ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giáo án 47 – Ăn uống đúng thiện pháp – Tập tỉnh thức khi ngủ

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giáo án 47 – Ăn uống đúng thiện pháp – Tập tỉnh thức khi ngủ

A A A
Module cannot be rendered as the requested content is not (longer) accessible. Contact the administrator to get access.

GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 47

ĂN UỐNG ĐÚNG THIỆN PHÁP – TẬP TỈNH THỨC KHI NGỦ

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 1997

Thời lượng: [01:28:47]

 

1- KHÁI NIỆM GIỚI HÀNH

(00:00) Chúng ta đã kết luận cái giới bổn qua cái lời mà Thầy đã nói xong, thì sau khi học xong giới bổn Ba La Mộc Xoa Đề, bây giờ quý thầy tiếp tục học giới hành.

Bắt đầu chúng ta chuyển qua giới hành liền, đây là những cái điều mà rất quan trọng cho cái giai đoạn cuối cùng cho cái giáo án này. Đây là cái giới hành của chúng ta.

Vậy giới hành là gì?

Giới như quý thầy đã được học là pháp thiện, là pháp lành, giới là thiện pháp. Hành là trau dồi, tu tập, rèn luyện. Giới hành là trau dồi, rèn luyện, tu tập thân tâm mình trong thiện pháp.

Đó, Thầy giải thích như vậy để chúng ta biết rằng cái giới luật không có nghĩa là một cái giáo điều khô khan, cằn cỗi đâu, mà đây là một cái pháp thiện để chúng ta trau dồi thân tâm của chúng ta trở thành sống trong cái thiện pháp hoàn toàn, để được giải thoát cho mình mà cho người chớ không phải riêng có mình không đâu.

Đó thì như vậy là quý thầy đã hiểu biết, khi mà qua học cái giới hành thì phải hiểu cái nghĩa của nó.

2- ĂN UỐNG ĐÚNG THIỆN PHÁP THEO BÀI KINH JIVAKA

(01:11) Trước khi trau dồi thân tâm bằng giới hành, các thầy phải trau dồi cách thức ăn uống đúng cách thiện pháp mà trong kinh Jivaka Phật đã dạy.

Bây giờ khi mà chúng ta muốn trau dồi cái giới hành thì đầu tiên là chúng ta phải trau dồi cái cách thức ăn uống của chúng ta như thế nào đúng.

Tại sao mà phải trau dồi nó? Bởi vì ở trong đạo Phật của chúng ta qua cái ăn uống chưa có đúng cách, hầu hết tu sĩ chúng ta chưa đúng cách, ăn uống phi thời nè. Thậm chí như có những nhà sư gọi là ăn uống không phi thời mà lại là uống sữa, uống bơ, uống này kia, chỉ ăn một bữa mà còn ăn thịt ăn cá nữa.

Thì cái đó là chúng ta đem cái bài kinh này ra chúng ta mổ xẻ coi ông Phật dạy như thế nào mà cái giới tu sĩ hiện giờ họ ăn uống như vậy mà họ lại cho đó là đúng Phật pháp? Cho nên trước khi mà cái hành động (học) giới hành thì chúng ta phải hiểu được cái này để chúng ta tu tập cái giới hành về cái ăn uống của chúng ta đã, đó.

Cư sĩ Jivaka hỏi:

– Bạch Thế Tôn, con nghe người ta nói như sau: “Vì Sa môn Gotama mà họ giết hại các sinh vật. Và Sa môn Gotama tuy biết thế mà vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình ăn.” Bạch Thế Tôn, những người ấy nói như vậy có đúng lời Thế Tôn không? Họ không xuyên tạc Thế Tôn, họ nói như vậy là sự thật?

Đó là vị cư sĩ đó hỏi Đức Phật như vậy. Thì Đức Phật trả lời:

– Này Jivaka, những ai nói như vậy là nói không đúng lời của Ta, họ xuyên tạc Ta, nói không như thật.

Nghĩa là Đức Phật xác định để cho chúng ta biết rằng họ nói như vậy là không nói đúng cái điều mà Phật nói.

– Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: nếu thấy, nghe và nghi.

(03:14) Đó, thì Đức Phật xác định cho chúng ta thấy khi mà chúng ta thấy, nghe và nghi thì chúng ta không được thọ dụng.

– Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi.

Đó, thì Đức Phật nói như vậy. Thì chúng ta thấy bây giờ chúng ta thọ dụng thịt mà không thấy, không nghe, không nghi.

Nghĩa là bây giờ có một cái mâm cơm để mà người ta cúng dường cho Phật, mà trong khi Phật không thấy có thịt thì tức là Phật ăn đó.

Nghĩa là bây giờ ở trong cái đĩa đồ ăn này nè mà không thấy có miếng thịt heo hoặc thấy có con cá hay hoặc là thấy cái con vật mà chết ở trong đó thì tức là Đức Phật ăn liền, còn có thấy miếng thịt nè, còn có thấy con cá nằm nè, còn thấy có cái đùi gà nè, còn thấy một cái cục sườn ram nè thì nhất định là không ăn. Tại vì thấy, làm sao ăn? Cho nên không thấy thì ăn mà thấy thì không ăn.

Đó là Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy cái chỗ mà chúng ta thọ cái thịt mà không thấy.

Bây giờ không nghe: Bây giờ trong cái đĩa đồ ăn này, thịt cá gì họ bằm nát ra họ làm thành chả hết đồ, họ chiên thành chả cũng như cái bánh vậy đó, thì lúc bấy giờ đó, nghe người ta nói ở trong này là hồi nãy họ bằm cá thác lác ra bây giờ họ chiên ra họ làm chả đó, Phật đừng có ăn, Phật ăn cái đó là thịt chúng sanh không ở trỏng đó, thì nghe như vậy là Đức Phật cũng không ăn nữa. Đã nghe người ta nói ở trong đó có thịt mà, có chúng sanh chết ở trong đó mà, đâu có ăn. Đó là nghe không ăn.

Bây giờ trong khi Đức Phật không nghe, không thấy, rồi cầm một cái bánh lên hay hoặc là lấy cái tay bốc cái miếng món đồ ăn đó lên bỏ trong miệng, nghe nó tanh cá quá, thì Đức Phật nghi rằng cái này có cá rồi, không được ăn. Do đó Đức Phật không ăn cá bởi vì nghe mùi tanh. Bây giờ nghe mùi bò, đây có thịt bò rồi, nhất định là không ăn! Bây giờ nghe nó có mùi thịt heo, nghe mùi thịt gà, do đó nghe mùi gà, mùi heo Đức Phật không ăn.

Bởi vì nghe – tức là khi mà kê cái mũi mình ngửi lên là mình nghi rằng cái đó là có thịt gà, cái đó là có thịt heo, cái đó là có thịt bò, nhất định là Phật không ăn. Bởi vì nghi, mình nghi là không ăn, cho nên dù trong đó không có đi nữa, người ta làm không có thì mình cũng không ăn.

Bây giờ thí dụ như có một người họ lấy đậu hũ họ làm như thế nào nó giống những mắm bằm lắm, chúng ta ăn nghe cái mùi y như mắm vậy, mà khi kê lên vầy chúng ta nghe cái mùi tanh tanh hôi hôi giống mắm thì nhất định là không ăn. Tại vì chúng ta nghi rằng ở trong đó là có mắm ở trong đó, có cá ở trong đó, có chết ở trong đó, không ăn.

Đó là chúng ta nghe cái mùi tanh rồi chúng ta không ăn, chúng ta biết là có cá, có con vật chết trong đó. Mặc dù là đậu hũ họ ủ cho thúi để làm đó, nhưng mà chúng ta đã nghi rồi chúng ta không ăn.

Cho nên do những cái điều kiện này, tuy rằng nói cái danh từ thì nghe nó dễ lắm: Thấy, nghe và nghi, nó dễ dàng lắm, nhưng mà sự thật ra nó quá là sâu sắc. Khi Đức Phật viết ra cái giới này, cái bài kinh này tức là muốn nói nên cái giới luật rất là nghiêm chỉnh cho sự thọ thực cái thịt chúng sanh. Nếu một người mà biết pháp tu thì người ta nghe những cái lời nói này người ta mới thấy được cái thâm ý của Đức Phật sâu xa vô cùng.

(06:19) Ở đây, này Jivaka, Tỳ Kheo ấy dựa vào một làng, hay một thị trấn, vị ấy luôn luôn biến mãn một phương với tâm có lòng từ, và an trú tâm từ ở đó, phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư cũng vậy. Từ tâm của vị ấy biến mãn khắp cùng thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy luôn luôn biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú với lòng thương yêu chúng sanh rộng lớn vô bờ bến.

Chúng ta thấy ở đây Đức Phật nói về cái vấn đề mình ăn thấy, nghe, không nghi ở đó rồi, mà bây giờ Đức Phật lại đem một cái bài này, nói:

Này Jivaka, khi một vị Tỳ Kheo mà ở một làng, một thị trấn nào đó, mà khi bây giờ được cái sự cúng dường một cái món ăn đó, thì cái người đó luôn luôn người ta đã tu tập cái lòng từ, bi, hỷ, xả của người ta, người ta thực hiện cái lòng từ biến mãn khắp mười phương rồi, thì cọng cỏ người ta không đạp cho nó héo nữa, thì thử hỏi làm sao người ta bỏ cái miếng thịt trong miệng người ta ăn được? Ý Đức Phật muốn nói như vậy.

Vì vậy cho nên bây giờ cái tâm từ họ biến mãn khắp cùng như vậy rồi, thì cái lòng thương yêu rộng lớn chúng sanh vô bờ bến như vậy, thì một người cư sĩ hay con của người cư sĩ đến Tỳ Kheo ấy mà mời ngày mai này thọ trai, thì Đức Phật hỏi Jivaka:

Vậy thì khi mà vị Tỳ Kheo đó nhận lời mời như vậy, mà khi đến khất thực ăn cái bữa ăn đó, thì cái người đó cái tâm từ nó có không? Họ luôn luôn phải sống ở trong cái tâm từ biến mãn khắp cùng, thì như vậy là trước cái bữa ăn của cái người cư sĩ hay con của người cư sĩ cúng dường thì họ còn mê cái thức ăn đó không? Dù thức ăn đó ngon họ có mê không? Nếu mà thức ăn đó bằng thịt, cá làm cho ngon thật ngon, họ có mê không?

Ở đây, Thầy sẽ đọc lại:

– Một người cư sĩ hay con của người cư sĩ đến Tỳ Kheo ấy mời ngày mai thọ trai và này Jivaka, vị Tỳ Kheo ấy nhận lời. Khi vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai hại, ý thức rõ sự xuất ly.

Đó, thì khi ăn mà người ta thấy rõ, cái tham đắm của chúng ta có không? Như vậy là không tham đắm thì thấy cái vật đó là bằng thịt có ham không? Không có ham đâu. Còn bây giờ chúng ta tham đắm ăn rồi thì thấy miếng thịt chúng ta nói: Đây là miếng đậu hũ, ăn đi! Mình cứ nói nó đậu hũ, mình cứ ăn đi, chớ mình đừng có nói nó thịt, mình nói thịt mình không dám ăn, cho nên mình nói nó đậu hũ đi.

(09:05) Mình nghe cái mùi heo mình nói: “Không phải đâu, cái mùi này mùi đậu hũ á!” Đó mình gạt mình ở trong cái chỗ đó để mình ăn cho nó đã cái miệng của mình, tức là còn tham đắm đó. Cho nên nhiều cái đó là do cái tâm của mình, cho nên từ đó mình không có xuất ly ra khỏi cái này.

– Này Jivaka, ông nghĩ thế nào? Tỳ Kheo kia, trong thời gian thọ thực, ông ấy có nghĩ đến tự làm khổ mình, hay nghĩ đến làm khổ chúng sanh, hay nghĩ đến làm khổ cả hai?

Đó, thì các thầy thấy, khi mà ăn cái miếng ăn, nghĩa là một cái vị Tỳ Kheo đó khi mà họ thọ thực vậy đó, họ có nghĩ rằng họ sẽ làm khổ họ hay hoặc làm khổ chúng sanh không, hay hoặc làm khổ cả hai?

Cho nên ở đây họ nghĩ: Một cái người tu sĩ bây giờ mình ăn một cái miếng thịt này, mình nuôi vào cái thân mạng của mình là cái chánh mạng hay tà mạng? Trong khi họ học Bát Chánh Đạo, không lẽ họ không thông suốt cái điều này? Bởi vì nuôi cái chánh mạng làm sao mà nuôi thịt cá ở trong thân này được?

Cho nên đây là hại mình rồi. Mình ăn cái món ăn này là thịt cá rồi thì mình hại cái thân của mình rồi, cho nên đó là làm khổ mình rồi. Vì vậy mà khi mình nhét trong miệng mình cái món ăn tức là làm khổ chúng sinh rồi. Chúng sanh phải có chết mình mới có ăn chớ?

Cho nên do như vậy mà câu nói này chúng ta thấy hiểu qua cái bài kinh rất rõ ràng.

– Này Jivaka, ông nghĩ thế nào? Tỳ Kheo kia, trong thời gian thọ thực…​

Trong cái thời gian thọ thực đó.

…​ ông ấy có nghĩ đến tự làm khổ mình, hay nghĩ đến làm khổ chúng sanh, hay nghĩ đến làm khổ cả hai?

Cái câu nói này Thầy thấy quá là tuyệt diệu, không có còn chỗ nào mà một người ăn thịt chúng sanh mà nuốt cho trôi hết!

Cái câu này Phật dạy nghĩa là ăn chay trên ăn chay. Nghĩa là tại sao vậy? Tại vì ông Phật ổng không có dạy chúng ta ăn chay, vì ăn chay nó giống như Bà La Môn, giống như kiểu Đại Thừa.

Vì vậy giống kiểu Đại Thừa như thế nào? Thầy nói cho quý thầy thấy rõ: Người ta ăn chay mà người ta làm đùi gà như thế này, lấy đậu hũ, lấy củ sả mà đút vô làm cái đùi gà, ngồi đó mà tưởng cái đùi gà mà ăn mà thật sự ra toàn là ăn đậu xanh với đậu hũ không, không có gì hết, làm đồ chay mà làm như là thịt heo vậy đó. Đó thì cái đó là cái ăn chay của Đại Thừa.

Còn cái ăn chay mà của Phật, ăn chay trên ăn chay, do tâm từ của chúng ta thực hiện ở trên biến mãn đó, vì vậy mà trong cái thực phẩm của chúng ta ăn là chúng ta luôn luôn có cái tâm từ nằm ở trên đó hết.

Cho nên ở đây rõ ràng là ăn không thấy, không nghe, vậy mà có một số nhà sư ăn thịt, ăn cá, ăn chúng sanh, ăn thịt chúng sanh mà vẫn an nhiên nói: Thịt họ mần ở đâu, tui đâu có nghe, tiếng heo la tui đâu có thấy, cho nên ở đây bây giờ người ta đem cúng dường là tui cứ ăn à, chớ tui đâu có nghe con vật kêu đâu? Mà tui đâu có cầm dao tui giết nó đâu, ai giết chớ tui đâu có giết, người ta làm đâu ở nhà chớ đâu phải là tui làm? Cho nên tui cứ ăn. Cho nên thịt không thấy, không nghe, không nghi – bây giờ tui muốn ăn thì bây giờ tui có nghi tui cũng chẳng thèm nghi làm chi nữa, để mà tui ăn cho thích cái khẩu tui.

(12:05) Cho nên do đó mà một cái giới tu sĩ của chúng ta lầm lạc và lầm lạc. Cho đến vì vậy mà cuối cùng họ cầm gươm, cầm súng họ giết lẫn nhau được, họ giết con người được. Ăn thịt chúng sanh được như vậy thì họ có sá gì mà giết con người?

