lói chỗ này chỗ kia hoặc là còn cảm giác mỏi tay, mỏi chân ở khớp tay khớp chân thì đừng có vội mà hướng tâm cái gì cả hết, để cho tuần tự, khi mà tréo chân rồi để cho toàn cái thân của chúng ta nó trở về với cái trạng thái yên lặng của nó. 

(01:12:15) Thì lúc bấy giờ khi mà cái thân nó đã yên lặng rồi thì chúng ta mới điều khiển cho sáu cái thức của chúng ta nó nằm yên ở trên chỗ cái tụ điểm của nó để cho tâm nó được yên lặng theo.

Đó, thì quý thầy nhớ những cái điều kiện, chúng ta lần lượt chúng ta điều khiển cái phần thân trước, rồi cái phần tâm kế, chứ đừng có vội vàng thân tâm làm một lượt, rồi cứ lo hít thở để cho đừng có vọng tưởng, không phải!

Ở đây, thân phải yên lặng tức là thân phải định và tâm nó phải định, chớ không phải vội vàng để cho hết vọng tưởng, mà đây cả cái trạng thái thân yên lặng trong cái sự yên lặng của nó. Cho nên, lưu ý:

Khi chéo chân lên ngồi kiết già, thân ngồi kiết già, lưng thẳng và đợi cho toàn thân yên tĩnh, nghĩa là không còn một cảm giác nào khó chịu trong thân thì mới dùng pháp hướng nhắc sáu thức nằm yên và bám chặt vào tụ điểm… (Mất tiếng)

Mà nếu nó gom tại đó, thì chúng ta thấy nó nằm chặt ở tại đó rồi thì chúng ta mới nương hơi thở ra và hơi thở vào nhẹ nhàng cho đến khi toàn sáu thức đã nằm yên lặng.

Nghĩa là bây giờ chúng ta thấy từ cái tụ điểm đó nó xuất phát hơi thở ra và xuất phát từ cái hơi thở vô và chúng ta biết rằng sáu cái thức đó đang nằm yên ở trên cái chỗ hơi thở ra hơi thở vô đó.

…Thì lúc bấy giờ toàn thể thân tâm ta hiện ra một trạng thái rất là yên lặng và rõ ràng…

Nghĩa là khi mà nó… Chúng ta không còn cái vận dụng của các cơ mà chúng ta hít ra thở vô đâu, để tự nó, chúng ta quan sát thấy nó ra vô, nó ra vô rất là tự nhiên, mà từ cái chỗ tụ điểm đó hơi thở nó ra và cũng chính từ tụ điểm đó hơi thở nó vô. 

Và vì vậy đó mà chúng ta biết rằng sáu cái thức nó đang nằm yên lặng ở trên cái chỗ đó, do đó thì chúng ta mới thấy được cái trạng thái:

…toàn bộ nội tâm và ngoại cảnh.

Tức là hoàn toàn tất cả những cái trạng thái nội tâm và ngoại cảnh của chúng ta đều là đạt ở trên cái tụ điểm đó, nó không còn bị động nữa. 

Nghĩa là sáu cái thức của chúng ta chịu nằm yên ở trên đó rồi thì cái ngoại cảnh không có tác động của sáu cái thức của chúng ta được và cái thân của chúng ta nó cũng đang yên lặng ở trên cái chỗ yên lặng của cái toàn thân, nó không còn có gì nữa.

Thì bấy giờ mới tác ý như thế nào để không bị động sự yên lặng nội tâm của chúng ta…

Cho nên, bây giờ chúng ta tác ý như thế nào để lúc bấy giờ – chúng ta đã biết rằng cái sự yên lặng đó của nội tâm chúng ta và ngoại cảnh nó không còn tác động nữa, vì vậy lúc bấy giờ chúng ta ở trong đó mà chúng ta tác ý xốc động ra thì coi chừng nó sẽ mất cái sự yên lặng đó đi.

(01:15:03) Vì vậy mà, chúng ta thoáng nhẹ nhàng mà chúng ta tác ý, có một sự tác ý rất thoáng nhẹ nhàng và như vậy nó không mất cái lực của pháp hướng, mà không mất cái lực của pháp hướng thì nó làm cho cái hiệu quả của câu pháp hướng của chúng ta muốn đạt gì thì nó sẽ đạt được.

Và mỗi lần hướng thì dường như là cái tâm của chúng ta, thí dụ như bây giờ hướng phá âm thanh nè, cái tâm của chúng ta cứ mỗi lần mà nhắc thì chúng ta lại nghe cái âm thanh bên ngoài nó không còn nghe nữa. Chớ không phải là nhắc 5, 10 lần mà vẫn còn nghe, mà rõ ràng là chúng ta vừa nhắc mà nó không xốc động cái trạng thái yên lặng đó đó, thì ngay đó cái âm thanh nó vắng xuống liền.

