ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giáo án 26 – Các chủng loại Tam bảo

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giáo án 26 – Các chủng loại Tam bảo

A A A
Module cannot be rendered as the requested content is not (longer) accessible. Contact the administrator to get access.

GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 26

CÁC CHỦNG LOẠI TAM BẢO

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 1997

Thời lượng: [01:34:50]

 

1- PHÂN BIỆT TAM BẢO DỰA TRÊN SỰ TƯỚNG VÀ LÝ THỂ

(00:00) Đó thì, đến đây thì hôm nay Thầy sẽ thuyết giảng luôn. Bởi vì nó chưa có chuẩn bị trong cái phần này, cho nên tiếp tục Thầy sẽ giảng cho quý thầy về cái phần – để mà hiểu rõ về cái phần Tam Bảo hơn, để tiếp tục cái phần quy y Tam Bảo.

Đến đây quý thầy đã hiểu rõ Tam Bảo là quý báu như thế nào rồi. Bây giờ chúng ta kê ra chủng loại Tam Bảo.

Mình đã hiểu rõ Tam Bảo là cái phần mình hiểu ở cái phần đó, nhưng mình chưa biết là cái chủng loại Tam Bảo như thế nào nữa. Bởi vậy giảng thì phải giảng cho sạch chớ còn giảng không sạch thì hiểu lờ mờ làm sao?

Làm ông thầy mà giảng không hết như thế này thì Thầy thôi chẳng thà đừng có làm thầy, mà làm thầy thì phải làm cho trọn cái bổn phận của mình là phải làm sao cho người ta hiểu cho hết cái Phật pháp.

Cho nên đến đây thì quý thầy đã hiểu rõ Tam Bảo là quý báu thôi, mới có hiểu rõ nó là quý báu thôi, chớ còn chưa có biết nó là cái chủng loại nào là Tam Bảo được, cho nên ở đây tiếp tục Thầy sẽ giảng cho quý thầy hiểu rõ cái chủng loại của Tam Bảo.

Xưa nay có nhiều cách phân biệt. Từ ở trên đại thể mà nói, chẳng ngoài do sự bất đồng của sự tướng và lý thể, nay Thầy làm lại.

Nghĩa là trong cái sự bất đồng của sự tướng và lý thể của nó do cái chủng loại của Tam Bảo, cho nên vì thế mà Thầy phải làm lại cho nó rõ ràng ra để cho chúng ta thấy được cái chủng loại Tam Bảo nào cho nó cụ thể hơn, cho các thầy sẽ nhận ra được.

Chớ còn nếu mà nói mà không rõ thì làm cho quý thầy chưa thấy cái sự tướng của Tam Bảo và lý thể của Tam Bảo như thế nào.

Quý thầy ghi lại:

1. Từ trên sự tướng có trụ trì Tam Bảo và hóa tướng Tam Bảo.

Đó, từ trên cái sự tướng thì nó phải có – nó có cái trụ trì Tam Bảo và hoá tướng Tam Bảo. Chúng ta phải hiểu cái chỗ đó, chớ không khéo nghe nói Tam Bảo thì chúng ta cứ tưởng là cái ông Phật bằng xi măng này nó là Tam Bảo, phải không?

Hay là một đống kinh để trong tủ sách kia là Tam Bảo, hay hoặc là mấy ông thầy mà đi khất thực ở ngoài đường kia là Tam Bảo. Thì cái đó nó thuộc về Tam Bảo gì? Mình phải hiểu chớ!

Vì vậy đó mà bây giờ đó mình phải phân loại ra, làm cho sáng tỏ cái này ra, chớ để mà không khéo thì chúng ta hễ hỏi Tam Bảo thì chúng ta nói: Trong chùa thờ mấy ông Phật đó là Phật Bảo, còn cái tủ kinh sách đó là Pháp Bảo và mấy ông Tăng ngồi đây mà thọ trai đây là Tăng Bảo.

Thì cái đó là thuộc về cái loại Tam Bảo nào? Nó cũng có cái loại Tam Bảo nó chớ không phải không. Cho nên nó còn nhiều cái loại lắm chớ đâu phải có hình thức đó không! Cho nên:

Từ trên sự tướng có trụ trì Tam Bảo và hóa tướng Tam Bảo.

Đó những cái danh từ này thì quý thầy mà chưa có nghe thì nghe nó lạ, còn hễ đã nghe rồi thì nó không lạ lắm.

2. Từ trên lý thể…​

Hồi nãy đó là tướng đó, từ ở trên tướng – sự tướng thì nó có như vậy, mà bây giờ từ ở trên cái lý thể thì nó như thế nào?

(03:15) 2. Từ trên lý thể nó có nhất thể Tam Bảo và lý thể Tam Bảo.

Đó, cho nên nó hai phần nó rất rõ ràng mà: sự tướng rồi lý thể. Cho nên nó phải thấy được cái chỗ này. Mà nếu mà không hiểu thì quý thầy chẳng hiểu như thế nào hết.

Trước khi Thầy giải thích chủng loại Tam Bảo, đầu tiên Thầy cần phải chỉ cho quý thầy biết hàm ý của Tam Bảo.

Cái hàm ý là nó bao gồm hết đó, phải biết cái hàm ý của nó, còn nếu mình không có bao gồm hết cái Tam Bảo thì mình đứng ở trên cái đó, coi như mình phân tích ra nó rời rạc ra mất tiêu hết rồi.

Cho nên vì vậy đó, phải thấy được cái bao gồm của cái ý của Tam Bảo trong đó rồi mới phân tích trên sự tướng và lý thể của nó mới được.

Phật là người giác ngộ, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.

Đó, còn:

Pháp là phép tắc, là khuôn khổ, khiến cho người ta hiểu được và có khả năng tu tập, trau dồi, dứt bỏ các pháp ác, tăng trưởng các pháp lành, đó là Pháp Bảo.

Còn hồi nãy đó là cái người mà giác ngộ, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn đó, đó là Phật Bảo. Chúng ta phải hiểu nó bao hàm cái nghĩa của nó trong đó mà!

Tăng là hòa hợp chúng, hòa hợp mọi sự nơi cái lý chung với nhau.

Tức là nơi cái mục đích giải thoát chung nhau đó thì Tăng là phải có cái sự hòa hợp, mà Tăng mà không có sự hòa hợp thì nó không phải là cái mục đích chung của Tăng.

Vì vậy dù là bây giờ có hàng trăm Tăng mà không hòa hợp thì đương nhiên không được xem là Tăng. Mà Tăng mà có hòa hợp thì đương nhiên mới gọi là Tam Bảo, còn Tăng không hòa hợp thì đương nhiên là không được gọi Tam Bảo.

Cũng như bây giờ quý thầy thấy các thầy chống đối nhau bằng pháp môn này, pháp môn khác, ca ngợi nhau thì như vậy là Tăng không hòa hợp. Mà Tăng không hòa hợp thì tức là Tăng chống trái nhau, mà Tăng chống trái nhau thì không thể gọi được là Tăng Bảo.

Cho nên bây giờ mà muốn chọn Tăng Bảo thì phải chọn những vị Thánh Tăng trong thời Đức Phật nó mới có sự hòa hợp.

Đó thì hôm nay là nó bao hàm để mà chúng ta hiểu được cái nghĩa của Tam Bảo nó rõ ràng như vậy.

2- CÁC CHỦNG LOẠI TAM BẢO

2.1- TRỤ TRÌ TAM BẢO

(05:30) Bây giờ về cái phần:

1. Trụ trì Tam Bảo

Như hồi này mà Thầy nói cái phần một, nó có về cái sự tướng của nó – trụ trì Tam Bảo. Vậy trụ trì Tam Bảo là như thế nào? Bây giờ chúng ta phải thấy đây, Thầy giải thích ra:

1- Như dùng ngọc mà chạm; đá mà khắc, vàng mà đúc, nấu; đất mà đắp; xi măng mà đắp lên; gỗ chạm, sơn dầu, mực họa, thêu trên vải, vẽ ở trên giấy…​ Hình tượng Phật ấy là Phật Bảo.

Rõ ràng không? Bởi vì đó là cái trụ trì Tam Bảo mà, phải không? Cho nên như cái tượng Phật xi măng mình đây đó cũng là Tam Bảo chớ, cũng là Phật Bảo đó chớ.

Rồi có người thì người ta làm bằng lò gốm người ta đúc ra, có người lấy gỗ mà khắc, có người lấy đá mà chạm, rồi có người lấy ngọc mà làm. Tất cả những cái hình ảnh mà trở thành cái hình ảnh của một con người mà ngồi thiền, kiết già đồ đó, thì đó là hình ảnh của tượng Phật đó, thì gọi là Phật Bảo.

Phật Bảo đó là gọi là trụ trì Phật Bảo, hiểu không?

2- Tam tạng kinh điển hoặc là trứ thực về Phật giáo của chư Đại Đức xưa nay, ấy là Pháp Bảo.

Nghĩa là kinh điển của Phật như tam tạng kinh điển đó, bây giờ cất ở trong tủ đó, thì chúng ta gọi là trụ trì Tam Bảo đó, đó là Pháp Bảo – trụ trì Tam Bảo đó.

Đó, hiểu như vậy chúng ta mới hiểu rõ nó ràng mà, cái sự tướng của nó mà, nó đâu có cái trừu tượng đâu, nó rõ ràng.

(07:01) 3- Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni cạo tóc, mặc áo nhuộm, ấy là Tăng Bảo.

Mà phải hòa hợp, còn nếu không hòa hợp thì nó không thành. Nó phải hòa hợp thì nó mới thành, còn nó không hòa hợp thì – tu sĩ gì mà cãi cọ còn hơn ngoài đời, làm sao mà – tranh nhau còn hơn ngoài đời thì làm sao mà thành Tăng Bảo, làm sao là trụ trì Tam Bảo được?

Đó cho nên vì vậy nó phải có sự hòa hợp thì nó mới – mình cạo tóc, cạo đầu mà nó có hòa hợp thì cái đó – mặc áo nhuộm thì cái đó mới gọi Tăng Bảo – trụ trì Tăng Bảo.

Còn nếu mà mình tranh cãi nhau thì thôi, thôi, mấy ông này cư sĩ trọc rồi chớ không phải là Tăng Bảo nổi đâu. Bởi vì mình cạo đầu nè, mình mặc áo vậy, mà mình cãi cọ nhau thì nó đâu gọi được Tăng Bảo, vì đây Phật nói mấy ông cư sĩ trọc.

Ngày xưa Đức Phật nói những người mà cạo tóc mà cãi cọ, tranh cãi, không hòa hợp nhau thì được xem như là những người cư sĩ trọc, chớ không phải là Tăng Bảo.

Đó, thì chúng ta phải biết rõ cái trụ trì Tam Bảo là cái sự tướng của nó như vậy.

Sau khi Đức Phật nhập diệt, mọi người phải nương tựa vào một loại Tam Bảo này để nối tiếp huệ mạng Phật Bảo, tinh thần Phật giáo và truyền bá giáo nghĩa Phật giáo.

Hình thức này gọi là trụ trì Tam Bảo.

Nghĩa là qua những cái hình thức đó đó, để mà – nó còn cái hình thức đó người ta mới thấy được.

Cũng như bây giờ nó có tượng nè, rồi nó có kinh nè, nó có những cái vị tu sĩ có sự hòa hợp nè, cho nên người ta mới thấy đó là Tam Bảo.

Còn nếu mà bây giờ tu sĩ không có, hoàn toàn là cư sĩ, cũng như Thầy nghe nói trong một cái thời nào đó khi mà chúng Tăng nó không còn có nữa – bởi vì cái xã hội mà, nó lúc bấy giờ nó thay đổi đi, mấy ông thầy không có dám tu nữa, cho nên ông nào cũng để tóc hết hoàn toàn hết, thì lúc bấy giờ không có thấy ông ta cho nên Tăng Bảo mất tiêu luôn.

Chùa thì có mấy ông từ, mấy ông cư sĩ ở giữ chùa thôi chớ hoàn toàn là không có ông thầy nữa. Mà hễ láng cháng có ông thầy thì bị mời đi ở tù hết, cho nên do vì vậy đó mà không có ông nào dám tu hết, cho nên Tăng Bảo mất tiêu.

Còn kinh sách thì lén lút giấu chỗ này, giấu chỗ kia chớ còn để bậy bạ cũng bị đốt nữa. Cho nên nó cũng là có một cái – trong những cái giai đoạn thí dụ như đời nhà Tùy là Phật giáo suy đó.

Ôi thôi! Mấy ông tăng hoàn tục hết chớ không có ông nào mà dám để tóc hết, không dám cạo đầu hết, cho nên Tăng Bảo mất. Rồi kinh sách thì trong lúc đó nhà Tùy đem đốt sạch hết, không có để kinh sách Phật nữa, cho nên Pháp Bảo cũng tiêu luôn.

Còn chùa mà những cái tượng Phật đó, những cái chùa đều là sung công cho mấy cái ông Lão giáo làm miểu hết. Còn cái tượng của mình – tượng Phật đó thì đem đập bỏ hết, tượng gỗ thì đem đốt sạch, cho nên Phật Bảo cũng tiêu luôn.

Tiêu – gọi là trụ trì Tam Bảo nó tiêu sạch hết đó, nó không còn gì. Trong cái đời nhà Tùy, Phật giáo nó suy đến cái mức độ đó.

Thì chúng ta thấy rằng trong những cái giai đoạn – của cái giai đoạn thịnh, suy của Phật giáo thì nó có những cái lúc mà nó suy đến cái mức độ mà Tam Bảo – trụ trì Tam Bảo nó không còn có nữa. Chùa thì người ta lấy người ta làm miểu hết rồi, nó không còn cái chùa nữa. Đó là những cái lúc mà suy của Phật giáo.

2.2- HÓA TƯỚNG TAM BẢO

(10:09) Còn bây giờ cái phần hai là:

2. Hóa tướng Tam Bảo

Của cái sự tướng đó.

Hồi nãy là cái sự tướng kia là chúng ta nói Phật – Pháp – Tăng là những cái tướng của nó là – như là hình tượng, như là kinh sách, như là chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni cạo tóc, hành đúng cái hòa hợp với nhau, thì đó là cái trụ trì Tam bảo. Còn bây giờ đó thì hóa tướng Tam Bảo.

1- Phật Thích Ca Mâu Ni từ khi xuất gia tu hành, thành chánh giác cho đến khi nhập diệt. Đức Phật Thích Ca là Phật Bảo.

Đó, bây giờ nó cũng là cái tướng đó nhưng mà cái ông Phật ổng đã chết rồi, nhưng mà cái tướng của ổng nó phải vẫn còn chớ nó không thể nào mất được. Từ khi ổng tu hành cho đến khi mà ổng nhập diệt thì cái ông Thích Ca đó ổng là Phật Bảo.

Chớ không có thể nói ông khác Phật Bảo được mà chỉ có ổng mà thôi. Cho nên không thể nói ông Phật Di Đà là Phật Bảo, hay là ông Phật Di Lặc là Phật Bảo được, mà chỉ có ông Phật Thích Ca mới gọi là Phật Bảo.

Cho nên không thể nào một cái tôn giáo mà có hai, ba ông giáo chủ ở trỏng được. Cho nên bây giờ chúng ta chỉ biết là ông Thích Ca là Phật Bảo thôi chớ không thể nào – đây là hóa tướng Tam Bảo. Phải hiểu như vậy.

Chớ nhiều người đem ông Phật Di Đà vô đây bảo nói ông Phật Di Đà cũng là Phật Bảo, thì cái điều đó là điều không đúng đâu. Bởi vì cái ông Phật Di Đà ổng có sáng lập cái tôn giáo Phật giáo đâu mà gọi là Phật Bảo? Ông chỉ là một cái người mà giới thiệu thôi – được giới thiệu thôi, để mà độ chúng sanh lên cõi Cực lạc thôi. Cho nên ổng đâu có phải Phật Bảo.

Cũng như ông Phật Di Lặc là đời sau, cũng là do sự giới thiệu của ông Phật Thích Ca thôi, chớ ông không thể nào mà nói ổng Phật Bảo được.

Cho nên vì vậy chỉ có ông Phật Thích Ca là cái hóa tướng của ổng là cái chỗ mà chúng ta nhận ra ổng là cái Phật Bảo.

2- Các thứ giáo pháp đương thời Đức Phật dạy đệ tử như là Tam Vô Lậu Học, Tứ Thánh Đế, Tứ Niệm Xứ, Tứ Như Ý Túc vv…​ ấy là Pháp Bảo.

