ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giáo án 43 – Nguyên nhân và cách diệt vọng tưởng – Giới Đọa 03

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giáo án 43 – Nguyên nhân và cách diệt vọng tưởng – Giới Đọa 03

A A A
Module cannot be rendered as the requested content is not (longer) accessible. Contact the administrator to get access.

GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 43

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH DIỆT VỌNG TƯỞNG – GIỚI ĐỌA 03

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 1997

Thời lượng: [01:42:56]

 

1- NGUYÊN NHÂN SINH RA VỌNG TƯỞNG

(00:00) Đến phần này, Thầy xin dạy quý thầy về cái phần diệt vọng tưởng. Ở đây cái vấn đề này rất là quan trọng để mà chúng ta hiểu cho được cái vọng tưởng của chúng ta là cái nguyên nhân nào mà nó sanh ra cái dục, và cái nguyên nhân nào mà nó có những cái vọng tưởng hằng ngày mà nổi lên lăng xăng, lo lắng cái này, sợ hãi cái kia mà không bao giờ dứt. Nhiều khi nó loạn tưởng nữa, chớ không phải là nó nghĩ ngợi riêng không đâu.

Ở đây Đức Phật có nêu ra có những cái điều kiện để chúng ta thấy:

Điều thứ nhất là:

1. Con người vì hận thù, vì đánh nhau, vì thù nghịch, vì ác ý là do lòng tật đố, xan tham của chúng ta mà có những hận thù đó.

Đó là cái thứ nhất.

Ở đây muốn nói đến vọng tưởng, muốn nói đến sự mà sinh ra dục thì chúng ta phải thấy được cái hành động của con người hằng ngày là như thế nào: Hận thù, đánh lộn nhau, thù nghịch, ác ý với nhau, mà do cái lòng tật đố, xan tham với nhau mà có những cái hành động này.

Thứ hai là:

2. Có tật đố, xan tham là do cái lòng ưa ghét của chúng ta làm duyên cho nên tập khởi cái tật đố, xan tham đó.

Nếu mà không có cái lòng ưa ghét thì nó không bao giờ có tật đố, xan tham.

Ưa ghét có mặt thì xan tham có mặt; ưa ghét diệt thì xan tham, tật đố diệt.

Chúng ta thấy ở đây cái phần thứ hai thì Phật cũng có nói cho chúng ta rõ: Nếu mà ưa ghét có mặt thì xan tham có mặt, mà ưa ghét diệt thì xan tham diệt.

Như vậy là chúng ta phải biết, ở đây Thầy muốn nói là đạo Phật nó có 4 cái điều kiện như Thầy đã nhắc đi nhắc lại rất nhiều:

Điều kiện thứ nhất là chúng ta, người đến với đạo Phật phải thông hiểu. Điều kiện thứ hai là chúng ta phải biết trau dồi. Nghĩa là thông hiểu rồi thì phải trau dồi. Trau dồi là mình phải tập luyện, sửa soạn lại những cái gì mà mình còn thô tháo.

Như hồi nãy, khẩu hành, thân hành, ý hành nó thô tháo, nó mới đem đến cho sự bất an cho mình, bây giờ mình phải trau dồi cho nó đừng thô tháo. Thì cái phần thứ hai của đạo Phật dạy chúng ta phải trau dồi thân, miệng, ý của chúng ta từng hành động, cho nên chúng ta trở thành một người có ý tứ hẳn hòi, đàng hoàng trong cuộc sống.

Đó thì bây giờ chúng ta trau dồi rồi, thì bắt đầu chúng ta phải có dứt bỏ. Cái gì mà chúng ta phải dứt bỏ? Bởi vì nếu mà chúng ta biết cái lòng ưa ghét của chúng ta nó có mặt thì xan tham nó sẽ có mặt. Vậy thì ưa ghét: Ưa và ghét. Ưa tức là thích, tức là ham muốn, ghét là giận hờn, ghét bỏ, không ưa, sợ đau, sợ khổ. Cũng như bây giờ nhức nhối thì mình sợ, tức là ghét chớ gì, mà thích ăn, thích ngủ đó là ưa chớ gì! Do đó những cái này chúng ta cần phải dứt.

Dứt như thế nào? Bây giờ nó ham ăn thì nhất định là không cho nó ham ăn, mình phải dứt nó. Bây giờ nó ưa ngủ thì mình phải dứt bỏ, phải làm tập luyện như thế nào để cho nó không ngủ, để cho nó ngủ có giờ có giấc chớ không phải muốn ngủ hồi nào ngủ, muốn ăn hồi nào ăn được, cho nên giờ giấc nghiêm chỉnh trong cái ăn cái ngủ.

(03:14) Đó là tượng trưng cho sự ưa ghét của chúng ta. Mà nếu ưa ghét không có mặt thì xan tham làm sao có mặt? Còn cái ưa ghét này còn, mặc dù là ưa ghét cái này, nhưng mà nó sẽ ưa ghét người khác, người nọ người kia, mà cái tâm khởi sanh ưa ghét người này, người nọ kia, tức là tâm phải còn ưa ăn thích ngủ rồi, không thể nào mà làm gì khác hơn hết.

Ở chỗ này không ưa ăn thích ngủ thì chỗ kia không ưa không ghét người khác. Mà không ưa không ghét người khác thì xan tham sẽ không còn có nữa. Cho nên ưa ghét mà diệt được thì xan tham sẽ diệt được. Chúng ta lấy cái này mà tu tập thì chúng ta biết được cái tâm chúng ta đã diệt ở chỗ kia.

Cái thứ ba:

3. Ưa ghét do dục làm nhân…​

Đó, chữ “ưa ghét” ở chỗ này là do lòng ham muốn mình mới làm nhân. Mình có ham muốn nó mới có ưa ghét, còn mình không ham muốn làm sao có ưa ghét? Tôi muốn ăn, thì tức là nó có muốn ăn nó mới ưa, nó mới thích.

Cho nên vì vậy do cái ham muốn đó mà nó có cái ưa ghét. Chúng ta đi truy tìm ra thì chúng ta biết là:

…​ dục làm nhân, dục làm tập khởi. Dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng sanh hiện hữu.

Nghĩa là chúng ta thấy từ cái dục mà khiến cho chúng ta có, chúng ta sanh. Tại sao cái dục mà có chúng ta sanh? Nếu cha mẹ không dục, không dâm dục, làm sao có chúng sanh khởi, phải không?

Có dục mới khiến chúng sanh hiện hữu – có cái lòng dục đó chúng ta mới có hiện hữu ngày nay. Do chúng ta đã biết từ cái dục đó mà sanh ra, vì vậy mà từ đây chúng ta theo đạo Phật thì chúng ta phải diệt trừ cái dục.

Vậy thì cái dục đầu tiên chúng ta thấy gì? Ái dục. Thấy phụ nữ là cứ chạy theo nó thì không phải là sao? Đó là chạy theo dục. Cho nên cái bài hồi nãy đầu tiên là đừng thân cận dục.

Đó thì quý thầy thấy, vì chúng ta biết dục nó mới khiến cho chúng sanh hiện hữu, có dục chúng sanh mới có mặt ở trong thế gian này. Mà cái dục là cái bẩn thỉu nhất, cái dơ bẩn nhất, cái hôi thúi nhất, không phải sạch sẽ gì, vì một người tu chúng ta phải thấy nó là bất tịnh, không thể nào mà chúng ta đến gần nó được.

Còn những người mà không trí, những người mà không phải tu thì họ thấy đó là thơm tho, thấy đó là khoái lạc, thấy đó là thích, cho nên họ chui cái đầu vào trong đó để họ hửi họ hưởng cái đó, cho nên vì vậy họ là những người ngu.

Đối với một người tu phải xem thấy cái đó là những cái người ngu si, phàm tục mới chui cái đầu vào chỗ đó. Còn cái người mà tu hành là Thánh nhân, người ta thấy cái đó người ta ghê gớm, người ta sợ hãi.

Cái đó là con đường sanh tử. Mỗi lần sanh là mỗi lần khổ. Mỗi lần có mặt ở trong – hiện hữu thế gian này là bao nhiêu thứ khổ của cuộc đời chúng ta. Thế mà mọi người ngu si mới là ưa nó.

Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.

Ở đây chúng ta thấy: Dục mà có mặt thì ưa ghét nó có mặt, mà dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt. Cho nên chúng ta diệt cái đó thì nó sẽ không có mặt.

Mà chúng ta biết rằng: Do cái dục mà khiến cho có chúng sanh khởi ra, mà do cái dục khiến cho chúng sanh hiện hữu. Đó thì, nếu mà dục không còn có nữa thì không có chúng sanh hiện hữu, mà dục không còn có nữa thì không có sanh chúng sanh nữa.

(06:19) 4. Dục do Tầm làm nhân làm duyên, do Tầm làm tập khởi. Tầm khiến cho dục sanh, Tầm khiến cho dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt…​

Đó thì quý thầy thấy rõ. Bây giờ Tầm là cái gì? Tầm là cái sự suy tư ở trong đầu óc của chúng ta. Tầm là những cái vọng tưởng của chúng ta chớ cái gì? Cho nên khi mà dục, đây chúng ta nói Tầm tức là có cái sự suy tư, có cái sự suy nghĩ, cái sự suy nghĩ đó gọi là Tầm.

Nó chưa đến cái chỗ mà nói tới vọng tưởng, vọng tưởng nó còn thô nữa, nó bởi vì thuộc về tưởng rồi. Tầm nó còn nằm ở trong ý, nó chưa phải là tưởng. Cho nên khi một người nhập Sơ Thiền thì người ta có Tầm có Tứ, tức là có giác có quán, người ta có cái ý tứ ở trong đó chớ chưa phải là vọng tưởng.

Còn vọng tưởng đây nó thuộc về tưởng. Chưa ăn mà ngồi đó tưởng ngon, chưa có hưởng lạc của thế gian chút nào mà ngồi đó tưởng. Cũng như chưa có ly dục, ly bất thiện pháp mà ngồi đó ngồi thiền mà nghe khinh an, hỷ lạc, nói đó là nhập thiền định, đó là tưởng á, tưởng dục chớ không phải tưởng cái chánh của ly dục, ly bất thiện pháp mà sanh ra cái hỷ lạc. Cho nên chẳng biết cái đó mà tưởng ra, chưa ăn cái đó mà tưởng ra nó như vậy.

Cho nên, tất cả những cái người ngồi thiền bây giờ, hễ nghe hỏi tới, nghe có khinh an, nghe hỷ lạc: “Ờ như vậy đúng rồi, đúng á, thiền định á!” Thiền khỉ họ! Cái đó là thứ tưởng dục mà nó sanh ra, nó làm chúng ta ham thích cũng như là cái dục của thế gian vậy thôi chớ không có cái gì khác.

Người tu thiền người ta biết được, người ta thấy cái đó người ta quá sợ. Ở trong một cái tâm thanh thản, không có một cái dục gì hết, không có làm chúng ta ham thích cái gì hết, thì cái đó mới chính là cái sự thanh tịnh của thân tâm của chúng ta, mới là thiền định chính gốc, mới thiền định, mới chánh định, chánh thiền.

Còn thiền định gì mà chạy theo dục lạc, bữa ngồi có thì thích, bữa ngồi không có thì chán, thì như vậy là cái tâm phàm phu tục tử chớ đâu phải là thứ ngồi thiền, cái thứ tu theo Phật để giải thoát?

Cho nên:

Dục do Tầm làm nhân làm duyên, do Tầm làm tập khởi.

Do cái Tầm nó tập khởi ra. Do cái Tầm mà khiến dục sinh ra.

Tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt.

Ở đây chúng ta thấy rõ ràng: Tầm khi mà nó có mặt thì cái dục nó mới có mặt, còn Tầm không có mặt thì dục không có mặt.

Cho nên khi mà chúng ta nhập Nhị Thiền, Tầm Tứ chúng ta diệt, cho nên nó không còn Tầm thiện, Tầm ác gì cả hết, vì vậy mà lúc bấy giờ cái nhập Nhị Thiền thì vọng tưởng không còn có nữa.

Bây giở đây cái phần thứ năm, ở đây Phật dạy:

5. Tầm lấy các vọng tưởng làm nhân làm duyên.

Đó, Tầm – nếu mà nói đến Tầm thì chúng ta phải biết rằng nó có những cái tưởng ra cái này cái kia, chưa thấy mà tưởng ra: Ngồi đây mà tưởng thành phố Hồ Chí Minh, ngồi đây mà tưởng hình bóng một cô gái ở Hà Nội, thì cái điều đó là cái điều sai hết. Đó là cái vọng tưởng đó.

(09:11) Bởi vì cái Tầm Tứ thì nó phải có mọi cái đối tượng của nó thuộc về ý thức thì cái này là mới Tầm đúng, mới Tứ đúng.

Còn bây giờ nó không có đối tượng, mà cái Tầm đó nó lấy cái vọng tưởng nó làm duyên nó khởi: Bây giờ không có hình dáng đó, nó tưởng ra hình dáng đó, thì cái Tầm đó từ đó nó lấy cái vọng tưởng đó làm nhân làm duyên của nó, lấy các vọng tưởng nó lý luận, nó hý luận, nó khiến cho Tầm nó sanh khởi cái này, cái nọ kia.

Nó tưởng là – ví dụ như bây giờ nó nghĩ ra cái này cái kia, chẳng hạn bây giờ chúng ta muốn nghĩ ra một cái pháp nào đó, thì chúng ta cũng tưởng ra cái pháp đó, rồi nhờ đó mà cái Tầm đó nó mới lý luận ra cái thế này thế khác, nó mới nói như thế này thế khác, nó cho đó là cái đó là đúng, còn các cái khác là sai.

Vì vậy cái người mà gọi là có những cái kiến giải, có những cái tưởng giải như vậy đó, thì nó cũng lấy từ cái chỗ mà – Tầm đó nó lấy cái vọng tưởng đó làm nhân, làm duyên để nó làm cho các pháp của nó, chớ sự thật ra nó không phải là chánh pháp, mà đó là những tà kiến, những cái tưởng kiến của nó, cho nên nó sanh ra những cái loại này, nó làm cho Phật pháp sau này rất là lệch lạc.

Hầu hết là một cái số người tu thiền định hoặc là giữ tâm mình một cái thời gian yên lặng nào đó, không có chạy theo các pháp thế gian, các nghề nghiệp sống ở thế gian, thì họ hay sanh ra những cái tưởng pháp như vậy để làm lệch lạc con đường tu của những người sau này mất hết. Họ đẻ ra biết bao nhiêu là cái thứ kinh sách mà toàn là cái thứ loại tưởng không, vọng tưởng không, chớ không phải là cái thứ chánh pháp.

Cho nên chúng ta bây giờ nhìn lại cái lối đi mà vào đạo Phật thì chúng ta chẳng thấy. Nhân quả thì nói hoàn toàn là mê tín, mà cái đường đi của nhân quả đường rất là rõ ràng, chúng ta đang sống ở trong cái lộ trình của nhân quả chi phối chúng ta hàng giờ, hàng phút, mà chúng ta không vượt ra nhân quả mà cứ nghĩ ở đâu trên trời xanh, thì làm sao mà ra khỏi cái lộ trình này được?

Do các loại vọng tưởng có mặt thì Tầm có mặt; do các loại vọng tưởng lý luận không có mặt thì Tầm cũng không có mặt.

Đó là chúng ta thấy, từ cái chỗ này, cái Tầm này nó lấy các vọng tưởng này nó làm trở thành những cái pháp tưởng, làm chúng ta tưởng đó là cái pháp đúng, nhưng cuối cùng thì chúng ta rờ tới nó thì nó là cái bóng dáng.

Bởi vì tưởng là cái bóng dáng chớ nó không thể nào cái thật được. Cho nên tới cuối cùng thì chúng ta rờ tới nó thì nó là cái bóng dáng. Mà đụng tới cái bóng dáng làm sao mà chúng ta nắm được? Nó là cái bóng mà! Cho nên tới đó thì nó tan biến mất rồi, nó không còn có nữa. Cho nên những cái pháp tưởng thì khó mà chúng ta đạt được cái kết quả tu tập của chúng ta.

2- CÁCH DIỆT VỌNG TƯỞNG HÝ LUẬN

(11:49) 6. Người tu sĩ phải tu tập như thế nào, phải thành tựu con đường nào thích hợp để diệt trừ các loại vọng tưởng hý luận này?

Nghĩa là bây giờ chúng ta mới thấy được các loại vọng tưởng hý luận này, như thế nào để diệt?

Từ hôm đó tới nay Thầy giảng cái giáo án này là mục đích Thầy diệt các cái vọng tưởng hý luận của từ người xưa cho đến bây giờ để làm cho chúng ta lệch lạc con đường. Bây giờ mới dẫn dắt ra cái bài kinh này, mới thấy rằng Đức Phật đã dạy: Bây giờ chúng ta đã lạc vào con đường tưởng pháp rồi, bây giờ chúng ta làm sao đây?

Đây là không phải là thứ vọng tưởng thế gian nữa đâu, mà đây là cái thứ vọng tưởng hý luận, vọng tưởng lý luận thế này thế khác để làm cho lệch lạc Phật pháp. Đó là làm cho mất con đường tu của chúng ta. Vậy thì chúng ta muốn phá vỡ nó phải làm sao?

Người tu sĩ phải tu tập như thế nào, phải thành tựu con đường nào thích hợp để diệt trừ các loại vọng tưởng, hý luận này, lý luận này?

Đó thì như vậy là chúng ta phải thực hiện như thế nào?

Nếu mà Thầy mà không thực hiện, cái sức đúng của Phật pháp bằng cái Giới, Định, Tuệ của Phật, thì đến ngày nay thì thử hỏi Thầy làm sao Thầy dám ăn dám nói cái này được? Làm sao mà dám tiêu diệt ba cái pháp tưởng này được của họ? Họ đầy ắp, họ chất biết bao nhiêu là tủ kinh sách, mà cái thứ loại tưởng này đầy ắp ở trong cái đạo Phật.

