ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giáo án 16 – Chánh niệm tỉnh thức – Định vô lậu – Tổng kết giai đoạn 1

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giáo án 16 – Chánh niệm tỉnh thức – Định vô lậu – Tổng kết giai đoạn 1

A A A

GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 16

CHÁNH NIỆM TỈNH THỨC – ĐỊNH VÔ LẬU – TỔNG KẾT GIAI ĐOẠN 1

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 1997

Thời lượng: [01:23:55]

 

1- HIỂU ĐÚNG CHÁNH PHÁP MỚI THOÁT KHỎI VÔ MINH

(00:00) Để chấm dứt bài Tứ Chánh Cần Thầy xin đọc lại một bài kệ của Đức Phật:

Đây bây giờ, tới đây là mình tham, sân, si – mười cái pháp ác rồi, thì mình đã chấm dứt tới cái si là mình chấm dứt rồi, cho nên phải đọc lại một cái bài kệ của Đức Phật để chúng ta thấy được, tóm lại cái ý của nó như thế nào.

Đây bài kệ của Đức Phật đây:

Ai phản lại Chánh Pháp,

Đó, bây giờ mình hiểu được cái chánh cái tà rồi, cái ác cái thiện rồi, mà nếu mình còn phản lại thì tức là một cái tội rất lớn.

Ai phản lại Chánh Pháp,

Tham, sân, si, nuôi lớn

Thanh danh bị sứt mẻ

Nghĩa là biết rồi mà mình còn phạm phải thì coi như cái con người của mình nó bị sứt mẻ, nó không còn.

Như trăng khuyết đêm đen.

Trăng mà khuyết mà đêm đen nữa thì các con biết, các thầy biết rằng: Cái trăng nó khuyết nó nhỏ xíu vầy thì ánh sáng nó đâu có, mà đêm đen nữa, thì nó mờ tối vô cùng lận!

Người mà phản lại các Chánh Pháp này, phản lại các pháp thiện, thì tham, sân nuôi lớn, thì thanh danh bị sứt mẻ như trăng khuyết đêm đen.

Ai không phản Chánh Pháp

Tham, sân, si đoạn dứt

Thanh danh được tròn đủ

Như trăng tròn mười sáu.

Đó, thì quý thầy thấy bài kệ của Đức Phật, nếu mà chúng ta đi vào Chánh Pháp thì tham, sân, si ba cái pháp ác này đoạn dứt, thì bảy cái pháp ác kia nó sẽ cũng mất đi.

Do đó chúng ta sống như trăng tròn mười sáu, tròn đầy, không có thiếu khuyết một chỗ nào nữa hết. Trăng rằm nó còn khuyết một chút, chớ trăng mười sáu thì nó tròn thiệt tròn, không có còn thiếu chỗ nào nữa, tức là giải thoát hoàn toàn.

Chánh Pháp giúp cho quý thầy thấu rõ chân lý của đời người, đó gọi là Minh.

Các thầy không rõ Chánh Pháp nên không thấy chân lý đời là ác pháp, là khổ đau, nên phóng tâm chạy theo vật chất, ham muốn thế gian pháp, cái không hiểu này gọi là Vô Minh.

Đó mình chạy theo ham muốn như vậy, cái đó là cái Vô Minh. Còn cái mình hiểu đúng Chánh Pháp thì đó là cái Minh.

Do không hiểu nên lầm chấp ác pháp là thiện pháp. Do không hiểu, tưởng đời sống con người là hạnh phúc, nào ngờ là khổ đau, là không hạnh phúc.

Người đời vì lầm nên xây dựng an vui hạnh phúc trên một mảnh đất vô thường, không vững chắc, thay đổi liên tục không dừng nghỉ, vì thế công trình kiến tạo và xây dựng hạnh phúc, an lạc cho nhân loại là một công trình dã tràng.

Đó thì, các thầy thấy người ta phát minh cái này cái kia để người ta đem lại hạnh phúc cho con người chớ gì? Nhưng mà càng phát minh càng đem lại cái sự đau khổ cho con người càng nhiều.

Đó là chúng ta xây dựng trên cái mảnh đất vô thường, mọi vật đều vô thường mà người ta nghĩ đó là thường, người ta lầm chấp, cho nên người ta càng cố gắng xây dựng lên thì càng đem lại nỗi khổ cho nhân loại.

Càng xây dựng văn minh thì lại con người càng khổ bấy nhiêu, chỉ vì do họ xây dựng ngọn mà không xây dựng gốc. Do Vô Minh này mà loài người trên hành tinh này không lúc nào được hòa bình, chỗ này không chiến tranh thì chỗ khác chiến tranh.