Cho nên chúng ta thấy rõ ràng là Phật giáo Nam Tông cầm súng giết người một cách rất rõ ràng. Mà họ diệt chủng họ chớ chưa phải là diệt ai đâu, chớ phải là diệt nước khác thì chúng ta cũng không nói đâu, mà họ diệt dân tộc họ. Mà đó là quốc giáo ở trong cái nước đó, gọi là Phật giáo là quốc giáo của họ đó, mà họ làm như vậy đó, thì chúng ta thấy có phải là truyền giáo đó đúng cái Phật giáo không?

Cho nên ngay cái bài kinh này đã xác định là những cái người này chưa phải là cái người đúng là Phật giáo. Tà giáo xen vào trong đó, mà họ gọi họ là Phật giáo Nguyên Thủy chớ. Họ nguyên cái gì? Họ đi lạc đường nào đâu chớ đâu phải là Phật giáo ở chỗ đó!

Cho nên càng đụng tới Thầy càng thấy cái sai lệch của Phật giáo bao nhiêu thì Thầy muốn dựng nó lại bấy nhiêu, thì Thầy lại thấy rằng chúng sanh quá mê muội, đi lạc lầm con đường của đạo Phật, từ cái pháp thiện của Phật đi đến cái pháp ác mà không thấy rằng mình sống trong cái ác mà không thấy.

Đó, thì hôm nay các thầy nghe được cái bài kinh này mới thấy được cái lời Phật dạy quá rõ ràng chớ gì?

Cho nên vị cư sĩ này mới thưa:

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

Nghĩa là khi như vậy thì làm sao mà có cái tâm ác trong đó được?

– Này Jivaka, Tỳ Kheo kia, trong thời gian thọ dụng các món ăn không có lỗi lầm.

Nghĩa là bây giờ thọ dụng những cái món ăn đó họ có tội không? Họ đã có cái sự không làm khổ mình, không làm khổ người, khổ chúng sanh, mà không làm khổ cả hai, thì khi họ ăn như vậy – bây giờ có một mâm cơm nè, toàn là thịt cá không, thì họ ăn như thế nào các thầy biết không? Họ ăn cơm không à, ăn cơm với muối không à, họ không thèm ăn ba cái đồ ăn đó đâu! Thì như vậy họ có lỗi không? Họ ăn xong rồi họ đi về họ có lỗi không?

Còn mình ngồi thấy ba thịt cá làm đồ ăn coi bộ ngon quá, hủ tíu nè, cháo lòng này kia, lòng nó bỏ trên đó đầy quá: “Trời ơi ngon quá! Thôi ních đi cho nó đã đi!” Thì khi mà ních rồi thì có lỗi lầm không? Lỗi lầm chớ sao không lỗi lầm!

Còn khi một vị Tỳ Kheo mà người ta biến mãn từ bi của người ta rồi thì người ta đâu có ăn được! Còn mình cắn cái đầu gà vầy mà nhai ngốn ngáo được, nhả một đống xương, mà không thấy cái tâm từ của mình ở chỗ nào hết! Thử hỏi mấy ông sư có không?

Cho nên Hòa thượng Huệ Hưng nói Thầy đến mấy chỗ sư bên Nam Tông, trời ơi cái sát khí của họ, ăn thịt chúng sanh, chúng ta thấy xương đống đống, thấy ghê gớm! Đúng vậy! Họ ăn gà, ăn vịt, ăn thịt heo, ăn sườn, họ bỏ sườn heo đống đống vậy chớ đâu có phải ít đâu!

Cho nên Hòa thượng nói với Thầy: Đến bên mấy chỗ mấy ông Tiểu Thừa, mấy ổng Nguyên Thủy, trời ơi, thôi thôi! Vô cái chùa của ổng là mình nghe cá, nghe thịt rồi à, chịu không có nổi! Đó là những cái bằng chứng cụ thể.

Chúng ta là những người ăn chay mà chúng ta đến chùa mấy ông đó là chúng ta không có chịu nổi cái mùi cá, mùi mắm của mấy ông đó đâu. Cái y, cái áo của mấy ổng nghe nó tanh mắm, tanh cá hôi rình à! Tại chúng ta không có chịu ngồi gần một bên chớ ngồi gần một bên chúng ta nghe hết chớ không có trật cái chỗ nào hết. Nhất là cái tâm mà chúng ta tịnh thì chúng ta nghe rất rõ những mùi cái hôi đó.

(15:13) Còn cái tâm của chúng ta chưa có thanh tịnh, bởi vì cái tâm chúng ta nó lộn xộn ở trong này, nó còn nghĩ này, mặc dù chúng ta đã ăn chay nhiều năm nhưng mà cái tâm của chúng ta nó chưa an tịnh, chúng ta chưa có nghe được cái mùi hôi của họ. Họ ăn bò chúng ta nghe bò mà ăn chó chúng ta nghe hôi chó, mà họ ăn gà chúng ta nghe mùi gà, ăn vịt chúng ta nghe mùi vịt, ăn cá chúng ta nghe tanh cá à.

Khi nào cái tâm quý vị mà thanh tịnh rồi, quý vị ngồi gần cái người nào ăn cái gì quý vị biết liền, cái mồ hôi của người đó họ toát ra biết liền à. Ăn tỏi chúng ta cũng biết cái mùi tỏi liền chớ, ăn hành chúng ta cũng biết nữa, ăn rau dấp chúng ta cũng biết nữa.

Cái thứ đó là những cái thứ hôi, cho nên nó ăn rồi cái bắt đầu nó ra mồ hôi nó hôi à. Mà cái người mà thanh tịnh tâm rồi người ta nghe cái mùi đó người ta biết liền. Còn cái người mà không thanh tịnh tâm, thì bởi vì cái tâm của chúng ta nó chưa có an, cho nên nó làm cho chúng ta không có lắng (nghe) được cái mùi đó.

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

Đây là cái vị cư sĩ nói:

– Thưa không, bạch Thế Tôn. Cao thượng thay, an trú với lòng từ! Thương xót chúng sanh như vậy thực tế. Thưa Thế Tôn, xin Thế Tôn diện kiến thân chứng cho con hiểu ở điểm này. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn an trú lòng từ vô bờ bến.

Nghĩa là cái vị cư sĩ Jivaka này nói với Đức Phật, nghĩa là chứng nhận cho Người đã là thấy được cái lòng từ của Đức Phật là vô bờ bến, một vị tu sĩ mà thọ thực như vậy là không có cái tâm từ nào mà vô bờ bến (bằng) được hết.

Nghĩa là ăn như vậy, nghĩa là khi mà cái tâm từ như vậy, trước cái món ăn dù có ngon đi nữa cũng không tham đắm đâu, cho nên ăn cơm lạt hay hoặc là không ăn nữa, đó là người ta thọ – những cái đó là người ta ăn như vậy không bao giờ có lỗi lầm. Vì vậy mà những cái lời trước kia mà cái vị cư sĩ này hỏi Phật đó là những cái lời phỉ báng Phật, là những cái lời nói sai cái ý của Phật, không có đúng.

– Này Jivaka, cái gọi là tham, là sân, là si ấy được Như Lai loại trừ, chặt đến tận gốc, làm cho như thân cây tala, khiến cho không thể tái sanh được, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jivaka, nếu như vậy là ý nghĩ ông muốn nói, thời ta đồng ý với ông.

Nghĩa là Đức Phật nói tâm tham, tâm sân, si mình không còn có nữa thì làm sao mình thích cái món ăn ngon này! Các con hiểu điều đó chớ?

Tại sao Đức Phật (không) nói là mình ăn chay hay hoặc này kia, mà Đức Phật nói: Tại vì cái ý muốn nói Ta là lòng từ của chúng ta đối xử chúng sanh vậy, là tại vì cái tâm tham, sân, si chúng ta hết rồi, Phật hết rồi, cho nên vì vậy bây giờ trước cái món ăn này, dù là có ngon cách gì đi nữa cũng không cám dỗ được Đức Phật, bởi vì tham nó không còn! Các thầy hiểu chỗ đó không?

Cho nên cái bài kinh rất là giá trị. Cho nên bước đầu vào mà chúng ta đọc đến cái bài kinh này, chúng ta không phải là thuộc loại Đại Thừa Bà La Môn mà ăn chay đâu, mà chúng ta phải biết rằng ăn cái món ăn của chúng ta là ăn ở trên cái tâm từ bi của chúng ta, cái từ của chúng ta bao giờ nó cũng phủ trùm tràn đầy với chúng sanh hết.

(18:11) Chúng ta phải hiểu được cái bài kinh như vậy, vì vậy mà chúng ta mới thấy rằng chúng ta thanh tịnh được thân tâm, nuôi được cái chánh mạng của chúng ta chớ! Còn không khéo mà không thấy được như vậy thì chúng ta nuôi tà mạng mất đi rồi. Ăn mà còn chế ra đùi gà, ăn còn chế ra đồ mặn, nào là chế ra y như là đồ mặn thì thôi để đồ mặn ăn đi cho rồi đi, còn bày đặt cái thứ này ra chi?

Cho nên bên những cái nhà Đại Thừa, có nhiều cái bữa mà đi thọ trai Thầy thấy họ làm đồ chay thật, nhưng mà họ bày ra như mắm chay hoặc cái này kia. Thầy vô tiệm cơm chay cũng vậy. Kêu họ, họ đem một cái đĩa thịt y như thịt heo vậy, mà họ làm bằng bột không à, họ cũng nhuộm nào là da heo, nào là mỡ rồi nào nạc, họ làm tùm lum ra. Thật sự ra, thôi, dẹp cái đó đi! Thấy nó như vậy mà còn nuốt được thì nuốt làm sao được? Vậy mà người ta ngồi đó mà người ta nuốt, gọi là ăn chay!

Phật nói thấy không ăn mà, dù là có thấy cái đó là không thật đi nữa nhưng mà thấy là cái miếng thịt con heo, hay hoặc là con gà là nhất định không nuốt được.

Còn các con biết không, người ta lấy mỳ căn đó người ta xé xé ra giống như thịt gà mà xé vậy, người ta trộn ba cái rau răm vô, người ta nói làm gỏi gì đó. Trời đất! Thật sự ra mình ăn chay, đừng có làm cái điều đó, làm như là xé thịt gà mà trộn gỏi vậy đó!

Thiệt là những cái – đời người người ta ham ăn thịt chúng sanh, rồi bây giờ ăn chay rồi không dám ních, bây giờ mới làm ra những cái đó để mà làm cái ảo giác chớ cái gì! Chính chúng ta nuốt vô cổ chúng ta, ngon ở chỗ miệng chúng ta là cái ảo giác của thực phẩm rồi. Nó đâu có thật? Nó là bất tịnh, nó là những cái món ăn bất tịnh cho chúng ta.

Cho nên hằng ngày chúng ta đặt cái thực phẩm trước mặt chúng ta tu là vì chúng ta quán xét bất tịnh cho nên chúng ta không còn thèm khát nữa. Còn quý thầy không chịu đặt cái niệm bất tịnh, cái thực phẩm bất tịnh, quý thầy nay thèm cái này, mai thèm cái kia, mốt muốn ăn cái nọ, mốt bữa kia muốn uống cái nọ, điều đó là do chúng ta thiếu tu tập.

Nếu mà chúng ta tu tập cái Định Vô Lậu mà đặt cái niệm trước mặt, hằng ngày được thực phẩm đến chúng ta, chúng ta không thèm đâu, chúng ta coi như nó là một cái món thuốc để mà chúng ta cứu cái bệnh đói của chúng ta.

Đúng là Phật đã dạy chúng ta tu tập như vậy đó. Nhưng vì chúng ta không biết pháp hành cho nên bây giờ tới cái ngày giờ này mà chúng ta vẫn thèm, mà vẫn ăn, vẫn khát, muốn ăn cái này, muốn ăn cái kia. Hầu hết là quý thầy, các Hòa thượng đều là bây giờ đang sống ở trong cảnh đó.

Cho đến khi mà biết các vị kia nào là bán thân, nào là bệnh thế này thế khác, ung thư đủ thứ cũng đều là nuốt ba cái đồ độc, cái ảo giác ngon ngọt ở cái chỗ cổ họ chớ gì? Làm đồ ăn, bỏ ba cái bột ngọt đầy ở trong đó, nuốt cho ngon cái miệng có một chút, mà cuối cùng để mang cái thân rất là khổ sở. Hầu hết là các bậc Hòa thượng, các bậc Tôn túc của chúng ta chớ ai, ông nào cũng méo miệng nhăn răng hết khi sắp sửa chết.

Thầy nói đây, các thầy cứ để mắt mà nhìn coi có không? Tại sao mà chúng ta tu hành, bây giờ tay chân chúng ta run run như thế này, như giò gà vậy? Có phải là chúng ta nuốt ba cái đồ độc không, bây giờ gân nó mới giựt, chớ nếu chúng ta không có nuốt đồ độc thì làm sao mà giựt gân, giựt tay như vậy!

Bởi vì háu ăn cho cái miệng cho ngon mà tạo cho cái tội của thân chúng ta biết bao nhiêu? Người ta không thấy được. Bởi vậy Thầy nói, Đức Phật nói dục là khổ, ham nó là khổ, mà không thấy, ly nó ra đi! Tại sao không ly? Cho nên vì vậy mà không ly, làm sao mà nhập được Sơ Thiền? Cho nên không nhập được Sơ Thiền, nội cái ăn không của chúng ta cũng làm sao mà có được Sơ Thiền!

(21:22) – Này Jivaka, người nào vì Như Lai, hay đệ tử của Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân.

Đó, người nào mà vì Như Lai nè, vì đệ tử của Như Lai mà giết vật để cúng dường thì đó gọi là phi công đức. Các con thấy cái bài kinh này rất rõ ràng. Phật nói đừng có giết hại chúng sanh mà đem cúng dường được phước đâu, người nào mà làm cái điều đó là phi công đức đó!

Nó có năm cái nguyên nhân, năm cái nguyên nhân nào, thế nào? Năm cái điều kiện mà xảy ra, một cái người đó mà tạo cái điều ác đó. Cái nguyên nhân thứ nhất là:

Khi người ấy nói như sau: “Hãy đi và dắt con thú này đến”, đó là nguyên nhân ác thứ nhất, người ấy chất chứa nhiều phi công đức.

Lúc bấy giờ mình muốn làm thịt một con vật chớ gì, phải bắt con gà, trói chân nó lại, thì cái lúc bấy giờ chúng ta bắt con gà, trói chân nó lại, thì nó có đau không? Đau chớ! Nó đương đi như vậy mà bây giờ chúng ta làm vậy.

Cho nên Phật nói nè: “Hãy đi và dắt con thú này đến chỗ đó”. Bây giờ nếu mà chúng ta mần con bò hay con heo, tức là chúng ta phải cột cổ nó, lôi nó đi chớ gì? Thì đó là cái phi công đức, tức là cái ác, cái nguyên nhân ác thứ nhất, nó là cái phi công đức thứ nhất. Cái thứ hai là:

Con thú ấy đã bị dắt đi, vì bị kéo lôi nơi cổ, nên nó cảm thọ đau khổ, nhức nhối, đó là nguyên nhân ác thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức.

Không có công đức gì hết! Nghĩa là bây giờ chúng ta muốn làm con bò để đãi Phật và đệ tử của Phật chớ gì? Bắt đầu bây giờ phải nắm cái dây cột cổ con bò lôi đi, lôi lại cái chỗ mà chúng ta đập nó cho nó chết rồi chúng ta mới cạo lông nó mới được, do đó mà lôi kéo con vật thì thử hỏi các thầy thấy con vật có đau không?