Bây giờ chúng ta đương nghe một cái tiếng máy xịch xịch, thì bắt đầu ta chúng ta nhắc, chúng ta hướng rất nhẹ, đừng có để xốc động cái âm thanh, cái trạng thái của chúng ta đương yên lặng đó, thì lúc bấy giờ vừa thoáng chúng ta nhắc qua cái ý chúng ta thì dường như là tất cả sáu cái thức của chúng ta, nhất là cái nhĩ thức nó lại nằm yên xuống hơn nữa, nó làm như nó lặng sâu xuống nữa, nó không còn nghe ở bên ngoài nữa.

Đó là cái kết quả mà chúng ta đã biết được, nằm yên ở trên cái trạng thái yên lặng đó thì nó lại yên lặng hơn nữa, chúng ta thấy nó đi sâu hơn nữa, nó làm cho lặng sâu hơn nữa. Cái âm thanh đó đang lớn thì chúng ta nghe nó dường như một cái tiếng đâu xa văng vẳng chớ không còn lớn nữa. 

Và đồng thời chúng ta để kéo dài cái thời gian văng vẳng đó thì chúng ta lại nhẹ nhàng thoáng qua tác ý nhắc cái tâm của mình một lần nữa, thì lúc bấy giờ cái âm thanh vắng luôn, không nghe nữa. Thì như vậy chính là chúng ta nằm ở trên cái tụ điểm mà chúng ta hướng tâm để cho cái âm thanh nó phá đi. 

Hoặc bây giờ chúng ta đang bị cái chân nó đau hay hoặc nhức, nhưng chúng ta đừng để cái tâm chúng ta dao động ở chỗ đau nhức đó, mà chúng ta hãy nằm chặt ở trên cái tụ điểm, rồi chúng ta có cái cảm giác biết nó đang đau nhưng mà nó không phải đau lung đâu. 

Bởi vì khi mà cái tâm nằm trên đó thì cái cảm giác đau nó rất là thường. Còn cái tâm chúng ta nhảy xuống mà nằm ngay cái chỗ nó đau đó thì chúng ta thấy chịu không nổi. 

Cho nên, chúng ta bám cho chặt cái tụ điểm thì chúng ta hướng: “Cái thọ phải đi đi, không có được ở đây và cái thân thức phải bám cho chặt cái tụ điểm, phải bám cho chặt cái hơi thở, bám cho chặt cái tụ điểm!” 

Ngay đó ra lệnh nó vậy, thì bắt đầu chúng ta nghe dường như toàn thân không có nghe cảm giác gì nữa hết, thì lúc bấy giờ cái pháp của chúng ta hiệu quả, rất là hiệu quả, chỉ chúng ta nhắc 1 lần, 2 lần ở trên cái trạng thái yên lặng đó là cái kết quả ngay liền.

Cũng như bây giờ cái đầu Thầy nhức nè, Thầy chỉ cần lặng cái tâm của mình ở trên cái trạng thái yên lặng đó, bắt đầu Thầy nhắc: “Cái đầu không có được nhức nữa! Cái thọ phải đi đi!” Thì ngay đó Thầy hoàn toàn nghe cái đầu không có nhức.

Là tại vì Thầy nằm đúng cái vị trí sáu cái thức của Thầy, thân thức của Thầy nó phải nằm cách lìa cái sự đau khổ của cái thọ của Thầy, cho nên nó không có bám ở trong cái thọ đó, cho nên nó không còn thấy đau nữa.

Đó là như vậy là cái chỗ mà tu tập phải biết được cái trạng thái tâm của mình, lúc bấy giờ mình phải giữ gìn nó như thế nào. Mặc dù trong cái sự yên lặng đó nó chỉ 5 phút hay là 10 phút rồi nó bung ra, nhưng mà chúng ta dùng pháp hướng chúng ta có thể kéo dài từ 10 phút, 20 phút, nghĩa là khéo thiện xảo an trú ở trong đó.

Phật nói mà, nếu mà chúng ta không khéo thiện xảo an trú thì nó sẽ bị bung ra. Cho nên, Phật nói: “thiện xảo nhập định nè, thiện xảo an trú trong định nè, thiện xảo sống trong cảnh giới định nè”. Phật dặn chúng ta như vậy.

Cho nên, vì vậy mà cái thiện xảo đó là cái mà chúng ta đừng có làm động. Bởi vì định mà động thì nó làm sao gọi là định? Mà bây giờ chúng ta tác ý ra là nó động mất rồi! Thế mà quý thầy phải hiểu được cái chỗ khéo tác ý đó thì quý thầy sẽ đạt được kết quả.