Cho nên đến hôm nay mà lật ngược trở lại thì chúng ta mới thấy đó là một cái sai lệch, làm cho từ bao nhiêu thế kỉ nay con người theo đạo Phật mà không chứng được đạo giải thoát, vì không rõ được cái lộ trình nhân quả, không vượt thoát được cái nhân quả, làm cho nhân quả luôn liên tục chi phối đời sống của con người mãi sanh diệt, sanh diệt mãi mà không chấm dứt được.

2.1- CÓ HAI LOẠI HỶ, HAI LOẠI ƯU, HAI LOẠI XẢ

(13:34) Muốn diệt trừ các loại vọng tưởng hý luận, lý luận này thì chúng ta phải lưu ý có hai loại hỷ:

Nghĩa là ở trong này nó có cái lý luận, mà nó lý luận chạy theo cái hỷ lạc của nó, cho nên chúng ta phải phân biệt cho rõ ràng, nó có hai cái loại hỷ:

Một:

Một loại phải thân cận;

Và hai:

…​ một loại phải xa tránh.

Nghĩa là nó có hai cái loại hỷ, cái hỷ nào mà chúng ta phải thân cận, mà cái hỷ nào mà chúng ta phải xa lánh?

Ưa cũng có hai loại: – Ưu chớ không phải ưa.

Ưu cũng có hai loại: Một loại phải thân cận, một loại thứ hai thì phải xa lánh.

Xả cũng có hai loại: Một loại thì thân cận, một loại thì xa lánh.

Vậy thì cái loại thân cận là thân cận như thế nào? Mà cái loại xa lánh là xa lánh như thế nào?

Ở đây để chúng ta diệt được những cái hý luận, cái vọng tưởng này, cái vọng tưởng hý luận, lý luận này thì chúng ta phải biết cái đúng cái sai. Cái đúng thì chúng ta thân cận, mà cái sai thì chúng ta xa lánh.

Cho nên ở đây mình quán xét các pháp – mà dù là các tổ có viết ra – cái nào đúng thì chúng ta thân cận, mà cái nào không đúng thì chúng ta xa lánh, đừng có chấp nhận nó.

2.2- HỶ CẦN XA LÁNH VÀ HỶ CẦN THÂN CẬN

(14:56) Loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm” thì hỷ ấy cần phải xa lánh.

Bây giờ có người tự xưng mình là Phật Tánh nè, mà họ lý luận, họ tranh cãi, hơn thua với thiên hạ, thì cái pháp đó là mình cần phải thân cận hay xa lánh? Một cái người mà còn ham tranh cãi hơn thua với thiên hạ, thì cái đó là thiện hay là ác nè?

Đó cho nên Đức Phật đứng ở trong cái lộ trình nhân quả để chỉ cho chúng ta biết cái đúng cái sai. Cho nên cái này chúng ta có thân cận không?

Mặc dù họ nói họ là Phật nè, họ là bản thể của vũ trụ nè, họ là như thế này như thế khác nè, nhưng mà họ đối xử với chúng ta họ còn hơn thua bằng từng lời nói, họ còn tìm mọi cách nói này kia nọ, nói xấu nói xa bằng cách này kia, thì những cái loại hý luận như vậy đó họ có hay ho gì? Như vậy thì chúng ta có thân cận được không?

Đứng ở trong cái nhân quả thiện và ác thì chúng ta thấy những cái người mà còn tranh hơn tranh thua, còn danh còn lợi, còn ham ăn ham ngủ, thì như vậy là chúng ta có thân cận họ không? Họ có đúng không? Như vậy là chúng ta không thân cận. Đó là chúng ta phải tránh xa.

Loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp tăng trưởng, mà thiện pháp suy giảm” thì hỷ ấy cần phải tránh xa.

Đó Phật dạy rất là rõ ràng. Dù là người ta lý luận cái gì mà mình sống gần mình thấy người ta đang chạy theo những cái dục lạc thế gian, đang có chùa to tháp lớn, đang có tiền bạc nhiều, đang có của cải tài sản, đang có đủ thứ xe cộ, thì tức là mình biết thân cận với những người này không phải là chánh pháp.

Mặc dù họ thuyết pháp rất hay, họ nói thuyết hay, mà đời sống của họ thể hiện qua điều đó, thì chúng ta biết cái loại hỷ này là cái loại hỷ của thế gian rồi, chớ không phải là cái loại hỷ xuất thế gian. Cái loại hỷ xuất thế gian nó không phải vậy, nó ba y một bát cà, nó mới là xuất thế gian!

Cho nên từ đó chúng ta nên xa lánh những cái hạng người này, những cái nơi này không phải là chỗ mà chúng ta tu tập được.

(17:04) Ở đây Phật tiếp phần thứ hai:

Loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng” thì hỷ ấy nên thân cận.

Đó thì bắt đầu mình gần nó mình thấy: Bây giờ gần với ông thầy đó, ổng tri túc thiểu dục nè, ổng sống đúng đời sống Phạm hạnh nè, ổng ăn ngày một bữa, ông không còn tham dục, không còn gì hết, ổng quét sạch, ổng ngồi thiền nhập định, ổng làm chủ được cái sống chết ổng nè!

Thì mình thấy rõ ràng: À cái này là thuộc về cái loại hỷ giải thoát rồi, loại hỷ ly dục ly bất thiện pháp rồi, bây giờ dù như thế nào chúng ta cũng bám chặt ông thầy này. Ổng có đuổi chúng ta cũng không đi nữa, quyết định là ở gần bên ổng à, sống chết với ổng thôi à. Một mai thì chúng ta mới có gần bên những cái người này mới có giải thoát được, quyết định là phải sống gần cái ông này!

Vì ông này ổng làm được như vậy là ổng phải có kinh nghiệm. Còn nếu không có kinh nghiệm làm sao ổng ăn ngày một bữa nổi? Làm sao mà ổng đứng trước một cái đống dục lạc cả bao nhiêu thứ mà không cám dỗ ổng nổi? Thì ông này phải có những cái gì chớ không phải là cái thứ tầm thường đâu, cho nên vì vậy mà bám riết.

Cũng như trong bài kinh Trung Bộ, bài kinh Khu Rừng, Đức Phật dạy chúng ta hai điều kiện. Điều kiện thứ nhất là tìm cái chỗ ở như Thầy đã giảng rồi, cái chỗ ở nó phải như thế nào để cho tâm của chúng ta đến đó mà nó được an tịnh, nó chưa hết lậu hoặc mà nó đã hết lậu hoặc.

Rồi chúng ta gần một vị thầy, một vị thầy đó dạy chúng ta, hướng dẫn chúng ta thì chúng ta thấy được cái đời sống giải thoát ngay liền là tâm vô lậu của chúng ta được liền, tâm an tịnh được liền, giải thoát tất cả các cái dục của thế gian. Vì vậy mà dù ông thầy đó có đuổi, ở đó không có cơm ăn, nhất định cũng ở đó ăn lá cây với ông ta cũng được, miễn là làm sao chúng ta được giải thoát.

Đó là cái bài kinh Khu Rừng mà Phật đã dạy trong kinh Trung Bộ, chúng ta rất rõ, khuyên chúng ta rất rõ. Cho nên khi mà gặp được một bậc minh sư rồi thì sống chết chúng ta phải sống với cái vị đó chớ không nên bỏ vị đó. Đó là chúng ta tìm lấy con đường giải thoát.

Còn nếu mà chúng ta thấy rằng mình không có đủ duyên tu hành theo đạo Phật thì tốt hơn thì quý thầy đừng có theo mà trở về sống với đời sống cư sĩ, làm ra tiền mà bố thí, lợi ích cho mình, lợi ích cho người, bố thí cho người khác đang có những sự bất hạnh trong cái đời sống của họ. Có phải lợi ích không? Mà mình đâu có ăn bám của ai!

Còn trái lại, nếu mình quyết tâm để đi tìm con đường giải thoát hoàn toàn thì hãy bám với những bậc minh sư đó, bám những bậc Thánh Hiền đó, thì may ra mình mới có thể đi tới được cái nơi giải thoát hoàn toàn.

Đó thì ở đây quý thầy thấy Đức Phật phân cho chúng ta thấy rõ. Bởi vì có thiện với ác mà thôi mà chúng ta biết được, còn nếu mà không biết thiện ác thì làm sao mà chúng ta biết được?

Đó, thì nhìn thấy một cái vị mà phá giới thì tức là không phải là bậc thầy của mình rồi, hãy tránh đi. Ông đó mà ông ăn hai, ba bữa vậy, ổng bây giờ ổng có là giảng sư, ổng có bao nhiêu cái bằng tiến sĩ đi nữa, ổng có thuyết pháp rất hay đi nữa cũng chỉ là cái tưởng giải của ổng mà thôi, cũng chỉ là những cái tưởng hý luận của ổng mà thôi, cho nên cái vọng tưởng đó là những cái thứ vọng tưởng đặc biệt của mấy ông đó.

Cho nên chúng ta chẳng nên gần với mấy ông đó, mấy ông đó chẳng đem cho chúng ta có lợi lạc gì được hết. Đó thì chúng ta phải biết, càng đem cho chúng ta đến thì càng đem chúng ta càng đau khổ, chạy theo danh lợi của thế gian chứ chẳng có gì khác.

(20:12) Ở đây quý vị lưu ý:

Có hỷ câu hữu với Tầm…​

Mình phải lưu ý cái này.

Có những loại hỷ câu hữu với Tầm, câu hữu với Tứ, có hỷ câu hữu với Tầm mà không câu hữu với Tứ.

Nghĩa là mình phân biệt được những cái loại hỷ nó câu hữu với Tầm và cũng câu hữu với Tứ, nhưng có loại hỷ thì nó câu hữu với Tầm mà nó không câu hữu với Tứ, nghĩa là nó sanh toàn là vọng tưởng mà nó không tác ý ra.

Nó cứ miên man, Phật gọi là tùy miên, tùy miên ở trong những cái vọng tưởng. Cái vọng tưởng nó khởi ra rồi mình sống liên tục liên tục ở trong cái suy nghĩ đó hoài hoài, kéo dài hoài, mà nó khởi cho mình những cái thích thú ở trong cái chỗ đó, mình thấy rằng mình tuyệt diệu, thì cái đó là bị say đắm ở trong những cái vọng tưởng mà nó câu hữu với cái Tầm.

Còn nó câu hữu với Tứ thì nó tác ý ra, rồi nó khởi ra, rồi nó tác ý ra, rồi nó khởi điểm này nó đến khởi điểm khác, rồi nó Tầm ở trong đó, nó suy tư ở trong đó, thì cái đó là nó câu hữu với Tầm với Tứ.

Còn nó câu hữu với Tầm không thì nó liên miên, nó say mê ở trong cái ý của nó đã tìm ra. Đó là cái loại hỷ nó câu hữu.

Các loại hỷ không câu hữu với Tầm mà cũng không câu hữu với Tứ thù thắng hơn.

Nghĩa là cái loại hỷ nào mà nó không câu hữu với Tầm, nó không câu hữu với Tứ, thì cái loại hỷ đó nó mới thù thắng hơn. Nghĩa là cái loại hỷ nào? Chỉ có cái loại hỷ mà ly dục, ly ác pháp thì nó mới không câu hữu với Tầm với Tứ, cho nên nó mới là định sanh hỷ lạc.

Đó thì, nó rõ ràng là chúng ta thấy Đức Phật muốn nhấn mạnh là cái chỗ mà cái hỷ lạc hơn hết là bắt đầu chúng ta đi vào cái chỗ định thì cái hỷ lạc đó nó mới hơn hết. Còn cái hỷ lạc ly dục, ly bất thiện pháp nó chỉ khởi sự cho cái tâm thanh tịnh của chúng ta mà thôi.

Đó là hai loại hỷ mà các người tu sĩ cần phải lưu ý.

Đó, phải phân biệt được hai cái loại hỷ: Cái loại hỷ trên nó câu hữu với Tầm với Tứ, có khi nó câu hữu với Tầm mà không câu hữu với Tứ. Còn một cái loại hỷ thì nó không câu hữu với Tầm cũng không câu hữu với Tứ, đó là một cái loại hỷ thù thắng nhất. Thù thắng mà cái người tu sĩ và các bậc thánh nhân nên tìm cái loại hỷ đó, đừng có để cho nó câu hữu với Tầm với Tứ.

2.3- ƯU CẦN XA LÁNH VÀ ƯU CẦN THÂN CẬN

(22:31) Loại ưu nào có thể biết được:

Ở đây đến cái chữ ưu. Ưu là nó do cái tâm mình phiền não, do cái tâm mình lo lắng, nó gọi là ưu. Còn não là thuộc về cái thân khổ đau của chúng ta như nhức chỗ này, nhức chỗ kia, gọi là não.

Còn ưu ở đây nó thuộc về tâm, nó sầu não ở trong, nó sầu bi ở trong lòng của mình, nó lo lắng, nó buồn khổ ở trong lòng gọi là ưu. Còn não thì nó ở ngoài, cái thân nó nhức chỗ này nhức chỗ kia, nó làm chúng ta khó chịu gọi là não.

Phân biệt được hai cái chữ này thì chúng ta mới thấy được cái tâm và cái thân của chúng ta nó có những cái sự khổ, nó không có giống nhau, một bên là ưu, một bên là não.

“Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm” thì ưu ấy cần phải tránh xa.

Chữ ưu có nghĩa còn có cái sự lo nghĩ, lo toan ở trong đó, chữ ưu nó có sự buồn phiền, nó có sự lo toan ở trong đó.

Cho nên khi mà chúng ta thân cận với:

“Khi tôi thân cận với ưu này…​

Với cái sự ưu, sự lo lắng ở trong đầu của mình đó.

…​ thì bất thiện pháp tăng trưởng mà thiện pháp suy giảm” thì ưu ấy cần phải tránh xa.

Khi mình có sự buồn phiền ở trong lòng, có cái sự lo lắng, sợ hãi ở trong lòng, mà lúc bấy giờ bất thiện pháp – tức là ác pháp nó tăng trưởng thì ngay đó mình phải diệt trừ cái ưu đó liền, không có để. Mà cái thiện pháp mà tăng trưởng thì mình nuôi lớn nó lên, để cái ưu đó nó sẽ hết, cái ưu cái sầu lo nó sẽ hết.

(24:04) Cho nên ở đây phải phân biệt được hai cái loại: Cái loại bất thiện pháp tăng trưởng mà thiện pháp suy giảm thì cái ưu đó chúng ta cần phải đoạn diệt, tức là chúng ta biết đó là ác pháp, không phải là thiện pháp nữa, làm cho tâm hồn chúng ta không còn ưu nữa, không còn buồn, không còn lo nữa, không còn sợ hãi nữa.

Loại ưu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với ưu ấy, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng” thì ưu ấy nên thân cận.

Đó, cũng là cái lo, nhưng mà cái lo mà để nó hết lo, thì lúc bấy giờ cái buồn phiền, cái lo lắng ở trong tâm mà gần với thiện pháp thì cái lo lắng, cái buồn phiền đó lần lần nó sẽ giảm mất đi, và nó không còn ưu nữa.

Còn cái buồn phiền mà gặp cái ác pháp càng ngày càng tăng lên mà thiện pháp thì suy giảm, thì cái đó nó sẽ làm cái ưu, cái sự buồn lòng của chúng ta càng ngày càng nhiều lên nữa, không có bao giờ nó dứt được.

Cho nên ở đây Phật dạy: Khi mà tâm của chúng ta có sự lo lắng, ưu phiền thì chúng ta phải thấy được cái ưu phiền đó nó làm cho thiện pháp mà tăng trưởng thì ưu phiền đó chúng ta hãy cố gắng mà tiếp tục triển khai nó nữa, thì cái ưu phiền nó sẽ hết.

Còn cái ác pháp mà tăng trưởng thì ngay đó chúng ta phải chấm dứt, không được theo cái đó mà cái ưu phiền của chúng ta càng lớn dần, làm chúng ta đau khổ nhiều.

Ở đây quý thầy phải lưu ý:

Có ưu câu hữu với Tầm, câu hữu với Tứ. Có ưu không câu hữu với Tầm, không câu hữu với Tứ.

Đó, thì cái loại ưu mà câu hữu với Tầm, câu hữu với Tứ, mà câu hữu với Tầm không mà không câu hữu với Tứ, thì những cái loại ưu này chúng ta không có xài nó đâu. Nghĩa là nó có Tầm, có Tứ, có suy nghĩ về cái sự ưu này thì chúng ta không xài đâu.

Có các loại ưu không câu hữu với Tầm, không câu hữu với Tứ, thì loại ưu này thù thắng hơn.

Nghĩa là cái ưu, cái lo lắng mà nó không câu hữu với Tầm với Tứ thì cái ưu này là cái hỷ lạc của chúng ta, cho nên nó là thù thắng nhất. Vì cái sự hiểu biết này thì chúng ta biết nó là ở chỗ các pháp nào mà nó có cái chỗ mà cái ưu này nó không câu hữu với Tầm với Tứ không.

Khi chúng ta biết nó thì chúng ta phải thực hiện cái pháp đó hàng ngày để chúng ta tu, để cho cái lòng ưu phiền của chúng ta, cái lòng ưu nó không còn có nữa, thì như vậy là chúng ta phải thực hiện cái pháp đang ở đó. Thì sau cái giới hành Thầy sẽ dạy cái chỗ này thì quý thầy sẽ thấy, khi đó quý thầy sẽ tập tu thì quý thầy sẽ thấy rõ.

2.4- XẢ CẦN XA LÁNH VÀ XẢ CẦN THÂN CẬN

(26:30) Loại xả nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp tăng trưởng mà thiện pháp suy giảm” thì xả ấy cần phải xa lánh.