Đó là Phật nói cái phi công đức thứ nhất. Đó, nó có công đức gì không? Phi là đâu có công đức gì đâu, mà lại nó là cái chất chứa những cái ác, nhiều cái phi công đức chớ không phải là một.

Phần thứ ba:

Khi người ấy nói: “Hãy đi và giết con thú này”, đó là nguyên nhân ác thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức.

Đó là cái thứ ba. Như vậy là bây giờ dẫn con thú đó đi, rồi bây giờ mới đâm vào cổ con thú đó cho chết, cho máu nó ra đi, rồi mới làm thịt nó đi, thì đó là cái phi công đức, cái ác thứ ba, phi nhiều cái công đức, nó không có công đức gì hết.

Thứ tư:

Khi con thú ấy bị giết, cảm thọ đau khổ, đây là nguyên nhân ác thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức.

Nghĩa là làm cái hành động đó là chất chứa nhiều cái phi công đức. Nghĩa là đem cúng Phật hay là cúng dường cho chư tăng đệ tử của Phật, thì cái người đó đương nhiên là không có công đức gì hết, mà lại chứa nhiều cái ác nữa.

Cái thứ năm:

Khi người ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử của Như Lai một cách phi pháp như vậy, đó là nguyên nhân ác thứ năm, người ấy chất chứa nhiều phi công đức.

(24:21) Đó thì các thầy thấy cái chỗ này chưa? Cái bài kinh này rõ ràng là ở trong kinh Trung Bộ, rất là rõ ràng, Phật dạy rất là rõ ràng, không phải là Thầy đặt đâu, để rồi có dịp quý thầy sẽ nghiên cứu lại cái bài kinh này.

Ở đây, toàn bộ những cái kinh điển mà của giáo lý của Đức Phật, Thầy đã thấy được cái pháp hành, và cái pháp mà dạy từ cái ăn chay, từ cái mà chúng ta tu cái Tứ Vô Lượng Tâm từ, bi, hỷ, xả, ngay cả cái chỗ ăn mà Đức Phật đã dạy cái này, Thầy thấy rất tuyệt vời là vì đem lại chúng ta có một cái lòng rất là thương yêu rộng lớn, và cái người nào mà làm sai.

Cho nên hàng Phật tử bây giờ hằng ngày mà họ đem họ cúng dường, họ sớt bát cho quý sư, cho các vị sư ở bên Nguyên Thủy, hằng ngày họ làm thịt làm cá, họ giết hại như vậy, thì đọc ở trong cái bài kinh này, có phước báo không? Không có phước báo gì hết! Như vậy là cái hoài công của họ đến với đạo Phật, hằng ngày phải tốn mồ hôi nước mắt mà như là bỏ cái hạt giống ở trên cái đường đất dầu, làm sao lên được?

Các con thấy không? Các thầy thấy rất rõ. Cái bài kinh này là phi công đức, năm cái điều kiện mà đưa đến thành một cái miếng ăn để cúng dường Phật rồi thì nó không có công đức gì nữa hết, hoàn toàn là tội ác, phải chịu tội ác thôi, không bao giờ mà có thể chạy trốn đi đâu được khỏi cái tội ác này.

– Này Jivaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử của Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân này.

Bây giờ đó thì các thầy thấy cái bài kinh nói tới đây là nó sẽ chấm dứt đó, nhưng mà cái người mà được nghe cái bài kinh này, họ tán thán và ca ngợi Phật hết sức là hết sức. Và Thầy đọc tới chỗ này, Thầy thấy đúng là cái người tu Tứ Vô Lượng Tâm đúng cách chớ không phải là…​

Vì đạo Phật có Tứ Vô Lượng Tâm từ, bi, hỷ, xả, thế mà thực hiện thiếu cái từ, bi, hỷ, xả đó, và Phật có một cái nẻo là Chánh Mạng – nuôi cái thân mạng của chúng ta chơn chánh, thì không thể nào mà đem những cái thực phẩm ác mà nuôi thân mạng của chúng ta được.

Đó thì chúng ta thấy qua cái bài này, thì đây là cái kết luận của cái bài kinh do vị cư sĩ Jivaka này tán thán:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, các Tỳ Kheo thật sự thọ dụng các món ăn không có khuyết phạm. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

Đó là kết luận của cái bài kinh đó. Như vậy thì quý thầy thấy, các thầy thấy rất rõ ràng là khi mà các vị Tỳ Kheo mà thọ cái món ăn đó, không bao giờ có khuyết phạm trong cái tội lỗi nào hết. Nghĩa là người ta để thịt cá dẫy đầy, nhất định là không ăn, không ăn là không ăn.

Mình ăn những cái vật gì mà không có – làm cho cái chánh mạng của chúng ta nó trở thành tà mạng thì nhất định là chúng ta không ăn, còn cái gì chúng ta ăn mà nuôi được cái chánh mạng thì chúng ta ăn.

(27:12) Cho nên thật sự đọc qua bài kinh này, Thầy nghe nói trong cái thời Đức Phật người ta cho thịt, cho này kia, chắc chắn là Đức Phật ổng mang về đó, bây giờ cái ngày đó ông nhịn đói, thà là ổng để…​ Ổng không phải ổng trả cho cái người cư sĩ đó liền đâu, bỏ vào thì ổng cũng vẫn mang về bát, cho đến khi mà ổng đến cái chỗ mà ổng thọ thực, ổng thấy toàn bộ là thịt của chúng sanh thì ổng bỏ ở ngoài đất trống đó, cũng không bao giờ bỏ ở trên cỏ nữa.

Bởi vì lòng từ của Đức Phật không bao giờ làm cho một cái lá cỏ héo mà, cho nên ổng bỏ ở trên mặt đất trắng đó, để rồi ai ăn hay con vật gì ăn mặc tình, chứ Đức Phật không bao giờ hề hấn đến một cái chỗ đó để nuôi cái chánh mạng của mình đâu.

Đó thì qua cái bài kinh này chúng ta thấy được cái điều kiện tiên quyết đầu tiên để chúng ta thấy từ cái ăn uống của chúng ta mà hầu hết là quý thầy đã sai.

Nhất là bên Nguyên Thủy gọi là tu theo gốc của đạo Phật mà cái ăn uống này họ luận cái kiểu của họ, già hàm lẻo mép để lợi dụng cái thịt của chúng sanh, cho nên ông sư nào cũng mập ú bằng cái thịt, xương, máu của chúng sanh hết, cho nên cuối cùng thì ông nào cũng chẳng ra ông nào hết. Nghĩa là tu – thậm chí như mấy ổng cũng nói là thiền định trong cái thời mạt pháp này chẳng ai nhập định được hết. Đó là cái gạt người ta.

Nếu người ta tu đúng chánh pháp của Phật ly dục ly ác pháp, người ta tu Tứ Vô Lượng Tâm, người ta không bao giờ nuôi cái tà mạng, thì thiền định của Phật đâu phải là chuyện khó khăn? Thầy nói đâu có phải là chuyện khó! Tại vì chúng ta tu không đúng cách cho nên nó khó chớ còn tu đúng cách nó không phải khó đâu.

Bây giờ chúng ta tiếp tục. Qua cái bài kinh này, Thầy nhắc lại, đây là cái bài kinh Jivaka, số 55, trang 71, Tạng Kinh Việt Nam, kinh Trung Bộ tập 2. Đó, Thầy nói như vậy là quý thầy sau này cứ ngay cái số đó quý thầy lật ra cái bài kinh đó thì rõ ràng, chớ không có một cái gì khác hơn hết.

3- CẦN THÔNG HIỂU MỚI PHÁ BỎ ĐƯỢC TÀ KIẾN CŨ

(29:04) Phần giới hành chúng ta chia làm bốn giai đoạn tu tập:

Nghĩa là trong khi mà chúng ta tiến tới để mà tu tập giới hành thì chúng ta phải hiểu biết có bốn giai đoạn mà để chúng ta tu tập.

1. Thông hiểu những gì cần phải thông hiểu;

Đó như Phật đã dạy đó, chúng ta phải thông hiểu, thông hiểu rồi mới tu tập, chớ đâu phải là như hồi nãy giới bổn mà mấy ông sư đó nói không có cần hiểu biết, chỉ thọ rồi bắt đầu mình cứ cố gắng mình giữ nó thôi, giữ đừng cho phạm thôi. Sự thật không thông hiểu làm sao mà người ta không phạm? Cho nên cái lối đó, cái lối lý luận của học giả, chớ không phải là cái lối lý luận của Phật pháp được. Cho nên ở đây đúng là chúng ta phải thông hiểu những gì cần phải thông hiểu.

Lúc này chúng ta phải học hiểu cho rõ, biết cho rõ tất cả những gì chúng ta sẽ thực hành, sau này không còn bị mọi tà kiến, kiến chấp đang mang đầy ắp trong đầu của chúng ta.

Nghĩa là bây giờ chúng ta phải hiểu cho rõ ràng, chớ không khéo thì trong những cái đầu óc của chúng ta bây giờ – một con người làm sao chúng ta không có cái hiểu biết, mà cái hiểu biết đó tức là cái tà kiến, cái kiến chấp của chúng ta ở trong đầu óc chúng ta rất nhiều.

Từ ngày mà Thầy đọc lại trong kinh Nguyên Thủy, kinh A Hàm thì tất cả những cái gì mà kinh Đại Thừa nó còn đầy ắp ở trong cái đầu của Thầy, cho nên nhiều khi Thầy phải đứng ở trong cái kiến chấp đó mà Thầy luận bằng cách này bằng cách kia, Thầy bác cả cái kinh Nguyên Thủy nữa chớ không phải không đâu.

Thầy nói cái này còn thấp, cái này còn nói theo cái kiểu mà phàm phu tục tử, nhưng cuối cùng Thầy xét thấy không phải là phàm phu tục tử làm được cái chuyện này đâu, nó là những cái bước đầu mà cho cái người tu phải tập luyện như vậy nó mới đúng cách.

Cho nên từng đó những cái kiến chấp, những cái tri kiến mà học tập của Đại Thừa và Thiền Đông Độ, Thầy mới được quét sạch ra khỏi cái đầu của Thầy, chớ còn không cái thứ đó nó làm cho đầy ắp luôn cái đầu của Thầy.

Nhất là Trung Quán Luận của ngài Long Thọ, nó làm cho Thầy cũng đầy ngập ở trong đó đó, cho nên mở mở ra thì bao giờ Thầy cũng đem Bát Nhã với Trung Quán Luận mà Thầy quét bên nây Thầy quét bên kia, nhiều khi Thầy đập cả kinh Nguyên Thủy nữa, Thầy đập xuống hết. Nhưng mà cuối cùng Thầy thấy điều đó là cái điều già hàm lẻo mép của mấy ông già này chớ không phải là cái chính.

Chính vì Đức Phật dạy chúng ta từ cái phòng hộ sáu căn mà chúng ta đi đến cái Chánh Niệm Tỉnh Thức, làm chúng ta thấy rõ ràng con đường giải thoát, chúng ta bước vô là có giải thoát, còn mấy ông này cái miệng nói chớ còn chẳng có giải thoát gì được hết.

(31:22) Cho nên cuối cùng Thầy mới quét ba những cái tri kiến, ba những cái tà kiến ở trong đầu đó ra mới sạch, chớ còn không Thầy cũng dính đầy ắp ở trỏng hết, cho nên mở mở ra một cái gì – thì hồi đầu mở ra cái gì thì cũng là Phật Tánh, cũng là Bát Nhã, cũng này kia không à, cái gì cũng là huyễn giả hết, chỉ cho mình không có dính mắc nó là được. Mà nói như vậy là cái pháp hành không bao giờ có cái gì hết, cho nên cuối cùng là dính mắc vẫn hoàn dính mắc.

Đó thì ở đây, chúng ta là những người mà đầy ắp những cái tà kiến, những cái kiến chấp ở trong đầu của chúng ta rất nhiều. Những cái tà kiến, kiến chấp này nó rất độc, nó rất độc chớ không phải là nó không độc đâu! Nó dính vô đầu chúng ta mà buông nó ra cũng không phải dễ đâu. Nó phải có một cái trí tuệ sáng suốt, là khi chúng ta phải hành cho được cái gì rồi chúng ta mới tin, mới phá nó được. Còn nếu mà chúng ta không có hành được, chúng ta khó phá lắm.

Nghĩa là bây giờ quý thầy mà tu chưa tới đâu, thì những cái kiến chấp về Thiền Đông Độ hoặc là về Đại Thừa mà quý vị đã được các bậc tổ mớm cho quý thầy đã hiểu được những cái nghĩa lý của nó rồi, thì bắt đầu quý thầy mà chưa có tu được giải thoát thì quý thầy khó mà giải trừ những cái tà kiến, những cái kiến chấp đó lắm. Khó lắm! Khi nào mà quý thầy đã tu mà quý thầy đã giải thoát được rồi, quý thầy làm chủ được rồi, thì chừng đó quý thầy mới thấy đó là sai, chớ còn bây giờ quý thầy vẫn thấy đó là đúng.

Cho nên có nhiều người người ta cứ luận để mà hòa hợp, hòa hợp, đó là những cái người ta không có bỏ được cái kiến chấp đó, những cái tà kiến đó. Người ta muốn hòa hợp giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa là cái kiến chấp của Đại Thừa người ta không bỏ được, người ta thấy đó còn đúng. Là vì những người này là họ tu chưa có tới đâu hết cho nên họ chưa có biết cái giải thoát là ở chỗ nào, cho nên họ thấy đó là còn đúng, cho nên họ bỏ cái kiến chấp, tà chấp của Đại Thừa và của Thiền Đông Độ họ bỏ không được.

Họ cứ cho rằng mấy ông tổ đó còn đúng chớ chưa phải sai đâu. Nhưng mà sự thật cái làm được hay không làm được, bây giờ chúng ta tu tập chúng ta làm được rồi chúng ta mới thấy được cái nói của mấy ông đó là sai, còn khi mà chúng ta chưa làm được thì chúng ta vẫn còn dính đó chớ chưa dám bỏ nó ra đâu.

(33:23) Những tà kiến, kiến chấp này rất độc ác, phần nhiều là do pháp tưởng sanh ra của các loại kinh ngoại đạo, rồi đầu óc ngu si của chúng ta mê mờ không rõ, cứ cho rằng chúng ta hiểu là đúng, nên không chịu bỏ, không chịu sửa sai, do thế tu theo đạo Phật mà lại tu theo tà giáo ngoại đạo, nên cuối cùng luôn luôn phạm giới luật của đạo Phật.

Đức hạnh không bao giờ có.

Đức hạnh người tu sĩ chẳng ra gì, nhìn ra chẳng giống ai, đời thì chẳng ra đời mà đạo thì chẳng ra đạo, chẳng làm chủ được sanh tử mà cứ ngỡ tưởng là có thể làm chủ được sanh tử, mà cứ tưởng rằng mình có thể nhập vào bản thể Chân Như Phật Tánh là sẽ chấm dứt được sanh tử luân hồi.

Cứ nghĩ rằng mình có thể mình nhập vào đó là mình làm chủ được liền, làm chủ được sanh tử luân hồi. Nhưng mà cái nói mà nhập, thì thật sự ra nhập như thế nào thì họ chẳng biết cách thức nào mà nhập hết, rồi bắt đầu họ tưởng ra như vậy, để rồi họ nghĩ ra những cách hão huyền của họ, họ tự gạt họ rồi gạt người khác nữa!

Phật Tánh do tưởng nhận ra, mà tâm tham, sân, si chẳng lìa được, Ngũ Triền Cái che khuất, Thất Kiết Sử trói buộc mà chẳng thấy, lại bảo là đó là tạp khí chưa hết, Bồ Tát còn tạp khí huống là chúng ta!