Nghĩa là các pháp mà Đức Phật dạy cho các đệ tử trong cái thời Đức Phật đó đó, mà bây giờ chúng ta đọc là Tứ Diệu Đế hay hoặc là Tứ Niệm Xứ, Tứ Như Ý Túc đồ đó thì đó là cái Pháp Bảo.

3- Đệ tử của Đức Phật Thích Ca đương thời là Tăng Bảo.

Nghĩa là như ông Xá Lợi Phất, ông Mục Kiền Liên, ông La Hầu La đồ đó, ông A Na Luật đồ đó, thì đó là những bậc Thánh Tăng trong cái thời đó gọi là Tăng Bảo. Chớ không phải là như hồi nãy trụ trì Tam Bảo như mình đây đâu, mà đây là hóa tướng Tam Bảo.

Nghĩa là tất cả những cái người đó họ đã ra đi hết rồi, cho nên đó là hóa tướng mà, nhưng mà cái hình ảnh, cái tướng của họ nó vẫn còn ở trong thâm tâm của chúng ta, cho nên gọi là hóa tướng Tam Bảo. Đó, phải hiểu không?

Những cái lời mà Phật dạy ngày xưa nó cũng – bây giờ nó chép lại thành kinh sách chúng ta đọc ra, như Tứ Diệu Đế hay hoặc Tứ Niệm Xứ đồ đó, thì bây giờ ngay hồi đó thì Đức Phật thuyết giảng đó, thì bây giờ coi như nó đã qua rồi thì nó là hóa tướng Tam Bảo của Pháp Bảo.

Đó, chúng ta phải hiểu như vậy thì chúng ta mới biết được Tam Bảo.

Đây là hình tướng chỉ Đức Phật đang trụ thế dạy đạo nên gọi là hóa tướng Tam Bảo.

2.3- NHẤT THỂ TAM BẢO

(13:15) Đó thì bắt đầu chúng ta đã hiểu được cái chỗ trụ trì Tam Bảo và hóa tướng Tam Bảo rồi thì bắt đầu chúng ta hiểu nhất thể Tam Bảo.

Nhất thể Tam Bảo, cái phần thứ ba là:

3. Nhất thể Tam Bảo

Nhất thể Tam Bảo tức là chỉ có một mà nó đủ trong đó là Tam Bảo đó, đây chúng ta phải hiểu. Cho nên khi mà một cái người cư sĩ họ đứng trước Đức Phật, họ xin quy y Tam Bảo là nó đã đủ rồi.

Đó, bây giờ mới thấy cái nhất thể Tam Bảo đây.

1- Phật

a- Trong Tam Bảo Phật – Pháp – Tăng, mỗi điều riêng có công đức của Tam Bảo. Đời sống của Phật thường năng chiếu vì thế gọi là Phật Bảo.

Đó là một phải không? Nghĩa là Đức Phật luôn luôn giác chiếu chớ đâu có là mê mờ, đâu có ham ngủ như chúng ta, cho nên vì vậy mà gọi là Phật Bảo.

b- Phật thường hay thuyết pháp tự tại đối với pháp cho nên có khả năng quỷ trì, vì thế gọi là Pháp Bảo.

Ông Phật ổng nói pháp là Pháp Bảo chớ gì? Cho nên nó có cái (khả) năng quỷ trì, nó làm cho người ta hiểu rõ ràng, nó làm cho người ta thấy được cái đường lối giải thoát rất là rõ ràng, cho nên vì thế mới gọi là Pháp Bảo.

c- Phật không có tranh cãi hơn thua với ai, vì thế gọi là Tăng Bảo.

Cho nên ông Phật ông đâu có tranh đua. Cho nên có một ông Phật mà nó đã có đủ Tam Bảo rồi phải không? Cho nên chúng ta quy một ông Phật mà chúng ta lại thọ quy y Tam Bảo một cách rất là rõ ràng cụ thể.

Đó, thì đó quý thầy thấy nhất thể Tam Bảo. Phải không, có rõ chưa? Bây giờ:

2- Pháp

a- Bản thể của nó có đầy cái tánh năng sanh chư Phật, vì thế gọi là Phật Bảo.

Nghĩa là pháp đó, mình nếu mà nương vào Pháp thì nó sanh ra chư Phật mà, cho nên bây giờ ông Phật là thiện chớ gì, mà mình nương vào cái Pháp mà pháp thiện, thì nó sanh ra cái lòng thiện, thì lòng thiện là Phật chớ gì? Vì vậy gọi là Phật Bảo.

Cho nên nương vào Pháp mà thấy có Phật liền, phải không?

(15:25) b- Bản thân có công năng quỷ trì…​

Nghĩa là ngay cái bản thân của Pháp thì nó có công năng làm cho người ta sáng tỏ ra, làm cho người ta hiểu rõ ra.

…​ cho nên gọi là Pháp Bảo.

Bởi vì cái bản thân của Pháp, nó làm cho người ta hiểu rất rõ ra cái đường lối ác và thiện nó rất rõ, cũng như Thầy nói thập ác như thế nào mà thập thiện thế nào. Cho nên cái công năng quỷ trì nó làm cho người ta sáng tỏ cái đó ra, cho nên đó là Pháp Bảo. Đó thấy chưa?

Tự nó, nó đã làm cho người ta sáng ra. Bây giờ không sát sanh thì nó như thế nào, mà sát sanh nó như thế nào? Cho nên người ta sáng ra người ta biết: Sát sanh thì làm cho chết con vật này hay con vật khác, còn không sát sanh thì con vật nó không chết.

Thì do đó người ta thấy rõ ràng như vậy, thì nó – cái công năng nó sanh ra, trong cái pháp nó sanh ra chúng ta biết được thiện và ác như thế nào, cho nên từ đó mà nó gọi là Pháp Bảo.

c- Pháp pháp thì bình đẳng, chẳng chướng ngại nhau, vì thế gọi là Tăng Bảo.

Bởi vì nó không có tranh, nó không có chướng nhau, pháp thiện thì nó đâu có chướng? Pháp ác thì nó rõ ràng, mà pháp thiện thì nó đâu có chướng nhau!

Còn pháp thiện mà chướng nhau như thế nào? Pháp thiện gì mình tu thiền này mình chỉ trích thiền kia, nó có thiện không? Chỉ người ta mà thiện gì thiện, phải không? Mình giữ giới như vậy, mình chỉ giới người ta thì do đó có thiện không? Đâu có thiện.

Cho nên nó thường nó không có bình đẳng như vậy, cho nên không thể gọi là Tăng Bảo. Mà nó không có chỉ trích ai, nó hòa hợp, ai làm sao kệ, nó không nói ai hết thì đó là mới gọi là Tăng Bảo, phải không?

Từ ở trong cái pháp mà chúng ta thấy, cái pháp mà nó không chỉ trích ai hết, nó không có khen chê ai hết, mà nó hòa hợp, ai làm gì làm, nó chẳng có cần tranh cãi với ai hết, thì cái đó gọi là Tăng Bảo của Pháp, phải không?

Hồi nãy thì các thầy thấy từ cái Phật Bảo, từ cái nhất thể Tam Bảo của Phật thì nó cũng đủ ba Phật – Pháp – Tăng, rồi từ ở trong cái nhất thể của Pháp Bảo nó có đủ Phật – Pháp – Tăng. Đó, nó rõ ràng như vậy để chúng ta mới biết là nhất thể Tam Bảo.

(17:18) 3- Tăng

Cái phần Tăng:

a- Tăng thường quán chiếu là Phật Bảo.

Mình tu hành thì mình phải quán chiếu mình mới xả ly, mình mới ly dục, ly bất thiện pháp. Mình ngồi đây mà tâm giận hờn mà không có ly ra được thì có quán chiếu không?

Mình chưa quán chiếu thì chưa là – chắc chắn là mình không thể nào gọi là Phật Bảo được hết. Mà mình Tăng, mà mình quán chiếu, mình ly tất cả những cái ham muốn của mình, mình ly những cái ác pháp ra, thì cái đó là Phật Bảo.

b- Tăng có cái dụng quỷ trì là Pháp Bảo.

Nghĩa là mình có hành pháp, mình có trì pháp, mình có quán pháp đó, tức là mình sử dụng nó đó, để cho mình ly, mình lìa các cái triền cái, mình lìa cái Ngũ…​ cái lậu hoặc của mình, mình lìa ra, mình làm cho cái tâm mình nó trở thành về thiện pháp, nó trở thành xa lìa cái dục đi, đó là cái mà mình làm cho nó – mình tu tập như vậy đó, mình hành động như vậy, theo những cái tùy pháp, hướng pháp đó, thì cái đó gọi là Pháp Bảo.

Đó, cho nên từ cái ông tăng mà sử dụng cái đó thì gọi là Pháp Bảo. Còn mình không sử dụng, mình để cái tâm phiền não, cái tâm giận hờn, cái tâm tham muốn của mình hoài hoài, thì cái đó không thể nào gọi là Pháp Bảo. Đó.

c- Tăng có cái thể hòa hợp là Tăng Bảo.

Khi mà mình biết như vậy thì mình như thế nào? Một vị tăng mà đã có nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng thì nó là hòa hợp chớ gì? Mà đã biết tu tập để mà ly dục, ly ác pháp thì nó là hòa hợp rồi.

Mà hòa hợp thì tức là cái vị tăng đó sống luôn luôn lúc nào cũng nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng, không có bao giờ mà không có vui lòng trước mọi cái đối tượng nào hết, cho nên gọi là hòa hợp, mà hòa hợp gọi là Tăng Bảo.

Đó, quý thầy thấy từ ở trong Tăng mà nó có đủ những cái bản chất của nó gọi là nhất thể Tam Bảo, hay hoặc là nhất thể Tăng Bảo ở trong đó.

2.4- LÝ THỂ TAM BẢO

(19:07) Số bốn:

4. Lý thể Tam Bảo

Tam Bảo là thiện pháp sẵn có trong tất cả chúng sanh…​

Có chỗ nói Tam Bảo là Phật Tánh của chúng sanh. Thiệt ra thì Thầy thấy thiện pháp – bây giờ một cái người chưa tu đi nữa họ cũng có thiện pháp trong tâm họ chớ đâu phải có ác pháp không đâu, phải không?

Do cái lòng ham muốn họ mới nảy sanh ra ác pháp, chớ họ có thiện pháp mà. Vì vậy, mà chúng ta thấy rằng mỗi con người chúng ta có thiện pháp, mà vì cái lòng ham muốn đó mà chúng ta có ác pháp.

Đó, cho nên ở đây chúng ta không lấy cái bản tánh – cái Phật Tánh mà chỉ cho là thiện pháp, mà chúng ta thấy cái thiện pháp, bởi vì chúng ta đang tu học ở trong thiện pháp của Phật, ba ngôi Tam Bảo này toàn là thiện. Cho nên:

Tam Bảo là thiện pháp sẵn có trong tất cả chúng sanh…​

Nghĩa là sẵn có, bây giờ chúng ta chỉ trau dồi nó thôi, chúng ta tu tập để đem nó lại, để dứt trừ các ác pháp ra cho khỏi cái – nó dính vô cái thiện pháp của chúng ta đã sẵn có.

…​ không phải ở ngoài mà đem vào.

Nghĩa là trong tâm chúng ta có thiện pháp sẵn mà. Cho nên cái ông Khổng Tử ổng nói “nhân chi sơ tánh bổn thiện” đó mà: Người mà sanh ra thì tánh thiện.

Nhưng mà sự thật ra ổng nói đó là ổng nói trong cái chỗ mà cạn của ổng thôi, chứ sự thật ra chúng ta đã tích trữ bao nhiêu cái ác chúng ta mới sanh ra làm con người, mới thọ cái thân, mới chịu quả khổ như thế này, chớ nếu mà không có ác làm sao mà chúng ta sanh ra con người làm gì?

Nếu mà “nhân chi sơ tánh bổn thiện” thì ổng sanh ra làm người làm gì, phải không? Ổng sanh ra cõi nào chớ ở đây, hoặc là ổng chấm dứt cái sự sanh tử luân hồi rồi.

Cho nên cái ông Khổng Tử thì ổng thấy sanh ra thằng nhỏ chưa có biết gì hết, cứ khóc không đó, thì tức là ổng đâu có biết khóc là cái nhân quả ác của nó chớ còn cái gì! Nếu mà nó cười thì chắc là thiện rồi.

Mà thằng nhà nào mà sanh ra mà không khóc, có phải không? Có ai mà sanh ra không khóc đâu? Quý thầy coi có ai mà sanh ra không khóc? Miệng thét la làm người ta quá giật mình!

Mà nó khóc vậy đó là mấy bà mụ mừng á, chớ mà nó không khóc kể như tiêu luôn, phải không? Sanh ra mà không khóc kể như chết đó, còn nó khóc là người ta mừng. Còn không, nó không khóc, móc miệng nó ra cho nó khóc, phải không?

Cho nên người nào sanh ra cũng khóc. Người ta nói, cái gì, có cái nhà thơ nói: “Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra” đó. Có không? Không biết là cái ông nào, Thầy quên tên ông đó rồi. Chắc là ông…​ à không biết, có thể là Nguyễn Du hay là cái ông Nguyễn Gia Thiều.

(21:28) Đó thì, các con thấy người ta hiểu một chút Phật giáo thôi mà người ta cũng xét qua cái đời sống của con người sanh ra thì người ta cũng biết là: “Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra” – không có người nào mà mang tiếng cười mà ra hết.

Không biết ông Phật hồi sanh ra không biết là – thấy ổng sanh ra ổng nói – nghe người ta huyền thoại đó, ổng đi liền mà không biết ổng có khóc không chớ Thầy nói, chắc chắn là có quá chớ hồi Thầy ra chắc cũng khóc thấy mồ, thấy tổ!

Đó là cái sự thể nó như vậy thì chúng ta phải biết rằng nó – là chúng ta phải hiểu là trong cái người mà – mỗi con người chúng ta đều có thiện pháp, và vì cái lòng ham muốn đó mà nó mới có sanh ra ác pháp, nó mới tạo nhân quả, nó mới tạo ra những cái khổ đau cho chúng ta trong cái ác pháp.

1- Do sự trau dồi, tu tập, dứt trừ các ác pháp, chuyển mê mà thành ngộ gọi là Phật Bảo.

Đó thì, bây giờ nó lý thể Tam Bảo đó, thì chúng ta thấy: Mình trau dồi mà dứt trừ các ác pháp, chuyển mê thành ngộ, mình ngộ ra được cái chỗ thiện pháp, nó hoàn toàn là – nó không còn khổ nữa, cho nên chuyển khổ thành vui, gọi là chuyển mê thành ngộ thì gọi là Phật Bảo.

Mà chuyển khổ thành vui gọi là Pháp Bảo, mà chuyển họa thành phước gọi là Tăng Bảo.

Đó phải không? Quý thầy thấy mình chuyển cái này cái ra thành cái kia à, mà trong khi mình thọ Tam Quy thôi, có ba cái này thôi, mà mình chuyển được cái mình thành Phật Bảo, mà mình chuyển được cái nọ thì mình thành Pháp Bảo, mình chuyển được cái kia nữa là mình thành Tăng Bảo.

Đó, bây giờ Thầy lặp lại cho quý thầy thấy rõ:

Do sự trau dồi, tu tập, dứt trừ ác pháp mà chuyển mê thành ngộ gọi là Phật Bảo, mà chuyển khổ thành vui gọi là Pháp Bảo, mà chuyển họa thành phước gọi là Tăng Bảo.

Đó có rõ ràng không? Bởi vì cái giáo pháp của Phật nó là thiện pháp, mà mình biết chuyển nó thì tức là mình chuyển được nhân quả, mà chuyển được nhân quả thì đó là Phật – Pháp – Tăng, rất rõ ràng cụ thể.

Cho nên gọi là lý thể Tam Bảo, có đúng không? Rất đúng chớ không có sai đâu. Thầy mà Thầy nói ra thì quý thầy cứ suy ngẫm đi, nó – cái lý của nó, mà nếu mà chúng ta không có biết cách như vậy, không hiểu như vậy thì chúng ta chưa biết cách tu.

Mà chưa biết cách tu thì chúng ta cứ chổng khu mà đi tu cái loại thiền này, hay tụng chú hay tụng thần chú gì để cho nó thành Phật, thì thiệt ra cái chúng ta chưa có hiểu gì Phật pháp hết thì dù chúng ta có tụng kinh ngàn bộ đi nữa – Thầy nghe có người tụng có mấy ngàn bộ kinh Pháp Hoa mà đến bây giờ Thầy thấy cũng còn khan tiếng chớ chưa có thành Phật.