Tui xả nó ra, tui xả ra cái điều đó, nhưng mà tui thân cận với cái xả này, chẳng hạn bây giờ tui dự định là tui bỏ cái điều này, nhưng mà cái điều mà tui bỏ đó là các ác pháp nó sẽ tăng lên, nó tăng trưởng lên, nó làm cho nhiều cái sự đau khổ.

Cũng như bây giờ tui tính tui bỏ cái nhà này nè, tui cất – cũng như tính bây giờ tui bỏ cái chùa xấu này đi, tui đập nó xuống đi, tui sẽ cất cái chùa tốt hơn, thì do đó khi mà tui nghĩ như vậy đó, thì tức là tui xả cái chùa nhỏ này đi để tui cất cái chùa lớn khác lên.

Thì cái đó là chúng ta thấy được rõ ràng là các ác pháp nó tăng trưởng lên, bắt đầu nó bắt buộc tui phải đi quyên tiền người ta, đi xin người này, xin xỏ người kia để cất cho được cái chùa lớn hơn, thì như vậy, đó là ác pháp tăng trưởng.

Còn bây giờ tôi xả bỏ, bây giờ cái chùa này nó hư rồi, mà cái chùa này nó cũng sang đẹp lắm mà nó hư rồi, bây giờ tui bỏ cái chùa đẹp này đi, tui cất nó lại bằng cái chùa tranh, cho nên tui xả bỏ cái chùa gạch đi, tui cất lại cái chùa tranh, do đó bây giờ tui lại an ổn.

Vì cái số tiền tui hiện giờ tui cất cái chùa tranh nổi, mà tui cất cái chùa gạch, chùa kiên cố thì không nổi. Do đó bây giờ tui chỉ có 5 triệu à, tui cất cái chùa tranh được, mà cái chùa ngói này tui phải có 100 triệu cà, tui mới cất được, do đó tui khỏi cần phải cực khổ tui đi xin. Cho nên tui thấy gần cái thiện pháp, tui thấy tăng trưởng nó làm cho tui được giải thoát.

Vì vậy mà cái chùa kiên cố cả trăm triệu bạc nó không bằng cái chùa tranh vách lá mà tui được thảnh thơi, tui được giải thoát, tui không còn bận tâm lo lắng, tui không còn phải chùi rửa, tui không còn phải quét dọn cái chùa này hằng ngày, tôi trở thành nô lệ nó. Cho nên vì vậy mà tui thấy từng cái đó mà thiện pháp tăng trưởng, cho nên tui đủ có nhiều thì giờ mà tui tu thiền định, cuối cùng tui được giải thoát, cho nên tui không bị cái chùa trói buộc tôi.

(28:24) Đó là tui thấy rõ ràng là tui thân cận được thiện pháp mà tui được giải thoát, còn tui thân cận các ác pháp thì nó tăng trưởng lên. Do cái xả này, mà cái xả này đem đến cho tui hoàn toàn là đau khổ, thì bắt đầu tui không chấp nhận nó, tui không thân cận nó nữa.

Không thân cận tức là tui không có chạy theo mà đi quyên tiền người khác mà để cất cái chùa tốt, cho nên vì vậy mà tui không gần nó nữa. Vì vậy mà bây giờ tui thấy tui có 5 triệu, tui cất cái chùa tranh, tui bỏ cái chùa gạch đổ vỡ này đi, tui dẹp nó qua thành một đống gạch, bây giờ tui cất lại cái chùa tranh tui ở. Tui thấy tui giải thoát hoàn toàn, tui không còn bị lo nữa, cho nên thiện pháp càng ngày càng tăng trưởng nơi tôi, làm cho tôi sung sướng và hạnh phúc.

Đó là đem một cái ví dụ để chúng ta thấy cái xả nào đúng mà cái xả nào sai. Nhiều khi chúng ta xả cái này nhưng mà chúng ta lại tích những cái khác quá cái sức của chúng ta, làm chúng ta đau khổ.

Loại xả nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng” thì loại xả ấy nên thân cận.

Đó là Thầy đã giải thích rồi đó. Thì quý thầy thấy chúng ta có một cái đầu óc có sự suy tư mà đi trên con đường giải thoát là tri túc thiểu dục, biết đủ.

Cho nên bây giờ tôi đang làm trụ trì một cái ngôi chùa lớn mà vì thiên hạ nói: “Ông đang làm trụ trì một cái chùa lớn mà chùa hư, ông không chịu cất!” Tui cất chứ sao lại tui không cất? Nhưng tui cất với cái sự không làm đau khổ chúng sanh.

Tui không quyên tiền ai hết, tui có bây giờ 5 triệu, tui cất 5 triệu, mà tui cất lại cái chùa cho như hồi cũ thì tui không đủ tiền cho nên tui không cất. Vì tui biết đó là những cái dục lạc của thế gian, cám dỗ, cái đẹp, cái tốt xấu, cái này kia.

Nhưng đời tui ở, tui cất cái chùa tranh, đệ tử tui ở thì cái chùa tranh hư, nó cất, nó cũng đủ với cái sức nó cất, chớ đâu có gì mà quá sức nó mà tui sợ mất cái chùa? Tui chỉ sợ mất tui tu không được mà thôi, chớ còn cái chùa không bao giờ mất.

Ở đây các thầy phải lưu ý:

Có xả câu hữu với Tầm, câu hữu với Tứ. Có xả không câu hữu với Tầm, không câu hữu với Tứ.

Đó thì các Thầy thấy rằng, khi mà nó câu hữu với Tầm Tứ thì chúng ta có sự suy tư, tính toán ở trong đó, rồi tính phải xin Phật tử thế này thế khác thì đó là nó đưa chúng ta đến cái sự suy nghĩ, để đưa chúng ta đi đến cái chỗ mà không giải thoát.

Nhưng các loại xả không câu hữu với Tầm, không câu hữu với Tứ thì thù thắng hơn.

Tại sao vậy? Tại vì lúc bấy giờ chúng ta cứ ngồi thiền không, chúng ta đâu để cho cái tâm chúng ta rảnh rang mà câu hữu thứ mà đi cất chùa cất chiền đâu! Cho nên chúng ta rảnh rang, không có đi lại xóm này, làng kia để mà khuyến hóa họ, để xin tiền họ để cất chùa, nói: “Chùa tui giờ rách nát rồi, xin quý Phật tử mỗi người giúp đỡ cho tôi một ít để tui xây dựng được cái chùa cho tốt.”

Tui đi cả ba năm như vậy tui góp tui mới cất được cái chùa, thì hơn là ba năm tui ngồi tui tu, tui nhập định thì tui làm chủ được cái sanh tử thì cái gương hạnh của tui còn hơn là tui cất cái chùa đó gấp mấy lần.

Cho nên ở đây tui nghĩ như vậy tức là cái tâm của tui không câu hữu với Tầm với Tứ, cho nên tui ngồi thiền tui an ổn mà tui tu tập cho đến khi mà tui giải thoát hoàn toàn.

2.5- CẦN TU TẬP CHỨNG ĐẠT HỶ – ƯU – XẢ THÙ THẮNG

(31:20) Người tu sĩ phải tu tập chứng đạt hỷ – ưu – xả này mới thích hợp dần dẫn đến sự diệt trừ các vọng tưởng hý luận.

Nếu mà chúng tôi biết như vậy thì chúng tôi sẽ diệt được vọng tưởng. Thì diệt vọng tưởng là bằng cách là mình không cho chạy theo cái Tầm, Tứ đó, cho nên vì vậy mà mình đâu có cần gì mà phải cất chùa to tháp lớn đâu? Một mái chùa tranh mà ở đó mình nỗ lực tu, ngồi thiền nhập định không phải quý sao?

Cho nên mình diệt hết những cái lý luận điên khùng này, những cái lý luận mà không đúng cách này, nghĩ rằng mình phải làm Bồ Tát hạnh, rồi mình phải làm cái này lợi ích chúng sanh, phải cất cái chùa to để cho người ta đến đây, do cái duyên đó người ta mới đến chùa, còn cái chùa tranh lèo tèo ai mà đến làm gì?

Nhưng không ngờ, chính chùa tranh lại có ông Phật thật, thì chừng đó người ta mới đến hơn là cái chùa kia để mà người ta đến người ta đi chơi, đi dạo, người ta coi cái kiểu cách cất cũng như là những cái gì sang đẹp của thế gian chứ có cái gì ở trong đó, có cái gì giá trị?

Còn bây giờ người ta đến cái chùa tranh mà người ta thấy bậc chân tu ở đó, người ta còn kính mộ, người ta còn nhìn thấy Phật pháp đang hưng thịnh ở trong cái thế gian này.

Còn nhìn cái chùa mà đẹp sang, người ta thấy đó là một cái kiểu cách xây dựng đẹp đẽ chứ người ta đâu có thấy rằng ở trong đó có một ông Phật thật ở trong đó đâu, toàn là thứ xi măng không, không có gì hết!

Đó thì, ở đây qua một cái bài kinh như vậy là chúng ta đã thấy được những cái điều mà chúng ta cần phải biết để mà chúng ta hiểu, để mà chúng ta tu tập, để mà chúng ta biết những cái gì mà thân cận, những cái gì mà không thân cận.

Do Đức Phật dạy từng ly, từng tý như vậy, mà tại sao chúng ta không biết mà cứ khởi tâm chạy lăng xăng đầu này đến đầu kia, vào thất người này vào thất người kia để làm gì? Chúng ta biết được, chúng ta khép mình chặt ở trong thất của mình. Ở trong thất mình nè, có phòng tắm, phòng vệ sinh riêng nè, có cần gì mà phải chạy lăng xăng?

Đó quý thầy thấy không, ở đây Thầy tạo cho quý thầy một cái phương tiện sống đúng cái giới hạnh của Phật để thực hiện con đường nhân quả, làm chủ nhân quả, mà quý thầy không đồng ý mà còn chạy lăng xăng thì còn cái chỗ nào mà tìm hơn nữa?

Đó Thầy nghĩ rằng cái cách thức mà tổ chức ở đây là nhằm để giúp cho quý thầy giải thoát được mà quý thầy không giải thoát, thì đến ngày hôm nay Thầy đã ẩn bóng hoặc là Thầy không còn muốn tiếp duyên nữa, thì quý thầy làm sao mà có thiện hữu tri thức để giúp quý thầy trên cái đoạn đường cuối cùng của quý thầy đi?

3- CHÍN MƯƠI GIỚI ĐỌA – PHẦN 3

[Phần 2 ở Giáo án 41]

(33:39) Bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục học giới bổn. Ba cái giới bổn này, thật sự ra thì Thầy cũng không phải dạy mấy con học để làm gì, nhưng mà nói ra để cho mọi người nghe và đồng thời để chỉ cái đúng cái sai của nó, để sau này có cái dịp mình thành lập lại cái giới bổn cho nó đúng cách của cái người mà chấp nhận cái giới làm thầy của mình để cho ly dục ly ác pháp, như cái lời Đức Phật đã nói: Lấy giới mà tu tập để ly dục ly ác pháp để nhập được Sơ Thiền.

Còn cái giới nào mà nó làm cho chúng ta sống mà chạy theo dục lạc, thì chúng ta nên bỏ cái giới đó đi, không có chấp nhận cái giới đó, vì cái giới đó không phải là của Phật.

Vì mục đích của Phật đưa ra giới là nhằm tạo cho chúng ta có cái hàng rào giữ gìn cho cái tâm của mình đừng đắm nhiễm ở trên những cái dục lạc, cái ham muốn của mình, những cái ác pháp mà đang ở trong cái nhân quả như Thầy đã nói hồi nãy.

Nó đang đeo đẳng và nó đang phủ trùm chúng ta, nó đang chờ những cơ hội mà lôi kéo chúng ta ở trong những cái nhân quả. Mà nhân quả thường thường là cái nhân quả ác chớ không phải là nhân quả thiện. Cho nên vì vậy những cái giới luật này hầu giúp cho chúng ta để vượt thoát ra khỏi những cái nanh vuốt của nhân quả, để chúng ta thoát ra khỏi cái tâm ham muốn của chúng ta.

Thế mà giới luật mà không giúp cho chúng ta vượt thoát ra cái lòng ham muốn, vượt thoát ra những cái ác pháp, thì cái giới luật đó chúng ta không chấp nhận, vì nó không phải là cái giới luật của Phật. Vì giới luật của Phật, cái mục đích của nó là giúp cho con người theo đạo Phật là phải ly dục ly ác pháp thì đó là mới đúng là giới luật của Phật.

34) GIỚI THỌ THỈNH QUÁ BA BÁT

(35:13) 34. Giới thọ thỉnh quá ba bát.

Vì sao Phật kiết giới này?

Khi Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, bấy giờ có vợ cư sĩ về bên mẹ, chồng họ kêu trở về, liền sắm thức ăn và y áo nghiêm túc. Lúc ấy có các Tỳ Kheo đến nhà đó khất thực, người đàn bà ấy bèn đem số thức ăn đã sắm đó cúng các Tỳ Kheo ăn hết. Người đàn bà ấy phải sắm lại thức ăn, cho nên chưa về lại nhà chồng. Trong thời gian ấy ông chồng đã cưới vợ khác.

Lại có các Tỳ Kheo khất thực, xin hết lương thực của người khách buôn có tín tâm kia, người ấy phải vào thành sắm lại lương thực đem về. Các người bạn đi rồi, người ấy đi theo không kịp, bị giặc cướp đoạt.

Phật quở trách cả hai trường hợp rồi kiết giới này.

Nghĩa là một cái người người ta sắm cái thực phẩm để mà người ta đãi bà con dòng họ của người ta, thế rồi gặp các thầy đến đó khất thực thì người ta trút cái thực phẩm đó người ta cho quý thầy đi. Đó là cái trường hợp thứ nhất.

Cái trường hợp thứ hai mà khi cái người vợ này họ sắp sửa họ trở về nhà chồng là vì họ mắc lo bận bịu để mà lo mà đem lương thực hay này kia giúp cho, cúng dường cho các thầy, cho nên trở về không kịp thì ông chồng ổng ở nhà ổng cưới vợ khác ổng bỏ đi, thành ra bà này mất chồng đi.

Do cái trường hợp đó, Phật nghe những cái trường hợp mà các thầy đã làm bận rộn cho người ta như vậy để làm cho người ta có lỡ những cái cơ hội, vì vậy Phật mới kiết cái giới này.

Cho nên “thọ thỉnh quá ba bát” – ở trong một cái nhà người ta mà mình đến mà mình xin ăn ba cái bát như vậy thì người ta phải mất khẩu cái phần ăn của người ta quá nhiều. Cho nên Đức Phật muốn chế cái giới này, nghĩa là mình đến xin thì mình chỉ xin người ta cho mình một người thôi thì mình đi chỗ khác, chớ không có được ở đó chờ cái gia đình đó mà ba bốn người, năm bảy người mình đến đó chờ có một nhà đó cho mình ăn.

(37:25) Bây giờ trong nhà người ta làm có năm phần ăn của năm người à, mà bắt đầu bây giờ có năm ông thầy Tỳ Kheo đến đó, người ta sớt cho năm người này thì năm cái người kia người ta ở trong nhà, khách mà đến, người ta lấy gì người ta đãi?

Bất quá người ta cho một người, thì còn bốn cái phần kia người ta có thể phủ trùm qua cho những người cho một người thiếu thì có thể được. Còn cái này, thấy nhà người ta có cái đám như vậy đó mình đến đó mình xin sạch hết rồi lấy gì người ta làm cho người khác ăn?

Cho nên hầu hết là Đức Phật cấm là vì có nhiều người thấy cái nhà đó có cái lòng cúng dường thì bao nhiêu ông cứ xúm lại à, xúm lại cái nhà đó để mà xin thì Đức Phật cấm là cấm như vậy. Làm cho người ta lỡ những cái việc mà may mắn của gia đình người ta cho nên mới cấm cái này. Đúng là Đức Phật cấm cái này là đúng.

Thí dụ như bây giờ từ đây đến ở đằng kia thì nó có năm cái nhà, mà mỗi cái nhà là một cái gia đình. Đây là năm vị Tỳ Kheo, cho nên khi mà đến cái nhà này chưa chắc họ đã cho một cái người này mà đủ ăn trong một cái ngày đó, họ cho một bát cơm thôi, rồi mình đến cái nhà kia, nhà kia họ có hảo tâm họ cho thêm một bát cơm nữa. Mà mình đi trong năm người thì thử hỏi họ làm sao đây?

Cho nên do vì vậy đó, một cái người mà đã xin, cái người đó đã sớt bát thì cái người đó mở cái nắp bát ra vầy cái người đó người ta đổ vô. Còn nếu mình mà không nhận cái sự cúng dường của họ, mình đậy cái nắp bát lại. Người ta xin cúng dường thì mình biết rằng người ta đã cúng dường cho cái người kia rồi thì mình đậy cái nắp bát lại, mình không nhận cái sự cúng dường, chờ cái người mà người ta không cúng dường.

Ý nghĩa của cái giới này là mình tránh cái sự mà quá hao tốn của người khác. Trong khi biết cái nhà người ta quá nghèo thì người ta cho, cúng dường một vị rồi, thì tất cả những vị khác đều đậy bát lại hết, rồi do đó chúng ta đi.

Thì những cái người đó họ có van xin mà mình thấy rằng họ có thừa họ cúng dường mình thì mình mở bát ra mình nhận, chớ không phải là mình luôn luôn lúc nào mình cũng mở cái bát mình ra, mình để như thế này, mình ôm đi như thế này, mình mở bát ra đâu, mình đậy bát lại.