(35:02) Đó là những cái lý luận của họ đó. Nếu mà họ làm chủ được thì tâm tham, sân, si họ đâu còn? Ngũ Triền Cái đâu còn? Thất Kiết Sử đâu còn trói buộc họ? Thế mà bây giờ họ đã thấy Phật Tánh họ, họ đã nhận ra Phật Tánh họ bằng cái tưởng của họ thôi, cho nên tâm tham, tâm sân, si của họ vẫn còn, triền cái vẫn còn, kiết sử vẫn còn, thế mà họ luôn luôn có tham, có sân, có si, thì họ lại bào chữa họ bằng cách là đó là tạp khí.

Họ bảo đó là cái thói quen của họ lâu đời rồi, bây giờ có thấy Phật Tánh thì cái thói quen nó cũng chưa hết, phải chờ một thời gian nữa. Không biết chờ bao đời mà nó mới hết, Thầy cũng chả hiểu! Nhưng mà bây giờ họ bảo chờ đi, chờ đi, chờ một thời gian nữa rồi cái tạp khí nó sẽ hết, bây giờ mình thấy Phật rồi, thời gian sau tạp khí nó mới hết.

Nhưng mà sự thật đó là cái lý luận của họ để che đậy cái sự không có pháp hành, cho nên họ còn lập luận: “Bồ Tát còn tạp khí, huống hồ là chúng ta!” Họ lấy lý luận là Bồ Tát còn cái sân, si, còn chúng ta còn sân, si thì chúng ta đâu có đáng kể gì, cho nên cứ cố gắng mà giữ gìn cái Phật Tánh đó đi rồi chúng ta sẽ hết. Nhưng mà cuối cùng thì như thế nào? Hằng ngày cứ đắm nhiễm ở trên dục lạc thì thử hỏi tham, sân, si càng nuôi lớn ra, có gì đâu mà gọi là giải thoát?

Thật đáng thương cho những người này, bỏ hết tất cả cuộc đời, không làm lợi ích cho mình, cho người mà chỉ ôm ảo ảnh để rồi đọa ở trong tam đồ khổ, luân hồi mãi mãi mà không biết!

Họ tưởng là đời này họ làm sư, đời sau họ cũng làm tổ nữa, đời kế nữa họ cũng làm tổ nữa, họ tính họ nghĩ rằng họ làm hoài như vậy để họ đi vào trong sanh tử mà độ chúng sanh. Họ chỉ trong cái đời nay có mình họ là độ chúng sanh thôi, còn hoàn toàn là không có ai mà đủ khả năng độ chúng sanh. Họ tham đắm đến cái mức độ mà Thầy không tưởng tượng được!

Cho nên họ nói rằng Bồ Tát luôn luôn là đi vào trong sanh tử vì là cái hoằng hóa, vì cái lợi ích cho chúng sanh lớn cho nên mới thích đi vô đi ra sanh tử, cho nên họ chẳng sợ sanh tử. Sự thật ra họ có làm chủ sanh tử đâu mà họ không có đi vô đi ra sanh tử?

Đời sống xuất gia của tu sĩ hiện giờ chỉ có y áo và chiếc đầu cạo trọc, sinh hoạt tôn giáo, còn tâm của quý vị thì luôn luôn sống ở trong dục lạc thế gian…​

Nghĩa là bây giờ nhìn cái giới tu sĩ của chúng ta hiện giờ, họ có được cái bộ y áo với chiếc đầu trọc mà thôi, còn cái sinh hoạt tôn giáo thì cúng bái, lễ lộc này kia, thuyết giảng đồ vậy thôi, còn cái tâm của họ thì sống ở trong cái dục lạc thế gian y như người thế gian, không khác chút nào hết.

Lời nói này quý thầy cứ xét có đúng không? Cho nên cái giới luật đều là vi phạm hết, lỗi nhỏ cũng phạm, lỗi lớn cũng phạm, không có lỗi nào mà họ chừa hết.

…​ đời sống Phạm hạnh của một tu sĩ chẳng còn có nữa.

Nhìn qua cái đời sống Phạm hạnh của tu sĩ không còn có nữa.

4- NGÀI RATTHAPÀLA CHỌN SỐNG CUỘC ĐỜI PHẠM HẠNH

(37:53) Đây chúng ta nghe Ratthapàla bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn, như con được hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, thời sống tại gia đình, sống theo dục lạc, thật không dễ gì thực hiện Phạm hạnh…​

Nghĩa là cái đời sống của người thế gian là người ta sống ở trong cái dục lạc, làm sao mình sống ở trong cái thế gian mình sống được cái đời sống Phạm hạnh được? Đó là cái vị cư sĩ này mới trình lại Đức Phật. Thật sự là sống ở trong cái gia đình mình không thể nào mà sống cái đời sống Phạm hạnh như cái người tu được hết.

…​ hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Con muốn, bạch Đức Thế Tôn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, từ bỏ dục lạc thế gian, sống không nhà cửa. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con xuất gia dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, cho con thọ đại giới.

Đó, bây giờ cái ông cư sĩ này ổng xin Đức Phật, ổng thấy rằng cái đời sống mà ở trong gia đình không có thể nào mà ly được những cái dục lạc của thế gian được hết. Còn bây giờ là quý thầy đang sống ở trong một cái nơi tu hành, là một vị tu sĩ thọ đại giới hẳn hòi đàng hoàng, mà sống ở trong dục lạc còn hơn ở người thế gian, thì đâu có trắng bạch như vỏ ốc được, thì làm sao mà có giải thoát?

Đó là cái vị cư sĩ này đã xác định cho chúng ta thấy rằng: Con đường của đạo Phật phải khác, không thể nào giống con đường thế gian được. Thế mà đạo chẳng ra đạo, đời chẳng ra đời, thì quý vị làm sao giải thoát được?

Sau khi được cha mẹ cho đi tu và được Phật chấp nhận xuất gia, chẳng bao lâu Tôn giả chứng quả A La Hán. Chứng quả xong Tôn giả xin Phật trở về thăm cha mẹ. Khi về đến nhà, Tôn giả không được sự tiếp đãi mà còn nhận những lời sỉ nhục, Tôn giả chỉ nhận được bát cháo thiu của người đầy tớ. Nhờ thế mà phụ thân Tôn giả mới đến gặp Tôn giả mời Ngài về nhà:

– Này con thân yêu Ratthapàla, có phải con ăn cháo thiu ngày hôm qua không? Con phải về nhà cửa của con đi.

(40:05) Một khi cái người con mà đi tu rồi, khi về gặp cha mẹ, người đó có mừng rỡ không? Họ rất thản nhiên. Qua cái hình ảnh của một cái vị cư sĩ này chúng ta thấy nè, lâu ngày ba năm sau theo Phật, cho nên lúc bấy giờ tu hành cho đến ba năm sau, vị này tu chứng quả A La Hán rồi mới xin Phật, Phật thấy rằng đúng là cho về được, cho về thăm.

Nhưng mà vị này về thăm, thì từ khi mà xin đi tu thì gia đình không có cho, cho nên ông nằm vạ ông đòi thế này thế khác, cuối cùng thì cha mẹ bằng lòng cho đi là vì thương đứa con một của mình mà thôi chớ không muốn cho nó đi tu.

Cho nên khi mà về, thấy ông này ở ngoài cửa thập thò đó, đi ngang qua cái cửa mà để khất thực xin đó, thì ổng ở trong nhà ổng chửi như thế này: “Cũng ba cái thằng đầu trọc này nè mà nó làm cho con tao ba năm rồi mà không có thấy nó về”, ổng chửi như vậy đó. Thì cho nên đó là ông nói ông về nhà ông là ông bị sỉ nhục là chỗ đó đó, bị chửi ba cái thằng đầu trọc đó, do đó vì vậy mà ổng bị sỉ nhục đó.

Vì vậy, sau khi đó thì ông đi qua, thì có một cái đứa đầy tớ trong cái nhà của cha ổng đó, mới đem cái bát cháo thiu mà đem đổ đi, ăn không hết đổ đi, thì ổng mới kêu cái người đầy tớ đó: “Bà chị ơi! Bà đem đổ cái này vô trong bát tui đi!” Thì cái bà này bả thấy là cái vị này, thôi bây giờ trút trong đó đi cái đi về.

Nhưng mà bà này đến gặp cái vị tu sĩ này thì mới nhận ra là ông chủ nhỏ của mình, cho nên bà ta mới đổ bát cháo rồi mới chạy về báo cho ở gia đình hay. Nhưng mà không ngờ chạy về báo thì ông ở đây ổng ăn cái bát cháo thiu rồi, cho nên ông cha mới hay, mới mời, kêu gọi đứa con, mời đứa con về. Nhưng mà đến mời về thì ông nói ông đã ăn xong rồi, cho nên ông cha mới hỏi nè:

– Này con thân yêu, có phải con ăn cháo thiu ngày hôm qua không? Con phải về nhà cửa của con đi.

– Thưa gia chủ…​

Ông ta không còn gọi cha mình là cha hay bố nữa, mà ông gọi là “thưa gia chủ”, coi như là cái người bố thí thôi, coi như là cái người cư sĩ thôi.

(42:06) – Thưa gia chủ, thôi vừa rồi! Hôm nay tôi đã ăn xong rồi.

Nghĩa là bây giờ có mời gì ông cũng chẳng có thèm mà trở về đó nữa.

– Vậy này con thân yêu, hãy nhận lời ngày mai đến dùng cơm.

Tôn giả im lặng nhận lời. Người cha về đến nhà, lấy vàng bạc châu báu chất thành đống, gọi các người vợ cũ của Tôn giả trang điểm làm cho thật đẹp.

Để mà quyến rũ cho ông ta ở lại, đừng có…​ Thấy của cải, vàng bạc, thấy vợ đẹp thì ông ta chắc chắn là không có đi nữa.

Đúng giờ thọ trai, Tôn giả đến nhà của phụ thân, ngồi xuống nơi chỗ đã soạn sẵn. Rồi người cha của Tôn giả trình bày đống vàng và của báu:

– Này con, đây là tiền của cha mẹ, đây là tiền của của bố, đây là tiền của của ông bà tổ tiên, tất cả tiền bạc này là tiền bạc của con. Cha mẹ chỉ vì có mình con mà thôi, nay con đi tu, tiền bạc này bỏ cho ai? Con hãy về mà thọ hưởng tài vật và làm việc phước đức bố thí cho người khác đi.

Đó ông cha ông dụ như vậy đó, ổng dụ người con như vậy đó. Thì Tôn giả trả lời:

– Thưa gia chủ, nếu gia chủ làm theo lời nói của tôi, gia chủ hãy đem vàng bạc châu báu này cho vào các cỗ xe, chở ra sông Hằng mà đem đổ xuống dưới đi.

Đó, ông bảo ông cha biểu đem đổ hết của cải này đi.

– Vì sao vậy? Này gia chủ, vì do của báu này mà làm sầu, bi, ưu, khổ sẽ đến với gia chủ.

Lúc bấy giờ, những người vợ cũ của Tôn giả người thì ôm chân, kẻ thì nắm tay Tôn giả và nói:

– Thưa phu quân, vì thiên nữ nào mà phu quân sống Phạm hạnh, bảo cho chúng em biết?

– Này các bà chị…​

Ông gọi vợ ổng bằng bà chị!

– Này các bà chị, không phải vì thiên nữ nào mà chúng tôi sống Phạm hạnh.

Thì mấy cái người vợ nghe rồi đó, nghe ổng nói: “Tôi không phải vì thiên nữ nào mà tui sống đời Phạm hạnh này đâu!” Đó ổng trả lời như vậy đó, thì mấy cái người vợ ổng:

– Trời đất ơi, phu quân đối với chúng em gọi chúng em là bà chị, còn cái chỗ nào mà nói nữa!

Tôn giả nói với phụ thân:

– Thưa gia chủ, nếu gia chủ muốn bố thí đồ ăn thì hãy bố thí đi, chớ có làm phiền chúng tôi nữa.

Sau khi thọ thực xong, Tôn giả nói kệ rồi ra đi.

Đó thì các con thấy, cái tình cảm mà của cái gia đình của người ta, không còn cái tình cảm riêng tư nhỏ hẹp nữa, mà cái lòng từ của người ta đối xử với mọi người bình đẳng như nhau, nó mới chân thật là giải thoát.

Còn bây giờ chúng ta lâu lâu ba năm mà về, mừng rỡ gia đình chạy ra nắm chân nắm tay rồi an ủi thế này thế khác, điều đó làm chúng ta càng dính mắc ở trong những cái sợi dây, những cái mạng lưới của tình cảm thương ghét làm chúng ta khó mà giải thoát được.

(45:13) Cho nên khi người mà theo Đức Phật tu hành rồi, thì khi cái người đó mà đạt quả A La Hán rồi Đức Phật mới cho về nhà chớ không cho về nhà bậy, mà cái người nào lén về nhà là bị cám dỗ hết.

Cho nên sự thật ra khi mà đi tu rồi theo một vị thầy, mà thật sự ra đời nay rất khó, Thầy nói rất khó. Theo Thầy rồi mà Thầy không bao giờ Thầy muốn cho họ rời khỏi Thầy, Thầy muốn làm sao họ sống một bên Thầy, độc cư với Thầy, sống cho đến khi mà tu chứng rồi thì chừng đó Thầy mới cho ra. Còn chưa chứng mà Thầy cho ra trong cái khi mà đang cố gắng để tu tập, cái tâm nó còn yếu lắm, mà khi ra cái tình cảm ở ngoài đời nó cám dỗ, và những cái vật chất ngoài đời nó cám dỗ vô cùng lận.

Cho nên khi mà tu hành rồi thì chúng ta biết được từng cái giai đoạn bắt đầu vô và đến khi mà đạt được thì chúng ta mới rời khỏi thầy. Mà nếu không mà rời ngang rời ngửa đi chơi chỗ này chỗ kia rồi thì cái người tu sĩ đó kể là hư rồi, không bao giờ mà còn tu được nữa. Thật sự là nó khó như vậy chớ không phải là cái chuyện đơn giản đâu. Cho nên chúng ta nghĩ rằng chúng ta vào tu rồi mà chúng ta còn đi chơi chỗ này chỗ kia thì cái người đó hết tu rồi.

Muốn vào tu là phải chọn được bậc thầy xong rồi, giới hạnh nghiêm túc rồi, đến đó thấy có pháp hành, có lý pháp, có cái hành pháp hẳn hòi, bắt đầu chúng ta chấp nhận là khép mình ở trong khuôn khổ, theo với thầy tận cùng năm năm, mười năm, chừng nào xong rồi thầy cho phép chúng ta mới rời khỏi thầy.

Còn đằng này chưa gì, trong vòng chừng nửa năm hoặc là một năm à, xin thầy đi chơi một vòng hay hoặc là về thăm cha mẹ, kiểu đó là kiểu chết hết rồi. Thầy thấy rất là khó.

Cho nên ở đây Thầy nhắc lại cho quý thầy đến những cái giới hành này là những điều mà Thầy dặn bảo rất là kỹ lưỡng.

Khi mà không có Thầy thì phải lấy cái giới luật, những cái giới mà Thầy đã giảng làm cái điều kiện mà trói chặt mình, ở trong khu vực nào là quyết chết ở trong khu vực đó, năm năm, mười năm đạt được thì mới rời khỏi khu vực đó, mà không đạt được thì nhất định là không ra khỏi khu vực đó. Tạo thành một cái giới đàn, cái giới tràng cho nó vững chắc như vậy thì may ra chúng ta mới có tu hành tới nơi tới chốn.