Nghe kinh Pháp Hoa tụng là dễ lắm, còn có nhiều người thôi niệm Phật cũng lần biết bao nhiêu xâu chuỗi, đứt biết bao nhiêu sợi dây chưa, mà cũng chẳng thấy đến Cực Lạc bao giờ hết!

(24:10) Mà hầu như là Thầy nói thật cho quý thầy thấy, trong kinh mà dạy về niệm Phật đó, người ta nói nhiều cái chuyện hay lắm. Có nhiều vị ở xứ này, xứ kia, tỉnh nọ đồ, niệm Phật cái được Đức Phật Di Đà rước lên Cực Lạc đồ hay lắm.

Nhưng mà nhìn chung là thực tế thì trong cái cuộc sống của chúng ta mà Tịnh Độ hưng thịnh, thì hầu như là tất cả các bậc tôn túc của chúng ta đều tu Tịnh Độ, nhưng mà đến khi chết thì chúng ta thấy các bậc tôn túc của chúng ta như thế nào?

Mê muội vô cùng lận, không có sáng suốt nữa. Cho nên đến cái giờ phút, nhiều khi để lại những cái sự đau khổ, bán thân bất toại nè, nằm đó mà cả một, hai năm mới chết, chớ không phải ít.

Mà xâu chuỗi ông nào ông nấy cũng bóng lưỡng hết, bởi vì tối ngày đêm, hở chút nào cứ niệm Phật để mau được sanh Cực Lạc, ai không muốn? Nhưng mà cuối cùng thì trước cái chết của họ, Thầy thấy cái địa ngục rất là đau khổ.

Đó bây giờ Thầy nhắc lại cho quý thầy, như bây giờ Sư trưởng ở Huê Lâm đó – Sư trưởng là – Sư trưởng tức là Hòa thượng của bên Ni đó, gọi là Sư trưởng đó là bên Tăng là gọi Hòa thượng còn bên Ni gọi là Sư trưởng đó, là cái chức vụ của cái vị Ni lớn đó là họ là Hòa thượng đó – thế mà Sư trưởng bây giờ không còn biết gì hết, nằm ở trên giường mà không biết.

Vừa rồi có một sư cô về cho biết là Sư trưởng giao hết cái trách nhiệm rồi, từ cái chỗ mà còn biết để đi lo lắng cho đến bây giờ mà khi mà nằm liệt rồi, thời gian mà đi không được nữa, đi mà phải – lúc mà còn biết đó thì ngồi ở trên cái xe lăn vầy mà đẩy đi nè, cứ ngồi mà lăn cũng như cái người mà hai cái chân đi không có được nữa.

Đó không biết là tu tập như thế nào mà đến bây giờ mà khổ sở như đến đó đó, như một cái người mà tàn tật mà hai cái chân hết có đi được rồi, không có bước đi.

Cho đến bây giờ là nằm im lìm đó mà không còn biết gì, đái, ỉa không còn biết cái gì nữa hết, hoàn toàn chờ có tới ngày chết thôi, mà giờ nó không chịu chết mà cứ nằm đó.

Đó, đó là những cái vị tôn túc lớn nhất, mà kinh sách các vị rất thông suốt chớ không phải không thông suốt đâu. Các vị viết kinh, nào kinh Bát Nhã rồi nào là tất cả những cái loại kinh mà gọi là trí tuệ siêu tuyệt đó, rồi cho đến khi những cái giới bổn bên Ni người ta rành rọt lắm.

Người ta làm những giảng sư mà người ta thuyết giảng cho bên Ni mà, cho nên người ta mới làm bậc Hòa thượng của Ni chớ đâu phải ít, thế mà bây giờ trong cái cảnh tượng đó chúng ta thấy quá khổ, quá khổ đau!

Đau đớn là khi chúng ta xét thấy không phải là chúng ta chê những vị đó đâu, mà chúng ta nghĩ đến cái thân phận của mình đây, thấy những cái người đó mà chúng ta nghĩ thân phận của mình: Mình tu hành rồi mình cũng đi vào con đường đó chăng?

Mình phải làm sao chớ? Mình phải hiểu làm sao cho Phật pháp cho đúng chớ? Bởi vì những người đó họ đã tu tập như thế nào, mà họ đi lạc đường như thế nào, bây giờ họ phải thọ lấy những cái quả khổ đó?

Mà trong khi họ làm bao nhiêu cái sự việc là để cho chúng Ni – toàn bộ là Ni bộ đều tập trung dưới Sư trưởng chớ đâu phải là làm lợi ích cho một người đâu. Bao nhiêu bên Ni đều là ngài lãnh đạo hết chớ đâu phải…​

(27:07) Coi như là về giới Ni là Sư trưởng Huê Lâm là ngài lãnh đạo hết chớ không phải là tầm thường đâu, cả trăm Ni ngài kêu một tiếng là người ta tập hợp về tức khắc, ở đâu cũng phải về đó. Mà bây giờ ngài phải khổ sở như vậy thì chúng ta biết rằng con đường của Phật pháp nếu mà sai một chút là chúng ta đã bị lạc đường. Lạc đường thì chúng ta rất khổ sở.

Cái phước thì chúng ta thấy: Chúng ta làm thì mọi người khác thấy chúng ta làm như làm phước. Ngài mở tiệm cơm chay để lấy cái tiền đó để nuôi chúng ăn học, cho nên mới có những cái chúng mà thông suốt được giáo lý, mới có những chúng nữ thông suốt được cái giáo lý của Phật, mới có cử nhân, mới có tiến sĩ Phật học chớ!

Thế mà bây giờ ngài tạo như vậy mà bây giờ ngài thọ cái khổ như vậy là cái nhân quả nào đây? Chúng ta phải suy xét cái đường đó, mà đạo Phật là đạo nhân quả mà. Ngài có làm gì cho cá nhân ngài đâu, ngài có đem về nuôi cha, nuôi mẹ ngài đâu, thế mà nuôi toàn cả những người tu hành mà bây giờ ngài phải khổ.

Còn chúng ta có làm gì lợi ích cho ai đâu, mà bây giờ chúng ta lại thọ dụng của đàn na thí chủ như thế này mà không giải quyết được thì chúng ta làm sao đây? Nó còn khổ hơn ngài gấp mấy nữa, phải không? Cho nên vì vậy mà chúng ta phải hiểu biết được cái lý tu hành sao mà cho nó đúng. Đó.

Do cái lý thể thiện pháp mà xét: Lý sự nhất như là Phật Bảo, lý sự sổ quán là Pháp Bảo, lý sự năng quán là Tăng Bảo.

Bây giờ chúng ta do cái chỗ lý thể Tam Bảo này thì chúng ta biết được những cái gì. Bởi vậy cho nên cái phần hai này chúng ta thấy rất rõ. Hồi nãy cái phần một là chúng ta trau dồi tu tập phải không? Còn cái phần hai này:

Do cái lý thể thiện pháp mà xét…​

Đứng ở trên cái lý thiện pháp của Tam Quy này chúng ta xét thì: Lý sự nhất như là Phật Bảo, mà lý sự sổ quán – tức là chúng ta tu quán đó – thì tức là Pháp Bảo, mà lý sự năng quán thì tức là Tăng Bảo.

Tam Bảo tuy phân ra làm bốn loại nhưng gồm lại thì có hai thứ tính chất: sự và lý.

Nghĩa là gồm nó làm bốn như vậy chớ – chia nó ra làm bốn loại như vậy, nhưng mà gồm lại thì nó chỉ có hai tính chất nó mà thôi, sự và lý mà thôi.

Sự tướng Tam Bảo là hiện thực cụ thể, vì thế rất dễ hiểu, còn lý thể Tam Bảo trừu tượng, rất là khó hiểu. Nhưng chúng ta cũng dễ nhận, ở đâu mà dục hết, ác pháp hết…​

Tức là ly dục ly bất thiện pháp á, thì hết.

…​ thì ở đó là lý thể Tam Bảo, là Niết Bàn.

Cho nên vì vậy mà bây giờ chúng ta trở về ly dục, ly bất thiện pháp chớ gì, đó là lý thể của Tam Bảo chớ gì? Còn nếu mà chúng ta không ly dục, ly bất thiện pháp thì đâu gọi là lý thể Tam Bảo được, phải không?

Còn sự tướng Tam Bảo thì chúng ta cũng thấy rõ, Bởi vì nó – tuy rằng nói bốn loại, nhưng mà nó gồm lại thì nó có hai cái tính chất của nó là sự và lý. Sự tướng Tam Bảo thì chúng ta dễ hiểu quá mà, đâu có gì mà khó, mà vì cái – còn cái lý thể Tam Bảo thì nó trừu tượng, nó khó hiểu.

Nhưng chúng ta biết ly dục, ly bất thiện pháp thì nó là lý thể của Tam Bảo rồi chớ gì? Đó là Niết Bàn của chúng ta chớ còn cái gì nữa! Người nào mà ly dục, ly ác pháp rồi không phải Niết Bàn sao? Đó…​

3- NHẬN BIẾT NHỮNG ĐIỀU LỆCH LẠC TRONG PHẬT GIÁO

3.1- KINH DI ĐÀ DO ĐỜI SAU THÊU DỆT

(30:21) Hôm nay tiếp tục cái bài giảng, thì vừa rồi, khi mà Thầy giảng xong cái bài giảng thì cũng có một vài cái ý kiến, do đó thì hôm nay Thầy xin trả lời cái ý kiến trước để cho nó thấu suốt cái bài giảng vừa rồi, rồi chúng ta sẽ tiếp tục tới cái bài giảng kế.

Thì đây có một vị thầy hỏi Thầy:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Kính bạch Thầy hoan hỷ, bố thí cho con thưa hỏi!

Như buổi thuyết giảng hôm qua đó, Thầy giảng về lý và sự quy y Tam Bảo, có đoạn hóa tướng Tam Bảo. Thưa Thầy, chỗ hóa tướng Tam Bảo Thầy chỉ Đức Phật giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni hiện tại thuyết pháp độ sanh.

Vậy trong kinh Di Đà, Đức giáo chủ Thích Ca Mâu Ni tại hội thuyết ở nước Xá Vệ trong vườn của trưởng giả Cấp Cô Độc, kinh văn có đoạn Ngài bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất: “Từ đây sang phía tây, trải qua hơn mười vạn ức Phật độ, có một thế giới tên gọi là Cực Lạc, nước ấy có Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đang nói pháp.”

Thưa Thầy, Đức giáo chủ Thích Ca Ngài nói ra kinh này là ý chỉ giáo pháp gì? Và tại sao lại sinh ra pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh về Cực Lạc quốc? Cúi xin Thầy chỉ giáo cho con!”

Đó là cái câu hỏi.

Bởi vì Thầy giảng ở trong cái bài giảng đó, thì chỉ – Thầy biết rằng theo cái giáo lý của Đức Phật đó, một tôn giáo thì có một đức giáo chủ chớ không thể có nhiều giáo chủ.

Cho nên hầu hết là chúng ta cũng nhìn thấy ở trên cái hành tinh chúng ta có nhiều tôn giáo, nhưng mà mỗi tôn giáo đều có một đức giáo chủ chớ không có hai, ba giáo chủ.

Do vì vậy thì đạo Phật thì chúng ta cũng biết rằng chỉ có từ Đức Thích Ca mà thôi. Nhưng vì sau này, mình phải xác định như thế này nè: Sau này người ta thêm thắt ra, rồi người ta ở trong cái tư tưởng nào mà người ta thêm thắt ra.

Như thí dụ như trong kinh Di Đà thì Đức Phật không phải là giới thiệu có một cái đức Phật A Di Đà là một giáo chủ của cõi Tây Phương, mà trong đó Đức Phật còn giới thiệu bốn phương, rồi phương trên, phương dưới đều có những cái đức Phật là giáo chủ mỗi phương hết.

(33:12) Rồi ở trong kinh Duy Ma Cật thì Đức Phật cũng có – cũng chính Đức Phật Thích Ca, cũng giới thiệu ở trong kinh Duy Ma Cật thì có một cái nước Chúng Hương, thì ở đó cũng có một cõi giới, mà cái đức Phật ở cõi nước Chúng Hương đó cũng có Bồ Tát, cũng có Thinh Văn, cũng có đủ hết, người ta đến dự cái thuyết pháp ở trong cái buổi thuyết pháp của Đức Phật Thích Ca. Do đó vì vậy mà Đức Phật cũng giới thiệu cho chúng ta biết cái nước Chúng Hương đó.

Như vậy thì chúng ta thấy: Những cái người mà sau này thêm vào, thì người ta đứng ở trên cái lập trường nào mà người ta thêm vào có nhiều cái giáo chủ mà của một cái đạo Phật như vậy?

Nhưng mà người ta – kẽ hở của người ta để cho chúng ta thấy rất rõ, là vì người ta tưởng tượng là có thể là mỗi một cái quốc gia đó là một ông vua đó là một giáo chủ.

Cũng như bây giờ trên hành tinh chúng ta có nhiều nước chớ đâu phải có một nước, phải không? Nhưng mà mỗi nước thì có một ông vua, phải không?

Vì vậy cho nên cái người mà thành lập những cái pháp mà sau này đặt ra đó để mà gạnh ra thì họ đứng ở trên cái môi trường của cái vai trò phong kiến, tức là thời vua chúa đồ đó, thành ra họ cứ nghĩ bây giờ mình đặt vậy là cái tôn giáo mà nó có nhiều giáo chủ là cũng giống như là một cái – trên hành tinh chúng ta có nhiều đất nước, có nhiều ông vua.

Họ nghĩ vậy mà, họ bị ảnh hưởng như vậy đó, mà họ không thấy kẽ hở. Bởi vì tôn giáo nó chỉ có một ông giáo chủ đó, cái giáo lý, cái triết lý của nó chỉ có một không thể hai được – không thể hai, ba được.

Bởi vì thí dụ bây giờ chúng ta đứng ở trên lập trường chúng ta nhìn nè: Cái tôn giáo mà hiện bây giờ chúng ta phải thấy, như tôn giáo Cao Đài người ta đến người ta nghiên cứu về tôn giáo Cao Đài, người ta tìm cái chân lý của nó không có, mà nó lấy Phật giáo rồi lấy Thiên giáo, lấy Khổng giáo, rồi lấy Thiên Chúa giáo, nó kết hợp lại nó thành ra một cái tôn giáo Cao Đài, là một cái tôn giáo Cao Đài nó không có chân lý thật của nó, không có chính của nó. Còn cái Thiên Chúa nó có của nó.

Đó cho nên một cái tôn giáo nó ra đời nó phải có cái triết lý của nó ở trong đó, mà nó phải có cái pháp của nó ở trong đó, nó riêng biệt, nó không giống ai, cho nên mới nói nó.

Còn bây giờ chúng ta tổng hợp các tôn giáo lại chúng ta gọi là Thông Thiên Học đi, thì Thông Thiên Học nó chỉ là kết hợp các tôn giáo lại để nó hòa hợp với nhau thôi, chớ nó làm sao mà nó có cái chân lý gì riêng của nó đâu mà gọi là Thông Thiên Học là cái giáo, cho nên nó đâu có giáo chủ.

Đó, bằng chứng như vậy là các thầy thấy rằng cái vấn đề mà người ta gạnh vô, người ta gạnh vô thêm một cái phần nào đó.

Cho nên đọc qua cái sử của Phật giáo thì chúng ta thấy: Khi mà vua Bình Sa Vương bị vua A Xà Thế giam ở trong tù á, thì chỉ có mình ông ta thôi, còn bà mẹ – bà Vi Đề Hy thì không có bị bắt.

(36:10) Nhưng mà khi trong kinh Tịnh Độ thì người ta gạnh cái câu sử đó để người ta nói ra là bà Vi Đề Hy và vua Bình Sa Vương bị A Xà Thế bắt giam ở trong tù, cho nên bà ở trong tù bà tha thiết bà cầu Đức Phật Thích Ca cứu độ bà, làm sao cho bà thoát ra cảnh khổ của vợ chồng như vậy. Thì lúc bấy giờ Đức Phật mới thể hiện thần thông, mới đến trong khám đường, mới dạy bà cách thức niệm Phật A Di Đà.

Chớ không phải như ở trong kinh mình giới thiệu một cách đơn giản đâu, nó giới thiệu bằng cách có lịch sử đàng hoàng, nhưng mà sự thật lịch sử thì nó không phải vậy.