(39:20) Nhưng một cái người mà người ta lại cúng dường mình, thì người ta xá mình rồi người ta đứng người ta xin cho người ta cúng dường mình, do đó mình mới mở bát ra, thì khi mà người ta đem cơm đến mình mới mở bát ra, người ta mới trút cơm vào trong bát của mình, rồi mình đậy bát lại mình đi, chớ không phải là mở bát ra như thế này cũng như là ăn mày mà đưa cái nón vầy, cứ xin hoài đó, thì không có được!

Cái người mà đi xin theo cái hạnh khất thực thì Thầy nghĩ rằng, khi mình đi thì mình ôm cái bát, mình đậy cái bát lại chớ không phải là mình mở bát. Nhưng mà khi mình đi mà mình không có ôm cái bát, thì mình bỏ cái bát ở trong túi bát của mình, ở ngoài mình phủ cái y, thì không ai thấy mình bưng cái bát thì người ta biết mình không có đi xin.

Còn nếu mà mình đi xin, thì cái bát mình mình ôm, thì cái nắp nó vẫn đậy chớ không phải mở. Nhưng mà khi người ta đến người ta xin mình, thì mình mới mở cái bát ra, mình chấp nhận, mình nhận cái sự cúng dường của họ, mình mới mở bát ra.

Còn mình không nhận sự cúng dường thì mình đậy bát lại, thì do đó họ xin mình không nhận thì họ vẫn đi chớ họ không có làm sao họ nắm cái bát mình họ mở ra họ đổ trong đó được.

Do vì vậy đó thì – khi mà trong cái giới này thì có nghĩ rằng mình năm người hay mười người mà mình đến xin cái nhà đó trong một cái đoàn đi, thì khi mà cái người đầu tiên người ta sớt cho – cái nhà đó sớt cho mình rồi, thì cái người đầu tiên được cái thực phẩm đó rồi thì họ đi tới. Nếu mà họ đã đầy bát rồi thì cái người này họ đi về, chớ không phải là họ đi luôn như vậy.

Thì đi luôn như vậy cũng được chớ không phải không được, nhưng mà đi về để cho những cái người khác người ta tiếp tục người ta đi trên cái lộ trình này, từng nhà mà người ta đến người ta sớt bát.

Cái ông này đi đầu nè, bốn người kia đi sau nè, thì cái người đi đầu này ôm bát đi đầu, thì đến cái nhà đầu tiên họ đến họ chắp tay họ xin để cho họ sớt bát, thì cái đoàn này đều đứng lại hết, năm người này đều đứng lại hết chớ không phải đi.

Thì khi mà cái nhà đó họ đã đổ cái bát cơm đó vô trong cái ông thứ nhất rồi, có một cái người đổ bát cơm đó cho người thứ nhất rồi, thì họ đến người thứ hai họ xin, thì thay vì Đức Phật cấm cái giới này là người thứ hai không mở bát cho họ xin, cho họ đổ thêm nữa, vì họ đổ cho một cái người này là họ đã dành cái thực phẩm của gia đình họ cho một người là nhiều quá rồi, vì mọi người quá nghèo, chưa phải là người nào cũng giàu có.

Cho nên khi đó đó, khi mà mình không nhận đi rồi thì cái người này họ về nhà họ, họ không đem cho nữa. Do đó mình mở, lần lượt mình đi theo năm người.

Thì trong khi cái người đầu tiên này họ chưa đầy bát, họ chưa có về đâu, họ còn tiếp tục họ đi. Đi đến một nhà, hai nhà, ba nhà, chừng mà họ đầy bát rồi thì bắt đầu cái người này họ đi về. Họ đi về thì còn đây bốn người, bốn người tiếp tục đi. Đi cho đến cái nhà mà ba nhà nữa, thì cái người này đầy bát rồi, cái người này trở về thì còn ba người.

Và cứ như vậy lần lượt cho đến cái người cuối cùng, họ đi một mình họ cho đến khi họ đầy bát họ mới trở về họ thọ thực. Chớ không phải đi cả đoàn, rồi chờ cho họ bỏ đầy bát hết rồi mới dẫn nhau cả đoàn về, thì cái kiểu đó nó cũng chưa đúng cách.

Theo cái giới luật này mà. Thầy nghĩ rằng đọc qua giới luật thì mình thấy qua cái hạnh khất thực thì nó như thế nào để mà đúng, như thế nào sai, chớ không phải là đợi người ta dạy mình cách này cách kia mình mới thấy đúng sai. Cho nên ở đây Thầy đọc giới luật Thầy thấy quá rõ ràng, là vì đi ở trong ba người hay bốn người thì đều tiện.

(42:23) Giống như ở bên Thái Lan mà Chân Thông đi qua bên đó về nói lại với Thầy, khi buổi đúng giờ đó mình đi khất thực, thì trong chùa có mấy người là đi hết mấy người, giờ đó đi hết.

Thì ở ngoài đường hai bên phố đó, người ta cúng dường cho quý sư thì người ta ra hai bên phố, giờ đó họ ra hai bên phố, người thì xách cơm xách nước này kia họ ra họ ngồi dài hai bên đường hết.

Thì cái ông thầy đi trước, cái người đó sớt rồi, thì cái người đó sớt cho ông thầy đó rồi họ về, cái người cư sĩ đó họ về. Ông thầy đó chưa đầy bát thì ổng đi tới cái người kế nữa, họ sớt vô nữa, rồi ổng đầy bát rồi ổng đem về, thì cái người sau đó họ đi tới nữa, cái người kế cứ sớt, sớt vô. Nó đi chừng tới hết múc đường kia thì cái đoàn khất sĩ của mình nó đầy bát hết nhau về chớ khỏi cần đi đâu nữa hết.

Nghĩa là sáng cái đường đó là cái chỗ cái chùa đó là bao nhiêu Phật tử họ tập trung lại cái đường đó, rồi họ đem cơm họ giở sẵn đó hết, do đó buổi sáng cái mình đi cứ thẳng đường theo đó đó mình đi.

Thí dụ như bây giờ, chùa mình bây giờ có thêm một người, thì ông trụ trì ở chùa đó ông báo cho cái nhóm Phật tử đó biết rằng bây giờ chùa có thêm một người, hai người hay năm người, thì cái đoàn Phật tử đó họ sẽ báo cho một cái số gia đình: “Hay bây giờ ở chùa có thêm được năm người nữa, vậy thì quý vị ai – mấy gia đình nữa hùn với chúng tôi để mà cho năm vị này mỗi bữa sáng người ta bữa ăn!”

Cho nên khi mà báo rồi thì hôm sau đi thì mới có, chớ bữa mà mình tới thì mình chịu nhịn đói thôi. Nghĩa là mình tới thì mình không có đi xin ai được hết à, nghĩa là chưa có ai sẵn sàng cho mình hết.

Cho nên người ta sắm sửa đâu đàng hoàng ra người ta sớt bát, hoặc hai người mới đầy một bát, hoặc là một gia đình đầy một bát, hoặc là hai gia đình mới đầy một bát, tùy theo nhà nghèo nhà giàu, chớ không phải người nào người ta cũng sớt cho mình đầy hết đâu, không phải, hay nhà nào cũng sớt cho ông thầy đầy hết, hay hoặc là một nhà mà sớt cho đầy hết.

Còn Thầy hồi đó Thầy đi khất thực á, Thầy nhắc lại để cho quý thầy các con thấy. Thầy đi trong một cái đoàn, thí dụ như mười vị. Cũng trong cái mùa hạ an cư này nè, Thầy về dưới tịnh xá Ngọc Vân ở dưới Mỹ Luông á, Thầy ở đó thì các sư cũng trở về đó cũng đông lắm, cho nên đi hơn mười người chớ không phải là mười người không.

Đi một đoàn khất sĩ rồi đi – Thầy nói ra chợ, đi ngang cái chợ là họ thấy, người ta mua bánh này kia đó, nghĩa là thí dụ như họ đếm coi mình mấy người là họ mua mấy ổ bánh mì, rồi họ thấy mình mấy người đó họ mua mấy chục gói xôi lận, thí dụ như mười người họ mua một chục gói xôi, còn hễ mười người là họ mua một chục ổ bánh mì. Do đó một cái người mà cúng dường đó họ cúng mỗi ông một ổ hết, chớ không bỏ ông nào hết.

Cái khất sĩ của mình đi ngộ lắm, đi xin là họ cho, cho hết, còn bây giờ một người đi thì họ cúng mình một ổ thôi, họ không cúng nhiều, rồi người khác muốn cúng thì họ bỏ vô họ cúng nữa. Chớ còn mình đi đông thì một người họ cũng phải bỏ tiền ra họ mua cho đủ mười ổ, mặc dù nghèo họ cũng ráng họ bỏ họ mua mười ổ.

(45:09) Thầy không biết là mấy con có đi khất thực không chớ Thầy có đi khất thực, Thầy thấy kiểu này, Thầy nói chắc là cái người nghèo mà cỡ một đoàn chừng một trăm người đi, chắc là ông đó ông hết tiền mua nổi! Mua gì, một trăm người, làm sao mua một trăm ổ bánh mì bỏ người ta, dữ vậy? Thành ra đâu có mua nổi. Đó.

Cho nên Thầy thấy hồi mà Thầy ở Mỹ Luông Thầy đi khất thực với quý sư, thì Thầy đi ở trong cái đoàn Thầy thấy, đi cho người nào cũng đầy bát hết rồi mới lần lượt đi về một đoàn. Rồi Thầy nói cảnh sát đồ nó thổi tu huýt nó dẹp đường, bởi vì mình đi vô chợ mà, nó dẹp đường cho người ta tránh cho mấy sư đi mà, ngon lắm á!

Các con nhớ hồi đó mà mấy sư với Thầy mà đi xin máy bay trực thăng mà đi ra Phú Quốc chơi đó được, các con biết. Xin vô chỗ phi trường mà ở Cần Thơ này nè, xin nó cho mình đi ra ngoài Phú Quốc, nó đi ra ngoải, nó chở mình đi ra ngoải mà. Quý sư vô xin là cho đi hết, sướng lắm!

Thầy đi ra ngoài Hòn Sơn đồ này kia, Thầy lại Thầy xin tàu ghe đồ nó cho đi ra ngoải, không có tốn tiền bạc. Ở ngoài về cũng vậy, không tốn tiền bạc. Xin máy bay quân sự trực thăng nó chở mình đi ra ngoải, chở ra Phú Quốc. Vô xin cái bắt đầu ở trong đó cái mấy cái ông đại tá đồ trong đó, ổng hẹn: “Ngày mai có chuyến trực thăng, Thầy cứ lên đó Thầy đi, mấy sư cũng được hết!” Cho nên mấy sư ngồi trực thăng ngon lắm, mấy ông Việt Cộng bắn rớt chết bà!

Đó thì, bởi vì Thầy đọc giới Thầy thấy cái chỗ này thì nó đúng là như vậy đó, cái người khất sĩ chúng ta phải hết sức thận trọng, là vì hầu hết là người nghèo dữ lắm, chớ đâu phải người giàu? Đi chợ thì họ cho mình bánh trái họ mua đồ vậy chớ còn đi trong xóm đó, người ta sớt mình, người ta cho mình chén cơm thôi à, mình đi hai ba nhà nó mới đầy cái bát mình.

Nhiều khi họ cũng không cho đồ ăn nữa, họ cứ thấy mình đi, họ chạy vô nhà họ xúc chén cơm họ đổ vô cũng như là cho thằng ăn mày vậy à, chớ họ không cho thêm muối gì hết à! Thật sự ra đó thì nó như vậy đó. Hễ đi muốn ăn cơm cứ đi xóm vầy ăn cơm thấy mồ không hết, mà đi chợ thì ăn bánh, ăn bánh thấy mồ cũng không có cơm ăn! Đó.

Cho nên chia ra, thí dụ như năm sư đi trong xóm xin cơm về, mà năm sư đi chợ kiếm đồ ăn về thì có à. Nghĩa là họ bỏ đường, họ bỏ nước tương đồ này kia là có đủ thứ, họ bỏ muối dưa đồ cũng có đủ hết. Chia ra năm thầy đi hướng này, năm thầy đi hướng kia, năm sư đi hướng kia, về cái sớt cơm ra chia rồi bánh mì chia ra ăn, đầy đủ hết.

Cho nên hầu hết là, coi như là Thầy ở tịnh xá Ngọc Vân, Mỹ Luông, thì sống thời gian đó chừng khoảng độ một tháng Thầy thấy tổ chức quý thầy cũng đầy đủ, quý sư ở trỏng đầy đủ lắm. Thì đi trong cái đoàn mà Thiện Năng, Thiện Ấn ấy, rồi chính mấy ổng dẫn đi, đi tùm lum mới biết mấy ông khất sĩ hết chớ còn Thầy có biết gì! Mấy ổng đi tùm lum hết à.

35) GIỚI CHẲNG LÀM PHÉP DƯ THỰC MÀ ĂN

(47:53) 35. Giới chẳng làm phép dư thực mà ăn.

Vì sao Phật kiết giới này?

Đức Phật ở vườn ông Cấp Cô Độc, cùng các Tỳ Kheo nói pháp ăn một bữa. Tỳ Kheo liền tuỳ theo đó mà ăn gốc, lá, bông, trái, cơm, bột, cho đến nghiền sinh tô, chỉ ăn một lần, dần dần cơ thể khô héo.

Đức Phật cho phép một lần ngồi ăn cơm, bánh, khiến cho nó no đủ. Tỳ Kheo bị bệnh không thể ăn một lần được mà phải cho phép ăn mãi.

Nghĩa là cái chế giới ăn một lần này thì ở đây người ta – cái giới này nó nói mình nghe cũng rất là kì. Là Phật chế cái giới này: “…​ ăn ngày một bữa, Tỳ Kheo liền tùy theo đó mà ăn gốc, ăn lá, bông, trái, cơm, bột cho đến nghiền sinh tô, chỉ ăn một lần, dần dần cơ thể khô héo.” Chúng ta thấy ăn một bữa chúng ta có khô héo không?

Ở trong giới này nói, Phật chế giới ăn một bữa đó, rồi mấy vị đó ăn, nghĩa là ăn tận cùng hết, ăn cho no quá no, mà thế mà vẫn khô héo, tức là vẫn ốm o đó. Đó là cái nói mà không có thực. Chúng ta sống một bữa mà chúng ta thấy cũng không ốm o gì mà đây nói ốm o thì Thầy thấy đó là cái giới luật như thế nào rồi.

Đức Phật cho phép một lần ngồi ăn cơm, bánh, khiến cho nó no đủ. Tỳ Kheo bị bệnh không thể ăn một lần mà cho phép được ăn mãi.

Nghĩa là được ăn nhiều lần đó.

Lại cho phép người nuôi bệnh ăn xong rồi được ăn thức ăn của người bệnh ăn còn lại.

Cái người Tỳ Kheo này mà nuôi cái người Tỳ Kheo kia đó, khi mà cái người Tỳ Kheo bệnh ăn không hết thì cái người Tỳ Kheo kia được ăn cái thực phẩm của người Tỳ Kheo ăn lại.

Mà trong kinh Thừa Tự ở trong kinh Trung Bộ nói về thừa tự Phật á, thì thừa tự pháp chớ không phải thừa tự thực phẩm. Thế mà cái ông Tỳ Kheo nuôi bệnh này lại ăn thừa cái đồ ăn của ông bệnh, thiệt là! Ổng truyền ba cái vi trùng còn chết luôn đó chớ ở đó, đừng có tham ăn cái chuyện đó!

(50:06) Lại cho phép người nuôi bệnh ăn xong rồi được ăn thừa lại của người bệnh.

Khi ấy Tỳ Kheo buổi sáng thọ thực, cất rồi vào thôn khất thực, trở về lấy đồ đó cho Tỳ Kheo khác ăn.

Nghĩa là chơi cái kiểu này, mấy ông Tỳ Kheo này bộ là ổng không ly dục hay sao mà, pháp của Phật nó rõ ràng mà, còn mấy ổng lại bây giờ đi khất thực rồi về cất cái đồ đó đi, rồi đi khất thực nữa, đi lại cái xóm khác khất thực nữa – gạt người ta, khất thực ngày hai ba lần vậy đó – rồi mới đem về ổng ăn cái đồ sớt này đi, còn cái đồ mà ổng cất kia ổng đem cho mấy ông kia ăn lại.

…​ cất rồi vào thôn khất thực, trở về lấy đồ khất thực đó…​

Cái khất thực cũ á.

…​ cho Tỳ Kheo khác ăn. Các Tỳ Kheo đều không dám ăn. Phật cho phép nhận để ăn với pháp dư thực.

Phật lại cho chớ! Nghĩa là làm cái tật xấu đó, đi khất thực rồi về cất cái đó đi, rồi bắt đầu đó ổng mới đi khất thực cái khác về ổng ăn. Rồi cái dư này ổng ăn không hết nè, ổng tính chắc bộ là mình tính mình ăn nhiều không ngờ là ăn không hết, mới đem cho mấy ông Tỳ Kheo này. Mấy ông này ăn rồi đâu có dám ăn nữa, cho nên Phật cho chế cái giới ra là cho ăn lại nữa. Trời, nói như vậy là ông Phật Thầy thấy thiệt ổng không có ly dục mà! Chế giới gì mà lạ lùng như vầy nè!

…​ nhận để ăn với pháp dư thực. Hoặc có Tỳ Kheo vào thôn nhận được nhiều thức ăn cùng ăn, mang thức ăn dư đó về làm pháp dư thực mà ăn lại nữa.

Nghĩa là bây giờ Thầy nói như thế này nè, ở thành phố Thầy đi khất thực họ kéo bằng cái – họ kêu là họ chất một đống họ kéo cả xích lô về chùa Thầy. Tức là khất thực kiểu Thầy rồi đó, mấy ông này giống Thầy, chớ không phải không đâu!