Đó, càng khoa học, càng máy móc, càng tinh vi thì chúng ta thấy trên thế giới luôn lúc nào cũng có nước chiến tranh chớ không bao giờ hết. Tưởng là đem lại phục vụ cho nhân loại, cho con người được thanh bình, được an vui, được thương nhau, cuối cùng họ vẫn giết chóc nhau.

Họ vẫn tìm mọi cách – về quân sự thì họ cũng tìm mọi cách bằng súng đạn, mà về kinh tế thì họ cũng tìm mọi cách để hại các cơ xưởng, các công trình của kẻ khác, để làm cho suy sụp kinh tế của kẻ khác xuống.

Đó là những cái hậu quả của sự văn minh, của những sự tiến bộ mà xây dựng trên cái ngọn mà không xây dựng ở trên cái gốc. Vì xây dựng trên cái ngọn là xây dựng trên mảnh đất vô thường, trên các vật vô thường thì làm sao mà có sự hạnh phúc, an vui vĩnh cửu được?

2- HỶ LẠC CỦA PHÀM PHU LÀ ÁC PHÁP ĐƯA ĐẾN ĐAU KHỔ

(03:57) Vì hỷ lạc của cuộc đời nên người ta mê mệt, đắm đuối theo nó, do đó Đức Phật có phân tích cho chúng ta biết có bốn loại đam mê hỷ lạc thấp kém hạ liệt, thuộc về những phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không có lợi ích, không có hướng đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết Bàn.

Nghĩa là vì có những cái sự hỷ lạc của cuộc đời, tức là cái sự làm cho chúng ta thích thú đó, làm chúng ta khả ái, khả hỷ đó, cho nên con người mới đắm đuối, mê si, mới đắm đuối nó, chạy theo nó.

Do cái sự mê si đắm đuối chạy theo nó, thì Đức Phật là một người giác ngộ cho nên Ngài thấy được, Ngài phân tích cho chúng ta biết có bốn loại đam mê hỷ lạc thấp kém này, nó hạ liệt, nó làm cho chúng ta không có viễn ly, không có hướng đến cái sự yểm ly, vô tham, tịch diệt được, an tịnh được, cho nên càng lúc càng khổ.

Đó thì, trong khi mọi con người đang xây dựng cái hạnh phúc cho con người lại là đưa con người vào cái chỗ mà chạy theo những cái hỷ lạc của cuộc đời, mê mệt nó, đắm đuối nó.

Đây, quý thầy sẽ nghe cái lời của Phật dạy, và quý thầy sẽ thấy rằng những cái sự ngu si của chúng ta để xây dựng những cái đau khổ đó.

Này quý thầy, quý thầy có thấy chăng: Có hạng người ngu si, sau khi giết hại chúng sanh, ăn thịt chúng sanh, tự mình sung sướng, hoan hỷ, thích thú. Đó là hỷ lạc thứ nhất.

Các thầy thấy rõ không? Ngay bây giờ có nhiều người họ bắt gà, bắt vịt họ mần thịt đi, họ giết đi, phải không? Họ thích thú rồi đó, thích thú ngay cái sự giết rồi.

Rồi họ ăn thịt chúng sanh, lại ngon nữa, họ nói: “Chà bữa ăn nay rất ngon! Vợ chồng mình bữa nay làm cái bữa nay, trời! Ăn thích quá! Mai mốt có dịp làm nữa, ăn nữa!” Có phải thích không? Nếu không thích thì làm sao!

Đó là Đức Phật phân tích cho chúng ta, đó là cái giết hại chúng sanh, ăn thịt chúng sanh, đó là cái hỷ lạc thứ nhất. Đó, Đức Phật phân tích cho chúng ta thấy rõ mà, đó là cái hỷ lạc của cái dục đó, thứ nhất đó.

(06:02) Này các thầy, các thầy có thấy chăng: Có người sau khi lấy của không cho hoặc trộm cướp của người, tự mình sung sướng, hoan hỷ, thích thú. Đó là hỷ lạc thứ hai.

Có không? Thằng ăn trộm nào mà lấy xe đạp hay xe Honda người ta về bán lấy tiền, nó mua quần, mua áo, mua đồ đạc, mua ăn uống cho vợ con, nó thích thú lắm chớ, nó đâu có nghĩ rằng người ta mất của người ta khổ đâu! Nó sung sướng lắm: “Trời ơi! bữa nay mình làm cái này, một vố này là cả tháng mình khỏi đi!” Có phải thích không?

Đó là những cái sự đó đó, đó là Đức Phật cho chúng ta thấy đó là sự thích thú thứ hai, hỷ lạc thứ hai của con người của chúng ta.