(01:18:34) Cho nên, Thầy dạy thì đúng, nhưng mà khi các thầy áp dụng vào thì lại rất quá thô, cho nên sao thấy thời gian nó không có cái hiệu quả của kết quả. 

Phá âm thanh không phải dễ đâu, rất là khó, bởi vì đó là cái ngoại cảnh. Người ta nói có đạt nhân mà khó đạt cảnh – đạt được cái ở trong thân của mình chớ cái cảnh ở ngoài khó đạt.

…làm cho ngoại cảnh trở nên yên lặng, nếu không thiện xảo thì ngoại cảnh khó yên lặng.

Đừng vội vàng vừa tréo chân lên là hướng tâm liền là không kết quả, mà hướng tâm liên tục cũng không kết quả, hướng tâm thưa quá cũng không kết quả.

Đó thì quý thầy thấy rằng trên cái bước đường tu tập của quý thầy, nếu mà quý thầy cứ hướng tâm hoài thì không kết quả đâu. 

Khi mà hướng tâm rồi thì chúng ta lại nằm yên ở trên đó, nhưng mà để lâu quá thì lại mất cái hướng đi, thì do đó nó lại xen vào những cái trạng thái khác, nó làm mất cái trạng thái yên lặng của quý thầy, nó bung ra đi. 

Khi mà nó bung ra rồi thì quý thầy lại hướng tâm thì nó mất cái trạng thái yên lặng rồi thì pháp hướng nó đâu có hiệu quả. Cho nên, thưa quá thì cũng không được mà ngặt quá thì cũng không kết quả. 

Cho nên, ở đây cái pháp hướng là phải biết: Đang nằm ở trên cái trạng thái còn yên lặng thì hướng có kết quả, mà khi đã bị một cái gì bung ra rồi thì phải gom nó trở lại, cho nó nằm yên lặng rồi thì hướng nó mới có kết quả. 

Và đồng thời khi mà cho nó yên lặng như vậy mà để kéo dài cái sự yên lặng đó thì phải cái thời gian như thế nào, mà phải có pháp hướng liên tục, mà hướng khéo léo thiện xảo như thế nào để không mất cái trạng thái yên lặng đó. Đó là phải khéo hết sức khéo, chớ dụng thì mất định ngay liền.

Đừng vội vàng vừa tréo chân lên là hướng tâm liền là không kết quả, mà hướng tâm liên tục cũng không kết quả… 

Nhắc hoài nhắc hoài cũng không kết quả đâu.

mà hướng tâm thưa quá cũng không kết quả.

Thiện xảo như thế nào mà mỗi lần hướng tâm mà rất hiệu nghiệm, âm thanh giảm và không còn nghe nữa, toàn là trong thân và ngoại thân vắng lặng, có nghĩa là không gian và thời gian cô đọng lại vàng lặng phủ trùm.

Đó thì khi chúng ta hướng mà chúng ta thấy được cái sự vắng vẻ, cái sự vắng lặng nó phủ trùm xuống cả toàn thân của mình, coi như cả vũ trụ đó.

(01:21:05) 1. Chọn pháp hướng cho đúng cách.

2. Hướng đúng ở trạng thái đang yên lặng.

3. Khoảng cách thời gian hướng phải đúng, không thưa mà cũng không ngặt, tùy ở trạng thái yên lặng của thân tâm lúc sáu thức nằm yên tại tụ điểm.

4. Khi xả ra phải biết cách, hướng đúng cách, đúng pháp, đúng thời gian.

Lúc bấy giờ đó, Thầy nhắc nhở số 4 này, khi mà xả thiền ra thì phải biết cách, hướng đúng cách, đúng pháp, đúng thời gian.

Nghĩa là cái trạng thái chúng ta xả ra thì nó phải ở trong cái trạng thái của hơi thở chậm nhẹ đó, nó biết nó ở cái mức độ nào: Tam Thiền hay Nhị Thiền hay Tứ Thiền, thì lúc bấy giờ chúng ta phải hướng pháp đúng cái pháp của nó ở cái chỗ đó, để cho nó lần nó đi ra.

Rồi bây giờ tới cái thời gian của nó, cho đến khi mà nó trở về bình thường nó xả sạch ra, chớ không khéo thì chúng ta xả ra không sạch thì nằm xuống nghỉ hay hoặc là ngồi thì nghe nó còn cái trạng thái lâng lâng, lâng lâng ở trong tâm hồn chúng ta. Điều đó là điều chúng ta sai đó, xả không đúng đó.