Cho nên do đó mà chúng ta thấy trong lịch sử viết nó rất rõ là khi mà vua Bình Sa Vương bị bỏ tù, bị nhốt rồi thì bà Vi Đề Hy bà mới đem thực phẩm đến bà nuôi vua Bình Sa Vương, thì vua A Xà Thế mới cấm không có cho bà đem thực phẩm nữa.

Bà không biết làm sao mà vô thăm vua Bình Sa Vương, làm sao có gì ông này ăn mà sống được? Cho nên do đó bà mới thoa mật khắp cùng người của bà, rồi bà mới mặc áo vô, rồi bà mới xin đi, thì coi như lính nó xét – tay không mà, đâu có gì, nhưng mà trong người bà, bà thoa mật.

Nhưng mà vua A Xà Thế mới thấy sau một cái thời gian bà này ra thăm mà không có đem gì ăn mà ông này ông không chết. Lẽ ra bỏ đói cho ổng chết mà sao lại ổng không chết? Cho nên mới cho lính khám thì quả đúng là bà thoa mật ở trong người bả, cho nên vua Bình Sa Vương mới vô đó liếm từ cái mật đó mà sống.

Đó, cho nên ổng cấm luôn, cấm không cho bà Vi Đề Hy tức là mẹ của ổng, cấm không cho vô thăm nữa. Thì khi mà cấm như vậy đó, thì lúc bấy giờ đó, thì bà Vi Đề Hy đâu có vô được.

Cho nên lúc bấy giờ thì vua A Xà Thế vừa sanh ra đứa con. Vừa sanh ra đứa con thì ông thấy ông thương đứa con ông quá chừng, thương không có thể nào mà tưởng tượng. Ông mới chạy vô ông hỏi mẹ, khi mà mẹ sanh con á, vua Bình Sa Vương có…​ (Mất tiếng)

… diễn tả cách thức mà vua Bình Sa Vương thương vua A Xà Thế như thế nào. Nói một hôm con bị cái mụt nhọt ở cái đầu ngón tay, mà nó sưng, nó nhức, con khóc không có ai mà dỗ được hết. Cho nên cha con mới dỗ con, nhưng mà ông biết làm sao?

Bởi vì cái mụt – hễ vua mà ngậm ở trong miệng cái mụt nhọt – mà ngậm ngón tay con ở trong miệng, thì cái nhờ cái sức nóng của cái miệng của vua Bình Sa Vương thì con không có đau nhức, cho nên ông cứ ngậm hoài.

Mà hễ lấy ra nó lạnh thì nó đau nhức, con khóc, cho nên đến khi mà cái mụt nhọt ngậm như vậy mà đến khi cái mụt nhọt con ở ngón tay con nó bể ra mủ đi, mà ông cũng không dám lấy ra nữa, phải đành nuốt máu mủ con ở trong bụng.

Vua A Xà Thế nghe mẹ mình diễn tả cái tình thương của cha mình đến cái mức độ đó, ổng không còn đứng yên được nữa, ổng chạy vô khám để mà mở cửa khám đặng thả cha mình ra. Nhưng mà không ngờ là cha mình đã nhịn đói ba, bốn ngày, chết rồi còn đâu, ông đã chết đói ở trong khám rồi.

(39:17) Đó thì câu chuyện như vậy đó. Thế mà người ta dám đặt ra là bà Vi Đề Hy bị ở tù với ông Bình Sa Vương, rồi từ đó bà Vi Đề Hy – đàn bà thì người ta nhát gan lắm, người ta ở tù thì người ta sợ lắm cho nên người ta cứ cầu Phật thôi.

Cho nên ông Phật cảm động được cái chỗ đó mới hiện đến, mới dạy bà niệm Phật Di Đà để cầu vãng sanh, cho được lên cái cõi Cực Lạc an ổn, cho nên mới có những câu chuyện như vậy.

Thì các thầy thấy trong những cái chuyện mà – những cái dựa vào những cái chuyện lịch sử mà ghi như vậy, nó có đúng sử không?

Cho nên trong kinh Di Đà đó, hầu như là tất cả như kinh Quy Nguyên Trực Chỉ, kinh Di Đà, rồi kinh Vô Lượng Quang, hầu như là người ta tu về pháp môn Tịnh Độ thì nó rất nhiều chớ không phải.

Bởi vì, cái thời đại mà trước chúng ta – các bậc tôn túc của chúng ta như các bậc Hòa thượng, như bây giờ chúng ta thấy như Hòa thượng Thiện Hoa nè, Hòa thượng Tuyết Tịnh nè, rồi một số quý bậc Hòa thượng lớn bây giờ hiện họ còn đang tu Tịnh Độ đó.

Cho nên trong cái sự tu Tịnh Độ đó, thì trong kinh nó nhắc ở – như ở bên Trung Hoa thì nó nhắc nói có một ông này ở tỉnh kia, có một ông nọ ở cái làng nọ, ở xứ này kia, mọi người đều tu Tịnh Độ, tới cái ngày mà trực vãng Tây Phương thì có Phật Di Đà hoặc là có những cái triệu chứng này, triệu chứng kia, thì nghe rất hay, những cái huyền thoại, những câu chuyện chúng ta thấy tuyệt vời: Pháp môn Tịnh Độ người ta tu chứng rất đông.

Cho nên cái ngài – khi mà ngài thiền sư Huệ Viễn đó, ngài lập Liên Trì Thư Xã, ngài sớ giải tất cả những cái loại kinh Đại Thừa Tịnh Độ này hướng dẫn cho người ta, ngài là một thiền sư có danh tiếng, ngài thị tịch một cách tự tại.

Là khi mà vua mời ngài đến để mà đăng đàn để thuyết pháp thì ngài từ chối ba lần như vậy, thì trong một hôm đó thì ngài – cái người mà đến mời ngài, cái vị sứ quan mà đến mời ngài, thì cái ngày đó là cái ngày lần thứ ba:

“Nếu ngài kỳ này mà ngài không đến thuyết pháp cho vua trong cung vua thì tôi sẽ bị – cả gia đình bị tru di tam tộc đi. Xin ngài vì thương chúng tôi mà ngài đi giùm!” Thì ngài hứa: “Thôi được rồi ta sẽ đi.” Chớ ngài nguyện là ngài không có rời khỏi núi.

Cho nên hôm đó thì ngài họp chúng lại, ngài hỏi: “Ai đi với ta xuống được kinh đô?” Thì trong chúng ai cũng nói: Con thì đi được năm chục dặm, con thì đi bảy chục dặm, con thì đi trăm dặm, con đi hai trăm dặm.

Ông nói: “Mấy ông đi với ta không được đâu. Vậy còn ai đi được với ta nữa không, mới đi với ta xuống dưới?” Thì có một chú thị giả nói: “Con đi được với Hòa thượng!” Thì hỏi: “Vậy chớ ông đi bao nhiêu mà ông đòi đi theo ta?” Thì nói: “Hòa thượng đi tới đâu con đi tới đó à!”

Thì bắt đầu cái ông Huệ Viễn đó ổng ngồi ổng thị tịch, ổng ngồi đó ổng thị tịch ổng chết, thì chú thị giả đứng hầu bên đó cũng thị tịch luôn, hai thầy trò đứng chết. Trời! Chúng ta nghe hay quá chớ gì, thầy trò sao mà chết tự tại quá!

(42:20) Đó là cái câu chuyện của ngài Huệ Viễn. Nhưng mà ngài Huệ Viễn là một thiền sư tự tại như vậy mà không đem cái pháp môn tự tại dạy người ta, để thành lập cái Liên Trì Thư Xã dạy người ta.

Cho nên ngài Vĩnh Minh Diên Thọ sau này, ngài xương minh ngài nói như thế này nè: “Một người tu thiền mà tu Tịnh Độ như cọp mọc sừng, mười người đều đạt được mười người. Còn người tu thiền mà không tu Tịnh Độ mười người chưa đạt một người.” Như vậy là ngài Vĩnh Minh Diên Thọ xương minh cái Tịnh Độ hết mức.

Nhưng mà chúng ta – sự thật chúng ta đọc trong kinh Tịnh Độ chúng ta thấy có những cái mẩu chuyện mà người tu Tịnh Độ chứng đạt rất là vi diệu, nhưng mà nhìn thực tế thì chúng ta lại không thấy.

Bởi vì thực tế là các bậc tôn túc, thầy tổ của chúng ta đều là những người tu Tịnh Độ hết rồi bắt đầu Phật tử chúng ta ai cũng lần chuỗi hết, cho nên hiện giờ mà quý thầy thấy, quý thầy mà ra ngồi, lên đàn mà ngồi, ông nào cũng đeo xâu chuỗi dài tới dưới cổ hết.

Trời ơi trang trí, Thầy nói ông thầy nào cũng đẹp hết à! Phải không? Thầy mà đeo chuỗi, mà Thầy nói chuỗi tay rồi chuỗi cổ nữa, có nhiều người đeo hai, ba chuỗi chớ đâu phải một chuỗi. Ông thầy nào cũng có hết, không phải là thầy Tịnh Độ sao!

Nhưng mà quý thầy thấy, khi chết rồi quý thầy đó sao, quý thầy thấy không? Bằng chứng chúng ta phải thực tế, phải nhìn chớ để chúng ta biết cái pháp môn đó có dẫn chúng ta đến chỗ nào không chớ!

Nếu mà chúng ta cứ nghe cái chuyện nói dóc ở trong – nói láo, vọng ngữ ở trong kinh sách mà đặt điều ra nói, nói ông ở chỗ này, chỗ kia, cũng như bây giờ Thầy ngồi đây Thầy nói có một ông ở xã Thạnh Phước, hay ông ở xã Trường Lưu, hay hoặc là ở huyện Gò Dầu có ông đó vậy, nhưng mà đến đó hỏi không có ông đó, phải không?

Nhưng mà Thầy ở đây Thầy đặt được, Thầy nói ông đó ông tu Tịnh Độ vậy vậy đó, tới ngày vãng sanh, trời ơi mùi thơm ngào ngạt, hoa sen rớt cùng, hoa trời đầy hết!

Thầy nói ai cũng – ở trong bài thì Thầy viết thì như vậy, nhưng mà thực tế lại cái chỗ đó hỏi có ông đó tên đó không? Không! Không ai biết tên đó, ông đó hết. Có phải là vọng ngữ không? Gạt người ta để xương minh cái Tịnh Độ chớ gì!

Nhưng cuối cùng bây giờ chúng ta nhìn chung: Bao nhiêu người đã tu Tịnh Độ, từ cư sĩ có nhiều người chỉ nghe cái Tịnh Độ ai tu cũng được hết, dễ hết, bởi vì pháp môn dễ mà, niệm Phật là được vãng sanh. Cho nên bốn mươi tám lời nguyện của đức Phật như thế nào:

“Thiện nam tín nữ các người,

Chí thành tưởng Phật niệm mười tiếng ra.

Ta không rước ở nước ta,

Thệ không làm Phật chắc đà không sai.”

Các con thấy ông Phật Di Đà nguyện rất lớn. Nhưng mà người ta niệm Phật đâu có mười tiếng, trời đất ơi cả lố, phải không? Các con thấy đếm không có hết, chuỗi này lần tới chuỗi kia, ông nào cũng muốn sanh Cực Lạc chớ ai muốn ở thế gian, ở dưới cái cõi trần này nó cực khổ gần chết đây!

(45:04) Cho nên nó có những cái pháp môn mà nhiều người phải niệm Phật, phải la cho lớn để ức chế vọng tưởng chớ gì. Có nhiều người niệm Phật theo cái hơi thở, rồi nhiều người phải đếm xuôi, đếm ngược đủ loại, đủ cách để mà ức chế vọng tưởng, cuối cùng chẳng thấy ra ma nào mà có thể giải thoát sanh tử hết, không có làm chủ được sanh tử, mà không biết chết đi không biết đọa ở đâu chớ còn Thầy thấy khi mà chết rồi các bậc Hòa thượng thì mình còn dễ thấy. Bởi vì họ là những bậc thầy mình mà, họ đều là tu niệm Phật hết mà, nhưng mà tới chừng đó họ bán thân, họ nằm tới cái ngày chết họ mê muội luôn, tới chừng họ chết không biết gì hết, không có tỉnh gì hết!

Đó, thì bằng chứng Thầy dẫn chứng trong cái bài kinh của Phật dạy chúng ta rõ ràng, chúng ta tu chỉ Chánh Niệm Tỉnh Thức thôi mà chúng ta chết đi, chúng ta biết chúng ta được vào bào thai mẹ, phải không?

Có một cái Chánh Niệm Tỉnh Thức thôi, chúng ta chỉ đi mà chúng ta nhìn ở dưới chân chúng ta đừng có đạp chết chúng sanh là cũng đã đủ tỉnh thức rồi, là khi chết là chúng ta đã đi vào lòng mẹ là chúng ta biết. Tức là không phải nghiệp lực lôi chúng ta rồi, cho nên khi mà vào bào thai là chúng ta biết.

Chúng ta biết chúng ta đi vào bào thai, tức là biết chúng ta sanh vào cái nhà nào, cái người đó là ai, chúng ta biết được. Bởi vì cái sức tỉnh thức của chúng ta, cho nên không có cái cận tử nghiệp nào lôi chúng ta được. Còn cái sức tỉnh thức chúng ta không có thì chúng ta phải mê.

Rồi bây giờ vì cái duyên nghiệp nào mà các người niệm Phật mà lại nằm mê man ở trên cái giường bệnh? Người mà bán thân mà khi chết họ mê man họ không biết đâu.

Đó cho nên bây giờ, Thầy có nhắc lại cho quý thầy thấy đó, đó là như – thí dụ như bây giờ hiện Sư trưởng không phải là người không niệm Phật sao?

Không phải là các Hòa thượng tôn túc Thầy không nhắc, không kể tên ra cho quý thầy thấy, các bậc Hòa thượng danh tiếng ở trong đất nước chớ không phải không đâu. Những cái bậc đó đều danh tiếng. Cho nên hầu hết là những người đó đều là thông kinh sách hết, mà họ tu Tịnh Độ, nhưng cuối cùng họ trăn trở trên cái chỗ giường bệnh của họ, rất là khổ sở.

Đó là tất cả những cái mà thầy tổ của mình là những người mà đã hướng dẫn – Thầy nói Thầy và quý thầy hiện bây giờ mà biết được những bậc Hòa thượng danh tiếng chớ còn những bậc mà nhỏ nhỏ thôi chúng ta không biết được đâu, phải không? Không hiểu đâu.

Nhưng mà những bậc Hòa thượng danh tiếng là những người mà gọi là ai cũng biết tiếng, nhưng mà khi chết thì thấy rất đau khổ. Họ là những người mà gọi là tin Cực Lạc hết sức tin đó, niệm Phật hết sức niệm đó, đêm ngày niệm đó hở ra chút nào bây giờ ngồi ở trên pháp tọa chớ mà rảnh là ngồi lần chuỗi rồi, không có để kẽ hở đó!

Họ đáp từ, họ nói gì nói rồi cái bắt đầu ngồi không cái họ cũng…​ Họ đến cái chỗ mà họ thọ trai cũng vậy, họ ngồi họ ăn thôi chớ mà hở ra cái bắt đầu họ ngồi lần chuỗi rồi. Làm như cái thói quen của họ rồi!

Thầy thấy quý Hòa thượng vậy à, mà liên tục như vậy mà thế tới cuối cuộc đời của họ để lại cái hình ảnh đau khổ hết sức, nhiều khi mổ xẻ từng cái miếng da của họ ở trong thân của họ nữa. Thầy thấy qua những cái chuyện mà giải phẫu của bệnh viện, Thầy thấy tan nát cái thân họ hết.

(48:01) Mà họ là những người niệm Phật mà Phật Di Đà sao không cứu họ để họ khổ quá vậy? Vậy mà ông ta dám hứa vầy:

“Thiện nam tín nữ các người

Chí thành tưởng Phật niệm mười tiếng ra.”

Bởi vậy cho nên chúng ta chỉ tưởng, tưởng để mà sống cho hy vọng, nhưng mà tới cuối cùng thì chúng ta để lại những cái đau khổ. Mà chúng ta không sáng suốt. Con người chúng ta sao vô minh đến độ mà không nhìn thấy, cứ đọc ở trong kinh sách như thế nào chúng ta tin như thế nấy.

Thứ nhất, làm sao mà một tôn giáo lại có nhiều giáo chủ được? Dù Đức Phật Thích Ca có nói như vậy chúng ta cũng phải nghĩ rằng: Ông Phật Thích Ca chỉ là một người khiêm nhượng mà thôi.