Cho nên cái chuyện này là cái chuyện không có đúng cách. Khất thực vừa đủ cái bình bát của mình ăn cái bữa ăn thôi, ăn dư rồi các con biết không? Đem bỏ ngoài đất trống chớ không được bỏ lên cỏ nữa, chớ không được để ngày mai nữa. Đúng là cái giới luật của Phật.

Thế mà bây giờ Phật còn chế ra cái pháp dư thực để mà ăn lại, thì hóa ra mấy ông này ổng chế giới ra để mà ổng thọ ăn ngày ba bốn bữa cho đã mấy ổng chớ gì? Vậy còn gọi là ly dục, ly gì? Cho nên cái giới này, thành ra theo mà đúng thì nên là bỏ cái giới này đi, không có xài.

(52:20) Pháp dư thực là sao?

“Thưa Đại đức! Tôi đã ăn xong, biết đây, xem đây!” Vị kia lên lấy ăn một ít rồi nói: “Tôi ăn rồi, thầy lấy mà ăn đi!”

Đó là pháp dư thực nó như vậy, tức là làm cái pháp đó để cho mình ăn thêm, còn mình không làm cái pháp đó tức là mình ăn phi thời, hiểu chưa?

Còn nếu mà mình nói như thế này nè: “Thưa Đại đức! Tôi đã ăn xong rồi, đây là thừa. Và vị kia, tức là thầy, thầy nên lấy cái này mà ăn đi! Đây là tui làm cái pháp dư thực rồi, thầy cứ ăn, không có tội gì nữa đâu, ăn thêm không có tội đâu. Rồi mai mốt mà tui muốn ăn thêm, thầy cũng làm cái pháp đó đi rồi tui ăn thêm!”

Nghĩa là hai người người ta đồng ý với nhau, người ta làm vậy đặng ăn phi thời! Đó, đó là con thấy cái giới luật như vậy chúng ta chấp nhận được không?

Bây giờ thí dụ như giờ này chúng ta ăn rồi nè, bây giờ đồ ăn còn trong kia, hồi trưa không biết mấy thầy ăn hết không, không biết, bây giờ còn thấy bánh mì đồ còn bỏ lại đó. Thôi bây giờ mình làm pháp dư thực đi, còn ba, bốn ổ mình chia nhau, mình làm pháp dư thực mình ngồi mình xực! Có tội gì đâu! Mình làm pháp đó rồi, đâu có tội!

Nhưng mà các con nghĩ như thế nào khi mà chúng ta là người tu hành ly dục ly ác pháp thì cái ăn cũng là một cái thứ dục lạc rồi, có đúng không? Đâu có đúng pháp! Như vậy là cái giới luật này đâu có đúng các con! Chế cái pháp dư thực này đâu có đúng.

Cho nên cái giới luật này mình gạch bỏ đi, đừng có đem để trong cái kinh sách của Phật. Đây là mấy cái lão tham ăn! Nói thẳng đi! Nói thẳng tay đi! Đây cái thứ mà chạy theo dục, chớ không phải là…​

Cái giới luật mà như vậy là cái giới luật không tốt rồi, cho nên không có đúng pháp của Phật, cho nên chúng ta gạch bỏ tên đi, không xài. Thầy nói gạch là gạch à, chớ không có xài là không xài!

36) GIỚI KHIẾN CHO TỲ KHEO PHẠM DƯ THỰC

(54:00) 36. Giới khiến cho Tỳ Kheo phạm dư thực.

Vì sao Phật chế giới này?

Đức Phật cũng ở tại vườn Cấp Cô Độc, có Tỳ Kheo ham ăn bị các Tỳ Kheo khác quở trách, lòng ôm sân hận. Sau một thời gian, ân cần mời các vị khách ăn, muốn cho vị ấy phạm giới để trở lại gạn hỏi tội lỗi của người. Các Tỳ Kheo bạch Phật. Phật nhân đó mà thuyết giới này.

Nếu Tỳ Kheo nghe mời liền thọ thực ăn, mỗi miếng cả hai đều phạm tội Đọa. Nếu cho mà người kia không ăn thì người không cho phạm Ác Tác.

Không phạm là trước không biết người kia đã ăn xong, hay là không có tâm muốn cho người kia phạm.

Ở đây cái giới chế ra như thế này, nghĩa là không có làm cái pháp dư thực. Nghĩa là mình đến đó, cái người đó mời mình ăn, mời vô cái mình ngồi mình xắn no thôi, rồi một lát thì khi mình ăn rồi đó mà mình muốn ăn trở lại. Thấy người ta, mình ăn hết cái đồ ăn người ta mời rồi cái mình xúm mình ăn, mình quên, để từ từ người ta dọn lên coi cái gì ngon mình ăn trước, đằng này quên đi, mình đói quá rồi.

Bởi vì hôm qua mình ăn bữa nay cái đi khất thực, mà về cái ông cư sĩ này ổng mời vô cái mình ngồi vô mình ăn, bởi vì đói, mình lo ăn. Chừng mà ăn xong rồi cái mình no rồi, thì gần xong rồi no rồi, người ta dọn ba cái đồ ngon lên nữa, bây giờ muốn ăn thêm làm sao bây giờ? Mà quên làm cái pháp dư thực, làm sao ăn?

Cho nên do đó bây giờ có một mình mình, làm sao làm pháp dư thực được, phải có một người nữa họ làm pháp dư thực thì mình ráng ăn được, đằng này có một mình làm sao làm?

Thành ra bây giờ muốn ăn đâu có được, mà ăn thêm thì tội, do đó thì cho nên nó mới kẹt. Chớ phải hai ông thì thôi bây giờ ông làm cái pháp dư thực cho tui đi, tui ăn thì nó phải được, còn tui làm cái pháp dư thực cho ông thì ông ăn mới được. Còn bây giờ có mình tui, tui làm sao tui làm cho tui được?

Cho nên vì vậy mà kiết cái giới này không có thể nào làm pháp dư thực được, cho nên không có được ăn, vì vậy mà ăn có một lần thôi, bây giờ có ngon gì cũng không ăn. Phải không? Các con thấy.

Khi mà mình ăn rồi, mình uống nước rồi, thì bắt đầu người ta mới đem chè cháo lên hay trái cây gì lên. Bây giờ uống nước rồi làm sao ăn thứ này được? Mà bây giờ mình thấy chè cháo cũng thèm, mà trái cây cũng muốn, mà bây giờ có mình mình làm sao làm pháp dư thực được ăn?

Thiệt ra chế ba cái giới này nó lộn xộn thiệt, toàn là cái thứ ăn không à! Không có cái gì, hoàn toàn hết. Nãy giờ giới ăn không chớ có cái thứ gì? Các con thấy không?

37) GIỚI TRÁI THỜI MÀ THỌ THỰC

(56:17) 37. Giới trái thời mà thọ thực.

Vì sao Phật kiết giới này?

Khi Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, Tôn giả Ca La thường ngồi thiền, tư duy nhàm chán việc đi xin…​

Đi hành khất đó.

…​ bèn chứa thức ăn lại để ăn.

Nhân đó Phật dạy: “Ý của ông tuy muốn thiểu dục tri túc, nhưng chúng sanh sau này làm theo, không lợi cho chánh pháp.” Quở trách xong Phật kiết giới này.

Nghĩa là cái ông này ổng tổ cha ổng ngồi thiền mà ổng tổ cha ổng làm biếng, ổng để dành thực phẩm ở nhà ổng nấu ông ăn à, ổng không thèm đi xin. Tức là ổng bỏ cái hạnh khất thực của ông đi.

Thật sự ra cái sự mình nấu nướng mình ăn, các con mà biết các con nấu nướng các con ăn, nó không phải làm chủ cái ăn đâu. Khi nó ăn cái này nó ớn rồi nó đòi hỏi mình phải làm cái khác. Cho nên cái vấn đề này là cái vấn đề quan trọng của vấn đề dục lạc lắm, về cái ăn. Mà mình thắng được cái ăn là mình thắng được cái dục chớ không phải là không đâu. Cho nên cái vấn đề rất là quan trọng.

Mà chế giới này hầu hết là chế giới tầm bậy tầm bạ không à. Nó chỉ chạy vòng vòng theo cái dục lạc cái ăn đó. Mà vì quý thầy bây giờ bỏ hết rồi, chỉ còn có cái ăn thôi à, cho nên mới chế ra nó chạy vòng vòng chỗ cái ăn, chạy qua chạy lại cũng đi tìm ăn đây thôi chớ không có gì hết.

Rồi bây giờ đây là có cái ông thầy này nói thiền, ổng tư duy ổng ngồi, ổng làm biếng không thèm đi xin ăn, ổng mới để lại đồ ăn, ổng nấu nướng này kia ông ăn, thì ổng còn tổ cha ổng chạy theo cái dục còn hơn ai nữa đó.

Nghĩa là thay vì đi xin người ta cho cơm không, không có muối ăn nuốt không vô, còn bây giờ đó, ổng ở nhà ổng nấu, thế nào ổng cũng phải làm đồ ăn đồ uống cho ngon cái miệng ổng rồi, thành ra ông này ổng chạy theo dục rồi.

Mà chế cái giới này thì Thầy thấy đúng là không có cho cái ông này là ở nhà nấu ăn là đúng. Cái giới này đúng đó, cấm không có cho ở thất ở lều mà nấu ăn, đi xin ăn thôi chớ còn không có ở thất mà cất cái thất ra mình nấu ăn.

Như cô Cảnh cổ ở thất cổ nấu ăn, suốt cả đời cổ cũng vậy thôi à, cũng thành cái người nấu ăn rồi chớ không có tới đâu hết à.

Mà nhiều khi còn để dành sữa bơ đồ để dành để bữa nay uống hết ngày mai không có uống nữa. Lẽ ra bây giờ nó còn có một muỗng à, mà nói bữa nay mình uống hết ngày mai lấy gì uống, thôi để mai đi. Có để dành chớ bộ không à. Đó. Đó là cái sự thật hiển nhiên chớ không thể nào mà chối cãi được hết.

Hay hoặc là bữa nay đó, bữa nay mình không có bệnh, thôi để dành ba cái sữa này khi nào có bệnh mình uống, để bây giờ mình uống rồi tới chừng bệnh lấy đâu uống! Nó cũng còn cái để dành đó. Đó là cái sai. Cho nên bữa nay mạnh khỏe cứ việc ních hết đi cho rồi, ngày mai nó tới đâu thì tính đó.

Còn cái này còn tính chừa để dành ngày mai, tính lo ngày mai, phòng ngừa ngày mai, thì cái chuyện đó không phải người tu sĩ của đạo Phật đâu. Tu sĩ đạo Phật không có phòng ngừa ngày mai, ngày mai tới đâu giải quyết tới đó, hiện tại bây giờ có thì ăn mà không có thì thôi chớ còn nhất định là giải quyết bây giờ.

38) GIỚI ĂN THỨC ĂN CÁCH ĐÊM

(58:56) 38. Giới ăn thức ăn cách đêm.

Vì sao Phật kiết giới này?

Nhân vì khi Phật ở vườn ông Cấp Cô Độc, có Trưởng lão Ca La khất thực ăn không hết, để dành phơi và qua ngày sau dùng.

Giống như mình đó, ăn cơm không hết phơi để dành làm cốm ăn đó. Có không? Giống như mình đó.

Vì vậy mà Trưởng lão không thường xuyên đi khất thực…​

Bởi vì có cốm rồi đâu có đi khất thực, làm một cục về là thấy no bữa đó rồi!

…​ mà sống một mình ở trong rừng, chuyên tu thiền định. Dù vậy hành động cất chứa bị coi là phi pháp, cho nên Phật nhân đó mà kiết giới này.

Ông tính ông tu thiền, ông khỏi cần đi, vì đi ra ngoài thì nó không có giữ được cái hạnh độc cư, cho nên ổng thôi cất giữ cơm lại để dành phơi khô, rồi mình đi xin bữa nào họ cho mình tí đường về mình ngào, rồi mình bỏ trong một cái bát để dành, hễ đói mình lấy cục mình ăn, mình khỏi có lo đi xin.

Thành ra ổng tính như vậy là khỏe, mình cứ vậy đó mình ngồi thiền, chắc chắn là mau thành Phật. Nhưng cuối cùng vì cái hạnh này là cái hạnh nó còn đòi hỏi ở chỗ cái ăn cho nên nó chưa có ly, vì vậy mà cuối cùng thì ông cũng chả đạt thiền định gì hết, cho nên Phật chế cái giới này.

Chớ phải chi ông đạt thiền định này được, ổng nói: “Nhờ tui ăn ba cơm khô này mà tui đạt thiền định” thì chắc đời nay đều là mình thành cơm khô hết rồi.Tại sao? Ăn cơm khô thành cơm khô chớ không lẽ mà thành thiền định được!

Cho nên chắc chắn là Thầy nghĩ rằng người nào ăn cơm khô mà tu thiền định mà đắc được, chắc là thiền định cơm khô chớ không phải gì!

39) GIỚI KHÔNG THỈNH MÀ THỌ THỨC ĂN

(01:00:28) 39. Giới không thỉnh mà thọ thức ăn.

Vì sao Phật kiết giới này?

Đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, một Tỳ Kheo thường khất thực, mặc áo phấn tảo, lấy thức ăn của cư sĩ cúng tế cha mẹ, anh em, chị em qua đời để ăn. Cư sĩ chê hiềm. Nhân đó Phật kiết giới.

Khi ấy các Tỳ Kheo sinh nghi, không dám tự lấy tăm xỉa răng và nước uống. Phật dạy: “Không phạm.” Rồi Phật kiết giới lại, thêm câu: “trừ nước và tăm xỉa răng.”

Nghĩa là ở đây thì cái giới không thỉnh mà thọ thức ăn, vì sao Đức Phật bây giờ đó mới cấm cái giới này? Là vì các vị Tỳ Kheo họ đi xin thức ăn, rồi họ về họ cúng tế cha mẹ của họ, anh em cha mẹ của họ, những người mà chết đi đó, thì cư sĩ mới thấy điều đó mới chê, nhân đó mà Phật kiết giới này.

Vì vậy đó thì khi mà họ cúng bái rồi, ở đây theo Thầy thiết nghĩ, trong cái thời Đức Phật thì cái hướng dẫn của đạo Phật nó phải rõ ràng và cụ thể. Là vì cái người chết đi nó không có cái linh hồn, mà thế sao tại sao mà các Tỳ Kheo này không hiểu để mà cúng bái như vậy? Các con hiểu điều đó.

Ở đây là cái người sau mà viết cái giới này là vì họ đã bị ảnh hưởng của cái người sau, cho nên nó có cái linh hồn của cha mẹ của mình, cho nên các vị Tỳ Kheo này mới lấy cái của xin đó mà đem về cúng bái cha mẹ của mình, coi như có linh hồn á. Đó thì cái này nó trật cái nghĩa của đạo Phật mất đi, mà họ tưởng đây là đúng nghĩa. Cho nên nó không phải đúng nghĩa như vậy.

Bởi vì mình đi xin thức ăn của cư sĩ thì mình về mình nuôi sống cái mạng sống của mình, để cho mình ăn mình tu hành. Cái này thì chắc có lẽ là nhớ đến cái ngày giỗ ngày kỵ gì cúng tế của cha mẹ, mới nhân đó mà lấy mà cúng bái cha mẹ của mình, để rồi coi như có những cái linh hồn.

Do vì vậy đó Phật chế cái giới này ra, thì coi như là cái người mà cúng bái như vậy đó là phạm cái giới, và cái giới mà chế ra như vậy là cái trách nhiệm hiểu kinh của Phật, có hiểu đúng không?

Cũng như bây giờ tại sao hằng ngày mà mấy con thấy Thầy ngồi ăn Thầy cúng bái, trước là cúng chư Phật, sau cúng ông bà cha mẹ của mình để làm gì? Có phải là Thầy cúng cho linh hồn của cha mẹ ông bà của mình không? Các con phải hiểu được cái ý nghĩa này.

Cái bài tụng kinh đó thì – bài tụng mà cúng á, thì nó quá rõ ràng chớ gì? Nhưng không phải cúng ông bà cha mẹ của mình đâu, mà đây là cái mục đích của Thầy phá cái tạp khí, phá cái phong tục, cái tập quán.

(01:03:07) Ngày tư ngày tết, ngày giỗ ngày chạp là chúng ta nhớ đến những cái ngày đó mà chúng ta không cúng không bái không gì hết là chúng ta có cái sự buồn khổ trong tâm. Còn bây giờ chúng ta là người tu sĩ, hằng ngày chúng ta ăn chúng ta từng cúng như vậy đó, là bây giờ tới ngày giỗ ngày chạp chúng ta có nhớ không? Chúng ta hằng cúng hằng ngày mà chúng ta còn nhớ cái gì nữa? Cho nên ngày tư ngày tết chúng ta cũng chẳng cúng chẳng gì hết.

Các con ngồi sít lên đây nghe coi.

Mục đích của mình ở đây, mình cúng không có nghĩa là mình cúng cái linh hồn cha mẹ mình đâu. Bởi vì mình là con người đã hiểu nhân quả.

Khi mà cái thân của mình chết đi rồi thì như cái ngọn đuốc mà tắt thì nó sẽ mồi tiếp cái ngọn đuốc khác cháy tiếp tục, nó không bao giờ mà có sự gián đoạn ra 5 ngày, 10 ngày, hay 49 ngày đi tái sanh luân hồi, không phải, không có đâu.

Nghĩa là nhân quả nó không bao giờ nó có cái sự gián đoạn ra một phút giây nào gián đoạn ra được hết. Nó tiếp nối liên tục, nó hoàn toàn ở trong cái sự liên tục của cái sự sanh diệt của nó.