5. Phải nhận xét thân tâm xả ra có về trạng thái bình thường chưa.

Nghĩa là nó còn khinh an, nó còn lâng lâng, nó còn ngờ ngờ như gợn sóng đồ đó, thì xả ra chưa sạch đâu. Phải xả trở lại cho thật đúng chớ còn xả như vậy là sau này chúng ta sẽ bị rối loạn cơ thể, nằm xuống mà như – khi mà xả ra rồi mình nằm nghỉ mà thấy cái thân nó như bồng bềnh, như là mình ở trên chiếc ghe chiếc tàu mà sóng nó đưa lên đưa xuống vầy, thấy cái thân nó như nhảy sóng đó, thì cái đó là cái sai rồi đó.

Đó là xả chưa hết ở trong cái trạng thái. Mà chính hồi lúc mà ở trong cái trạng thái yên lặng đó đã bị dồi sóng rồi là cái này đã ở trong cái trạng thái của tưởng rồi, cái đó là trật nữa rồi. Cho nên, chúng ta phải phá liền chớ không có được để. Cho nên, để mà tới khi xả ra mà còn dồi sóng, dồi sóng thì không được.

6. Xả ra thân tâm có mệt hay không? Nếu mệt nhọc đó là tu sai rồi.

Nếu xả ra mà thấy quá mệt hay hoặc là hơi mệt thì cái đó là trật. Người tu thiền xả ra là rất an ổn, rất tỉnh thức, tỉnh táo, rất khỏe người, không có bị mệt nhọc.

(01:23:18) Cũng như bây giờ Thầy thuyết giảng Thầy nói nhiều thì Thầy mệt, chớ còn Thầy ngồi thiền thì Thầy xả ra Thầy không bao giờ mà có ngứa cổ hay hoặc là nghe nó mệt nhọc gì hết, hoàn toàn nghe cơ thể rất là khỏe.

Đó là những cái mà chúng ta xả ra chúng ta đều lưu ý về cái thân của chúng ta. Nó có những cái sai mà chúng ta cứ mang đó mà chúng ta tu thì chúng ta sẽ đi đến cái chỗ có thể là nó trở thành bệnh tật của cái thân sau này, mà không đạt được thiền định đúng cách đâu.

Đến đây Thầy xin chấm dứt cái bài trả lời cho thầy Thiện Thuận, có những cái gì mà sai cần phải hỏi trong lúc này. Bởi vì cái thời gian nó còn ngắn lắm, phải hỏi Thầy. 

Đồng thời Thầy thấy rằng tiếp tục cái thời gian mà giảng cho hết cái giáo án này thì chúng ta không làm hết kịp, vì vậy mà chúng ta lần lượt để sau này. 

Còn bây giờ cái quan trọng là Thầy sẽ soạn cho cái chương trình ngắn gọn, để cho quý thầy khi mà ba tháng hạ này trở về nắm được cái bản đó, biết bây giờ mình tu cái gì trước, tu cái gì sau. Còn cái giáo án này nó nói linh tinh đủ thứ hết, nghe thì có hay đó, nhưng mà sự thật ra quý thầy chưa biết cái gì mà tu hết đâu. 

Nghe nó thì như vậy, nhưng bây giờ Thầy dự định Thầy soạn cho quý thầy cái bản tóm tắt: Bây giờ một người mà mới tu là phải tu cái gì, tập cái gì trước, tập cái gì sau, rồi tu lâu rồi bây giờ tu tới cái định nào, phải tập cái gì, cái gì. Thầy soạn xong rồi Thầy đem cho cô Út photo về Thầy cho mỗi người một bản theo đó mà về mà tu tập.

Chớ còn theo cái giáo án mà Thầy viết đây thì lần lượt Thầy sẽ dạy các cái giới hành, toàn bộ hết những cái giới hành, nhập từ Bốn Thiền, Tứ Như Ý Túc rồi cho đến Tam Minh, rồi Tứ Niệm Xứ như thế nào, Thầy giảng hết những cái pháp hành của nó như thế nào cho nó hết. Còn bây giờ thì chúng ta đang học tu trên cái pháp Tứ Bất Hoại Tịnh. 

Mà Tứ Bất Hoại Tịnh thì như hồi nãy Thầy đã nói chúng ta mới có học Thân niệm Phật, rồi Thọ niệm Phật, rồi Tâm niệm Phật, bây giờ mới có học Pháp niệm Phật. Rồi chúng ta còn phải Thân, Thọ, Tâm, Pháp để niệm Pháp, rồi Thân, Thọ, Tâm, Pháp để niệm Tăng, rồi Thân, Thọ, Tâm, Pháp để niệm Giới, quá nhiều. 

Đây là mới có bước đầu vào Tứ Bất Hoại Tịnh mà chúng ta lấy Thân, Thọ, Tâm, Pháp mới có niệm Phật mà đã là quá nhiều rồi. Cái pháp hành của chúng ta quá nhiều chớ không ít./.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 3)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.