Này quý thầy, quý thầy có thấy chăng: Có người sau khi nói láo gạt người, tự mình sung sướng, hoan hỷ. Đó là hỷ lạc thứ ba.

Có không? Nói láo người ta, gạt người ta được cái về cười hỉ hả sung sướng lắm, đó không phải là thích thú sao? Đó là cái hỷ lạc thứ ba.

Hoặc là mình nói xấu người, hoặc là mình nạt nộ người làm cho người ta sợ hãi, mình về mình thích thú: “Hồi nãy tao nạt một tiếng, trời! Nó run bây bẩy, tao thấy khoái!” Phải không?

Các con thấy cái điều đó là một cái bằng chứng cụ thể mà ông Phật ổng nói, Thầy thấy rất có, không có cái gì mà sai hết.

Còn ghét cái người nào đó mình nói xấu, mình đặt điều mình nói xấu người đó. Mình thấy cái người đó ngồi khóc lu bù, bởi vì họ không có xấu mà nghe người ta nói mình vậy, tức quá thành ra khóc lu bù. Thì lúc bấy giờ mình thích lắm, thấy người đó rầu rỉ khóc lóc vậy, mình khoái lắm.

Đó không phải là cái hỷ lạc sao? Đó là cái hỷ lạc thứ ba của họ đó.

Này quý thầy, quý thầy có thấy chăng: Người say đắm, đam mê vây quanh năm thứ dục lạc: Sắc, Danh, Lợi, Thực, Thùy.

Nghĩa là bây giờ chúng ta nhìn chung, chúng ta sẽ thấy này: Sắc là nữ sắc này phải không, là sắc dục đó; Danh là làm ông này bà kia, ông lớn bà nọ đó; Lợi là tiền của, ăn ngon; ngủ – muốn ngủ hồi nào ngủ đó. Đó là người ta vây quanh năm cái thứ dục lạc này.

Do đó nó có những cái hỷ lạc, mà cái hỷ lạc đó Đức Phật gọi là hỷ lạc thứ tư.

Ở trên kia thì nó những cái hỷ lạc – chúng ta thấy những cái hỷ lạc đó nó nằm ở trong những cái ác pháp thật, nhưng mà nó có thật sự đó. Rồi đến năm cái thứ dục lạc này mà họ vây quanh thì chúng ta có thấy họ hỷ lạc không? Họ khoái lắm chớ, làm sao mà không khoái cái điều này?

Ăn miếng ngon là mình thấy thích rồi thì tức là nó đã có hỷ lạc thứ tư rồi! Rồi mình ngủ, mình ngủ mình lười biếng li bì đó, mình nằm mình vật tới vật lui đó, thì đó cũng là cái hỷ lạc của cái thứ ngủ rồi. Có tiền nhiều thì mình cũng thấy vui. Có danh là ông lớn thì cũng thấy thích đó, thì đó là dục lạc rồi. Có sắc đẹp, nữ sắc thì lại thích thú. Thì do đó tất cả những cái này đều là cái hỷ lạc thứ tư.

Đó, ông Phật ổng nói Thầy thấy không có sai cái chỗ nào hết. Do chỗ mà hỷ lạc đó đó mà người ta không bỏ cuộc đời, người ta không dứt ra cuộc đời được. Mà mình là người hiểu biết thì các thầy có dứt được không? Phải dứt đi chớ, mình đã hiểu Phật dạy quá rõ rồi!

Thầy đã dạy đây thì chắc chắn là không còn thiếu cái chỗ nào hết, mà không còn thiếu thì mình thấy đó là khổ hay vui? Cái đó là vui giả, vui không thật đâu, mà chúng ta hãy tìm cái vui chân thật. Còn về cái phần tu hành chúng ta có cái hỷ lạc không? Có chớ, sao lại không! Phật cũng có dạy chúng ta biết chớ.

Bởi vì nói đến cái này – nói cái bài học này, tại vì nó dài dòng là vì phải nói cho đủ, nói cho quý thầy để hiểu được cái giáo án của nó, cái hướng nào cho nó rõ hướng nấy. Cho nên tuy rằng nói cái giai đoạn thứ nhất, chứ sự thật ra thì quý thầy thấy nó thông suốt gần như là chúng ta đã hiểu cái con đường đi của đạo Phật.

Đây là bốn thứ hỷ lạc phàm phu đầy đau khổ và tội ác.

Chắc đến đây quý thầy rõ lộ trình thế gian pháp là say mê chìm đắm ở trong bốn thứ hỷ lạc đê tiện, thấp hèn, hạ liệt, thuộc về hạng phàm phu, không xứng với Thánh hạnh.