Bởi vì mười năm mà Thầy quyết định ở trong thất, thậm chí như trong cái khoảng thời gian – thì các con biết rằng cái thời gian 71 mà Thầy về ẩn bóng mà Thầy tu, 75 thì chiến tranh nó tàn khốc chớ đâu phải, khắp đất nước chúng ta mà, nhất là miền Nam chúng ta, bom đạn như thế này mà quyết định là không rời thất mà.

Thầy ngồi đó mà bom đạn nó ào ào, máy bay trực thăng nó bắn rocket, các thầy nghĩ. Nghĩa là người nào cũng phải chui hầm trốn hết à, mà Thầy thì ngồi thiền sừng sững, chết bỏ nhất định là chết bỏ. Đó như vậy là chúng ta mới thấy được cái gan dạ của cái người tu hành, chớ còn nếu không chúng ta phải rời thất mà bỏ chạy đi chớ còn không làm sao hết.

Cho nên tất cả xóm người ta đều tản cư hết, riêng Thầy ngồi ở trong thất Thầy tu. Cho nên lúc bấy giờ đó, quân đội quốc gia tấn công vô, nó thấy Thầy nó hoảng hồn hết, nói: “Thầy không nằm xuống? Máy bay như vậy, súng đạn vầy mà Thầy ngồi đó à?”

Đó thì nó thấy là ngồi chong ngóc ở trên cái tượng Phật của Thầy, cái tượng Phật ở đằng trước đó, ở trong thất của Thầy, Thầy để tượng Phật lớn như vậy đó. Thầy ngồi dưới đất, cái tượng Phật – Thầy nói chết là chết dưới tượng Phật chớ còn Đức Phật – cái tượng nát thì Thầy nát, còn tượng không nát là không nát.

Mà nó bắn xung quanh, tất cả những cái nhà xung quanh, Thầy nói nhà gần gần vầy, cũng như mấy cái thất vầy, như cái nhà đó, cháy, lửa cháy phừng phừng hết, mà cái nhà Thầy ngồi không cháy!

(48:29) Nên các con biết. Mà trực thăng nó bắn rocket xuống, bởi vì xung quanh hàng rào vầy đó là cách mạng nó đào hầm đào hố nó nằm ở dưới, nó kích dưới đó mà nó bắn quân đội của quốc gia kia mà, thành ra hai bên nó chiến đấu dữ lắm.

Thành ra do đó mà Thầy cứ nằm đó. Cả gia đình, mẹ Thầy, em Thầy cũng chạy trốn hết à, đâu có dám ở đó, chạy ra cái vùng mà không có giặc. Còn khi mà nghe đào hầm rồi thì họ rút đi hết, dân rút đi hết, chỉ còn Thầy nói: “Bây giờ mình đã hô mình nhập thất là quyết định là chết bỏ không đi, bỏ thất là không được!” Cho nên nhất định Thầy ngồi chịu chết, mà không chết đó các con.

Thầy biết chết là chết rồi chớ không phải không đâu, bởi vì bom đạn như vậy mà. Thầy nói nhà cửa người ta cháy sạch, thậm chí như cái mái của Thầy, cái nhà của Thầy có cái mái đó, mà nó bắn như thế nào mà cái mái nó bay luôn ra ngoài đó mà sao nó không cháy nhà, chớ phải cháy nhà Thầy cũng chết luôn với nó.

Thầy nói cái oai lực của cái người tu, thật sự ra cái giới hạnh thiệt là vĩ đại. Cho nên mỗi một người đệ tử mà rời khỏi Thầy, Thầy nói giới hạnh là sẽ cứu các thầy, là chính Thầy biết rằng cái giới hạnh cứu Thầy ở trong những cái trận chiến như vậy đó.

Cho nên tất cả những – thay vì mấy cái người lính mà họ tấn công vô được rồi đó, bắt đầu xe tăng thiết giáp nó vô tấn công được, thì những cái đoàn lính vô: “Trời ơi ông thầy ổng ngồi ổng tu, ngu gì quá trời vậy? Chết mà không sợ?” Thầy nói: “Chết ở đâu mà chết, tui ngồi đây chết gì!” Mà nó không bắt Thầy nó không gì hết, rồi nó đi qua thôi, nó bỏ Thầy ngồi đó luôn.

Thì các con thấy, cái giới luật rất là – Thầy nói cái oai lực của giới luật kinh khủng lắm chớ không phải thường đâu. Thầy chỉ nghĩ rằng mình giới luật là mình không chết, không sợ gì hết, cọp không sợ mà không sợ súng đạn nữa, cuối cùng Thầy đạt được kết quả.

Đó, thì trên cái bước đường tu hành Thầy nhắc các con: Ra khỏi Thầy ăn phải đúng cách, oai nghi tế hạnh phải đúng, đi phải nhìn xuống đất, thì những cái oai nghi tế hạnh đó không ai làm, đừng có nói rằng: “Tui phải sống tùy theo mấy ông thầy này, họ ăn vậy tui phải theo họ ăn”, tức là mình bị phá giới.

Mặc họ, họ giết chúng ta thì giết, nhất định là chúng ta ăn một bữa. Họ thù chúng ta thì thù, kệ họ, nhưng mà sau này họ trở thành đệ tử của mình, chớ còn mình theo họ tức là ma nó dẫn mình rồi.

Mình tùy theo họ, sợ họ có quyền có thế rồi họ hại mình chớ gì? Do đó mình ăn ba bốn bữa hay là theo họ, họ mời mình ăn thêm cái gì đó, uống nước gì đó, mình cũng tùy cho nó vui lòng nhau đó, gọi là tùy thuận đó, kiểu đó là kiểu phá giới của mình. Và vì vậy mình mất giới rồi thì những người khác họ coi rẻ mình lắm, và từng đó họ không phục mình đâu.

Còn mình hẳn hỏi, giữ gìn giới hạnh hẳn hòi đàng hoàng, ăn đúng, không phi thời, giới hạnh của mình đi ra nhìn xuống đất, ai nói gì, mặc, ai nói mình làm bộ làm dáng làm gì, kệ, mình chẳng có cần thiết.

Thôi đến đây thì quý thầy sẽ nghỉ ăn cơm.

5- TU TẬP XUẤT NHẬP THEO CÁC LOẠI HƠI THỞ

(50:58) Giờ Thầy sẽ trả lời, ở đây thì cô An Tịnh có hỏi Thầy trong cái sự tu tập. Qua cái sự thưa hỏi trong cái tập nhật ký thời khóa thì Thầy thấy có những cái điều kiện rất là đáng lưu ý. Ở đây Thầy xin đọc lại một cái đoạn này:

“Bạch Thầy! Còn về Định Niệm Hơi Thở, Thầy dạy con tập xuất nhập theo hơi thở. Con tu tập, đầu tiên con thở bình thường là 30 hơi thở, sau con tác ý: “Hãy thở chậm và nhẹ” từ 10 đến 15 phút thì con lại tác ý thở lại bình thường 20 hơi thở rồi xả ra thư giãn, một lúc sau con đứng dậy đi kinh hành.

Và cứ như thế con tu tập hơi thở rất chậm, nhẹ và có sự an ổn thân tâm. Về xuất nhập với hơi thở con cũng đã thuần thục, như vậy con tu tập có đúng không thưa Thầy?

Bạch Thầy! Còn về Định Niệm Hơi Thở, con cứ tiếp tục ở hơi thở chậm, nhẹ 5 giây mãi đến khi không Tầm không Tứ để tự các hành nó ngưng hay con còn phải làm gì nữa? Xin Thầy dạy cho con để con tiếp tục tu tập!”

Ở đây về cái phần mà cô An Tịnh hỏi, thì tập xuất nhập theo cái hơi thở mà con trình ở đây thì rất đúng. Là vì chúng ta vào thì chúng ta thở hơi thở bình thường, vì cái hơi thở mà từ lâu chúng ta tập thở như hằng ngày chúng ta sống đó là chúng ta vào cái hơi thở bình thường. Rồi bắt đầu từ cái hơi thở bình thường đó chúng ta mới điều khiển, chúng ta mới hướng tâm nhắc: “Hơi thở chậm và nhẹ”, thì bắt đầu nó thở chậm và nhẹ xuống, và chúng ta ở trong cái hơi thở chậm và nhẹ đó khoảng độ 10, 15 phút.

(52:50) Thí dụ như bây giờ con cho rằng tu 15 phút, thì khi bắt đầu mà vào tu đó, khoảng cái thời gian đầu đó con sẽ tu là 30 hơi thở bình thường, hoặc là có thể con tu 5 phút hơi thở bình thường, rồi bắt đầu từ cái hơi thở bình thường đó con mới hướng tâm nhắc nó: “Hơi thở chậm và nhẹ”. Thì trong cái thời gian mà hơi thở chậm và nhẹ cho đến cái mức độ nào đó thì con thấy nó không còn cái sức mà có thể chậm và nhẹ nữa được, thì con ở tại cái dạng chậm nhẹ của hơi thở đó, lúc bấy giờ nó sẽ kéo dài.

Trước kia mình ở hơi thở bình thường là 5 phút, bây giờ có thể là 10 phút hay 15 phút của hơi thở chậm nhẹ này. Đó là cái thời gian mà có thể quy định cho con tu trong thời gian đó.

Và sau cái thời gian mà thở chậm nhẹ như vậy đó thì bắt đầu con sẽ trở ra cái hơi thở bình thường, thì khoảng độ 5 phút rồi mới xả nghỉ. Thì cộng lại, như bây giờ là nếu mà cái hơi thở bình thường, đầu vào 5 phút, rồi xả ra cũng trở về hơi thở bình thường là 5 phút, tức là 10 phút hơi thở bình thường. Kế đó khoảng thời gian ở trong hơi thở chậm và nhẹ, nó khoảng là 10 hay hoặc là 15 phút, thì như vậy tổng cộng là 20 phút hoặc là 25 phút. Phải không, 25 phút.

Nhưng mà cái khoảng thời gian của hơi thở chậm và nhẹ đó thì nó 10 hay hoặc 15 phút, thì quyết định chọn lấy 10 phút hay là 15 phút cái nào cho ra, chớ không thể bữa nay là 10 phút rồi lát nữa là 15, hay hoặc ngày nay là 10 phút, ngày mai là 15 phút, không được, mà phải chọn lấy bây giờ 10 phút là 10 phút, còn cái kia vô 5 phút rồi xả ra 5 phút, rồi xả ra đi kinh hành, còn ở trong hơi thở chậm và nhẹ đó thì 10 phút, thì cứ tu tập 10 phút.

Để rồi trong cái khoảng thời gian 10 phút đó chúng ta nghiệm xét coi, coi cái thời gian 10 phút đó hoàn toàn chúng ta có diệt Tầm Tứ được hay không, còn có vọng tưởng, còn có tác ý hay không. Nếu mà nó không có một niệm vọng tưởng nào hết, hoàn toàn không có ở trong cái 10 phút mà của hơi thở chậm và nhẹ đó, thì lúc bấy giờ chúng ta có thể tăng lên.

(54:58) Và vì bây giờ, thí dụ tăng lên cái thời gian dài, tăng lên đặng cho cái khi mà chúng ta dùng pháp hướng để cho nó tịnh chỉ cái hơi thở chậm và nhẹ nữa, đi tới nữa, chớ không thể ở đó mà nó ngưng các hành hết được đâu, nó chưa đâu, cái chỗ mà nó chậm nhẹ – ở cái chỗ mình mới từ cái hơi thở bình thường mà đi đến chỗ cái hơi thở chậm nhẹ khoảng 10 phút thì nó chưa ngưng đâu.

Vì vậy mà chúng ta không thể hướng tâm nó ngưng được, mà chúng ta còn tiếp tục cho nó – coi thử coi Tầm Tứ nó hết không. Nếu mà Tầm Tứ nó hết thì bắt đầu chúng ta ở trong cái khoảng 10 phút đó chúng ta có thể tăng lên 5 phút nữa, hay hoặc là tăng lên 10 phút nữa.

Nghĩa là bây giờ chúng ta chọn lấy 30 phút: Đầu thì 5 phút, sau xả ra cũng trở về 5 phút hơi thở bình thường, thì đoạn giữa nó phải có khoảng thời gian là 20 phút. Bây giờ mới có 10 phút à. Con hiểu không? Bây giờ chúng ta có lấy cái thời gian là 20 phút, trong 20 phút này chúng ta nằm ở trên cái dạng này để mà chúng ta có thể điều khiển cái hơi thở bằng cái pháp hướng cho nó chậm và nhẹ hay hoặc là nó ngưng, hay hoặc là chúng ta dụng cái này để mà chúng ta tu tập để chúng ta tỉnh thức ở trong cái giấc ngủ mà chúng ta không còn mộng mị chiêm bao để chúng ta xả 18 loại tưởng. Con hiểu không?

Bây giờ từ cái chỗ hơi thở bình thường là chúng ta lấy cái căn bản của hơi thở bình thường, chúng ta cho rằng 5 phút đầu và 5 phút sau chúng ta thấy rằng mình thở hơi thở bình thường, không có một cái Tầm, Tứ thì nó có nhưng mà Tầm bây giờ nó không có tức là vọng tưởng không có xen vô trong đó được, 5 phút hơi thở bình thường.

Và cái khoảng mà cái hơi thở chậm và nhẹ đó, 10 phút hay hoặc là 20 phút, phải không, các con lưu ý cái phần này. Trong cái khoảng này, cái thời gian này, 10 phút hay là 20 phút này, thì cái khoảng này nó đủ cái thời gian để mà chúng ta hướng tâm.

Nằm trên cái sự yên lặng không Tầm Tứ này, chúng ta hướng tâm chúng ta nhắc nó tịnh chỉ hoặc là nó chậm và nhẹ nữa, hơi thở chậm và nhẹ nữa, để từng đó chúng ta sai bảo, điều khiển cho cái hơi thở nó đi dần.

Nhưng mà khi đó chúng ta phải nằm ở trên cái hơi thở này và cái sự yên lặng của cái hơi thở này để mà chúng ta dùng cái pháp hướng để cho nó chậm và nhẹ nữa, đặng chúng ta phá toàn bộ 18 cái loại tưởng.

(57:04) Vì vậy mà lúc bấy giờ, như vậy là chúng ta tập khi nằm ngủ thì chúng ta lại tập tỉnh thức ở trong khi ngủ, để cho luôn luôn lúc nào chúng ta không có ngủ, vì vậy mà không có ngủ tức là không mộng mị, mà không mộng mị tức là chúng ta đã xả các trạng thái tưởng.

Cho nên khi mà chúng ta hướng tâm để cho các hành ngưng, hơi thở ngưng mà nhập Tứ Thiền thì đương nhiên chúng ta phải hết mộng, hết chiêm bao. Chớ còn chiêm bao tức là còn trạng thái tưởng thì chúng ta không có thể nào hướng tâm mà ngưng các hành được, ngưng hơi thở được đâu.

Bởi vì cái người nằm ngủ mà còn chiêm bao tức là chưa tỉnh thức, mà nằm ngủ không chiêm bao tức là người đó ngủ mà không ngủ, tức là tỉnh thức. Mà tỉnh thức được rồi thì nó mới là xả được hỷ, mà xả được hỷ thì mới có thể nhập Tam Thiền thôi.

Và nhờ cái xả, cái hết mộng rồi thì đương nhiên cái trường hợp đó là chúng ta tương đương với Tam Thiền, vì vậy mà từ chỗ Tam Thiền đó chúng ta nương vào cái hơi thở này mà chúng ta hướng nó, cho nên đến khi đó, cái hơi thở nó ngưng nghỉ, các hành ở trong thân và hơi thở nó ngưng nghỉ thì chúng ta nhập Tứ Thiền. Con hiểu không?