Cho nên ngay trong bản thân của chúng ta hiện giờ đang sống nè, nó có sự sanh diệt liên tục ở trong đó, cho nên khi bỏ cái thân này thì nó tiếp qua một cái thân khác, nó liên tục, như cái ngọn đuốc này tắt thì cái ngọn đuốc này phải cháy, ngọn đuốc này chưa tắt thì ngọn đuốc này chưa cháy, cứ hễ cái ngọn này cháy thì ngọn này tắt. Do đó cái thân này diệt thì cái thân khác có liền, nó không có một kẽ hở.

Do đó không phải là chúng ta ở đây cúng cha mẹ, ông bà nhiều đời nhiều kiếp của chúng ta hưởng đâu, mà chúng ta nhằm phá cái phong tục. Vì cái phong tục của dân tộc, của tập quán của chúng ta rất nặng, ngày tư ngày tết mà chúng ta không cúng không bái, chúng ta có cái sự buồn khổ trong lòng.

Do như vậy mà hằng ngày chúng ta ngồi lại chúng ta ăn cơm là chúng ta nhớ rằng chúng ta đã cúng bái những người chết đi, chúng ta cúng bái những người đã qua phần đi, làm cho cái tâm hồn chúng ta không còn thấy có cái sự thiếu thốn ở chỗ cái tinh thần của dân tộc của chúng ta.

Vì tinh thần dân tộc của chúng ta là tinh thần – có cái tinh thần của tổ tiên, cho nên chúng ta có nguồn gốc có tổ tiên mới sanh mình ra. Bây giờ mình không làm những cái điều đó đó, thì mình như là mình thiếu cái bổn phận của mình đối với ông bà tổ tiên của mình, với cha mẹ của mình.

Cho nên mình làm cái bổn phận đó, thì mình đứng ở trong góc độ của người tu sĩ của đạo Phật thì mình thấy như là mình làm một cái chuyện mê tín, cái chuyện không đúng, cho nên chúng ta không làm cái điều đó được.

Vì vậy mà hằng ngày – chúng ta muốn phá vỡ cái phong tục đó đi thì hằng ngày ngồi ăn cơm, chúng ta nhớ đến Phật, nhớ đến cha mẹ, ông bà nhiều đời nhiều kiếp của mình, coi như những người đó đang thọ hưởng cái bữa cơm với chúng ta rồi.

Vì vậy mà tới ngày tư ngày tết, ngày giỗ ngày chạp, chúng ta không cúng chúng ta thấy mình đã làm hết bổn phận: “Ngày nào tui cũng mời các vị đó ăn rồi, cho nên tui thấy tui hết bổn phận tui rồi. Cho nên ở đây tui không có tổ chức.”

Còn để không thì chúng ta bị tổ chức nó làm cho chúng ta gián đoạn cho cái tâm hồn giải thoát của chúng ta. Trên cái lộ trình nhân quả không có gián đoạn, mà thế là sự tu tập của chúng ta bị gián đoạn qua những cái phong tục tập quán đó, nó làm cho chúng ta phải ray rứt thế này thế khác trong lòng.

Cho nên ở đây chúng ta có chỗ nói, phải không? Bởi vì chúng ta muốn đạp trên dư luận mà chúng ta đi thì chúng ta phải có cớ, mà không có cớ thì chúng ta sẽ nói không được.

(01:06:08) Chẳng hạn là bây giờ nhà các con có người chết mà các con không mời thầy tụng kinh, ông thầy chùa tụng kinh á, thì người ta sẽ nói các con. Mà các con mời nhiều ông thầy tụng kinh thì thì người ta khen các con. Phải không?

Cho nên ở đây các con rất khó, bởi các con biết rằng tụng kinh nó không cầu khẩn cho cha mẹ của các con được, mà làm như vậy thì nó trái với đạo Phật, mà các con không làm thì bị người ta lên án, cho nên các con phải làm như thế nào để đúng?

Do vì vậy đó mà các con phải làm cho đúng. Làm đúng như thế nào? Các con đơn sơ, các con mời một ông thầy tụng cho nó qua, xuôi qua đi, cho họ đừng có nói. Đừng có tập trung nhiều ông để người ta khen, người ta khen cái đó nó không đúng đâu, nhưng mà đừng có để cho người ta lên án mình bằng cách này bằng cách khác, thì do đó chúng ta cũng tùy thuận.

Sau khi Phật giáo mà chấn hưng lại được thì chúng ta phá dỡ cái mê tín này đi, nói cho rõ, thì người ta sẽ không có đi nữa được, người ta không có lên án mình được.

Còn bây giờ giục không á, mà người ta nói: “Bây giờ tụi bay đi tu rồi chẳng biết ngày giỗ ngày chạp của ông bà cha mẹ bay hết!” Thì các con đâu có chỗ nói được?

Còn cái này: “Bằng chứng cụ thể hằng ngày tôi đã cúng cha mẹ, mỗi bữa ăn tui đều cúng cha mẹ của tui hết rồi, thì bây giờ trong cái ngày tư ngày giỗ, mấy anh mấy chị không cúng thì bây giờ mấy anh chị cứ cúng đi chớ, tui có cấm cản đâu! Còn riêng tui, tui cúng hàng ngày rồi mà, làm sao bắt tui phải cúng nữa?”

Cho nên mình có chỗ nói mà người ta không nói mình được, nhưng mình phải hiểu cái ý của mình làm cái đúng cái sai. Vì vậy cho nên mình có chỗ nói mà làm cho người ta không có lên án mình được, vì vậy mình đạp trên dư luận mình đi, mà mình đi với tính cách mình có cái chỗ trả lời họ rất đúng cách.

Cho nên ở đây Thầy muốn nói với các con: Làm một cái gì mình phải có sự suy nghĩ, để không người ta sẽ lên án mình đủ mọi cách. Vì phong tục tập quán là cái sai của – có cái đúng, cái phong tục tập quán nó có cái đúng, nhưng cũng có cái sai chớ không phải là toàn bộ đúng hết.

Bởi vì từ xưa đến giờ chúng ta là những người sống với những cái sự sợ hãi, cho nên những sự sợ hãi đó nó sanh ra những sự mê tín, những cái sự mà không thể kiềm chế được cái lòng sợ hãi của chúng ta, bắt đầu chúng ta sanh ra cái thiếu trí tuệ, thiếu cái sự minh sát đúng thật, cho nên chúng ta có những sự lầm lạc qua cái tưởng của chúng ta.

Vì vậy mà chúng ta biết sai thì chúng ta cần phải có những cái làm cho nó đi lại cho được cái đúng. Nhưng mà cái đúng lần lượt chúng ta cố gắng chúng ta làm, thì hiện bây giờ chúng ta phải có những cách để chúng ta luận mà họ không có thể nào mà nói được chúng ta, thì cái điều đó là chúng ta phải biết. Chớ không khéo thì chúng ta sẽ bị người ta luận thế này thế khác thì nó không hay.

Như vậy đọc qua cái giới này, chúng ta thấy rõ ràng là ảnh hưởng của Đại Thừa mà chế giới ra chớ không phải giới nguyên thủy. Đó thì chúng ta biết như vậy, cái sai cái đúng, để mà chúng ta chỉ mặt cho rõ những cái giới này và những người chế giới này là không phải thời Đức Phật.

Tại sao Đức Phật lại chế giới như vậy được? Là vì trong thời Đức Phật là Phật đã dạy các vị Tỳ Kheo này phải hiểu Phật pháp rồi, thì các ngài đâu làm những cái chuyện này mà đi xin ăn về cúng cha mẹ mình?

Đó thì phải hiểu những cái điều mà ở trong kinh sách Phật dạy, và hiểu những giới này đúng sai để chúng ta phê phán, sau này chúng ta chỉnh đốn lại Phật giáo. Nghĩa là trong các con phải có những người mà sau này phải thay Thầy mà chỉnh đốn lại những cái giới bổn này. Cho nên ở đây Thầy nói để các con lưu ý trong những cái phần đúng phần sai.

40) GIỚI KHÔNG BỆNH MÀ ĐÒI THỨC ĂN NGON

(01:09:31) 40. Giới không bệnh mà đòi thức ăn ngon.

Vì sao Phật kiết giới này?

Bởi khi Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, Bạt Nan Đà đến một thương chủ xin ăn mỹ diệu. Thương chủ chê hiềm. Phật nhân đó kiết giới này.

Lúc ấy có Tỳ Kheo bệnh, sợ không dám xin, cũng không dám vì người bệnh mà xin, nhận được rồi cũng không dám ăn. Phật dạy: “Không phạm”, và Ngài kiết giới này.

Nếu không bệnh mà xin thức ăn ngon cho chính mình, mỗi miếng ăn phạm một tội Đọa, bốn chúng kia phạm tội Đột Kiết La.

Nghĩa là trong cái giới này, khi cái một người bệnh mà ăn không được thì xin những cái thực phẩm cũng như là sữa hay hoặc gì uống để cho nó được mạnh. Thay vì cơm thường thì ăn với muối này kia, thì cái vị đó ăn không được, cho nên bây giờ xin sữa hay sinh tô, hay lạc cho cái vị bệnh này ăn.

Thì trong khi Phật chế cái giới này ra thì người ta tưởng rằng người nào cũng không được, cho nên Phật lại chế thêm: Người bệnh thì được xin sữa, xin đường hoặc là xin những cái thực phẩm mà có thể người bệnh mà ăn được, còn những cái thực phẩm mà người bệnh ăn không được thì thôi. Còn cái người mà mạnh mà đòi đi xin sữa, xin bơ đồ thì không được. Đó là Phật chế như vậy.

Thì như vậy là Thầy thấy cái giới này thì có thể chấp nhận được, là vì đúng là cái người bệnh nhiều khi chúng ta ăn cơm chúng ta ăn không được, có những khi chúng ta cần phải ăn cháo. Vậy cho nên cái người mà được gần cư sĩ mà xin cho cái người đau ăn được những cái thực phẩm mà để cho người bệnh ăn được để cho mau mạnh thì rất tốt. Thì cái giới này chế như vậy Thầy chấp nhận.

41) GIỚI TỰ TAY MÌNH CHO NGOẠI ĐẠO THỨC ĂN

(01:11:18) 41. Giới tự tay mình cho ngoại đạo thức ăn.

Vì sao Phật kiết giới này?

Xưa Đức Phật từ nước Câu Tát La du hành đến nước Xá Vệ, trên đường đi được nhiều thức ăn cùng dường. Phật bảo ông A Nan chia bánh cho chúng tăng. Chia rồi còn dư, Phật bảo cho người đi xin.

Trong số người đi xin có người nữ ngoại đạo lõa hình, nhan sắc đoan chính, ông A Nan đưa bánh, bánh dính hai cái lại, ông tưởng là một, đưa cho người nữ đó. Người nữ đó hỏi người gần: “Một người một cái hay là hai cái?” Người gần nói: “Một người một cái.” Người nữ đó nói: “Tôi được hai cái.” Người kia nói: “Vị sư chia bánh chắc cùng cô tư thông.”

Các thầy Tỳ Kheo nghe đều không vui. Trong hội đó có một Phạm chí do đó mà khinh thường Sa Môn, trên đường đi gặp Bà La Môn gọi Cù Đàm Sa Môn là bọn trọc đầu, và thuật lại việc kia. Phật do duyên ấy nên kiết giới.

Cho mà họ nhận, phạm Ba Dật Đề. Cho mà họ không nhận, phạm tội Đột Kiết La. Muốn cho mà không cho trở lại, hối hận, phạm tội Ác Tác. Nếu cho cha mẹ, người có công quả, không phạm tội.

Ở đây thật sự cái của mà đàn na thí chủ người ta cúng dường cho mình thì mình chỉ được quyền mình ăn chớ không được cho cha mẹ. Mà trong cái giới này, theo Thầy thiết nghĩ trong giới kinh thì nói như vậy, nghĩa là mình có đi tu thì mình mới ăn được cái của đó, còn cha mẹ mình không có đi tu mà mình đi xin mình đem về mà cho cha mẹ mình ăn là cái tội rất lớn chớ không phải là tội nhẹ đâu.

(01:13:13) Mà ở đây nếu cho cha mẹ, cho người công quả phụ trong chùa mình, mình xin rồi mình đem về mình cho mấy người đó thì không tội, cái này là sai quá sai. Thầy thấy trật, không có đúng. Cái người công quả là cái người đó họ là còn cư sĩ, họ còn nấu cơm, họ còn ăn được, chớ họ đâu phải là người khất sĩ như mình đâu?

Các con thấy ở trong chùa mấy người cư sĩ mà công quả đâu phải là tu sĩ, họ là tịnh nhân, họ có thể ở ngoài nhà kia họ đến đây họ công quả rồi họ về nhà ăn cơm chớ họ đâu có…​ Này là mình đi xin về cũng cho mấy người đó ăn nữa đặng tội lút cái đầu của họ!

Cha mẹ mình ở nhà không tu mình cũng đem nào sữa nào bơ, cái này xin một bát rồi đi xin xóm khác một bát nữa đem về cho cha mẹ mình một bát đặng nuôi cha mẹ mình. Thôi đi tu nuôi cha mẹ, thôi ở nhà mà nuôi cha mẹ đi, còn bày đặt đi tu đặng đi xin xỏ nuôi cha mẹ, làm cái điều bất nhân chớ đừng nói. Vậy mà hiếu gì? Thật sự ra cái này làm tội cha mẹ thêm chớ hiếu!

Bởi vì những cái điều kiện như vậy thử hỏi làm sao mà Thầy chấp nhận những cái giới này?

Cho nên đối với cái vị A Nan đó, sơ sót khi mà chia bánh, mà chia người nữ một cái bánh, cũng như bánh mà người ta ấy đường hai cái vòng vầy rồi bị đường nó dính đó, ổng đưa lại, và đưa cho cái bà nữ mà lại đưa cái bánh dính hai cái vậy ổng mới chết chớ! Mà cái ông đó lại là ông bất nhân, cái ông đó lại là – phụ nữ thấy ổng lại mến luôn nữa chớ, mà ổng lại đưa cái kiểu đó, cho nên người ta mới từ đó mà tuyên bố ra những cái sự sai trái.

Nhưng sự thật ra thì, thiệt ra đây là những cái – không lý mà ông A Nan sống với Phật mà không hiểu mà lại lầm lạc đến cái mức độ đó, Thầy cũng chẳng hiểu. Đây cũng là một cái việc mà người ta khéo bịa ra, chớ còn một cái người tu sĩ không có bao giờ mà làm cái chuyện đó hết.

Thứ nhất là cái người tu sĩ mà đứng ra để chia bánh thì chắc cũng không có. Đi khất thực rồi Thầy nghĩ rằng, bây giờ người ta có đem đến đi nữa thì tự cư sĩ họ chia làm sao họ chia, mình được nhiêu ăn nhiêu à, chớ còn mình chia nhiều khi mình để mình mấy cái.

Thiệt mà, Thầy nói đôi khi mình chia mình – không lẽ bây giờ chia hết rồi, người một cái người một cái hết rồi, còn 5 cái chia ai nữa đây? Mà trong khi mình đây 13 người có còn dư 5 cái, làm sao chia? Thôi để mình tui đây chớ gì! Tại công tui chia, phải để cho tui hết chớ sao!

(01:15:23) Đó là những cái người mà chia thì họ: “Công tui, tui chia, tui phải lời nhiều!” Đó, thì như vậy là…​ Cho nên Thầy thấy thà để cho người cư sĩ họ chia mình hết xong rồi, bây giờ cái phần đó người cư sĩ còn thì ông đem về đi chớ chia sao cho được?

Tui đây 13 người mà ông có 5 cái, làm sao mà ông bây giờ cắt hai ra thì cũng không đủ, cho nên thôi ông chịu khó mang về đi, chứ để đây tụi tui cũng không ăn được đâu. Bởi vì cái lục hòa của chúng tui sống mà, thân hòa đồng trụ mà, lợi hòa đồng quân mà. Có cái lợi thì chia nhau đều nhau chớ dâu có người hơn người ít!

Cho nên cái người mà ăn hơn ở trong một cái – khi mà ngồi chung nhau như thế này mà một người ăn hơn, chúng ta không hổ thẹn sao? Mình ăn hơn người khác. Người ta ăn muối, toàn bộ người ta ngồi ăn muối, mà mình có cái gì ngon hơn mà mình ngồi đó mình nuốt, mình nuốt sao trôi?

Bây giờ Thầy hỏi, bây giờ trong nhà các con nè, có cha mẹ nè, năm ba đứa con ngồi ăn cơm nè, phải không? Mà bây giờ đó, cha mẹ ngồi gắp cá ăn mà con ngồi kêu là chấm, húp nước đồ chấm mà để ăn cơm thì thử hỏi làm sao mình nhìn con mình được?

Thà là cha ăn miếng, con ăn miếng, mẹ ăn miếng thì có còn thì còn mà hết thì hết, cùng ăn với nhau chớ! Lý đâu mà cả một cái gia đình mà lại là cha mẹ ngồi ăn ngon mà mấy đứa con thì ngồi chấm muối mà ăn, thì không thể nào mà được. Hay hoặc là cha mẹ ngồi ăn muối mà mấy đứa con nó ngồi nó gắp cá nó ăn được đâu! Con người mà, đâu có ai mà như vậy được.

Cho nên chúng ta ở trong đại gia đình của chúng ta – cái đó là cái tiểu gia đình chúng ta ngoài đời chớ gì, còn chúng ta là những người tu ở trong một đại gia đình, thì không lẽ nào một người ngồi ăn quá đủ mà người kia thiếu thì chúng ta nghĩ sao? Cũng như người có sữa mà người không sữa uống, chúng ta nghĩ sao? Chúng ta thấy khổ tâm lắm, thà là không có là không có hết, mà có là có hết.