Đó là những cái hỷ lạc ở trên đó, mà Thầy đã kể ra rồi đó, thì đó là những cái hỷ lạc của tội lỗi mà quý thầy đã nhận ra rồi.

3- HỶ LẠC CỦA BẬC THÁNH LÀ THIỆN PHÁP ĐƯA ĐẾN GIẢI THOÁT

(09:50) Này quý thầy!

Có bốn loại hỷ lạc nhất định đưa đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết Bàn.

Đây bây giờ nó bốn cái thứ hỷ lạc, mà cái lộ trình thứ hai mà chúng ta sẽ bước vào đây.

Bây giờ, bên kia nó hỷ lạc như vậy, nó đem đến đau khổ mà nó không được cái an tịnh cho cuộc đời chúng ta, nó là như cái bóng chớ không phải là cái miếng mồi thật. Còn đây bốn cái hỷ lạc này là cái thật đưa đến chúng ta giác ngộ và Niết Bàn, tâm hồn được an tịnh.

Vậy bốn loại hỷ lạc này là gì?

Đây chúng ta phải xét coi cái hỷ lạc này nó thuộc nằm ở chỗ nào đây, để mà chúng ta tìm lấy cái hỷ lạc của pháp giải thoát chớ? Nếu mà không chúng ta cứ chạy theo pháp hỷ lạc của dục không thì…​

Như vậy là bây giờ chúng ta tu, mà chúng ta không có hỷ lạc thì chúng ta tu cái gì đây? Ít ra nó cũng phải đem cho chúng ta có một cái gì thích để mà chúng ta tiến tới con đường giải thoát chớ! Chớ nếu mà tu mà quá khổ, luôn luôn bị hành hạ không thì chúng ta làm sao chúng ta ham tu?

Cho nên Đức Phật cũng phân tích cho chúng ta thấy có bốn loại hỷ để mà chúng ta thực hiện trên con đường tu, làm chúng ta thấy an ổn, làm chúng ta thích, làm chúng ta tiến bước trên con đường. Dù là con đường rất khổ nhưng nó có những cái an ủi cho chúng ta, làm chúng ta tiến tới mà chúng ta không có lùi bước.

Bốn loại hỷ này là gì?

1. Các thầy ly dục, ly ác pháp, chứng và trú Sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có Tầm có Tứ, đó là hỷ lạc thứ nhất.

Đó quý thầy thấy chưa? Dục chạy theo ác pháp thì nó sanh ra những cái hỷ lạc đó, bốn cái hỷ lạc trên. Còn bây giờ ở đây mình đi ngược lại, mình đi ngược lại thì nó cũng có sanh hỷ lạc cho mình.

Đó thì, có những cái hỷ lạc nó khác hơn cái hỷ lạc kia rất nhiều. Và nó tuyệt diệu hơn rất nhiều, là vì nó đưa đến cái tâm hồn mình an tịnh và thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn, tịch diệt; nó làm cho tâm vô tham, vô sân, vô si; nó làm cho mình không có khổ nữa. Cái hỷ lạc này nó làm cho mình không khổ nữa.

Cho nên do đó mình phải ly dục, ly ác pháp để chứng trú Sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh. Đó thì, đó là hỷ lạc thứ nhất của con đường tu tập của chúng ta, tức là lộ trình thứ hai đó.

(12:07) Vậy thì bây giờ về nói hỷ lạc thì Đức Phật nói có cái định gọi là Hiện Tại An Lạc Trú đó – an lạc – cho nên nó có cái lạc ở trong đó đó. Mà cái lạc đó là nó chứng qua trong bốn cái lạc này đây.

Đó là cái hỷ lạc thứ nhất.

2. Quý thầy tịnh chỉ Tầm, Tứ…​

Tịnh chỉ tức là ngưng lại, ngưng cho Tầm với Tứ nó không còn có nữa đó.

…​ chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không Tầm, không Tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Đó là hỷ lạc thứ hai.

Đó rõ ràng, thấy không? Quý thầy thấy định sanh cái hỷ lạc. Nó không giống như cái ly dục sanh hồi nãy, mà đây là cái định sanh, cái trạng thái định sanh này, cái hỷ lạc này nó có khác hơn, nhưng nó cũng không phải khác xa cái chỗ ly dục đó đâu.

Bởi vì ly dục là tâm thanh tịnh, mà cái nhất tâm này nó không Tầm không Tứ thì nó cũng là thanh tịnh. Cho nên nó không khác xa, nhưng mà nó sâu hơn, nó nhiều hơn. Đó.