Nếu mà đã có những bảy ông Phật quá khứ thì làm sao không có giáo pháp của đức Phật mà ông Phật Thích Ca phải đi tìm từng ông này đến ông kia, rồi phải bỏ đi, rồi tự mình đi phát triển ra một cái pháp tu hành?

Các con nghĩ: Đức Phật nói quá khứ có bảy vị Phật, phải không? Thế mà ông Phật phải đi tìm cái pháp để tu, nếu mà có bảy vị Phật thì tức là phải có cái giáo pháp chớ ? Sao lại có bảy người tu được mà lại không có giáo pháp để lại cho đời sau?

Lại là tu nào là nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định, Không Vô Biên Xứ, rồi tu cái gì đủ thứ khổ hạnh. Ông Phật khổ hạnh đến cái mức độ mà còn da bọc xương, không còn gì hết, rờ da bụng đụng xương sống, rờ xương sống đụng da bụng, ngồi hết có nổi rồi, ông Phật chỉ còn nằm dẹp xuống đó mà thở thoi thóp như là sắp chết rồi. Nếu mà không may gặp cái cô chăn dê ở đó vắt sữa mà đổ cho ông Phật thì ổng cũng tiêu luôn rồi còn gì, còn gì tu?

Vậy thì có giáo pháp – mà tại sao không có cái giáo pháp của Đức Phật mà có bảy đức Phật ở quá khứ? Cái lý do gì không có? Mà ngoại đạo thì sáu cái giáo phái của tà giáo ngoại đạo, trong lúc đó lại bành trướng, lại phát triển rất lớn. Còn kinh sách của Phật giáo bấy giờ lại không có nữa, chỉ có ba bộ kinh Vệ Đà chớ chưa có bộ Áo (Nghĩa) Thư nữa, thì quý thầy nghĩ như thế nào?

Đâu phải đất nước Ấn Độ không có chữ nghĩa, mà có chữ nghĩa, lại là có những cái bộ kinh Vệ Đà lâu đời nhất ở trong cái đất nước đó. Thế mà Đức Phật ra đời thì đã có những kinh đó rồi, thế mà sao lại không có những kinh gì mà của bảy Đức Phật này đã tu thành tựu được như vậy, đều là bậc chánh giác?

Vả lại cái nữa, Đức Phật trong kinh nói: Đồng thời trong một lượt Đức Phật không có một bậc A La Hán mà lưu xuất hai người một lượt, thì đồng thời đâu có được! Các thầy thấy, không có được.

Bởi vì nếu mà đồng thời – mà bây giờ Đức Phật có giới thiệu có một đức giáo chủ ở chỗ nào đó, thì ở đại Ta Bà này có một đức giáo chủ, thì đồng thời một cái thời điểm trong cái không gian vũ trụ này đã có hai đức giáo chủ thì không thể có lưu xuất ra được một (lượt).

Kinh xác định quá rõ ràng, bài kinh Nguyên Thủy rõ ràng. Đức Phật xác định chỉ có một mà thôi chứ không thể hai. Cũng như vua Chuyển Luân Vương, chỉ có một vua Chuyển Luân Vương trong cái thời đại đó chớ không có thể có nhiều ông vua Chuyển Luân Vương ở trong cái thế gian này được.

Nghĩa là bây giờ ở trong cái thế giới mình, trên cái trái đất này hành tinh nó có nhiều nước, phải không? Mà chỉ có một ông Chuyển Luân Vương ra đời thôi chớ còn không phải nước khác có ông Chuyển Luân Vương được. Nếu có hai ông Chuyển Luân Vương này mà như vậy nó ngang nhau ổng đánh nhau chết hết còn cái gì?

(51:14) Cái kiểu đó các con hiểu. Bởi vì ông Chuyển Luân Vương này cũng có bảy cái báu thì ông kia cũng có bảy cái báu, mà đồng thời ra một lượt thì hai ông này choảng nhau thì bà con mình nhăn răng, méo miệng hết, đâu còn!

Cho nên Đức Phật nói đồng thời không có hai ông Chuyển Luân Vương được. Mà Đức Phật đã xưng mình trong cái bài Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, làm thầy trời và người.

Trời, người là cái ở trên hành tinh của chúng ta, và nơi đâu có những cái sắc thân con người đều là thầy của loài người. Mà chỗ nào cái thế giới vô hình – Tam Giới mà – cái thế giới vô hình, dù cõi trời hay cõi nào, vô hình ở đâu, bất kỳ ở chỗ nào cũng đều làm thầy hết. Vậy thì có một ông chứ sao lại có hai ông?

Đó thì như vậy là đời sau người ta không hiểu được cái ý đó, cho nên người ta gạnh thêm. Gạnh thêm thứ nhất là lịch sử sai, thứ hai là gạnh thêm như trong kinh mà nhắc ra vậy là sai hết.

Cho nên chúng ta là người có trí chớ đâu phải chúng ta ngu để mà người khác gạt chúng ta được! Chỉ có những người vô minh nói đâu nghe đó, làm tầm điên, tầm khùng, cuối cùng tu hành chẳng ra gì, tới chừng chết nhăn răng, méo miệng, nằm đó mê mờ cũng như là cái gì không biết gì hết.

Đó thì bằng chứng Thầy thấy hiện tiền là trải qua cái đời của Thầy thôi, chớ Thầy chưa nói những cái đời khác nữa, nhưng mà xét đến từ khi mà tất cả các đại đệ tử của Phật thị tịch hết rồi, thì Phật giáo vắng bóng rồi. Người ta chia ra làm hai mươi bộ phái là tiêu rồi đó, kể như là Phật giáo tiêu rồi đó, không còn nữa rồi.

Đó thì hiện bây giờ chúng ta thấy trong cái vấn đề đó nó cụ thể và rất rõ ràng. Cho nên chúng ta phải xét thấy được cái đường lối mà chúng ta hiện giờ tu hành. Tu hành làm sao mà chứng nghiệm được cái chúng ta làm chủ nè, làm sao mà chúng ta thức tỉnh được nè. Đó là những cái đặc biệt của Phật giáo.

Đó thì hôm nay Thầy giải thích như vậy để biết rằng: Tất cả những cái này là những người sau người ta thêm bớt, người ta làm ra, rồi người ta đặt ra nào Liên Trì Thư Xã, rồi người ta dạy đủ cách thức niệm Phật chớ không phải có một lối niệm Phật đâu, không phải niệm Phật thường đâu. Người ta niệm Phật thế này không được, người ta đặt niệm Phật cách khác đủ mọi loại.

3.2- CÁC PHÁP MÔN THÊM THẮT KHÔNG LÀM CHỦ ĐƯỢC SINH TỬ

(53:26) Đó, đó là những cái – một cái pháp môn mà nói về Tịnh Độ đó, chúng ta đủ biết là nó như vậy rồi. Còn tất cả những cái pháp môn khác mà họ đặt ra biết bao nhiêu thứ.

Cũng như bây giờ nghe Phật dạy Định Niệm Hơi Thở, họ chẳng biết Định Niệm Hơi Thở làm sao hết, họ dám đặt ra hơi thở.

Rồi cái người dạy hơi thở cũng chẳng biết hơi thở là cái gì ở trong thân của chúng ta nữa. Họ chỉ biết rằng hơi thở là cái mạng sống của con người thôi chớ họ chả biết cái hơi thở tu tập như thế nào đúng, như thế nào sai.

Cho nên người ta mới đặt ra pháp an bang, rồi người ta mới đặt ra là sổ, tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh. Rồi người ta thần thoại những cái chuyện vi diệu của một cái vị như ngài Thiên Thai, ngài còn nằm mộng ngài đi lên cái cõi núi Linh Thứu Ngài dự cái pháp hội Pháp Hoa của Đức Phật. Không phải là nằm mộng sao? Mà ông thầy nằm mộng mà làm sao mà vượt qua được Tam Thiền? Nhị Thiền chưa xong nữa!

Thì thử hỏi như ngài Hư Vân Hòa thượng, ngài còn thấy ngài – khi mà bị bắt giam ngài trong khám, ngài bị hành hạ quá độ, đêm đó ngài mê man, ngài thấy ngài xuất hồn ngài đi lên ở trên trời Đâu Suất, ngài gặp Đức Phật đang thuyết giảng kinh ở trên đó, ngài xin thôi cho ngài ở trên đó, ở thế gian này quá khổ.

Đó là những cái hiện tượng chiêm bao của ngài chớ đâu phải là cái thật có như vậy đâu! Mà ngài Hư Vân Hòa thượng các thầy nghe cái lịch sử của ngài tu hành dữ tợn lắm chớ đâu phải thường, thế mà ngài chẳng đi tới đâu hết.

Rồi các thầy thấy như các tổ, như Hoàng Bá còn mộng, mộng thấy mẹ được mình sanh lên cõi trời. Còn ngài Nam Tuyền thấy thần nhân mách bảo.

Tất cả những cái này đều là hoàn toàn là còn mộng mị hết. Mà còn mộng mị thì Thầy nghĩ Nhị Thiền chưa xong thì phải mộng mị chứ sao, đâu có làm sao mà dẹp được cái thứ này được?

Cho nên làm sao mà người ta phải phá được cái – tỉnh thức đến cái mức độ người ta không ngủ. Mà người ta không ngủ mà thân người ta ngủ cho nên nó đâu có mỏi mệt. Vì tỉnh thức cho nên nó không có mộng được, còn không tỉnh thức thì phải ngủ quên thì phải mộng thôi.

Do mộng thì thử hỏi cái sức độ của thiền sư tu đến cái mức độ nào mà còn mộng mà gọi mình là triệt ngộ, gọi là Chánh Đẳng, Chánh Giác được, gọi là làm chủ sanh tử được? Đủ bấy nhiêu đó chúng ta đủ biết rằng cái miệng lừa của họ, họ lừa chúng ta nhiều quá rồi, gạt chúng ta tận cùng rồi.

Đem hết cuộc đời chúng ta đã không lợi ích cho bản thân mình, mà không làm lợi ích cho người nào được hết. Tối ngày cứ ngồi mà liên miên ở trong thất tu hành riết cuối cùng rồi không lợi ích cho ai hết mà cuối cùng chẳng có đem lợi cho mình chút nào hết, chừng chết cũng nhăn răng, méo miệng.

Người này bưng bít người kia, người kia bưng bít người nọ, huyền thoại câu chuyện này, huyền thoại câu chuyện kia để gạt người ta, để rồi ngồi không đó mà tính tiền, tính bạc, kinh doanh những cái sự sống bằng mồ hôi nước mắt của kẻ khác. Phật giáo thì phải ra cho đúng Phật giáo, Phật giáo gì mà không ra đúng gì hết!

3.3- ĐẠO PHẬT CHÂN CHÍNH KHÔNG ĂN THỊT CHÚNG SINH

(56:19) Bởi vậy nói, càng nói Thầy càng thấy giữa Bắc Tông chúng ta cũng vậy, mà đến Nam Tông chúng ta cũng thấy. Một cái đất nước mà gọi là Phật giáo – quốc giáo của họ, thế mà dân tộc của họ tàn sát con người đến cái mức độ các thầy cũng thấy rõ chớ?

Như dân tộc Campuchia bây giờ làm sao? Nó diệt chủng gần như muốn hết, không còn ai nữa. Nếu mà không có cái sự can thiệp của Việt Nam vào đó thì dân tộc nó còn gì?

Rồi nó giết những kiều bào Việt Nam chúng ta ở trên đất nước nó, khi mà nó vậy nó giết, nó không gớm tay chút nào hết, mà mỗi người dân nó mười tám tuổi là phải được – người thanh niên phải được vào chùa để mà ba năm tu tập trong đó.

Mà đạo Phật là đạo thiện pháp, nó là cái đạo Phật chân chính, cái gốc của đạo Phật, nó tự xưng là nó đạo Theravada tức là cái gốc của đạo Phật, thế mà cái gốc của đạo Phật nó ác như vậy đó!

Nó học hỏi trong kinh Phật dạy nó như vậy, là thiện pháp, là nhân quả, là giới luật như vậy, bây giờ nó ra nó cầm rựa, cầm súng, nó bắn người ta, nó giết người ta như vậy, thì thử hỏi coi Phật giáo như vậy là cái ông sãi vua đó – gọi là sãi vua đó – họ là những người điều khiển cái đạo đức cho một cái dân tộc đó mà họ điều khiển như vậy đó. Nó giết cả lại dân tộc nó như vậy, nó giết cả mọi như vậy, thì thử hỏi cái đạo Phật đó là đạo gì?

Có phải là cái ngày mười – chúng ta nhìn qua bên Thiên Chúa, chúng ta thấy cái ngày Barthélemy đó – tức là cái ngày bốn tháng bảy của đất nước Pháp, Tin Lành nó giết Thiên Chúa sạch hết, sáng ra người ta thấy kinh thành Pari không có người đi! Cái ngày kỷ niệm đau đớn nhất của tôn giáo ở bên Tây phương.

Còn bên đây chúng ta nhìn thấy cái đất nước Campuchia nó giết người đó, chúng ta cũng thấy đau đớn cho Phật giáo. Nhìn những cái trang sử đau đớn như vậy mà chúng ta thấy cái giáo pháp gọi là Từ, Bi, Hỷ, Xả!

(58:09) Từ, Bi, Hỷ, Xả của Phật ở chỗ đó được sao? Con kiến còn không dám giết, cái cọng cỏ không dám dẫm đạp cho nó héo, thế mà cầm gươm, cầm súng mà giết người hàng loạt như vậy! Thấy những cái đống xương sọ người ta là thấy kinh khủng rồi.

Thì các thầy cứ nghĩ coi, một cái đạo Phật mà dạy người ta như vậy có phải là chân chánh không? Có phải hiểu không?

Cho nên Thầy nói thật sự ra, tất cả những cái điều mà các thầy – tại sao mà bên đó Nguyên Thủy mà ăn thịt chúng sanh, mà tu theo đạo Phật mà ngồi đó mà nuốt từng cái miếng thịt chúng sanh được! Cho nên cái hành động giết người nó phải được thôi.

Còn Phật giáo Bắc Tông chúng ta nhờ ảnh hưởng Bà La Môn, chớ nếu mà nguyên gốc chắc cũng ních ba cái cục thịt cũng đầy miệng hết rồi! Nhờ ảnh hưởng Bà La Môn cho nên ăn chay, vì thế nó cũng đỡ, nó không đến đỗi mà giết người như vậy.

Cho nên các thầy cứ nghĩ đi. Nếu mà dân tộc của chúng ta như Campuchia đó, mà cái Phật giáo mà nguyên gốc như vậy đó, chắc chắn là khi mà giải phóng xong mấy ông sĩ quan này nó chặt đầu hết, có không? Nó dẹp sạch hết chớ, nó róc hết, nó róc từ cả trứng nước nữa chớ nó chưa chắc để, nó giết hết cả dòng họ, nó tru di tam tộc hết.

Hồi đó mấy ông biết không? Mấy ông cầm súng của Mỹ, của Tây, mấy ông bắn tụi tui biết bao nhiêu không? Bây giờ mấy ông cứ nhìn theo cái nghĩa trang coi, biết bao nhiêu người của cách mạng chết không? Bây giờ mấy ông chả nhằm nhò gì cái thứ mấy ông, phải không?

Nhưng mà Việt Nam chúng ta không có cái tàn ác như vậy. Nhờ ảnh hưởng Phật giáo của Đại Thừa, biết ăn chay đó, biết niệm Phật Di Đà đó, nó đỡ đó.

Hồi nãy Thầy chê là tại vì niệm Phật Di Đà nó đem đến – nó không có giải thoát thật sự, nhưng ít ra nó cũng còn có thiện hơn là những cái nước mà gọi là Phật giáo Nam Tông.

Bằng chứng đó! Bây giờ lịch sử như vậy chúng ta không có thể nào mà chối cãi được Phật giáo Nam Tông. Ảnh hưởng đó là tôn giáo đó phải chịu trách nhiệm, người mà lãnh đạo Phật giáo ở đó phải chịu trách nhiệm cái điều đó trước Đức Phật.

Đức Phật đâu có dạy mấy ông vậy? Bây giờ mấy ông dạy người ta ăn thịt, ăn cá để cho thấm nhuần ở trong thân tâm của mấy ông thịt cá, để mấy ông cầm gươm, cầm súng, mấy ông giết người, có không?