Cho nên thí dụ như bây giờ các con là bên nữ nè, bên nam là 10 người hay 15 người, bên con là 15 hay là 10 người, ngồi hai bên, mà đều là đủ là chia mà không đủ là dẹp cái món ăn đi. Nếu mà bây giờ thiếu một món là chúng ta cũng bỏ hết, không ăn nữa. Đó là đúng, lợi hòa đồng quân. Mà không có đúng thì thôi, chúng ta không chia. Thiếu là không chia, dẹp hết, chờ chừng nào có đủ, chia, mà không có đủ, xin trả lại cho cư sĩ.

Bởi vì không đủ, chúng tui không thể nào chia được. Lợi hoà đồng quân mà. Sáu cái hòa hợp của chúng tui ở trong Tu viện mà. Sống cùng chia nhau, có cùng ăn với nhau. Thà là không có là không có, ăn muối hết chớ còn chúng tui sống như thế này chúng tui sống không đúng cách, chúng tui không sống được được đâu.

Đó. Cho nên ở đây chúng ta thấy, muốn tổ chức hẳn hòi cái cuộc sống chúng ta phải như vậy mới sống. Trừ ra cái người mà bệnh đau thì chúng ta biết, chúng ta nhường lại những cái thực phẩm để cho cái người đau họ ăn để cho họ mau mạnh thôi, còn cái người mà không đau như chúng ta, hoàn toàn là phải sống y như nhau, người nào như người nấy.

Đó là cái điều kiện sống của chúng ta, không phải là vì giới luật gì hết, mà ở đây phải chế giới luật thì Thầy thấy nó quá là – nó thô tháo quá là thô tháo.

42) GIỚI Ở TRONG THỰC GIA, GƯỢNG YÊN NGỒI

(01:18:17) 42. Giới ở trong thực gia, gượng yên ngồi.

Vì sao Phật kiết giới này?

Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, khi Ca Lưu Đà Di đến khất thực nơi nhà Trai Ưu Bà Di với tâm luyến ái, ăn xong không chịu đi, trở ngại người chồng lúc dục tâm dồn nén. Nhân đó, Phật trách ông Ca Lưu Đà Di và kiết giới.

Theo cái giới này, ăn rồi, khi mà người ta mời trong nhà mình ăn rồi thì mình đi liền, chớ không phải ngồi cà kê nói chuyện này chuyện kia để cho người ta nổi sân, hay hoặc là người ta không có cái chuyện riêng tư của vợ chồng người ta, hoặc là người ta nói chuyện làm ăn thế này thế khác, làm mất thì giờ người ta.

Hầu hết là cũng có một cái số quý thầy đi thọ trai rồi ngồi cà kê với chủ nhà, nói này kia đồ tùm lum, làm duyên làm dáng với nhau, điều đó là điều trật. Cho nên Phật chế giới này rất đúng, khi mà chúng ta đến đó thọ trai hay hoặc chuyện gì thì xong rồi chúng ta đi liền, chớ không được làm quen, làm thân.

Hồi Thầy đến thành phố cũng vậy, có nhiều thầy rủ thầy đi đến thăm cư sĩ, nói chuyện tầm bậy tầm bạ, ngồi nhà người ta làm người ta không coi tivi được, không nghe radio được, người ta cũng thấy ghét mình nữa.

Cho nên đối với Thầy, Thầy đã hiểu biết cái điều đó, cho nên ở chùa, ở chùa chớ không có đến nhà cư sĩ, mời gì cũng không thèm đến hết. Và cũng vì đó mà người ta rất quý trọng mình, còn mình lê la lê la đến mấy nhà cư sĩ, họ coi mình chẳng ra gì hết.

43) GIỚI Ở TRONG THỰC GIA, NGỒI CHỖ KHUẤT NÓI CHUYỆN

(01:19:41) 43. Giới ở trong thực gia, ngồi chỗ khuất nói chuyện.

Vì sao Phật kiết giới này?

Do duyên khi Phật ở vườn Cấp Cô Độc, Ca Lưu Đà Di bị Phật cấm trong nhà có ăn, có vật báu không được ngồi, phải ngồi ở chỗ duỗi cánh tay đụng cánh cửa, nên ông ngồi sau cánh cửa cùng với Trai Ưu Bà Di. Nhân đó Phật kiết giới này.

Nghĩa là ông ngồi sau cánh cửa, cánh cửa khép vầy, kín, không ai thấy ông hết, ông ngồi đó ông nói chuyện với con gái của người ta. Trai Ưu Bà Di tức là đứa con gái mà đã thường đi đến tịnh xá cúng dường đó, là một cư sĩ nữ, cho nên ông thường hay đến cái nhà của cư sĩ này rồi ăn cơm, rồi ở đó nói chuyện với cái cô này.

Cho nên Đức Phật nghe những cái điều đó, Đức Phật cấm cái giới này: Không có được ngồi chỗ khuất. Cánh cửa mà khép kín vầy, không ai đi vô nhà, không ai thấy, cho nên ông ngồi đó ông nói chuyện tự nhiên với cái cô con gái nhà người ta. Cho nên nghe cái này Phật kiết giới cấm không có cho.

44) GIỚI MỘT MÌNH NGỒI VỚI NGƯỜI NỮ

(01:20:44) 44. Giới một mình ngồi với người nữ.

Vì sao Phật kiết giới này?

Nguyên do đồng như giới trước, chỉ khác là Ca Lưu Đà Di ngồi với Trai Ưu Bà Di chỗ trống, ngoài ra đều đồng như giới trước.

Nghĩa là trước kia cũng ông này, ổng ngồi chỗ kín, ổng kéo cánh cửa đậy ổng lại, ổng ngồi ổng nói chuyện với con gái người ta. Bây giờ ổng rủ con gái người ta ra ngoài đồng trống, ổng ngồi nói chuyện ở ngoải! Thiên hạ nhìn thấy, cười. Do đó cũng học với Phật, Phật cũng chế không có được ngồi ngoài đồng trống mà nói chuyện, ngồi chỗ vắng thì cũng không được.

Ngồi chỗ kín thì cũng cấm, rồi bây giờ ngồi chỗ trống ông Phật ổng cũng cấm, thì cái ông Lưu Đà Di này ổng nói: “Ông Phật sao mà nhiều chuyện quá không biết! Tui cứ ngồi chỗ kín thì ông cũng không cho, mà tui ra giữa đồng tui ngồi tui nói chuyện thì ông cũng cấm, không được. Rốt cuộc rồi cái chỗ nào thì cũng bị cấm!”

Bởi vì nói chung là trong giới luật của Phật là cấm không có được nói chuyện với người nữ, cho nên Đức Phật nói: Đừng có gặp, mà gặp thì đừng có nhìn, mà có lỡ nhìn thì đừng có nói chuyện. Đó là Phật cấm như vậy mà! Thế mà bây giờ còn ngồi chỗ kín rồi ngồi chỗ trống là làm sao? Vậy mà chế ra từng giới từng giới làm gì, có một câu chuyện là Đức Phật đã dạy chúng ta đủ các giới hết rồi, chúng ta thấy rất rõ.

Như trong kinh giới, như ông A Nan hỏi: “Chúng con là những tu sĩ trẻ tuổi, đối với người nữ như thế nào?” Đức Phật nói: “Đừng gặp!” Phải không? Cái giới đừng gặp là chúng ta đâu có sao đâu! Đó là một cái giới rồi, phải không?

Rồi A Nan nói: “Lỡ chúng con gặp rồi làm sao?” Đức Phật nói: “Đừng có nhìn!” Cấm cái giới nữa: Đừng có nhìn, phải không?

Rồi ông A Nan hỏi tiếp: “Lỡ nhìn người ta rồi làm sao?” Đức Phật nói: “Đừng nói chuyện!” Ông Phật ông cấm cái giới thứ ba nữa: Đừng nói chuyện. Rõ ràng rồi chớ gì!

Bây giờ ông A Nan hỏi: “Lỡ nói chuyện rồi làm sao?” Ông Phật mới nói: “Mình phải xem họ như mẹ, như chị, như em ruột của mình đi!”

Đó, thì ông vua Ba Tư Nặc ổng ngồi ở bên mới nói: “Bạch Đức Thế Tôn, chúng con là cư sĩ, làm sao chúng con xem được như vậy? Chúng con có chị, có mẹ, có em rõ ràng. Còn các Ngài xuất gia rồi các Ngài xa lìa anh em, chị em, không còn ai là những người thân của mình nữa, do đó người thân cũng như là người sơ, người quen, lạ thì coi là chị em, cha mẹ mình hết, toàn bộ là được rồi. Tu sĩ là xem người nào cũng như cha mẹ, em út của mình được rồi, còn tụi con là cư sĩ, làm sao được?” – thì Đức Phật nói: “Các ông nên quán bất tịnh!” Là xong phải không?

Thì các con thấy từ năm cái giới một lượt là người ta đủ cách rồi, để mà người ta hàng phục được cái tâm của mình rồi. Còn cái này chế chi mà từ chút, từ chút vầy, lúc thì ở chỗ kín, lúc thì ở chỗ trống cũng chế, lúc nào cũng cấm đoán được, mà cấm đoán không có đúng cái hình thức, đúng cách để chúng ta ly dục, ly bất thiện pháp.

45) GIỚI CỐ LÀM CHO TỲ KHEO KHÔNG ĐƯỢC THỨC ĂN

(01:23:28) 49. Giới cố làm cho Tỳ Kheo không được thức ăn.

Vì sao Phật kiết giới này?

Đức Phật cũng ở tại vườn Cấp Cô Độc, Bạt Nan Đà cùng với các Tỳ Kheo cãi lộn, phải sám hối, kết hận trong tâm, sau một thời gian, dối gạt Tỳ Kheo này cùng đi khất thực. Tỳ Kheo này nghe lời đi theo đến chỗ không có khất thực, dẫn đi khắp cùng, giáp cùng nước Xá Vệ, rồi trở về Kỳ Hoàn mà không có một hột cơm nào ăn hết.

Cái ông Tỳ Kheo này ổng nghe lời cái ông kia ổng đi, mà ông kia thì ổng – cái ông Bạt Nan Đà này ổng bị phạt bởi vì cãi lộn với ổng ghét, cho nên ổng rủ ông này đi khất thực, ổng dẫn đi cùng hết mà không ai cúng dường gì hết, cho đến quá Ngọ rồi về đến Tịnh xá Kỳ Hoàn mà không có thực phẩm gì hết, ông nọ ổng đói gần chết.

Còn cái ông Bạt Nan Đà thì ổng thốt lên lời nói xấu để đuổi đi, ổng kiếm cớ ổng nói ông này: “Ông đi khất thực kiểu đó làm sao có người ta cho ăn? Vì vậy mà ông đi kiểu này không có được!” Do đó làm cho ông này quá Ngọ không có gì ăn hết. Còn ổng, ổng đút nhét đồ ăn thành ra ổng trở về thất ổng, ổng có ổng ních ổng no, còn ông này thì đói thấy bà. Do như vậy đó, Phật mới kiết cái giới này ra.

Thù oán người ta đừng có cố mà làm cái chuyện mà người ta mất cái bữa ăn như vậy. Để tự người ta đi khất thực người ta phải có ăn, bây giờ dẫn người ta đi vòng vòng vòng vòng, lựa mấy cái nhà không cho mà cứ đi hoài, gặp mấy nhà Thiên Chúa mà cứ đi làm sao nó cho? Thành ra cuối cùng ông này đói gần chết.

Tới chừng về đó ổng kiếm chuyện ổng đuổi ông này đi, ổng nói: “Thầy đi khất thực mà thầy đi như vậy là làm sao? Tui bảo thầy đi như tui vầy mà thầy đi vậy làm sao người ta cho? Bây giờ chịu đói đi, đừng có theo tui nữa!” Thì ổng về thất ổng, ổng lục đồ ăn ra ổng ăn ổng no, còn ông kia có biết đâu để dành đâu mà ăn, cho nên bữa đó đói gần chết.

Đó, thì ghét người ta, thù hận, cãi lộn người ta rồi làm cho người ta đói, đó là cái xấu. Nhưng mà Thầy nghĩ rằng một Tỳ Kheo tu hành ai mà làm cái chuyện đó mà trong này nó đặt điều như vậy, thiệt ra không bao giờ có điều đó đâu. Mà trong cái thời Đức Phật lại là cái thời quá thanh tịnh rồi, đâu có đến đỗi như cái thời của chúng ta mà quá tệ?

Bởi vì chúng ta không có giới luật, không có pháp hành, còn thời Đức Phật nó có pháp hành, không thể nào ông Phật dạy mà thiếu pháp hành, cho nên người ta mà đến với Phật, người nào người ta cũng giải thoát chớ, không có lý nào mà cái chuyện đó được! Ông Phật còn sống chớ phải ông Phật chết đâu mà thiếu pháp hành để cho ông này lại vì cãi lộn nho nhỏ mà thù hận mà làm cái chuyện ác quá vậy? Cho nên những cái giới chế ra nó không có cái lý.

46) GIỚI QUÁ NGỌ THỌ THUỐC

(01:26:05) Vì sao Phật kiết giới này?

Giới quá Ngọ thọ thuốc.

Phật ở tại vườn Ni Câu Luật, khi ấy cư sĩ Ma Ha Nam dòng họ Thích thường thỉnh chúng tăng cung cấp thuốc.

Lục Quần Tỳ Kheo nói: “Cư sĩ đó cung kính Thượng tọa nên cúng thuốc tốt, đối với chúng tôi không có tâm cung kính nên cho thuốc xấu.” Đến nhà đó xin lại gặp khó khăn, không cung ứng kịp thời nên nói cư sĩ kia có ái, v.v…​ lại nói không thật. Do vậy cư sĩ kia không cung cấp thuốc cho chư tăng nữa. Phật nhân đó mà kiết giới này. Sau do các duyên thỉnh khác lại khai cho thường thỉnh.

Đó thì cái giới này kiết ra là tại vì người ta cho thuốc mình, mình đến, thì tùy theo bệnh người ta cho thuốc mình, thì mấy Lục Quần Tỳ Kheo này thấy cho người khác thuốc tốt mà cho mình thuốc xấu, rồi sanh cái tâm không tốt, nói: “Ông cư sĩ này vị tình ái với mấy cô ni kia cho nên cho thuốc tốt, còn tụi tui thì cho thuốc xấu cho nên không hết bệnh.”

Do như vậy đó mà cái ông này ổng không có cho thuốc bên ni cũng không cho thuốc bên tăng nữa, cuối cùng tăng ni không có chỗ nào mà xin thuốc được hết, do vậy Phật mới cái chế giới này ra: Không có được nói xấu, người khác người ta cho mình cái gì thì mình nhận cái nấy, không được nói xấu.

47) GIỚI ĐI XEM QUÂN TRẬN

(01:27:31) 47. Giới đi xem quân trận.

Vì sao Phật kiết giới này?

Khi Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, bấy giờ vua Ba Tư Nặc tự mình cầm lục quân chinh phạt bọn phản loạn. Lục Quần Tỳ Kheo đến xem, nhà vua chê hiềm. Nhân cớ ấy vua gửi lời thăm hỏi Đức Thế Tôn, gửi thêm một gói đường phèn để dâng cúng. Nhân đó Phật quở trách Lục Quần Tỳ Kheo và kiết giới này.

Sau đó vua Ba Tư Nặc có hai người em tên là Lê Sư Đạt và Phú La Na lãnh mệnh đi chinh phạt. Trong quân trận khao khát muốn chiêm ngưỡng Tỳ Kheo, bảo người mời đến. Các Tỳ Kheo cẩn thận, sợ không dám đến. Phật kiết giới lại, thêm câu: “Trừ có nhân duyên hợp thời đến, không phạm.”

Nếu Tỳ Kheo xem quân trận, đến mà thấy thì phạm Ba Dật Đề, đến không thấy thì phạm tội Đột Cát La. Nếu trên đường đang đi, quân đội đến sau, nếu không tránh thì phạm tội Đột Cát La. Nếu có việc cần đến, hoặc người thỉnh đến, hoặc bị thế tục dẫn đến, hay bị trói đem đến, hay nạn ác thú, nạn giặc thì không phạm.

Ở đây thì Đức Phật cấm cái giới này là không có cho cái người tu sĩ đến xem quân lính dàn trận hay là diễu binh, không có cho đến xem. Bởi vì mình là người tu sĩ rồi còn đi coi cái chuyện đó làm gì? Các con thấy chưa?

Cho nên ở đây mình phải sáng suốt và không có nên đi xem cái chuyện đó, không có đúng đâu. Người tu sĩ thì lo tu, ai ở đâu mà đi coi đánh trận, đi coi diễu binh, đi coi xe pháo hay này kia của họ, thì đó là sai. Mình là người tu rồi thì bỏ những cái việc đó. Cho nên ở đây mà tới chế cái giới này là quá tệ rồi, thành ra quá.

Thật sự ra người tu sĩ khỏi cần chế cái này đi, nghĩa là ca hát không còn thì không còn xem quân trận, không còn tập luyện võ, gươm đao, cung tên không còn tập luyện, thì thử hỏi đi xem cái này để làm gì? Đâu có cần thiết nữa.

Đó thì cái giới này chế ra, đối với cái người tu sĩ của chúng ta hiện thời thì cái cuộc diễu binh hay hoặc dàn quân, hay hoặc là những cái lễ lớn này kia mà có quân đội đồ, thì hầu như tu sĩ chúng ta hiện giờ có đi xem, thì cái giới này chế cho chúng ta bây giờ thì đúng.

Chớ còn thời Đức Phật Thầy nghĩ rằng những cái vị mà ly dục ly ác pháp rồi, họ thấy cái chuyện mà đánh đấu nhau là cái chuyện ác rồi, tức là cái chuyện giết người rồi, thì quân đội là cái sự việc giết người rồi chớ không còn thế là…​ Vì vậy mà họ đâu có còn bao giờ mà có con mắt họ đến đó đâu.