Nhưng mà chúng ta chỉ có 20 phút thôi, từ 5 hơi thở đầu bình thường, và xả ra thì 5 hơi thở xả ra thì có 10 phút là của hơi thở bình thường, tức là cái hơi thở của Sơ Thiền. Và đồng thời khi mà cái hơi thở bình thường hiện giờ là chậm nhẹ, cái khoảng đó là cái khoảng hơi thở của Nhị Thiền. Con hiểu chưa?

Vì vậy mà cái khoảng hơi thở của Nhị Thiền này, chậm nhẹ trong cái khoảng này, thì chúng ta lại tịnh chỉ các mộng tưởng, tức là không còn cái chiêm bao nữa, luôn luôn lúc nào chúng ta cũng tỉnh thức. Khi chúng ta nằm như thế này mà chúng ta vẫn biết hơi thở ra vô, thân của chúng ta không còn nghe thấy âm thanh gì hết, hoàn toàn nó ngủ mà chúng ta rất tỉnh, thì lúc bấy giờ chúng ta đã biết rằng chúng ta đã ly hỷ hết rồi.

Mà ly hỷ hết thì tức là chúng ta tương đương…​ Mặc dù cái hơi thở chậm nhẹ này không phải là cần phải chậm nhẹ nữa, cũng như bây giờ cái hơi thở con chậm nhẹ khoảng độ 5 giây hay hoặc là 6 giây, phải không, mà cái độ nhẹ nó gần như là con không cảm giác cái hơi thở nữa được, nhưng con vẫn biết hơi thở chớ không phải không biết. Do đó thì có thể con phá được cái mộng, cái chiêm bao, thì lúc bấy giờ cái hỷ con sẽ xả được. Mà con xả được thì lúc bấy giờ ở cái trạng thái khoảng độ 20 phút đó đó, con có thể hướng tâm nó tịnh chỉ các hành, nó tịnh chỉ hơi thở ngưng thì con sẽ nhập được Tứ Thiền.

Nên đâu có cần con phải nhập vào Nhị Thiền hay Tam Thiền làm gì, nhưng mà ở cái dạng đó con vẫn biết rằng con sẽ xả được cái hỷ, hay hoặc là con diệt Tầm Tứ. Con diệt Tầm Tứ là con ở trong hơi thở đó, trong khoảng hơi thở đó con thấy hoàn toàn là không có tác ý nè, không có Tầm, không có vọng tưởng nè, nó chỉ có 10 phút thôi, hay hoặc là 20 phút thôi, đâu có gì nhiều đâu. Cho nên do đó mà con sẽ tiến tới cái chỗ mà có thể làm chủ được cái sống chết rất là dễ dàng.

Nhưng dù sao Thầy cũng nhắc lại là chúng ta phải cố gắng tu tập cái Định Vô Lậu, cái định Chánh Niệm Tỉnh Thức, tập tỉnh thức ở trong giấc ngủ nữa. Những cái phần này là phần rất quan trọng để chúng ta xả cho hết cái hỷ đó, 18 cái loại hỷ, thì chúng ta mới vượt qua được Tam Thiền, chúng ta mới nhập Tam Thiền, chúng ta vượt qua nó, chúng ta mới nhập được Tứ Thiền. Còn chiêm bao, còn mộng mị thì không thể nào mà nhập Tứ Thiền được.

Đó thì hôm nay Thầy trả lời cho con, nhớ kỹ chưa? Về tập như vậy, chớ đâu có tăng thêm làm gì! Tăng thêm vọng tưởng tùm lum hết, rồi Tầm Tứ không, rồi tăng thêm nó mắc công, phải không?

6- TRẠNG THÁI HƠI THỞ CỦA BỐN LOẠI THIỀN

Tu sinh: …​(Không nghe rõ)

(01:00:25) Trưởng lão: Rồi, bắt đầu hỏi lại. Nghĩa là trong khi mà con dùng cái pháp hướng thì nó là tác ý ra, thì nó chưa phải là đúng cái chỗ mà diệt Tầm Tứ, cho nên trong khi con thử – trong cái thời gian mà thử để coi mình có thể đi tới cái chỗ, cái dạng nào ở trong bốn cái thiền định này, thử coi mình ở trong hơi thở này mình có phải là nhập được Sơ Thiền hay không.

Bởi vì Sơ Thiền thì diệt Tầm Tứ, mà giờ con cứ nằm đó con tác ý hoài, thì Tầm nó không có mà tác ý hoài thì như vậy là con chỉ ở trong cái dạng của Sơ Thiền chớ đâu phải là Nhị Thiền được.

Cho nên bây giờ con về cái hơi thở bình thường con thở phải không, rồi bắt đầu trong vòng 5 phút con mới hướng tâm con nhắc cái hơi thở chậm và nhẹ, thì đó là cái hướng tâm, tức là con còn tác ý đó, cho nên lúc bấy giờ đó con mới thử mình không tác ý thử coi cái trạng thái yên lặng này nó như thế nào.

Do đó con thấy rõ ràng là cái tâm con nó biết hơi thở ra và biết hơi thở vô, nhưng mà con không khởi nghĩ một cái gì hết, mà không tác ý ra, thì khoảng độ 10 phút hay là 20 phút, con thấy hoàn toàn là không có gì hết, tức là không có pháp hướng chớ gì, như vậy là con đã đạt được cái Nhị Thiền rồi.

Nếu mà con cứ tác ý hoài thì tức là dù cái hơi thở chậm của con đi nữa, nó không có cái hơi thở bình thường, nhưng mà vẫn còn tác ý đó, thì nó có một cái định vô Tầm hữu Tứ, Thầy có dạy rồi mà, có cái định nó không có Tầm nhưng nó còn Tứ tức là dùng cái pháp hướng mà tác ý ra đó, thì nó không Tầm, nhưng nó có Tứ thì nó chưa phải là Nhị Thiền, vì Nhị Thiền Tầm Tứ nó phải diệt.

Cho nên mình muốn thử coi cái tâm của mình nó còn Tầm Tứ không, thì do đó mình mới xả cái pháp hướng đi, thì mình mới xem xét suốt cái thời gian 5 phút, 10 phút, 20 phút đó mình thấy hoàn toàn không có, thì như vậy là mình biết rằng cái giai đoạn của Nhị Thiền mình có thể đạt được rồi.

Chớ mình không cần nhập nó ở trong đó đâu, mình chỉ còn nương cái đối tượng của hơi thở mà, chớ phải chi mình xả hơi thở sao mình nhập Nhị Thiền, phải không, nhưng mà mình thấy rằng không có tác ý, không có Tầm ở trong đó, không có Tứ ở trong đó, thì mình biết rằng mình đã nhập Nhị Thiền.

Mặc dù là còn cái đối tượng của hơi thở tức là còn nhất niệm, nhưng mình vẫn biết được cái tâm của mình. Do vì vậy đó thì mình không có cần nhập Nhị Thiền, nhưng mình biết là ở cái trạng thái mà thanh tịnh, yên lặng, không Tầm Tứ này là cái trạng thái của Nhị Thiền, vì vậy mà lấy cái trạng thái đó để nằm đó để mà hướng tâm, để làm cho cái tâm của mình nó tỉnh để mà nó phá các cái loại tưởng, nó làm cho chúng ta không có chiêm bao nữa, nó hết sạch chiêm bao, cho nên khi ngủ nó như thức, nó không còn ngủ nữa, do vì vậy đó mà chúng ta mới tiến tới, mới nhập Tam Thiền được.

(01:03:07) Cho nên vì vậy mà Tam Thiền thì không có cần mà phải coi còn vọng tưởng hay Tầm Tứ nữa. Vì Tam Thiền hoàn toàn là nó không có Tứ mà không có Tầm, phải không, nhưng mà trong lúc này, trên con đường đi thì chúng ta phải dùng pháp hướng cho nên nó phải có Tứ, nhưng mà chúng ta muốn bỏ nó hồi nào thì nó cũng dễ dàng thôi. Bởi vì mình hướng tâm mình làm chủ mình hướng mà, chớ phải nó tự đâu mà nó tác ý ra đâu. Con hiểu chưa?

Cho nên bây giờ mình biết được thì mình hướng tâm mình nhắc để giúp cho cái tâm của mình nó tỉnh thức, để cho nó ngủ mà nó tỉnh, nó không có bị mê, nó không bị chiêm bao. Do nó hết sạch chiêm bao rồi, ngày này qua ngày khác nó nằm ngủ mà nó không có chiêm bao nữa, thì biết rằng nó đã ly tất cả các hỷ hết rồi. Mà ly các hỷ thì tương đương là chúng ta đã nhập Tam Thiền, hiểu chưa?

Chớ bây giờ cái Nhị Thiền thì con phải coi Tầm và Tứ, phải không? Con mới biết là không Tầm không Tứ thì nó mới nhập Nhị Thiền, mà đến cái trạng thái của Tam Thiền thì con thấy rằng ngày này qua ngày khác con nằm ngủ mà con không thấy chiêm bao thì con biết rằng con đã nhập Tam Thiền.

Phải không? Bây giờ các con bình thường nè, các con cứ nằm ngủ mà con không chiêm bao là các con biết con đã nhập Tam Thiền đó. Mặc dù con không nhập Tam Thiền, nhưng mà cái trạng thái con người các con không chiêm bao là cái trạng thái của Tam Thiền. Các con hiểu chưa?

Rồi bây giờ đó, các con biết là mình đã ở trong cái Tam Thiền rồi, thì bắt đầu các con sẽ tiếp tục để mình tịnh chỉ các hành, cái hơi thở ngưng để cho mình nhập Tứ Thiền. Các con hiểu chưa?

Cho nên bởi vậy con mới tu tập, bây giờ con ở trong 10 phút nè, mà con thấy còn có Tứ hay còn Tầm thì nó chưa xong, cho nên tăng lên thì con chết được á, tăng lên không làm chủ nổi đâu. Cho nên mình ở cái thời gian ngắn này mình tập rồi mình xét coi có được không, được thì mình mới tăng lên cho đúng 20 phút thôi, không được tăng nhiều, tăng 1 giờ 2 giờ làm gì? Chỉ giữ cái chỗ này mà tu cho sạch, như cô Út bảo là tu sao mà cho nó đừng có vọng tưởng, đừng có Tầm Tứ ở trong đó mình mới tăng, chớ vội tăng quá rồi cái bắt đầu Tầm Tứ nó tác động ở trong đó tùm lum ra thì con tu con dậm chân tại chỗ mất đi.

Thay vì cái thời gian bây giờ ở đó, con cho trong cái tập nhật ký thời khóa, con ghi là 10 phút đến 15 phút phải không, nhưng bây giờ Thầy lấy cho con là 10 phút thôi, sau khi 10 phút con xác nghiệm được thì con có thể con tăng lên 20 phút là cao, chớ không được tăng nữa.

Và ở trong 20 phút này đủ sức có thể mà chúng ta phá được cái mộng tưởng, cái chiêm bao, mà phá được mộng tưởng thì chúng ta tiếp tục chúng ta mới phá các hành, hơi thở mới ngưng.

Nó phải đi lần lượt, chớ còn chiêm bao mà con đòi phá các hành thì phá không được đâu. Tam Thiền chưa được mà đòi Tứ Thiền sao được? Nhảy lớp đâu có được, nhảy lớp học không nổi á! Hiểu chưa?

Rồi bây giờ còn hỏi gì nữa không?

7- CÁCH TU TẬP TỈNH THỨC KHI NGỦ

Tu sinh:…​ (Không nghe rõ)

(01:05:45) Trưởng lão: Đây mấy con nghe đây. Bởi vì không có thể nào mà các con cứ nương vào cái hơi thở mà hít vô mà thở ra, mà gọi là ngủ mà nó hết chiêm bao đâu, không phải đâu. Các con lưu ý cái phần này nè.

Cái phần mà ngủ không chiêm bao đó là do các con tu cái định Chánh Niệm Tỉnh Thức, hằng ngày các con đi kinh hành hoặc làm công chuyện gì đó, các con luôn luôn giữ cái tâm mình tỉnh thức ở trong các hành động của mình, đó là cái thứ nhất.

Cái thứ hai là các con tu cái Định Sáng Suốt hay là cái định chói sáng đó, cái định đó nó làm cho các con giữ được cái tâm thanh thản, cái tâm vô sự, nó làm cho các con luôn luôn lúc nào cũng tỉnh thức ở trong đó.

Đó là cái thứ nhất là Định Chánh Niệm Tỉnh Thức rồi chớ gì? Cái thứ hai là cái Định Sáng Suốt, nó làm cho các con luôn luôn giữ được cái tâm thanh thản của mình liên tục, tức là phải tỉnh nó mới liên tục được. Đó là hai cái định.

Và cái cuối cùng thì các con lại dùng cái hơi thở trước khi đi ngủ, trước cái giờ đi ngủ. Thí dụ bây giờ 10 giờ các con đi ngủ, thì các con phải dành nó ra 5 phút đầu tiên để mà tập luyện cái tâm của các con.

Bây giờ các con đặt cái niệm hơi thở trước mặt nè, các con nằm xuống vầy, các con đặt cái niệm hơi thở nè, các con nhắc cái tâm, ám thị cái tâm con trước nè: “Bây giờ cái tâm chưa phải là lúc đi ngủ!” Mặc dù đây 10 giờ là đi ngủ, nhưng trước khi đi ngủ phải 5 phút tỉnh thức ở trong giấc ngủ.

Con nằm xuống nè, bắt đầu phải thở 5 phút nè: “Cái tâm phải biết! Hơi thở ra tôi biết tôi thở ra. Hơi thở vô tôi biết tôi thở vô.” Và con nhắc nó như vậy, cho đến khi đúng 5 phút rồi con mới xả ra con không nhắc nữa.

“Bây giờ cái thân và cái tâm ngủ đi, không có được nương theo hơi thở nữa, phải hít thở 5 hơi thở rồi ngủ!” Bắt đầu con hít hơi thở 1, hơi thở 2, hơi thở thứ 3, thứ 4, con thở nhẹ dần dần cái con ngủ. Đó là con tập con làm chủ cái ngủ, và đồng thời con tập con tỉnh thức ở trong giấc ngủ.

Rồi lần lượt con tăng dần lên, tăng dần lên. Con bảo: “Bây giờ cái thân này nè nằm ngủ nghe, mà cái tâm phải biết cái hơi thở ra vô chớ không được ngủ!” Con nhắc vậy con nằm nó cứ nó biết hơi thở ra vô, mà cái thân thì nó ngáy khò khò nó ngủ.

(01:07:46) Như vậy là con đã không…​ Bởi vì cái tâm mà nó tỉnh thức ở trong đó thì nó không có chiêm bao, mà cái thân thì nó ngủ đâu có chiêm bao được, các con hiểu chưa?

Cái thân nó ngủ, tại sao con biết nó ngủ? Tại vì cái thân nó ngủ nó không nghe tiếng động, mà cái tâm thì nó chuyên nhất ở trong hơi thở, cho nên mình nằm đây mình ngủ…​ Ông Phật ổng nằm ổng ngủ suốt đêm, ổng nói ổng ngủ mà ổng không có ngủ, ổng tỉnh ở trong cái hơi thở của ổng, cho nên ổng thức dậy thì ổng ngồi thiền mà không thì ổng đi kinh hành.

Còn mình nằm xuống cái quên mất à, quên mất một hơi cái chiêm bao, chiêm bao cái thấy gì tùm lum đủ thứ hết, chợt giật mình thức dậy thì mới biết nó chiêm bao. Nhưng mà hầu hết là chúng ta phải tập nó mới được.

Thì thứ nhất hồi nãy Thầy nói, tập Chánh Niệm Tỉnh Thức, thứ hai là cái Định Sáng Suốt, thứ ba là tập cho nó ngủ mà tỉnh thức ở cái ngủ, 3 cái điều kiện tập. Chớ không phải bây giờ cứ tập hơi thở không như các con Định Niệm Hơi Thở như vậy rồi nó tỉnh thức, không được đâu. Nó như vậy là nó thiếu, nó không đủ đâu.