Mấy ông đừng có chối cãi được! Một người dân của – người thanh niên của đất nước mấy ông là quốc giáo mà, bắt buộc người ta vào tu ở trong đó, để đi ra làm cái chuyện tàn ác đó, thì đó là một cái lên án của mấy ông là đúng chớ không có làm sao mấy ông chối cãi được hết!

4- TÂM NGUYỆN LÀM SÁNG TỎ LẠI PHẬT GIÁO CỦA THẦY

(01:00:35) Đó, vả lại bây giờ thì Thầy sẽ nói thêm một cái phần của cái bài giảng vừa rồi, vì sợ có quý thầy có hiểu lầm qua cái ý của Thầy, khi đó Thầy có so sánh ở chỗ này:

Thầy có nói Thầy sanh ra cũng là từ cái chỗ con người, cũng khóc thét chớ đâu có cười được, cũng trong từ cái chỗ sanh ra của cha mẹ bẩn thỉu mà hôm nay Thầy làm được những cái điều mà cũng khó có người làm.

Nhưng mà đối với Đức Phật thì Thầy đâu có đủ đại thần lực, đại oai lực, đại minh lực được! Đối với Phật thì Thầy còn xa, đối với chúng Thánh Tăng Thầy cũng còn xa, Thầy chỉ có một phần là làm chủ được cái sống chết của mình thôi.

Nghĩa là Thầy bây giờ Thầy muốn sống hồi nào Thầy sống, Thầy chết hồi nào Thầy chết, thì Thầy thấy có bấy nhiêu đó Thầy đủ cái ước vọng của mình rồi. Bởi vì con đường mà tu hành theo đạo Phật, trước cái sống chết mà mình không có ngại nó nữa rồi thì mình thấy được cái chỗ giải thoát rồi.

Và đồng thời mình xét qua cái tâm của mình, nó không còn tham đắm một cái gì trên thế gian này từ cái ăn, cái mặc, từ cái chùa, từ cái tháp, từ cái gì, tất cả mọi cái mình đều xả bỏ được, thì Thầy thấy đây là nó giải thoát rồi.

Thầy không ham tới những cái thần thông, oai lực cũng như các bậc, và Thầy cũng không ước vọng là mình một bậc đạo sư, và cũng không ước mình là một giáo chủ, hay hoặc là ước mình là một người thừa kế Đức Phật, cho nên Thầy thấy được giải thoát là đủ rồi.

Cho nên so với Đức Phật thì Thầy còn cách xa ngàn vạn dặm, mà so với đệ tử của Phật thì Thầy cũng còn cách xa trăm ngàn thước chớ chưa có nhằm nhò gì đối với các bậc Thánh Tăng.

Cho nên đối với Thầy, Thầy chỉ có ước vọng là nhìn các bậc tôn túc tu hành đến khi mà chết quá khổ, còn Thầy bây giờ chắc chắn là lúc nào chết Thầy chắc cũng là tự tại rồi, nó không có đến khổ nữa, Thầy – ước vọng của Thầy nó viên mãn.

Cho nên khi Thầy về thầy Thanh Từ là mục đích của Thầy thứ nhất là gợi lên cái ý để làm cho những người mà người ta bỏ hết cuộc đời người ta tu – để cho thầy Thanh Từ lấy cái chỗ đó đó mà khuyên Thầy nên thực hiện các sức thiền định làm chủ của mình coi cho những vị này người ta thấy, để người ta có cái niềm tin rằng mình có sức làm chủ như vậy.

Nhưng mà thầy Thanh Từ thầy không có hiểu cái điều đó cho nên thầy hỏi qua những công án, mà làm gì mà Thầy không hiểu công án!

Thầy Thanh Từ nói cái gì Thầy không biết ở trong bụng sao mà Thầy không hiểu? Cho nên lời nói để diễn tả cái hiểu của mình qua cái ý của người ta, nhưng mà hiểu hơn cái lời nói đó rồi thì có cái gì mà không hiểu, dù câu gì đi nữa!

Làm sao những cái công án làm sao mà gạt được những người mà tâm nó đã tịnh, người ta đã ly hết thế gian rồi, tâm nó tịnh thì người ta hiểu từng ở trong tâm ý chớ đâu phải người ta hiểu ở ngoài cái lời nói.

(01:03:23) Cho nên thầy Thanh Từ hỏi gì thì Thầy trả lời cái nấy hết, không có gì mà Thầy trả lời không đúng tâm của thầy Thanh Từ. Nếu mà Thầy không hiểu tâm của thầy Thanh Từ thì Thầy trả lời nó sẽ sai, mà Thầy đã hiểu tâm thầy Thanh Từ muốn nói câu đó là thầy Thanh Từ muốn Thầy phải trả lời câu nào cho nó đúng thì Thầy sẽ trả lời ngay câu đó thì đúng ý ông ta liền, có gì đâu!

Còn mấy thầy học hiểu như vậy là nắm được cái mấu chốt nào đó để mò mà trả lời, may nó trúng không may thì thôi, phải không? Đó là các thầy nghĩ rằng mình ngộ được cái công án như vậy, chớ còn Thầy hiểu trong tâm người ta mà trả lời chớ không phải là trả lời bằng cách ở bên ngoài sơ.

Đó là Thầy thấy cái chuyện mà Thầy làm là Thầy muốn là để gây lại cái niềm tin cho người ta biết đó là con đường tu để mà làm chủ sanh tử, có mục đích đó thôi.

Và đồng thời thì khi đó có cái sự yêu cầu của Hòa thượng, thì Thầy ghi lại những cái kinh nghiệm tu hành của Thầy giao cho Hòa thượng, từng đó Thầy thị tịch luôn để cho chúng – bao nhiêu chúng, lúc bấy giờ đông chớ đâu phải ít – bao nhiêu chúng nhìn thấy cái chỗ tự tại của Thầy để cho họ niềm tin, họ biết rằng cái pháp này làm được, từ đó họ sẽ – thầy Thanh Từ thầy sẽ khai triển cái này để giúp cho người ta.

Bây giờ – tới bây giờ đó, mười bảy năm, biết bao nhiêu người làm chủ sanh tử không? Nếu mà họ đã được cái chân pháp rồi, họ tin tưởng được rồi thì bao nhiêu người đã làm chủ sanh tử!

Còn tại sao mà Thầy không tự mình mở ra để mà cho người ta theo mình để làm chủ sanh tử? Làm sao được! Cái kiến chấp của Thiền Tông của họ đầy ắp ở trong đầu, cho nên họ về đây Thầy dạy họ chớ họ không tu đâu, họ không tin đâu, họ tu theo kiểu họ.

Hầu hết là người nào cũng vậy à, suốt mười bảy năm trời Thầy đã thấy cái điều đó quá chừng rồi. Còn cái người mà quyết theo Thầy, nghe lời Thầy tu thì quá ít.

Nói độc cư họ chẳng độc cư gì hết. Họ nói Thiền Đông Độ dạy tự tại đâu có chuyện mà khép ăn ngày một bữa cũng đâu có – hoàn toàn nó rộng rãi quá mà, cho nên hai mươi người họ trong cái thời gian rất ngắn, chừng hai ba tháng là họ đi muốn sạch, còn có hai người à!

Còn hai người là Mật Hạnh với Chơn Tịnh chớ ai, còn bao nhiêu quét đi hết, họ đi bay hết. Đó, rồi Chơn Tịnh sau này cũng bay luôn, ăn với ngủ, ngủ li bì không có chịu khắc phục, không chịu đi kinh hành, lười biếng nằm riết rồi cũng phải đi thôi.

Rồi sống như vậy độc cư không nói chuyện chịu không nổi, rồi đụng ai vô đây gặp mới, gặp cũ gì cũng kéo nhau nói chuyện với nhau hết, do đó làm sao tu hành được! Các thầy thấy trong vấn đề đó làm sao mà nghe lời Thầy dạy không? Mà không nghe lời Thầy dạy thì làm sao mà Thầy dạy được?

Cho nên vì vậy Thầy biết bây giờ đứng ra ngoài cái góc độ của Hòa thượng thì không thể độ ai được, chỉ có Hòa thượng nói là người ta tin. Mà cái chứng nghiệm để cho người ta tin sâu hơn là Thầy phải chứng nghiệm, Thầy phải ra đi.

Cái ra đi của Thầy để chứng minh rằng Thầy tự tại trong cái sự sống chết, để làm cho người ta tin sâu, từ đó Hòa thượng lấy kinh nghiệm đó mà dạy họ thì chắc chắn là bao nhiêu người – cái kiến giải Thiền Đông Độ họ quét sạch ra, họ đâu có thèm tu, phải không?

Họ đi vào con đường giới luật của Phật, từ đó người ta thực hiện được những cái sự giải thoát thật sự của đạo Phật, chừng đó là Hòa thượng đã dựng lại Phật pháp.

(01:06:19) Thầy đâu có cần danh, cần lợi mà Thầy ở đây Thầy dựng, nhưng mà vì Hòa thượng không chấp nhận, cho nên Thầy mới mười bảy năm trời lận đận, Thầy mới ở đây mà chịu nhận quý thầy để khổ sở hết sức Thầy chớ đâu phải!

Bao nhiêu lần khổ cực khổ! Mở ra bốn vị về, công an nó quạt, nó bắt đem ra ngoài khám, nó nhốt ngoài đó một ngày, một đêm. Đâu phải là chuyện dễ! Thầy cũng phải chạy đi lo, Thầy với ông thầy Châu chạy đi lo muốn chết mới ra chớ đâu phải chuyện dễ đâu quý thầy tưởng!

Mà đều là mấy ông già lụm cụm không, chỉ có một chú là Thiện Ngộ còn thanh niên thôi, nó bắt nó nhốt trong cái xô, trời nắng ở trong nhà thiếc mà thấp ủm vầy. Trời ơi! Ông đó ông về ổng hoảng sợ luôn, ông không dám ở, mà đây mà ổng trở về nhà ổng phải là – ở đây cô Út phải đưa đi á, ổng sợ quá sợ rồi! Trời ơi! Vô trong đó ở truồng chứ không có mặc quần áo gì được hết!

Nó như vậy đó. Các thầy biết rằng gian khổ, vất vả, gian khổ chớ không phải được như bây giờ đâu, đến đây nhà nước cho đăng ký đâu. Hồi đó giấy tờ cũng đàng hoàng đến đăng ký rồi bắt đầu mời ra hết, chớ không phải chuyện dễ đâu.

Đó Thầy nói tất cả những – đó lúc bấy giờ là lúc thầy Như Hải mà về đây đó, thầy Như Hải cũng bị nhốt ở ngoải, chớ đừng có nói khỏi!

Đó là những cái mà Thầy thấy rất là gian khổ, mười bảy năm trời tìm ra một người để đem cái chân pháp mình dạy không ai tin hết. Hễ dạy họ căn bản, họ đòi cái gì đâu, họ đòi phải nhập định liền à! Thì thử hỏi dạy làm sao dạy không? Cái bước đầu không đi mà cái bước sau họ đi!

Dạy họ ăn ngày một bữa họ nói: “Thầy cứ dạy ăn với ngủ không, không biết dạy gì hết!” Trời đất ơi! Ăn ngủ mà chưa làm chủ thì biểu làm chủ cái gì bây giờ, Thầy chả biết cái gì nói nữa!

Ăn ngày một bữa không được mà bây giờ còn muốn ăn cái bụng cho nhiều, cho đầy ba bữa thì dục nó sanh ra, ông nội Thầy cũng ngăn nó cũng không được nữa! Nó thấy con gái thì nó nhìn mê miết nó à, bảo Thầy làm sao bây giờ?

Bởi vì mình ăn ít, cái dục mình nó ít, lần lượt cái ngủ nó cũng giảm bớt đi, cái ăn ảnh hưởng nó dữ lắm, cho nên nó mới sanh ra ít có cái dục, từ đó mình mới khắc phục mình lần lần. Cái thân này nó đòi hỏi dữ lắm chớ đâu phải dễ!

Biết như vậy mà nói không ai nghe hết. Khép họ vô ăn họ nói chóng mặt, nhức đầu, ăn vầy làm sao tu, sức khỏe đâu mà tu! Trời ơi họ tu cái gì, Thầy chả biết cái gì hết!

Người ta tu – cái bộ xương người ta – còn cái bộ xương à, mà người ta cái tâm, cái tinh thần của người ta lớn lên. Còn quý thầy ăn uống mập ra mà cái tinh thần của quý thầy như hột cát vậy, đụng đâu là co đó!

Đó cho nên nhìn qua mười bảy năm trời Thầy thấy cả một vấn đề mà độ người chớ không phải. Nếu mà phải người nào đến đây nghe lời Thầy hết thì mười người hai chục người họ đều đạt được hết, thì cái chuyện đó quá dễ rồi.

Bởi vì Thầy biết là cái kiến giải, cái kiến chấp ở trong đầu của họ, họ mang nhiều cái pháp ở trong đó. Người thì mang Tịnh Độ, người thì mang pháp này, kia, phá cái đó không có được, vậy thì độ làm sao độ được!

Thầy nói như vậy thì quý thầy thấy cái nỗi khổ của Thầy ghê gớm lắm! Nhưng mà muốn chấn hưng Phật pháp phải chịu khó ở lại mấy năm trời mới chịu.

Cho đến bây giờ thì Thầy thấy họ vén lên một chút ít, người ta đã thấy được cái con đường, dù đi nữa vẫn bị cái sự cô lập của những cái giáo phái khác chớ đâu phải không.

(01:09:21) Hai cuộn băng mà Thầy đưa ra gần đây nhất là Phật Môn Bảo Huấn với Trở Về Đạo Phật là gợi ý cho Hòa thượng đó. Nghĩa là hai cuộn băng mặc dù Thầy không trao, nhưng mà Thầy gián tiếp trao cho thầy Thông Luận, thầy Thông Luận mới đưa về cho thầy Nhật Quang, thầy Nhật Quang mới đưa về Hòa thượng.

Do đó Hòa thượng nghe hai cuộn băng đó thì Hòa thượng chỉ nói như lời của thầy Thông Giác về nói lại Thầy là: “Người dám ăn dám nói vầy phải có những gì được” thôi, có nhiêu vậy thôi, rồi luôn luôn bưng bít, không bao giờ mà cho một người nào nghe.

Thậm chí như người ta nói như thế này: Nếu mà cho nghe hai cuộn băng này thì nó không ích lợi gì cho quý thầy. Nghĩa là Thầy nói sai mà, cho nên vì vậy nó đâu có ích lợi cho Thầy, các con hiểu không? Cho nên đó là cái lý luận của họ.

Chứ nếu nghe hai cuộn băng này – mà như ở trong cả cái miền Nam mình mà được phổ biến như Chánh Trực mang về miền Bắc mà phổ biến – thì bây giờ cái số người miền Bắc mà hôm nay mà còn ngồi đây được là được nghe những cái lời băng đó, lời băng của Thầy dạy.

Chớ còn nếu mà không có nghe, không có Chánh Trực mà làm điên, làm khùng mà đem về ngoải mà phổ biến thì chắc chắn bây giờ không có người nào mà ngồi đây ở miền Bắc đâu. Bưng bít như ở miền Nam này bưng bít không có cho…​

Bởi vì Thầy nói họ biết đúng là pháp họ không có thể phân tích được, phê bình được cái lời dạy của Thầy, nhưng họ vẫn bưng bít, họ vẫn không có cho người theo đó để mà tu tập, họ tìm mọi cách. Thầy biết rõ điều đó mà.

Cho nên Thầy muốn gợi ý là để không phải là Thầy muốn đoạt cái quyền của mình mà để hướng dẫn đâu. Bởi vì trong cái số đồ chúng như trong các Chiếu nó không phải là người nào cũng tu hết một lượt mà được đâu, nó còn tâm thương, tâm ghét, gia đình này kia, thì những người đó để lần lượt để Hòa thượng hướng dẫn cho họ trên con đường pháp đó.

Còn trong đó một số ít, rất ít là chọn những người mà người ta cắt đứt được gia đình người ta hết. Những người đó chọn đi vào một cái vị trí sâu hơn do Hòa thượng điều khiển, và Thầy chỉ âm thầm ở trong đó làm cái người hướng dẫn, thì có phải đào tạo những con người không?

Nhưng mà Hòa thượng không hiểu điều đó. Thầy đâu có về đó mà Thầy hằng ngày Thầy đi thuyết giảng thay Hòa thượng rồi để cho Hòa thượng làm Thái Thượng Hoàng đó ngồi đâu! Đâu có điều đó đâu.