Còn cái thời chúng ta bây giờ đó, họ hăng say lắm, họ muốn đi ra trận nữa chớ đừng nói chi, cho nên mặc dù tu thì tu chớ còn họ muốn ra đánh trận lắm, do đó họ đi xem diễu binh hay hoặc này kia, thì bây giờ thì có thể chớ còn hồi Đức Phật mà chế cái giới này thì không đúng.

Cho nên đây là những cái giới mà sau này các tổ chúng ta chế ra, là vì tu sĩ sau này nó có cái phạm cái giới này cho nên mới chế ra. Trong thời Đức Phật Thầy nghĩ rằng không bao giờ có vị tu sĩ mà làm cái điều này đâu. Là tại vì Đức Phật có pháp hành, lý hành, có giới hành, cho nên không bao giờ mà có cái chuyện quá tệ đó.

48) GIỚI ĐẾN TRONG QUÂN QUÁ BA ĐÊM

(01:30:46) 48. Giới đến trong quân quá ba đêm.

Vì sao Phật kiết giới này?

Nguyên do Phật đến ở nơi vườn Cấp Cô Độc, bấy giờ Lục Quần Tỳ Kheo có nhân duyên đến trong quân trận ngủ. Cư sĩ chê hiềm. Phật vì đó mà kiết giới này.

Duyên gì? Tại mình muốn đi coi, mình muốn đi xem thôi chớ có duyên gì đâu? Đâu có nên đến cái chỗ quân đội của người ta! Thì tất cả những cái này đều nằm ở trong cái vấn đề mà thích coi quân đội.

49) GIỚI XEM THẾ LỰC QUÂN TRẬN

(01:31:13) 49. Giới xem thế lực quân trận.

Vì sao Phật kiết giới này?

Đức Phật cũng ở tại vườn Cấp Cô Độc, Lục Quần Tỳ Kheo nhân Thế Tôn chế giới cho phép có nhân duyên được hai ba đêm ngủ trong quân trại, bèn xem coi quân trận, sức người, sức voi, sức ngựa chiến đấu. Một Tỳ Kheo bị tên bắn gây thương tích trở về. Cư sĩ chê hiềm. Phật nhân đó mà kiết giới.

Thật sự ra mấy ông này còn thích đấu tranh thì làm sao tu hành được? Thầy nói, bao nhiêu cái pháp của Phật nêu ra để chúng ta tu hành, còn thì giờ đâu mà đi xem đi chơi này?

Thầy nói không còn thì giờ nữa, ngày như đêm, đêm như ngày, đi khất thực về rồi ăn lo tu, tu mãi tu, mà mấy ông này rõ ràng còn ham mê là chưa giải thoát chút nào hết mà không lo tu lại còn ham đi chơi thì còn cái nghĩa lý gì?

Đi chơi cho đến đỗi quân đội người ta tập trận người ta bắn tên sao mà trúng ông, ngu quá trời! Giờ kéo về Tịnh xá đặng nuôi dưỡng bệnh ổng! Cái này thiệt là đặt điều chớ Thầy nói không có một vị tu sĩ nào mà đi chơi cái kiểu đến đỗi mà tên lạc mà bị thương vậy đâu! Những cái đó là cái sai.

50) GIỚI UỐNG RƯỢU

(01:32:20) 50. Giới uống rượu.

Vì sao Phật kiết giới này?

Đức Phật ở tại nước Chi Đà, Tôn giả Sa Già Đà ngủ đêm trong phòng của Phạm chí bện tóc, có con độc long phun lửa, Tôn giả hiện các thần thông biến hóa hàng phục nó. Vua nước Câu Diệm Di thấy vậy, lòng sanh kính phục. Tôn giả lại nói pháp khiến được hoan hỷ.

Vua bèn ân cần ba lần thưa hỏi: “Ngài cần gì?” Tôn giả không nói. Lục Quần Tỳ Kheo nói: “Sáu vật của Tỳ Kheo nhận được dễ. Cái gì khó được, nhà vua giúp cho!” Vua hỏi: “Vật gì khó được?” Được trả lời là hắc tửu.

Ngày sau được thiết cúng bao nhiêu món ăn ngon ngọt cộng với hắc tửu, khi ấy Tôn giả ăn uống no đủ rồi trên đường về bị mửa ói té xuống đất.

Ông thầy có thần thông mà quá say sưa thiệt!

A Nan bạch Phật. Phật dạy: “Như hiện nay không thể hàng phục được con rắn nhỏ, huống nữa là đại độc long! Từ nay về sau, ai gọi ta là thầy cho đến không được dùng đầu cọng cỏ chấm vào rượu rồi thấm vào môi!” Rồi Ngài kiết giới này.

Nghĩa là cấm uống rượu đó. Mà lại thuật ra cái câu chuyện cái ông có thần thông hàng phục được một con độc long như vậy, được vua thết đãi một bữa ăn, rồi rượu mà kêu hắc tửu, rượu ngon nhất đó, chắc có lẽ là lấy gạo nếp than mà nấu, cho nên gọi là hắc tửu, ngon quá ngon, rồi ổng uống say ổng đi, say giữa đường rồi mửa, té. Sao thần thông mà còn nghiện rượu quá vậy? Bộ là thần thông giả mà!

Chuyện đó thiệt là mấy ông này đặt điều chớ một người có thần thông mà tâm thanh tịnh, nhất là đạo Phật, là cái người phải tâm rất tịnh mới được thần thông, mới được thiền định, cỡ cái mức mà Tứ Thiền rồi thì cái tâm rất là tịnh, nó ở trong cái chỗ mà ly dục ly ác pháp tối đa của cái hỷ lạc của Tứ Thiền, nó đâu có phải là cái tầm thường đâu mà còn thích cái chuyện rượu, mà uống say như vậy là còn cái gì đâu? Đó là cái dục lạc của thế gian mà!

Bởi vì nói tới cái tâm trạng đó, Thầy thấy là cái người này chưa có ly dục ở cái mức độ Tứ Thiền rồi, nó cao tuyệt, nó không có một cái gì mà gọi là…​ 7 ngày đêm liên tục, mà bây giờ 49 ngày đêm liên tục nó có cái hỷ lạc của cái Tứ Thiền chớ đâu phải không.

Làm sao có một cái món rượu mà có thể nó kéo 7 ngày đêm? Ổng uống vô khỏi cổ ổng rồi ổng ra ổng mửa cùng đường hết rồi, lạc cái gì? Nó thành ra bất tịnh hết chứ còn cái lạc gì! Vì vậy mà nói ổng mà có thần thông thì thần thông đó là thần thông kiểu nào? Chỉ nói láo thôi chứ, Thầy nói chỉ tưởng thôi chứ đâu có còn cái thứ gì mà nói!

Cho nên ở đây một cái người mà người ta thấy đúng, người ta tu đúng rồi, mà nói gạt người ta không có đủ cái sức mà người ta tin. Chỉ có những người mà chưa có biết thôi đó, thì nói sao họ tin vậy.

Có thần thông rồi uống rượu cũng như mấy ông thầy bùa vậy mà, càng có bùa chú linh linh thì uống rượu riết rồi bùa chú mất hết, sau này cứ vẽ tùm lum ra mà không thấy cái gì linh hết. Mới đầu ở trên núi mới xuống còn vẽ ba cái vòng tròn nó còn chạy, vẽ riết rồi bây giờ không chạy nữa. Ba cái rượu làm sao nó chạy? Chỉ còn có nước ổng chạy ra đường ổng nằm đó thôi!

51) GIỚI TẮM DƯỚI SÔNG ĐÙA GIỠN

(01:35:36) 51. Giới tắm dưới sông đùa giỡn.

Vì sao Phật kiết giới này?

Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, khi ấy Thập Thất Quần Tỳ Kheo ở nơi sông A Kỳ La Bà Đề đùa giỡn trong nước. Vua Ba Tư Nặc cùng với phu nhân ở trên lầu từ xa trông thấy. Phu nhân thấy là tuổi nhỏ xuất gia trong pháp luật chưa bao lâu. Phu nhân sai người đến thăm hỏi Thế Tôn, gửi một gói đường phèn để dâng cúng, bạch đầy đủ vấn đề. Phật quở trách Thập Thất Quần Tỳ Kheo.

Thập thất là 17 vị Tỳ Kheo này kiết giới. Nghĩa là 17 vị Tỳ Kheo này rủ ra ngoài biển tắm á, cái kiểu tắm mà đùa giỡn ở ngoài đó. Thầy thấy có một số quý thầy ra biển tắm đùa giỡn rần rần ở ngoải, họ tạt nước rồi họ làm đủ cách hết. Đó là những cái sự sai lệch.

Một vị tu sĩ không bao giờ mà tắm đùa giỡn, mà không phải là tắm ở giữa sông giữa biển như vậy, mà phải ở nơi kín đáo hẳn hòi đàng hoàng. Cho nên tắm không có đùa giỡn mà còn không được, huống hồ là đùa giỡn, là cái sai.

Cho nên cấm cái giới này rất đúng. Hầu hết là tuổi còn nhỏ nhỏ thấy nước ham lắm, giỡn rầm rầm rầm rầm, ôm ba cây chuối mà lặn lên lặn xuống, Thầy thấy như con nít, không ra gì hết.

52) GIỚI THỌC LÉT NHAU

(01:36:50) 52. Giới thọc lét nhau.

Vì sao Phật kiết giới này?

Khi Đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, một vị trong Lục Quần thọc lét một vị trong Thập Thất Quần cười hết hơi đến chết. Nhân đó Phật kiết giới này.

Chết người ta rồi mới chế giới! Thiệt ra thì đâu có cái chuyện mà giỡn kỳ cục vậy! Tu hành gì mà giỡn y là như người ngoài đời vậy, làm như con nít thọc lét người ta nhột đến chết. Thiệt là chế những cái giới này Thầy nói thiệt là…​ Đi tu rồi đâu có phải còn mà con nít nữa sao? Đã đi tu rồi đâu có còn cái chuyện mà nhỏ, mà đây hoàn toàn là những người lớn, Tỳ Kheo không chớ đâu phải nhỏ!

Những cái giới chế nhiều cái nó vô lý đến vô lý. Không có lý nào một tu sĩ mà còn đùa giỡn được hết. Cái tâm mà chúng ta chưa có giải thoát được nỗi khắc khoải trong lòng của mình, hết sức ngày đêm nó bất an chớ đâu phải là nó sung sướng. Như bây giờ mấy con thấy, bây giờ mấy con tu chưa tới đâu mấy con bất an trong lòng lắm chớ, nó có cái gì là mấy con rất buồn, không biết đời của mình nó ra sao.

Nhưng mà Thầy đặt thành vấn đề: Khi mà các con không quyết thì thôi, mà đã quyết theo mà đúng con đường thì Thầy nói rằng một trăm người sẽ đạt được một trăm người, không có người nào mà không đạt được.

Các con nên tin là khi mà cái giáo án Thầy viết ra là Thầy đã biết nó như thế nào là con đường của đạo Phật. Tại vì người ta tu mà người ta còn thích dục lạc thôi, còn thích ở đời thôi, chớ còn người ta quyết định người ta quyết bỏ nó là người nào cũng được hết.

Nghĩa là làm sao chúng ta ly sạch, chúng ta đừng có ham muốn nó nữa, chúng ta biết nó chúng ta dứt. Như là cái bài mà Thầy đã nói, tuy rằng nó đơn giản chớ các con thấy ba cái giai đoạn – tuy rằng Thầy đã giảng đơn giản vậy, nhưng mà các con hiểu được cái thâm lý của nó rất là thâm sâu.

Đừng có thân cận dục! Cái lòng ham muốn chúng ta đừng có thân cận nó, đừng ở gần nó, mà chúng ta hãy xa nó đi. Mà không thân cận nó thì các con biết cái gì mà không thân cận không? Thầy vạch rất rõ, một cái bàn cái ghế này không còn có thì chúng ta đâu còn có cái dục được mà còn thân cận nó?

Chớ bây giờ cái thân cận là cái chỗ nào bây giờ? Chỉ có những cái vật dụng xung quanh chúng ta mà chúng ta xa lìa nó thì chúng ta đã mất cái lòng dục của chúng ta chớ gì? Các con phải hiểu được cái lý đó.

Vì vậy mà các con quyết các con xa lìa hết thì lúc bấy giờ làm sao mà các con không giải thoát được? Chỉ các con không muốn lìa nó thì làm sao mà Thầy muốn bây giờ cũng không được hết!

Mà người nào mà lìa được hết rồi, Thầy nói bây giờ nội đây mấy con bao nhiêu đây là mấy con sẽ thành tựu bấy nhiêu hết, không có người nào mà không thành tựu hết!

Bỏ hết cuộc đời chúng ta rồi còn gì nữa mà chúng ta tiếc một cái bàn cái ghế, cái chuyện nhỏ nhặt này mà tiếc, cái nhà cái cửa mà tiếc làm gì? Chỉ còn có cái lớn của chúng ta là làm sao mà chấm dứt cái sự luân hồi, chấm dứt cái nhân quả này mà thôi.

Đó là cái mục đích chính của mình mà, cho nên mình đâu còn tha thiết, đâu còn gì nữa. Vui chúng ta còn không dám vui mà! Làm sao mà chúng ta bây giờ mà muốn chết hồi nào chết, muốn sống hồi nào sống, biết được cái trạng thái chúng ta bỏ thân này là chúng ta ở chỗ nào rồi, chúng ta biết rõ như vậy thì cuộc đời chúng ta mới có nở một nụ cười. Chớ còn chưa có được thì chúng ta không dám cười đâu.

Có như vậy chúng ta mới thấy được: Làm sao mà những vị tu sĩ này đùa giỡn được? Làm sao mà xối nước mà tắm hay giỡn dưới sông được khi mà chúng ta chưa làm chủ sanh tử? Khi mà chúng ta chưa làm chủ sanh tử, làm sao mà chúng ta vui mà thọc lét với nhau được?

Ở đây những cái giới luật chế ra nó rất là vô lý, với một cái người quyết tâm tha thiết giải thoát thì không bao giờ họ còn vui với cái chuyện mà trẻ con, với cái chuyện mà khờ khạo như cái người ngu si ở thế gian này.

53) GIỚI KHÔNG CHỊU LỜI CAN GIÁN

(01:40:06) 53. Giới không chịu lời can gián.

Vì sao Phật kiết giới này?

Xưa Phật ở nước Câu Diệm Di, Xiển Đà muốn phạm giới, các Tỳ Kheo can mà không nghe. Đức Phật vì đó mà kiết giới.

Nghĩa là muốn phạm mọi cái giới. thí dụ như muốn sát sanh, muốn giết con vật nào đó, mà tất cả các Tỳ Kheo can đừng có giết mà ông ta cứ giết, thì đó là Đức Phật mới chế cái giới 54 này.

Thật sự đó là thuộc về cái giới sát sanh rồi. Mình nói: “Anh đừng có giết con vật đó!” – mà người này cố giết thì người này là phạm tội sát sanh rồi, chớ đâu có phải phạm tội Đọa này đâu, mà tới giới 54 này đâu, chỉ ngay cái giới sát sanh là cái giới đầu tiên là cũng đã bị rồi chớ đừng nói chi xa.

54) GIỚI DỌA SỢ NGƯỜI

(01:40:57) 55. Giới dọa sợ người.

Vì sao Phật kiết giới này?

Khi Đức Phật ở tại nước Ba La Lê, bấy giờ Tôn giả Na Ca Ba La thường hầu hai bên khi Phật đi kinh hành. Đức Thích Đề Hoàn Nhân hóa làm nhà kinh hành. Thường pháp của chư Phật, nếu khi đi kinh hành, người cúng dường đứng nơi đầu đường đi kinh hành.

…​ “Đầu đêm đã qua. Bạch Thế Tôn, thỉnh Ngài vào phòng!” Thế Tôn nín thinh. Đến giữa đêm, sau đêm cũng như vậy. Tôn giả bèn lại mặc áo bằng lông, đến nơi Phật làm tiếng phi nhân khủng bố Phật. Sáng hôm sau Thế Tôn nhóm tăng quở trách, vì cớ đó mà kiết giới này.

Nghĩa là có một vị Tỳ Kheo muốn làm phi nhân để làm cho Phật sợ chơi. Ông này ổng cũng giỡn tới ông Phật á! Cái kiểu này là kiểu đùa giỡn mọi người không đủ rồi bây giờ tới đùa ông Phật chơi. Tối nay ông Phật ổng đi kinh hành nè, ngang cái chỗ này vắng nè, mình ngồi trong đó cái mình chạy ra sau lưng ông mình hù một cái coi ông sợ không?

Đó, đó là tất cả những cái đó thì các con thấy, đâu có lý! Đối với một Đức Phật rất là nghiêm nghị, Đức Phật đi bao giờ cũng ngó xuống, không bao giờ mà có thể ngó qua ngó lại, thế mà rồi đệ tử của Đức Phật, một vị Tỳ Kheo mà muốn đùa giỡn với Đức Phật như vậy, Thầy thấy nó cũng không có lý.

Có làm cho người ta sợ đó thì có, huynh đệ với nhau giỡn chơi thì có. Cái này là lôi ông Phật ra để cho vị Tỳ Kheo này giỡn với ông Phật thì Thầy thấy nó quá độ rồi, nó vô lý đến độ vô lý rồi.

Thí dụ như huynh đệ với nhau: “Tối nay ông này đi kinh hành, mình ngồi trong bụi này mình chạy ra mình chụp ổng cho ổng sợ chơi” – thì cái đó được, có thể nếu Phật do cái đó mà chế giới được nó còn có lý. Chớ mình giỡn với thầy mình đâu có được, cái đó không có lý đâu.

Cho nên những cái câu chuyện nói ra nhiều cái Thầy thấy vô lý, nhưng mà họ muốn nói làm sao nói, chớ sự thật Thầy không chấp nhận điều đó đâu./.

[Phần 4 ở Giáo án 44]

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 19)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.