Nhớ chưa? Nhớ thì mỗi đêm vậy trước khi ngủ phải dành cho nó 5 phút để cho nó tập ngủ trong tỉnh thức cái đã. Bắt đầu: “Cái thân nằm ngủ đi, mà cái tâm thì phải biết hơi thở nghe, 5 phút, mà sau 5 phút rồi ta cho luôn cả thân và tâm ngủ, cho mày quên luôn!” Cứ như vậy đó, tập riết nó rồi lần lượt rồi tăng dần tăng dần lên.

(01:09:01) Tới khi đó cho: “Bây giờ cái thân thì bắt đầu ngủ đi, ngủ tới 2 giờ thức dậy nha, còn cái tâm thì phải biết hơi thở! Cho tới chừng 2 giờ thì tao biểu dậy thì dậy đi chớ không có ngủ!” Đó mình tự tập luyện để mình sai nó mà.

Vì vậy cho nên bây giờ mình dùng cái pháp hướng, tại sao? Con bây giờ con nằm xuống con dễ ngủ lắm, bởi vì từ hồi 7 giờ cho đến 10 giờ mình đã tu tập, mình đi kinh hành đồ nó cũng đã mỏi mệt rồi, nằm xuống nó dễ ngủ. Do vì vậy đó cho nên khi mà nằm xuống thì mình phải hướng: “Hơi thở ra tôi biết tôi thở ra. Hơi thở vô tôi biết tôi thở vô.” Rồi, mình nhắc nó vậy rồi, chừng thở 2, 3 hơi thở cái mình nhắc nữa. Chớ không nhắc nữa nó ngủ luôn à, nó không biết hơi thở ra vô nữa, nó đi theo hơi thở rồi nó đi luôn, nó không cần biết nữa.

Cho nên phải nhớ nhắc cho đến khi đúng 5 phút rồi bắt đầu mới nhắc: “Thôi bây giờ cái thân và cái tâm ngủ đi! Cho phép mày ngủ đi, chớ bây giờ tao không bắt mày tập trung trong hơi thở nữa.” Do đó bắt đầu cho nó thở chừng 5, 3 hơi thở cái nó ngủ. Mà ngủ rất ngon, nó ngủ không chiêm bao nữa đâu. Đó thì tập như vậy thì các con sẽ làm chủ được cái ngủ. Nhớ chưa?

Bởi vì trong cái Định Vô Lậu nó không phải là cái Định Sáng Suốt, mà nó cũng không phải là cái định Chánh Niệm Tỉnh Thức.

Cái định Chánh Niệm Tỉnh Thức với cái Định Sáng Suốt thì nó trợ giúp cho cái Định Vô Lậu để nó phóng ra cái tri kiến mà nó phá cái lậu hoặc, nó làm cho cái tâm chúng ta không còn tham sân si nữa, nó không còn Ngũ Triền Cái, nó không còn Thất Kiết Sử nữa, cho nên cái tâm nó được an ổn trước mọi cái các pháp mà nó không bị lôi cuốn, nó bị làm say đắm. Cho nên do vì vậy mà cái Định Vô Lậu nó không phải là…​ Cái Định Vô Lậu là cái định nó quét sạch cái tâm phiền não, cái tâm đau khổ của chúng ta.

Còn cái Định Sáng Suốt, cái định Chánh Niệm Tỉnh Giác Định, và cái tập ngủ tỉnh thức ở trong cái giấc ngủ đó là để chúng ta có cái sức tỉnh thức để mà chúng ta phóng ra những cái tri kiến giải thoát của chúng ta để phá đi cái lậu hoặc, cho nên mấy cái định này nó chỉ trợ giúp cho cái Định Vô Lậu, chớ không phải là cái Định Vô Lậu trợ giúp cho cái này. Con hiểu chưa?

Còn cái Định Vô Lậu thì nó trợ giúp cho cái Định Hiện Tại An Lạc Trú, các con hiểu. Bởi vì cái Định Vô Lậu nó mới quét sạch lậu hoặc, nó làm cho cái tâm chúng ta ly dục ly ác pháp, phải không, cho nên nó mới nhập được Sơ Thiền. Vì vậy mà cái Định Vô Lậu thì nó trợ giúp cho chúng ta nhập cái Định Hiện Tại An Lạc Trú, tức là nhập bốn thiền, từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền.

Mà cái định Chánh Niệm Tỉnh Thức, cái Định Sáng Suốt với cái tập tỉnh thức ở trong giấc ngủ thì nó chỉ trợ giúp cho cái Định Vô Lậu. Các con hiểu chưa? Chớ nó không có trợ giúp cho cái Định Hiện Tại An Lạc Trú, mà nó trợ giúp cho cái Định Vô Lậu để quét sạch cái lậu hoặc, làm cho cái tâm ly dục ly ác pháp chúng ta cho đạt được để mà đi vào trong cái Định Hiện Tại An Lạc Trú. Phải không, các con nhớ phải không?

Và khi mà – tại sao chúng ta lại tập tỉnh thức ở trong giấc ngủ? Là vì chúng ta tập cái tỉnh thức ở trong giấc ngủ để chúng ta biết được lúc bấy giờ chúng ta tu tập cái Định Hiện Tại An Lạc Trú đó, nó ở trong cái Tam Thiền hay là ở cái dạng nào đây, để mà chúng ta đi tới cái mà chúng ta tịnh chỉ các hành để mà chúng ta nhập Tứ Thiền.

(01:12:19) Chúng ta thấy không còn mộng, mà không còn mộng thì chúng ta mới biết rằng mình đã hết chiêm bao, do đó mình mới biết rằng các loại tưởng mình đã vượt qua được rồi. Còn mình còn chiêm bao tức là còn tưởng, còn mộng tưởng là còn chiêm bao, mà còn chiêm bao tức là còn dục tưởng, chưa sạch, cho nên chúng ta chưa biết, do chúng ta biết còn chiêm bao là chúng ta chưa nhập Tam Thiền

Mà bây giờ tỉnh thức suốt đêm vầy, con nằm mà con thấy cái thân nó ngủ mà nó ngáy phò phò, nó không hay biết gì hết, mà cái tâm của con luôn luôn cứ biết hơi thở ra vô, thì như vậy là con biết con hết chiêm bao rồi. Mà con hết chiêm bao rồi, như vậy là con biết là con đã ở trong cái trạng thái của một cái người nhập Tam Thiền.

Vì vậy bây giờ con mới biết mình ở Tam Thiền, thì bây giờ mình đi tới nữa là mình phải nhập Tứ Thiền chớ, không lẽ bây giờ mình chưa biết mình ở Tam Thiền làm sao mình nhập Tứ Thiền được, phải không?

Mình biết mình được ở Tam Thiền rồi, thì bắt đầu mình mới hướng tâm mình nhắc: “Cái hơi thở phải ngưng! Các hành ở trong thân phải ngưng!” Thì lúc bấy giờ nó mới ngưng để chúng ta nhập Tứ Thiền. Còn bây giờ con còn chiêm bao mà con biểu nó ngưng, làm sao nó ngưng? Con còn một cấp bậc quá xa, làm sao nó nhảy tới nó ngưng hơi thở được, phải không?

Cho nên vì vậy mà mình tập cái ngủ mà tỉnh thức để cho mình xác định được cái mức của mình có hết cái tưởng hay không, xả hết cái hỷ, các loại hỷ của tưởng không. Mà nếu mình xả được hỷ rồi thì tức là mình đã nhập Tam Thiền, mà mình nhập Tam Thiền thì mình bước tới nữa là Tứ Thiền.

Các con hiểu chưa? Nó cụ thể và nó rõ ràng chớ đâu phải là mơ hồ đâu! Cái nào nó ra cái nấy.

Còn bây giờ các con biết làm sao mà mình nhập được Tam Thiền? Mình biết làm sao, mà mình đang ở chỗ cái mức nào mà mình nhập Tam Thiền đây? Thì ít ra mình phải nhập Nhị Thiền.

Mà khi trong cái thời gian 10 phút này, con dùng hơi thở chậm nhẹ hơn hơi thở bình thường rồi, thì biết là hơi thở chậm nhẹ này thì nó phải ở trong Nhị Thiền chớ gì? Mà bây giờ có biết hết Tầm Tứ chưa? Mà nó chưa hết Tầm Tứ tức là chưa Nhị Thiền.

Cho nên bây giờ hết Tầm Tứ mà bây giờ con cứ con tác ý hoài, nó không có Tầm mà tác ý hoài thì nó còn Tứ thì nó đâu là Nhị Thiền, cho nên con phải xả cái tác ý ra, phải không? Con xả cái tác ý ra, thì bắt đầu con thấy luôn luôn liên tục với cái tâm của con với cái hơi thở ra vô nằm trên cái tụ điểm yên phăng phắc, không có một Tầm Tứ nào hết, thì biết đó là – mặc dù nó còn hơi thở, nhưng vẫn biết nó là Nhị Thiền, diệt Tầm Tứ rồi.

Vì vậy cho nên bây giờ con mới tập tới tỉnh thức ở trong cái giấc ngủ, còn nếu mà Nhị Thiền chưa được mà con tập tỉnh thức giấc ngủ thì tập sao nổi, con hiểu chưa? Làm sao mà con tỉnh thức nổi ở trong cái ngủ! Bởi vì Nhị Thiền là Tầm Tứ chưa diệt mà bây giờ con tập Tam Thiền là tập sao được? Làm sao ly được cái giấc mộng con được?

Cho nên phải biết cái trình độ của mình ở mức độ nào mình mới tập nó tới. Cũng như bây giờ con học lớp 1 được rồi con mới lên lớp 2, còn đằng này lớp 1 con chưa xong mà con nhảy lên lớp 2 con tập thì chuyện đó đâu có được! Hiểu chưa?

(01:15:02) Cho nên khi đó, chỉ ở trong vòng 10 phút, 20 phút là chúng ta đã xét chúng ta đã được ở cái định nào, và bây giờ chúng ta tiến tới để tu tập cái định nào.

Cũng như bây giờ muốn nhập Tam Thiền thì phải tu tập trong cái tỉnh thức ở trong giấc ngủ, thân ngủ mà tâm nó vẫn biết, vẫn tỉnh táo thì biết rằng chúng ta sẽ nhập Tam Thiền được.

Còn bây giờ chúng ta ở trong cái dạng của Sơ Thiền, mà chúng ta biết được cái tâm chúng ta có được ở Nhị Thiền hay không, là chúng ta xem coi thử coi nó còn tác ý hay không, phải không? Cho nên Tầm nó không còn, Tứ không còn thì biết là nó ở trong cái Nhị Thiền, thì bây giờ chúng ta đi tới Tam Thiền.

Còn bây giờ ở trong cái dạng của Sơ Thiền mà Tầm Tứ nó còn, hay hoặc là Tứ còn mà Tầm hết, thì đây là nó còn ở trong cái định vô Tầm mà hữu Tứ, thì như vậy là chưa được, chưa phải Nhị Thiền, cho nên còn ở Sơ Thiền. Vì vậy mà cố gắng phải ly dục ly bất thiện pháp nữa, phải tu tập cái Định Vô Lậu để quét sạch cái này ra hết, thì tức là mới trọn vẹn được cái chỗ ly dục ly bất thiện pháp để cho mình có Sơ Thiền.

Mà khi Sơ Thiền được rồi thì cái Nhị Thiền nó mới được, các con hiểu chưa? Chớ bây giờ các con chưa ly này mà các con vội cho nó diệt Tầm Tứ để mà nhào vô Nhị Thiền thì không bao giờ được hết, nó vẫn còn vọng tưởng lai rai, chưa hết đâu. Đó các con hiểu chỗ đó không? Đó chắc chắn là con đường tu tập, cái sự suy xét chắc chắn là phải như vậy.

Thường thường là các con tu cái định mà để phá cái si là cái định Chánh Niệm Tỉnh Giác Định, tu ở trong các hành động cho nên cái buồn ngủ nó sẽ không đến với các con được. Phần nhiều mà các con thấy rằng khi mình nằm xuống cái mình ngủ, hoặc là mình ngồi ghế đồ một hơi mình giữ tâm thanh thản một hơi cái nó lặng ngủ đó, là cái niệm si nó vẫn còn, nó chưa hết đâu.

Cho nên vì vậy mà thường xuyên, cái người mới tu thì nên thường là chúng ta nên đi kinh hành, đi kinh hành để tập tỉnh thức ở trong cái hành động hằng ngày, hoặc làm công việc gì mọi ngày, chúng ta làm cái gì chúng ta liên tục ở trong cái hành động, vì cái hành động đó nó sẽ phá cái si.

Và không phải là cái niệm si nó phá là…​ Phần nhiều là chúng ta ngồi không, nó hay có cái buồn ngủ, mà chúng ta làm công việc, nó ít có buồn ngủ. Do đó chúng ta nên làm công việc mà tập tỉnh thức ở trong công việc đó, cho nên cái niệm si lần lượt nó sẽ không còn có nữa, cái niệm buồn ngủ nó không còn có nữa.

Đây là mới cái giai đoạn mà phá hôn trầm thùy miên thôi, tức là cái người mới tu là phải phá cái đó, thì cái giờ giấc của cái người tu đó phải nghiêm chỉnh, chớ không thể nào bây giờ mình buồn ngủ cái mình ngủ giờ này, thì mình nói để cho khỏe rồi mình tu, không có được! Tu như vậy sai.

Bây giờ thí dụ như các con mới tu nè, 7 giờ cho đến 9 giờ nè, đúng phải đúng 9 giờ mới đi ngủ, phải không, rồi 2 giờ dậy cho đến 5 giờ sáng đi ngủ. Giờ nào nó phải ra giờ nấy, chớ không có được mà giờ này trước giờ kia sau, hay bữa nay thì ngủ trước bữa mai thì ngủ trễ thì không có được, giờ giấc phải nghiêm chỉnh.

Để làm gì? Để cho cái mặt mà buồn ngủ nó mới lòi ra, cái mặt mà nó ngu si nó mới lòi ra. Và lòi ra thì chúng ta mới tập đi kinh hành, trong khi ban đêm chúng ta cũng phải đi nữa, đi chừng nào mà hết cái giờ đó rồi chúng ta mới vô ngủ.

(01:18:04) Và đồng thời khi mà vô ngủ nó không ngủ đâu, nó nằm đó đó chớ không ngủ đâu. Vì vậy mà chúng ta phải tập để hướng tâm để dạy cho nó ngủ, nó ngủ cho đúng giờ đúng khắc. Một thời gian sau cà nó mới có đúng giờ đúng khắc được, thí dụ như dậy nó dậy, mà ngủ nó ngủ, còn mới đầu nó ngủ trật giờ trật khắc hết, nó không đúng.

Cho nên nếu một người tu đúng, giờ khắc người ta ngủ rất đúng, không có sai nữa. Còn cái người mà tu từ lâu tới giờ mà không có giữ gìn giờ giấc nghiêm chỉnh thì bây giờ cũng còn ngủ lộn xộn nữa, chưa đúng giờ đâu.

Đó cái người mà hiện bây giờ trong Tu viện chúng ta đó mà giờ giấc ngủ đúng hết, đúng nhất, giờ nào ra giờ nấy, đúng hết là chỉ có Mật Hạnh thôi. Chớ còn có nhiều người ngủ trước ngủ sau, thay vì bây giờ còn 10 phút nữa thì nó buồn ngủ rồi, nói: “Thôi, bây giờ gần 10 giờ, thôi đi ngủ trước chút, không sao đâu.” Như vậy cũng sai nữa.