Hòa thượng còn cái trách nhiệm dạy bao nhiêu cái thứ chúng mà đang – cũng như chúng cư sĩ, cũng như chúng tu sĩ mà đang ở trong cái bắt cá hai tay, thì Hòa thượng sẽ giảng dạy các pháp của Hòa thượng, rồi lần lượt từ đó giúp cho họ lần cái bàn tay của họ đi, đừng có nắm hai tay mà đi vào đạo!

Bởi vì hai tay – rõ ràng là Thầy nói hai tay rõ ràng: Đạo là phải ăn một bữa, đạo không thể ăn ba bữa. Mà cái người nào mà chấp hành được ăn một bữa thì mới khép vào cái chỗ tu hành sâu chớ!

Còn người nào ăn ba bữa thì thôi cứ để họ ăn ba bữa, dạy họ những cái gì với cái tầm vóc, với cái khả năng của họ thì không phải quý sao? Thì không phải giữa thầy trò họp nhau mà xây dựng Phật pháp sao? Đi vào đúng con đường của đạo Phật, từ cái giới hạnh của người ta hiện ra cuộc sống của tu sĩ, ai lại không quý trọng!

(01:12:23) Thì Thầy thử hỏi trong cái đất nước này mà có được cái sự hợp với nhau, mà thầy trò hợp với nhau thì bây giờ Phật giáo – bao nhiêu cái thời gian mà chúng tu hành – thì thử hỏi từ cái ngày mà Thầy về Hòa thượng cách đây mười là bảy năm, nếu mà cái ngày đó mà tới bây giờ Hòa thượng đã đào tạo biết bao nhiêu người không, với cái số người mà tin ở Hòa thượng?

Vì Hòa thượng là những người thuyết giảng dạy về giáo lý họ từ xưa đến giờ, từ hồi Hòa thượng Thiện Hoa lận, thì bây giờ cái số người mà theo Hòa thượng là những người đã học với Hòa thượng. Còn Thầy có giảng dạy cho ai bao giờ đâu, cho nên làm sao họ biết Thầy được mà họ theo, mà họ có tin nổi Thầy không?

Đó là cái đầu tiên mà Thầy về Thầy thị hiện để mà trợ giúp Hòa thượng, nhưng Hòa thượng không hiểu, Hòa thượng bảo Thầy về đọc kinh sách đi, đọc hết đi rồi giúp Hòa thượng.

Giúp Hòa thượng bằng cách đi thuyết giảng như vậy sao? Cho nên Thầy đọc là đọc chớ không bao giờ đi thuyết giảng, mà tìm người để mà dạy cho họ thực hiện cho được, để làm cho Phật pháp sáng tỏ.

Hôm nay vì cuối cùng Thầy thấy cái duyên khó mà có thể hợp tác làm cho sáng tỏ Phật pháp, giúp cho người ta bớt cái thời gian để cho mọi người đạt được cái sự cứu cánh, để uổng cuộc đời của mọi người đang tu ở trên cái hoàn cảnh này, nhưng mà cái duyên mà thôi.

Cho nên Thầy buộc lòng Thầy cuối cùng ẩn bóng là Thầy soạn cái giáo án này ra. Đường lối của đạo Phật như vậy đó, thì các ông tu sai là các ông sẽ bị.

Thầy đập hết, từ Nam Tông, Bắc Tông Thầy quét sạch hết, ai có nghe thì nghe, không nghe thôi. Hoàn toàn là Thầy là người không còn ở trong thế gian này nữa, coi như là ẩn bóng, coi như là Thầy đã thị tịch, cho nên không còn ai gặp được Thầy khi mà giáo án này ra đời.

Rồi ở đây thì các cư sĩ, các tu sĩ thấy đúng thì theo đó mà tu, mà thấy không đúng thì thôi, không có ai ép buộc. Bởi vì Thầy đâu có Tu viện, đâu có cái chỗ nào để cho các thầy theo Thầy đâu, cho nên chẳng ai chống trái Thầy, chẳng ai phạm cái gì hết.

Người ta chỉ biết bây giờ cái giáo án của Thầy viết ra như vậy, rồi sai, rồi đúng thì ai muốn luận sao thì mặc họ. Ai có duyên thì nghe được nó mà nỗ lực đúng từ cái bước đầu mà Thầy đã vạch ra thì họ sẽ đi đến nơi, lấy giới luật của Phật mà làm thầy, nương vào đó mà tu hành.

Cũng như Thầy chưa có ai dạy mà Thầy cũng nương vào giới luật, Thầy sống đúng giới hạnh thì từng đó tâm thanh tịnh, Thầy cũng đạt được thiền định, đâu có gì khó khăn.

Đó, hôm nay Thầy nói như vậy để rồi chúng ta sẽ biết rằng những cái sự mà Thầy nói ra đều là có cái những ý nghĩ, nhưng mà cái ý nghĩ đó nhiều khi người ta không hiểu, người ta tưởng qua một cái góc độ nào, kiến chấp cái góc độ đó, người ta phân tách những cái bài giảng Thầy ra để người ta phỉ báng Thầy, hoặc là người ta làm cho lệch lạc con đường của Phật pháp sau này, thì đó là cái nhân quả của họ, họ sẽ gánh chịu điều đó.

Còn Thầy hoàn toàn với cái tâm rất tốt, không chống trái ai, nói thẳng, nói thật, ai sai là bị thôi, chớ còn không nói người nào.

Bởi vì nhìn chung là Phật giáo hiện giờ chúng ta thấy đã lệch lạc. Từ Nam Tông đến Bắc Tông chớ không phải là riêng có quý thầy ở đây không, mà cả thế giới hiện bây giờ người ta đều chịu ảnh hưởng với một cách lệch lạc như vậy đó.

Thì cái bổn phận và vấn đề của Thầy đã thực hiện được, những cái gì mà làm chủ được, những cái gì giới luật được mà Thầy làm chủ thì Thầy phơi bày ra trên cái trang giấy này, để may ra người có hữu duyên người ta gặp được những cái bổn này mà người ta theo đó mà người ta tu hành, đừng có theo những cái người mà đã làm lệch lạc Phật pháp rồi uổng cuộc đời vô ích.

Đến đây Thầy xin dừng lại những cái trả lời qua những cái ý kiến của quý thầy, và đồng thời chúng ta tiếp tục cái bài học.

5- LY DỤC, LY ÁC PHÁP LÀ MỤC ĐÍCH CỦA TRỤ TRÌ TAM BẢO

(01:15:56) Tín ngưỡng Phật giáo bắt đầu từ tín ngưỡng trụ trì Tam Bảo. Mục đích của tín ngưỡng trụ trì Tam bảo là ly dục, ly bất thiện pháp thể hiện lý thể Tam Bảo.

Đó thì quý thầy thấy: Cái chỗ mà ly dục, ly bất thiện pháp nó là thực hiện cái sự giải thoát thật sự, lìa ra những cái tâm tham muốn của mình, lìa ra những cái ác pháp mà mình đang đầy ắp ở trong đầu óc của mình.

Đó, cho nên cái tín ngưỡng Phật giáo nó bắt đầu từ đó, thế mà người ta lại không có ly cái lòng ham muốn., không ly cái ác pháp, cho nên bàn tay người ta cầm súng, cầm dao mà người ta giết người không gớm tay. Đó là một cái không hiểu – không hiểu cái giáo lý của Phật pháp.

Mà tín ngưỡng của Phật pháp nó bắt đầu từ cái chỗ tín ngưỡng trụ trì Tam Bảo đó, tức là thọ Tam Quy đó, nó xuất khởi ra. Mà xuất khởi ra cái thọ Tam Quy đó, cái tín ngưỡng trụ trì Tam Bảo đó là nó – cái mục đích của nó là ly dục, ly bất thiện pháp, chớ đâu phải là chúng ta biết ông Phật, Phật là Pháp, Tăng để mà phù hộ, gia hộ chúng ta đâu!

Mà chúng ta biết nó để mà chúng ta ly cái lòng ham muốn của chúng ta ra, để mà diệt cái ác pháp trong tâm chúng ta, thì làm sao có cầm gươm, cầm súng, giết người? Đó thì, đó là chúng ta mới thấy rõ được cái lý thể của Tam Bảo, cho nên ly dục, ly bất thiện pháp là thể hiện lý thể Tam Bảo.

Bởi vậy không có trụ trì Tam Bảo thì cũng không làm sao ly dục, ly bất thiện pháp được.

Nghĩa là nếu mà chúng ta không thọ cái Tam Quy này, không có cái trụ trì Tam Bảo này thì cái hình ảnh đó làm sao mà chúng ta biết cách mà chúng ta ly dục, ly bất thiện pháp?

Nghĩa là nhìn ba ngôi Tam Bảo người ta biết đó là những cái bậc ly dục, ly bất thiện pháp, thì do đó nương vào cái chỗ đó mà chúng ta ly dục, ly bất thiện pháp nơi tâm của mình.

Đó thì, như vậy là nếu mà không có trụ trì Tam Bảo thì làm sao có ly dục, ly bất thiện pháp được để thể hiện lý thể Tam Bảo?

Mà không nhận thấy được chỗ ly dục, ly bất thiện pháp là lý thể Tam Bảo thì trụ trì Tam Bảo cũng không làm sao an lập được.

Nếu mà mình ly dục, ly bất thiện pháp không được thì bây giờ cái trụ trì Tam Bảo – bây giờ có chùa, có chiền, có hình tướng, có kinh sách cả đống đi nữa mà không ly dục, ly bất thiện pháp thì không thể nào an lập cái trụ trì Tam Bảo được.

Cho nên hình thức là bây giờ chùa chiền có mà người ta cầm súng, cầm dao, người ta giết được người, đó là người ta không an lập được trụ trì Tam Bảo.

Cho nên bây giờ Thầy kết án những cái loại sư mà không hiểu Phật pháp, để làm cho Phật pháp suy đồi đến đỗi mà Phật pháp trở thành những ác pháp. Giết người ta trong thế gian như thế này, xương máu đổ biết bao nhiêu!

(01:18:30) Mà đó là những nước mà gọi là lấy Phật giáo làm gốc đó, quốc giáo đó. Thì chúng ta thấy cái vấn đề đó là vấn đề đau lòng cho Phật giáo chớ đâu phải là…​

Phật giáo ở tại đất nước đó, gọi là quốc giáo đó, lại là Phật giáo suy đồi nhất. Hình thức thì chúng ta thấy cái trụ trì Tam Bảo thì quá rõ ràng, nhưng mà cái lý thể Tam Bảo thì chẳng có một cái gì hết, cho nên chẳng có ly dục, ly bất thiện pháp.

Cho nên cái hình ảnh Tam Bảo ở chỗ đó thật là máu xương. Trong chùa gì mà thịt, cá vô nghe tanh hết. Thử hỏi coi, cái mùi mà như vậy là cái mùi gì? Mùi sát khí!

Cho nên Hòa thượng Huệ Hưng nói khi mà đi đến cái khu vực của quý sư Nam Tông, nghe cái sát khí, nghe nó lạnh lùng, vô trong cái chùa của mấy ổng nghe mùi thịt bò nè, thịt heo nè, thịt gà, thịt vịt nè. Trời đất!

Mình ăn chay quen rồi vô đó mình chịu không có nổi, mà ngồi với mấy ông đó nghe cái mùi hôi của mấy ổng, nghe heo nè, nghe gà, nghe vịt ở trong đó! Thử một tu sĩ mà như vậy là làm sao?

Chớ mình ăn nó làm sao cái mồ hôi mình không toát ra cái thứ đó? Ăn heo thì nó phải toát ra heo, mà ăn bò nó phải ra hôi bò chớ, chớ làm gì mà không có cái mùi đó được!

Quý vị cứ đi – mấy quý vị ăn tỏi đi, ngồi gần Thầy nghe cái mùi tỏi liền à. Làm sao mùi mồ hôi mấy vị không toát ra, thấm cái gì thì nó ra cái nấy chớ, nó đâu làm sao trật được!

Cho nên tất cả những cái này đều là những cái trụ trì Tam Bảo nó thể hiện mà không đúng cách của nó, nó không ly dục, ly ác pháp thì cái lý thể Tam Bảo không bao giờ có. Cho nên cái mùi hôi của họ là cái mùi hôi của phàm phu tục tử, cái mùi hôi bất tịnh.

Lý thể Tam Bảo là quả của trụ trì Tam Bảo, do thế trụ trì Tam Bảo là nhân.

Đó các thầy thấy: Lý thể Tam Bảo là cái quả, mà cái quả thiện thì nó mới thực hiện cái trụ trì Tam Bảo nó là cái nhân, mà cái nhân thiện thì nó mới có quả thiện, mà cái nhân ác thì nó quả ác.

Ăn thịt chúng sanh thì đó là quả ác, cho nên cái thể hiện trụ trì Tam Bảo của họ như vậy thì cho nên cái lý thể Tam Bảo của họ là phải giết hại chúng sanh, không có thể nào mà họ là Từ, Bi, Hỷ, Xả được.

Cho nên người cư sĩ tại gia phải hiểu rõ điều này thì mới xin thọ Tam Quy. Thọ Tam Quy tức là thọ ba giới đầu tiên của đạo Phật.

Phải hiểu, hiểu rồi mình mới thọ, còn mình không hiểu mình thọ như mù mờ là mình chẳng biết gì hết. Nghe người ta có cái pháp danh thôi cũng xin cái pháp danh đó, thì cái điều đó là cái điều mình chạy theo cái tên, được cái tên đó là coi như là mình tín đồ của Phật rồi. Nhưng mà sự thật nó đâu phải vậy đâu.

Cho nên chúng ta phải hiểu cho rõ như thế nào là trụ trì Tam Bảo, như thế nào là lý thể Tam Bảo. Mà hiểu được như vậy rồi chúng ta mới biết là lý thể Tam Bảo là cái chính của cái nhân trụ trì Tam Bảo, là vì phải ly dục, ly bất thiện pháp nó mới là cái lý chính của nó.

6- TĂNG BẢO LÀ TRỌNG YẾU NHẤT TRONG TAM BẢO

(01:21:33) Ở đây quý thầy phải hiểu: Trong Tam Bảo, Phật Bảo là tôn quý nhất, Pháp Bảo là cao hơn hết, nhưng địa vị Tăng Bảo là trọng yếu hơn hết.

Đó, quý thầy thấy Thầy ở đây Thầy dùng những cái chữ để mà chỉ rõ: Phật Bảo là tôn quý nhất, nhưng Pháp Bảo là cao hơn hết, trái lại Tăng Bảo là trọng yếu hơn hết.

Nó trọng yếu hơn hết, nếu mà – dù là chúng ta tôn quý Phật Bảo và Pháp Bảo có cao hơn hết mà cái Tăng Bảo nó không ra gì, thì tức là nó sẽ làm lệch tất cả những cái Phật Bảo và cái Pháp Bảo hết. Cho nên Tăng Bảo coi vậy chớ trọng yếu lắm chớ không phải thường đâu.

Một vị tăng mà giới luật không nghiêm chỉnh thì đạo Phật sẽ sa đọa, mà một vị tăng mà giới luật nghiêm chỉnh, thiền đức sâu mầu, trí tuệ tuyệt luân thì Phật giáo hưng thịnh.

Dù là trong cái đất nước đó chỉ có một ông thầy thôi cũng là Phật giáo hưng thịnh, mà trong đất nước đó không có một bậc thầy như vậy đó, thì đất nước đó dù có hàng vạn ông thầy đi nữa cũng vẫn là suy đồi.

Bởi vậy sau khi Đức Phật nhập diệt, đạo tràng của Phật giáo phải do Tăng Bảo trụ trì.

Nghĩa là Đức Phật nhập rồi, bây giờ từ cái ngày Đức Phật nhập rồi sau đó thì phải coi như là Tăng Bảo giữ gìn cái riềng mối đó, cho nên Tăng Bảo phải trụ trì ở trong cái đạo tràng đó.

Kinh điển của Phật phải do Tăng Bảo bảo tồn…​

Chỉ có ông tăng mới bảo tồn được cái giáo lý này chớ nếu không có ông tăng thì làm sao ai bảo tồn được giáo lý này. Mà ông tăng bậy bạ thì họ đem đốt ba cái giáo lý thật đi, họ xen ba cái giáo lý tầm bậy vô đó thì chúng ta biết không? Cho nên ông tăng giả là giáo lý cũng bị hư, và Phật Bảo nó bị méo mó hết.

Ông Phật hồi nào cái mặt ra làm sao, bây giờ nó làm mặt ổng như ông búp bê vậy đó, như con búp bê vậy. Thì thử hỏi coi ông Phật như thế nào mà bây giờ nó vẽ ra như vậy đó. Thì nó làm lệch lạc tất cả, từ cái Pháp Bảo, coi là trụ trì Tam Bảo nó vẽ trật hết, nó làm khác hết, nó không có giống chút nào hết.