Bởi vì giờ giấc nghiêm chỉnh, đúng 10 giờ là – đúng cái kim chỉ đúng là 10 giờ hẳn hòi, đúng 10 giờ là đi ngủ, mà còn 3 phút chưa đúng là vẫn còn đi kinh hành, chớ còn không nói: “Bây giờ buồn ngủ quá trời rồi, thôi có 3 phút không có sao đâu, vô ngủ!” Cũng không được nữa! Phải cương quyết và nghị lực như vậy đó thì chúng ta mới có thể làm chủ được cái ngủ, cái si mê của chúng ta.

Cho nên Thầy nói bây giờ đó, thí dụ như muốn ngủ hồi nào đúng giờ là ngủ, mà không đúng giờ là không ngủ, thì cái người đó đã luyện tập trong một thời gian rất là thuần thục, ít ra cũng 2, 3 năm mới được vậy chớ không phải là tầm thường đâu. Cho nên các con thấy nó không phải đơn giản đâu, cái sự gì cũng luyện tập nó mới trở thành cái chủ động hết, còn không luyện tập là không thành chủ động.

Thầy biết, ở trong chúng người nào sao Thầy biết hết. Cái người nào mà luyện được cái gì thì họ tập luyện được cái đó thì họ đạt được cái đó họ rất mừng cái đó, nhưng mà cái phần khác họ còn thiếu khuyết chớ chưa phải là thành tựu. Nhưng vì vậy cho nên chúng ta cái phần nào mà còn thiếu khuyết, chúng ta bổ túc thêm cho chúng ta toàn diện được làm chủ hết, thì cái đó là cái tốt của chúng ta.

Cho nên được cái phần nào thì chúng ta tu, còn mấy con mà tu cứ lừng chừng lừng chừng, giờ giấc không nghiêm chỉnh rồi thì sau này nó không nghiêm chỉnh nữa. Khó lắm chớ không phải dễ đâu, coi vậy chớ giờ giấc rất khó.

Thầy nói như thế này nè: Nó khôn lắm, cái tâm chúng ta khôn lắm. Tới cái giờ mà nó thức dậy, cái chuông để ở đầu giường của mình đó, nó nghe reo nó vẫn bóp cái chuông đồng hồ cho nó tắt đi đặng cho nó ngủ thêm chớ chưa chắc đã nó thức dậy đâu, nó chưa chịu đâu. Nó khó lắm chớ không phải dễ. Cho nên chúng ta phải hàng phục nó dữ lắm.

Sau khi giờ giấc nghiêm chỉnh rồi, thì cái sự tập luyện để phá cái buồn ngủ đó thì chúng ta phải tập trên cái Chánh Niệm Tỉnh Giác, chúng ta tập rất nhiều, siêng năng hằng ngày chúng ta phải tập để cho phá.

Cũng như bây giờ thay vì cái giờ trưa này chúng ta quyết định không ngủ, thì chúng ta phải làm công việc gì chớ mà chúng ta ngồi bậy bạ một hơi nó ngủ, không có thể nằm mà nói rằng mình thức được đâu. Có bữa thì thức có bữa nó ngủ, nó không có chủ động được đâu. Cho nên nhất quyết là chúng ta phải tập là phải tập.

Bây giờ nói trưa không ngủ là hoàn hoàn trưa nào chúng ta cũng phải tìm mọi cách chúng ta đi kinh hành hoặc là làm cái gì đó, rồi chúng ta tu tập cái Chánh Niệm Tỉnh Thức ở trong đó, lần lượt chúng ta phá cái thùy miên hôn trầm mới sạch, và khi sạch rồi thì nó không có tái diễn nữa.

Chớ không phải là cột chân cột cẳng hay treo giò chúng ta để cho nó đừng ngủ, không phải đâu, đừng có làm cái chuyện đó là cái chuyện sai, không có đúng, mà nên nỗ lực tu tập ở trong cái Chánh Niệm Tỉnh Thức thì mới phá được cái hôn trầm.

Và khi phá được hôn trầm rồi thì nó sẽ được tỉnh thức, nhưng cái thời gian mà chúng ta còn ngủ chớ chưa phải hết ngủ, cái tâm chúng ta còn mê, chưa phải hết mê, vì nó còn 18 cái loại tưởng, cho nên chúng ta phải tập, tập cho cái tâm nó tỉnh thức, ở trong khi cái thân nó ngủ mà nó vẫn thức liên tục ở trong cái hơi thở mà nó không có mê mờ nữa, cho nên nó mới là nhập tới cái Tam Thiền mới được.

8- NGỒI NHIỀU SINH RA LƯỜI BIẾNG, HÔN TỊCH

Tu sinh:…​ (Không nghe rõ)

(01:21:33) Trưởng lão: À nó còn cái mờ mờ của con thì không được. Nghĩa là con ngồi ở trên cái ghế này mà con thấy nó mờ mờ, mặc dù nó chưa thật là nó đi vào trong cái hôn trầm hay hoặc là cái thùy miên, nhưng mà nó còn lờ mờ là…​

Tu sinh: …​ (Không nghe rõ)

Trưởng lão: À cái đó thì con nuôi nó đó, cái đó kêu là kiểu nuôi nó. Không có được nuôi cái kiểu đó! Bởi vì, thí dụ như bây giờ vừa nhắc nó tỉnh có chút, rồi bắt đầu nó mơ mơ trở lại, rồi nhắc nó nữa, cái đó không có được, cái đó là nuôi cái lười biếng chớ không phải là gì.

Bắt đầu từ đó phải đứng dậy khỏi ghế liền tức khắc, thấy nó có mơ mơ – mình ngồi mà nó rất tỉnh thì ngồi, mà nó có mơ mơ mà nhắc nó tỉnh chút rồi nó mơ mơ lại thì không có được đâu. Cái này là mình nuôi lớn cái…​ Thay vì ngủ thì nó chưa hẳn ngủ, mà lại nó sanh ra cái lười biếng đó, cái mơ mơ là cái lười biếng. Cho nên lúc bấy giờ cứ đi kinh hành, đi kinh hành cho thật tỉnh. Tỉnh thì tỉnh mà không tỉnh thì thôi, chớ không được lúc tỉnh lúc mê.

Thành ra con tập cái kiểu đó nó trở vào một cái trạng thái gọi là hôn tịch. Hôn tịch tức là nó mê mờ rồi nó tỉnh, rồi nó mê mờ, rồi nó tỉnh, có lúc thì nó tỉnh, lúc thì nó mê. Đó là không được. Tập như vậy nó đi lọt vào ở trong cái vô ký hôn tịch, nó không đúng rồi.

Cho nên phá bỏ cái đó liền, phải đi kinh hành, thứ nhất là chúng ta phải đi kinh hành nè. Đi kinh hành cho đến khi mà ngồi lại, bây giờ 30 phút, ngồi lại mà chúng ta giữ cái tâm thanh thản, liên tục nó tỉnh táo nó không có bị mơ mơ chút nào hết thì nó mới được, còn nó mơ là không được. Nó mơ là lát một hơi nữa là nó lặn xuống cái nó chiêm bao liền, không có được.

Cho nên những cái đó là cái coi chừng mà coi tưởng là mình có thể mình giữ đó nó tỉnh, nhưng mà cuối cùng con tu riết không bao giờ tỉnh đâu, thời gian hoài mà không tỉnh đâu. Thay vì cứ đi kinh hành cho nó thật tỉnh đi, 30 phút con đi kinh hành rồi con vô con sẽ thấy rất tỉnh. Thà là bây giờ vô tới hết 30 phút rồi vô nằm ngủ là cứ ngủ.

Tu sinh:…​ (Không nghe rõ)

Trưởng lão: À, cái đó là con dùng cái định thì nó không buồn ngủ là phải rồi. Con ngồi chơi đó mà nó buồn ngủ là cái giờ đó chưa phải ngủ, mà con ngồi chỉ là xả nghỉ, thì cái đó là phải đi kinh hành thôi. Ngồi mà lơ mơ lơ mơ đó thì không phải là tỉnh đâu.

Thì tức là phải biết cái đó là cái sai, nó không đúng, thì phải bỏ cái đó, đừng có tu cái đó. Tưởng là mình ngồi chơi, mình giữ nó vậy, nó có lơ mơ lơ mơ cũng không sao, không phải đâu.

Từ cái Định Hiện Tại An Lạc Trú con ngồi vô rất tỉnh không có lơ mơ nè, đến cái Định Vô Lậu con ngồi đặt niệm, con quán xét cái lậu hoặc nó cũng không có lờ mờ nè, mà bây giờ xả ra nghỉ, giờ này chưa phải giờ ngủ mà xả ra nghỉ mà không chịu tỉnh thì tức là phải đi kinh hành thôi chớ còn không có nói chuyện mà ngồi đó mờ mờ được. Đó là phải dẹp cái đó, chớ không khéo ngồi đây nó sanh lười biếng đó, mà nó sanh ra lờ mờ lờ mờ nữa, cái tâm không tỉnh.

Cho nên nhiều khi chúng ta lại phí bỏ cái thời gian này quá quý. Thay vì trong cái thời gian kia chúng ta các định thì thấy nó tỉnh, mà đến cái thời gian xả nghỉ lại không tỉnh, cho nên lúc bấy giờ chúng ta lại dùng cái định Chánh Niệm Tỉnh Giác Định chúng ta đi kinh hành, chúng ta phải quán sát ở dưới chân của mình, để cho cái thời gian suốt 3 tiếng đồng hồ chúng ta tu tập trong một buổi hay hoặc là trong một đêm mà chúng ta tu thì luôn liên tục cái thời gian đó chúng ta không mất cái sức tỉnh của chúng ta.

Bởi vì cái tỉnh là đầu tiên mà, tỉnh giác là đầu tiên mà. Còn cái định gì thì kệ, chúng ta không biết, nhưng mà còn cái sức tỉnh chúng ta phải đạt được, suốt 3 tiếng phải tỉnh, không được mờ mờ, không được mê mê, không được lơ mơ trong đó, thì như vậy là cái kết quả của chúng ta sẽ vĩ đại sau này.

9- THỜI GIAN TU RÕ RÀNG, LOẠI ĐỊNH NÀO RA LOẠI ĐỊNH ẤY

Tu sinh: …​ (Không nghe rõ)

(01:24:36) Trưởng lão: Bây giờ mấy con nghe, trong cái Định Vô Lậu thì khi đặt cái niệm gì, khi mà khoanh chân ngồi kiết già – cho nên ở đây thì trong cái thời Đức Phật bảo chúng ta khi mà tu một cái thiền định nào đó thì chúng ta phải chuyên nhất một cái nơi nó phải thanh tịnh, tức là chúng ta phải chọn một cái nơi để chúng ta ngồi yên lặng.

Thì bắt đầu mấy con đã có những cái thất yên tịnh rồi, thì bắt đầu mấy con phải ngồi kiết già, rồi mới đặt cái niệm đó ở trước mặt của mình, rồi mới – như con trạch pháp ra những cái câu mà để mình quán xét nó vô lậu để xả danh, xả lợi, xả thương, xả ghét, xả phiền não, đau khổ, tất cả mọi cái đều xả ra hết. Do đó mình suy tư, mình quán xét tất cả các pháp, rồi quán xét để xả cho sạch, để như vậy vốn cái mục đích lậu hoặc nó hết tức là chúng ta ly dục ly ác pháp, các con hiểu không?

Và cái điều kiện mà con trình bày cho Thầy thấy, thì về trạch pháp cũng như về cái điều kiện con tu thì đúng chớ không có sai, nhưng mà có cái điều kiện là cái thời gian tu của pháp định này cho đến cái pháp định khác nó phải cho nó rõ ràng ra.

Thí dụ như con tu cái Định Vô Lậu xong rồi con phải xả nghỉ một thời gian kế đó con mới có thể tu tập cái định Chánh Niệm Tỉnh Thức. Trừ ra khi nào chúng ta đang bị hôn trầm đang bị buồn ngủ thì chúng ta phải tu tập cái định Chánh Niệm Tỉnh Giác Định liên tục, không được rời cái định Chánh Niệm Tỉnh Giác.

Còn tất cả các định khác như Định Hiện Tại An Lạc Trú về hơi thở, cũng như Định Vô Lậu, hay hoặc là Định Sáng Suốt giữ tâm thanh thản, giữ tâm vô sự, những cái định đó thì chúng ta tu có cái thời gian nhất định nó trong mấy phút hay là bao nhiêu giây đó rồi chúng ta xả nghỉ.

Bởi vì khi chúng ta tập trung mà chúng ta gom tâm tu như vậy nó rất mệt cho nên phải nghỉ nó cách ra. Chớ còn tu cái này vừa rồi thì bắt đầu con tu cái Chánh Niệm Tỉnh Thức Định đi kinh hành, con lại quán xét nữa thì nó lộn xộn lắm. Phải phân biệt cho rõ. Vừa đi mà vừa suy nghĩ thì nó lại trật cái pháp môn rồi.

Thường thường chúng ta hay đi cũng có suy nghĩ lắm chớ đâu phải không, cho nên nói: “Mình suy nghĩ vầy chắc là mình tu cái Định Vô Lậu.” Trong khi đi nó cũng phóng ra những cái tri kiến suy nghĩ lắm, nhưng chúng ta tu như vậy nó không có đúng cách.

Bởi vì cái định Chánh Niệm Tỉnh Thức nó buộc chúng ta phải tỉnh thức ở trong cái hành động chớ không có ở trong cái quán được. Chỉ có Định Vô Lậu thì mới có dùng cái pháp quán mà thôi, pháp quán và pháp hướng. Còn cái kia nó tỉnh thức ở trong cái hành động rồi nó dùng cái pháp hướng chớ không có dùng pháp quán.

(01:27:15) Cho nên nó có sai một chút là các con phải thấy được cái chỗ mình tu ở thời gian nào, cái định nào nó ra cái định nấy. Bây giờ con ngồi Hiện Tại An Lạc Trú nè, con nhiếp tâm trong hơi thở nè, thì con phải khéo léo ở trong cái hơi thở cho nó một cách rất là rõ ràng và cụ thể ở trong cái hơi thở của mình, biết từng chút của nó.

Cho nên trong kinh điển của Phật thì có dạy – trong cái bài lát nữa các con sẽ nghe, Thầy có phân biệt nó có bốn cái định, mà chúng ta khi tu một cái định nào đó thì chúng ta phải rõ ràng cái định đó, Thầy có giảng cái đó. Để rồi bây giờ giảng lại thì thu vào trong băng nó lại bị lầm đi, để lát nữa rồi các con sẽ nghe.

Bây giờ thì như vậy là con trạch pháp ra những cái câu Định Vô Lậu như vậy là đúng rồi, nhưng cái thời gian mà phân định để tu các cái định thì phải khéo léo hơn một chút, định nào nó ra định nấy, hiểu chưa? Thì như vậy là nó đúng cách rồi.

Và mỗi lần mà con tu như vậy là con thấy cái tâm con càng ngày càng có giải thoát, con càng thấy càng ngày càng xả ra, phải không? Vì vậy mà từ hôm mà Thầy giảng cái giáo án này, hầu hết là các con đã hiểu được cái Định Vô Lậu, các con tu tập siêng năng mà tu cái Định Vô Lậu mà quán xét đúng trạch pháp ra thì các con xả tâm rất nhiều, làm cho các con không còn thấy cái mạng lưới ràng buộc của thế gian, của những người thân của mình, hay hoặc là tiền tài danh lợi của thế gian nó trói buộc các con như hồi trước nữa đâu, nó giảm bớt rất nhiều. Đó là cái sự giải thoát mà các con phải chứng nghiệm tự bản thân của các con./.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 18)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.