Rồi tới cái Pháp Bảo thì nó không có bảo vệ, nó muốn như thế nào, nó chạy theo dục lạc thế nào thì nó vẽ ra như thế nấy. Nó muốn ăn thịt chúng sanh thì nó vẽ ra cái nấy nó ăn à. Nó muốn uống rượu thì nó cũng vẽ ra nó uống rượu, nó muốn hút thuốc thì nó cũng vẽ ra hút thuốc, nó muốn làm sao nó vẽ ra, nói Phật dạy vậy, vậy đó.

Nó vẽ ra nó cũng nói ông Phật nói vậy đó. Nó nói: “Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại Xá Vệ quốc…​” – hồi ở tại Xá Vệ quốc thì ông Phật ổng cũng nói vậy, tui giờ tui cũng nói lại vậy chứ tui có thêm bớt sao!

Kinh điển của Phật phải do Tăng Bảo bảo tồn, văn hóa của Phật giáo phải do Tăng Bảo truyền bá, tín đồ của Phật giáo phải do Tăng Bảo tiếp dẫn.

Đó, những người mà bây giờ vào tu thì phải do mấy ông tăng, chớ bây giờ ông Phật ổng tịch rồi còn ai mà nói đâu, còn ai mà dẫn đâu, rồi pháp thì nằm yên đó mấy ổng muốn thay gì thay. Do đó cho nên Tăng Bảo nếu mà chân chính, Tăng Bảo mà đúng cách thì Phật pháp sẽ còn, mà Tăng Bảo mà sai rồi thì Phật pháp sẽ mất.

(01:24:30) Đó thì hôm nay Thầy giảng như vậy, quý thầy phải thấy rõ được cái quan trọng của Tăng Bảo chớ không phải là thường, ba ngôi Tam Bảo là Tăng Bảo là quan trọng.

Cho nên bây giờ chúng ta cứ dựa theo ông thầy mình, ông thầy bảo sao mình làm vậy. Mình làm, làm riết, làm trật hết trơn, hết trọi Phật pháp, đâu có thấy được cái đường sáng suốt của đạo Phật!

Lúc Đức Phật còn tại thế, Phật giáo lấy Đức Phật làm trọng tâm.

Nghĩa là lúc Đức Phật còn sống thì người ta lấy Đức Phật làm trọng tâm, cái gì sai, gì đúng thì người ta cứ hỏi Phật, thì Pháp cũng từ nơi miệng Phật mà lưu xuất ra, Tăng cũng từ nơi cái hành động của Phật mà hòa hợp mà người ta theo đó mà người ta nương vào Đức Phật.

Còn bây giờ thì chúng ta – ông Phật mất rồi thì có Tăng là cái người mà đại diện từ cái hành động, từ cái lời nói, từ những cái điều kiện mà của ông tăng làm ra, đều là người ta tin vào đó.

Mà bây giờ ông tăng nói bậy nói bạ người ta cũng nghe, mà nói đúng thì người ta cũng nghe, mà ông tăng nói đúng bây giờ chúng ta thấy có đúng không? Ông nào cũng nói trên trời, dưới đất không à, mà sống thì sống y như thế gian, hưởng thụ thì hưởng thụ dục lạc của thế gian, chớ có ông thầy nào mà gọi là sống đúng như Phật ngày xưa không?

Còn ngày nay nói tín ngưỡng của Phật giáo phải lấy Tăng Bảo làm chỗ quy y cung kính Tam Bảo, phải cung kính Tăng Bảo.

Nghĩa là bây giờ chúng ta lấy Tăng Bảo làm chỗ quy y của chúng ta, cung kính Tăng Bảo, lấy Tăng Bảo…​ Bây giờ Thầy đọc lại chỗ này:

Còn ngày nay nói tín ngưỡng của Phật giáo phải lấy Tăng Bảo làm chỗ quy y…​ (Mất tiếng)

Đó thì mình phải cung kính Tăng Bảo. Mà bây giờ mấy quý thầy, quý vị Tăng Bảo của chúng ta có đáng cung kính không? Ông nào bây giờ làm sao mà chúng ta cung kính được.

Mà cái hình ảnh đó bây giờ chúng ta cung kính các Thánh Tăng thời Đức Phật, thì mấy ông này nhập diệt mất rồi còn đâu mà làm cái gương cho chúng ta nữa, chỉ là chúng ta đọc lại những cái mẩu chuyện của các ngài rồi chúng ta nương theo như vậy chớ thiệt ra nó không có hình ảnh sống động.

Còn các vị tăng, các thầy của chúng ta bây giờ là cái hình ảnh sống động, mà sống động là sống động phá giới, phạm giới, làm sao mà chúng ta cung kính mấy ông đó được, mà bắt buộc chúng ta cứ đảnh lễ mấy ổng hoài à!

Đến lạy mấy ông đó, mà mấy ông đó ổng có sống hơn mình không? Ổng ăn cũng ngày ba bữa nè, cũng ỉa đái cũng hôi thúi như mình nè, chớ ổng có ỉa đái ra vàng bạc đâu mà bắt mình phải cung kính ổng hoài à!

Mà ổng thì coi bộ sống sung sướng hơn mình, mình thì làm lụng cực khổ hơn ổng. Ổng ngồi không ổng ăn ổng mập bự ra vầy, còn mình thì ốm nhom, ốm nhách, mần gần chết!

Mỗi ngày, mỗi tháng gì cũng dành dụm, gia đình phải chèn xén cái ngân quỹ gia đình của mình để dành dụm để đến cái ngày nào đó đi nghe thuyết pháp cúng ổng đi, đặng cho ổng ngồi đó ổng thuyết pháp cho mình nghe, đặng cho mình biết được Phật pháp, chớ còn không khéo…​

Nhưng mà cái gương hạnh của ổng có xứng đáng cho mình đảnh lễ không? Cuối cùng mình cứ đảnh lễ hoài mà rốt cuộc rồi cái đời của mình tới chừng đó nó cũng đọa địa ngục chớ đâu ổng có rước mình được!

Chính ổng, ổng cứu không được ổng. Cho đến cái ngày mà giờ ổng sắp chết, ổng nhăn răng, méo miệng, ổng chẳng làm sao được cái gì hết, thì ổng cứu ổng không được làm sao ổng cứu mình được? Mà mình đảnh lễ mong nhờ ổng sau khi mình có chết thì nhờ ổng cứu, thế mà ổng có cứu gì được đâu!

(01:27:32) Đó thì quý thầy thấy cái điều mà chúng ta lầm lạc, chúng ta lẫn lộn mà đến khi mà chúng ta chết đi chúng ta mới thấy cái sự lẫn lộn đó. Mà thậm chí như chúng ta cũng chưa hiểu nữa. Nó hướng đi cái hướng mà sai lệch như vậy, cuối cùng thì đời sống của chúng ta chẳng ra gì hết! Uổng cái đời của chúng ta, bị người ta gạt mà không thấy.

Trong hàng ngũ tăng sĩ hẳn có rồng, rắn lẫn lộn, rồng thì ít mà rắn thì nhiều, cho nên chúng ta quy y phải chọn rồng đừng chọn rắn.

Chúng ta muốn quy y ông thầy thì chúng ta phải chọn rồng, nhưng mà hầu như bây giờ rắn nó nhiều, mà rồng ở chung thì rắn cắn hết làm sao, phải không? Cho nên rồng nó phải chui trong rừng, trong núi hay hoặc nó xuống biển nó ở chớ, nó dám ở chung với mấy con rắn này sao? Nó cắn đầu hết! Rắn thì nó có nọc độc, còn rồng thì nó đâu có nọc, phải không?

Cho nên bây giờ mình kiếm tìm rồng mà mình đi quy y đâu phải chuyện dễ đâu, không phải dễ đâu, rắn không à! Rồng mà đâu có ở chung với rắn được. Đó là một cái điều mà thực tế như vậy, không có thể nào mà chúng ta lẫn lộn ở trong đó mà nói rồng rắn ở chung nhau được đâu, không có được!

Thử quý thầy bây giờ ăn ngày một bữa đi, quý thầy lại chùa người ta đi, quý thầy ở đi, họ cho ở lun á! Cho nên rồng, rắn đâu có ở chung nhau được. Ông ăn kiểu đó Phật tử nhìn tui bằng nửa con mắt rồi!

Có một câu kinh trong kinh Đại Thừa dạy: “Tỳ Kheo phá giới vẫn có đủ tư cách làm thầy trời, người.”

Trời ơi! Ở trong kinh Đại Thừa nó dạy câu này Thầy mắc giật mình chớ! Cái ông thầy Tỳ Kheo mà phá giới có đủ tư cách làm thầy trời, người! Trời ơi! Ai tin mà làm thầy trời, người đây!

Bởi vì chỉ có những trời, người ngu si họ mới đảnh lễ mấy cái ông thầy đó chớ còn ai mà đảnh lễ đâu mà làm thầy trời, người được? Bởi vậy, người ngu si thì cái miệng của ông thầy phá giới họ nói nghe hay quá, cho nên họ ngồi hút thuốc vẫn là nghe họ thuyết giảng chớ!

Lẽ ra thấy ông thầy mà phạm giới, mà ngồi một hơi cái lấy điếu thuốc vầy, thuốc cán rồi kẹp hút thuốc rồi phà phà hai ba hơi cái bắt đầu cái thuyết giảng nữa, như vậy thì thôi đi về đi còn ngồi đó. Ông thầy như vậy đó mà ngồi nghe thuyết pháp thì Thầy chẳng biết ra làm sao hết!

Một hơi thì uống một ly nước chanh, hơi thì uống ly nước đường, hay hoặc là coca đồ uống để giải lao đặng thuyết pháp, thế mà chổng khu nhau ngồi cả đám mà nghe!

Quỷ nó ngồi nó thuyết pháp đó chớ cái gì? Phạm giới, phá giới đủ cách, mà ngu si mà ngồi đó mà lắng tai mà nghe! Bài kinh họ nói cái gì? Họ nói cái kiểu ăn, kiểu uống đó chớ nói cái gì! Kiểu phá giới đó.

“Tỳ Kheo phá giới vẫn đủ tư cách làm thầy trời, người.”

Nghe câu kinh này Thầy phát lạnh xương sống Thầy!

(01:30:17) Như Đức Phật mới có thể làm thầy trời, người được là có đủ ba oai lực.

Còn nếu mà đủ có cái oai lực không thì chưa đủ. Tại sao mà Đức Phật nói đại oai lực, đại thần lực, đại minh lực?

Đại oai lực là cái gì các thầy biết không? Là giới hạnh đó, oai nghi tế hạnh, chữ “oai” đây là oai nghi tế hạnh. Một người tu sĩ mà oai nghi tế hạnh ra đường người ta đi, người ta ngó xuống đất, người ta không ngó qua, ngó lại, cái bước đi của người ta nó nhẹ nhàng, nó thanh thoát, đó là cái oai nghi của người ta.

Còn cái đại thần lực của người ta là cái gì? Là thiền định của người ta. Còn đại minh lực là cái trí tuệ của người ta. Cho nên đó là ba cái thần lực đó đó, ba cái đại oai lực đó nó mới xứng đáng là thầy trời, người.

Còn cái ông này ổng phá giới, ở trong này câu kinh nói: “Vị Tỳ Kheo mà phá giới vẫn đủ tư cách làm thầy trời, người”, ờ trong kinh nói rõ ràng như vậy đó. Thầy viết ra cái câu này rất rõ mà để cho quý thầy thấy mà. Họ luận như vậy đó: Đủ là thầy trời, người!

Ông trời ổng thấy ông thầy mà ăn phi thời, ổng đứng ở trên mây không dám xuống. Bởi vì ông trời ổng đâu có ăn phi thời kiểu đó, mà ổng dám lại gần cái ông thầy mà ăn phi thời thì ổng đứng ở trên chớ ổng đâu dám.

Trời nó bất tịnh, cái mùi hôi của ổng nó xuất lên, gặp mấy ông thầy Nam Tông đó, cái hơi thịt, hơi thịt bò, hơi thịt heo, thịt gà nó bay lên, ổng ở trển ổng còn ngộp ổng nữa chớ! Bởi vì ổng đâu có ham cái thứ đó, cho nên mấy ông trời đâu dám đến để mà mấy ông đó làm thầy mấy ổng.

Đó thì, Thầy nói như vậy các con biết rằng: Khi mà cái thân của chúng ta không thanh tịnh thì nó bốc ra những cái mùi thúi chớ không có cái mùi gì thơm đâu.

Bởi vì người phàm phu chúng ta cái lỗ mũi nó không có thính đâu, người ta trét dầu thơm vô cái: “Trời! Ông thầy ổng thơm quá!” Chớ không ngờ là ổng đem ba cái xà bông thơm ổng giặt quần áo ổng, có cái gì đâu! Còn cái thân của ổng thì ba ngày đau mà không đi tắm coi, quý vị có lại gần chịu nổi không? Đâu có chịu nổi được cái mùi hôi đó.

(01:32:18) Tam Bảo là nền tảng của niềm tin sâu vào thiện pháp của Phật.

Đó thì hôm nay đó thì quý thầy thấy rằng Tam Bảo là cái nền tảng của niềm tin làm cho chúng ta tin sâu vào thiện pháp của Phật, để chúng ta trau dồi cái thân tâm của chúng ta.

Do đó vì vậy mà Tam Bảo là cái gương hạnh sống của người tu sĩ đạo Phật, lấy Tam Bảo là ba cái giới đầu tiên, nó là cái gương hạnh sống cho chúng ta tu theo đạo Phật.

Cho nên từ đó, chúng ta trau dồi tâm mình ở trong thiện pháp, nó mới từ cái gương hạnh đó chúng ta mới trau dồi cái thiện pháp, chúng ta mới ly dục, ly bất thiện pháp được chớ!

Bộ muốn nó ly là nó ly sao? Đâu phải chuyện dễ. Bây giờ ăn ba bữa rồi muốn ăn một bữa, đâu phải chuyện nhào vô cái nuốt một bữa được sao?

Nó phải trau dồi, phải tập luyện, phải khắc phục mình, phải nhắc nhở như thế nào, để khi nó đói, nó mệt thì lúc bấy giờ mình phải có pháp mình nhắc nhở nó mới không thấy đói, thấy mệt chớ!

Đó là sự trau dồi. Còn khi không mà nhảy vô ăn một bữa ông nào cũng lắc lưỡi le đầu hết chớ đâu có làm sao mà chịu nổi!

Cho nên sau khi bước lên nền tảng để vào cửa Phật thì cũng chẳng được rời bỏ nền tảng này.

Nghĩa là bây giờ mình có tu tới đâu thì cái nền tảng Tam Quy cũng không bao giờ mình rời bỏ được nó.

Bởi vì nó là cuộc sống hàng ngày của tu sĩ. Dù cho chúng ta có chứng đạo quả cao siêu thì nền tảng Tam Quy này càng ngày càng rõ nét qua những oai nghi tế hạnh…​

Nghĩa là chúng ta có chứng đến cái mức độ nào, có đủ ba cái oai lực đi nữa, thì cái oai nghi tế hạnh này hàng ngày nó phải rõ nét ở trong Tam Quy.

…​ y như ba ngôi Tam Bảo.

Nghĩa là lúc nào nó cũng phải thực hiện đúng như là cái giới đầu tiên là Tam Quy đó, phải rõ nét ra, cái hành động sống, cái cử chỉ, cái lời nói của chúng ta nó phải rõ nét ra, nó không có bao giờ mà lệch lạc được.

Tam Quy là viên đá đầu tiên kiến trúc đạo nghiệp thiện.

Chúng ta thấy Tam Quy là ba cái giới đầu tiên, nó là những cái viên đá mà nó xây dựng cái tòa nhà đạo nghiệp thiện của chúng ta, chớ đâu phải nó là cái gì khác hơn hết!

Có thành tựu công trình kiến trúc vĩ đại thì viên đá này là viên đá đứng đầu trong các viên đá khác.

Đó, bây giờ cho tới 348 giới đi nữa thì đó là những cái viên đá khác để cho xây dựng cái tòa nhà. Những cái viên đá đầu tiên này để xây dựng cái tòa nhà thiện pháp của chúng ta, chớ đâu có cái pháp môn nào ngoài là giới luật này, ngoài là những cấp bậc tu hành giới luật này đâu!

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 45)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.