3. Quý thầy lìa xa các trạng thái tưởng…​

Bây giờ đó, mình tới cái hỷ lạc thứ ba đó, thì quý thầy xa tất cả các trạng thái tưởng, xa cho đến khi mà xa cái giấc mộng chiêm bao của quý thầy luôn nữa. Đó.

Quý thầy lìa xa các trạng thái tưởng, trú ở hơi thở, ly sạch sáu cái loại tưởng, chứng và an trú Thiền thứ ba. Đó là hỷ lạc thứ ba.

Phải không? Ở trong kinh thì Phật nói ly hỷ, trú xả, chứng Thiền thứ ba, còn Thầy thì ở đây Thầy nói một cách rõ ràng hơn để cho chúng ta nhận ra được là do chúng ta lìa xa các cái trạng thái tưởng.

Bởi vì lúc này là cái ý thức chúng ta bị diệt Tầm Tứ rồi, cho nên ý thức nó ngưng rồi, cho nên cái tưởng thức nó hoạt động. Do tưởng thức nó hoạt động mới sanh ra những cái trạng thái nó làm chúng ta thích, vui, cho nên gọi là hỷ đó: Có cái này xảy ra, có kia xảy ra chúng ta vui.

Cho nên, thí dụ thấy hào quang, thấy bay bổng lên trời, thấy mình có thiên nhãn, thần nhãn, do đó mình thấy cái đó, nó làm cho mình thích thú, mình thích thú tức là vui. Vui cho nên Phật nói ly hỷ.

Còn nếu – đó Thầy nói tận cái gốc, còn Phật nói là cái trạng thái vui. Nhưng mà cái gì làm cho chúng ta vui? Nó phải có cái vui. Còn ở đây Thầy nói cái trạng thái làm cho chúng ta vui mà không nói hỷ, nhưng mà nói cái trạng thái đó.

Cho nên chúng ta phải lìa tất cả những cái trạng thái mà xảy ra cho chúng ta vui đó, thì do đó chúng ta gọi là ly hỷ.

Vậy thì chúng ta phải xả sạch, ly sạch sáu cái thứ tưởng này thì chúng ta mới chứng và trú, an trú Thiền thứ ba, do hỷ lạc thứ ba sanh. Đó chúng ta mới có cái hỷ lạc thứ ba sanh.

Đến đây quý thầy sẽ tiếp tục để chúng ta thấy nó có bốn cái loại hỷ lạc.

4. Quý thầy tịnh chỉ hơi thở, nhập Tứ Thiền.

Phật nói xả hỷ, xả lạc, xả niệm thanh tịnh thì nhập Tứ Thiền, ở đây Thầy không nói vậy, Thầy nói rất rõ ràng, cụ thể: Làm sao cho hơi thở ngưng thì nhập Tứ Thiền, chớ không cần mà phải xả. Mà ngưng thì tức là xả hỷ xả lạc rồi, phải dễ không?

Các thầy thấy cái chỗ mà Thầy dùng thì nó dễ hiểu mà dễ rõ. Còn nói xả hỷ, xả lạc không biết xả làm sao cho hết hỷ, xả làm sao cho hết lạc, xả làm sao cho hết niệm thanh tịnh, thì nó hơi khó! Nhưng mà ở đây Thầy chỉ cần tịnh chỉ hơi thở là nhập Tứ Thiền, mà nhập Tứ Thiền thì hỷ lạc do thứ tư sanh ra.

(15:16) Có gì đâu! Cái hỷ lạc đó ai tới đó thì biết cái hỷ lạc đó. Chớ bây giờ nói hỷ lạc như là dục lạc, như ăn miếng ngon thì cái đó là sai rồi, ăn miếng ngon mà thấy ngon đó là trật rồi! Bởi vì cái hỷ lạc đó đâu có ăn ngon? Cho nên có nhiều người nói tui nhập định tui thấy sung sướng lắm, sảng khoái lắm, cái điều đó là dục lạc chớ không phải hỷ lạc của thiền định.

Phải hiểu cho đúng cách thì chúng ta mới thấy được con đường tu của chúng ta đúng, còn nếu không thì chúng ta sẽ không thấy.

Bốn loại hỷ này nhất định đưa đến yểm ly, ly tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn, hỷ lạc này xứng Thánh Hạnh.

Đó, cái hỷ lạc này là cái hỷ lạc của những bậc thánh người ta thọ hưởng cái hỷ lạc này, chớ phàm phu thì không bao giờ rớ tới nó được.

Bây giờ nghe nói ly dục, ly bất thiện pháp để sanh hỷ lạc, thì quý thầy có biết ở đâu, cái hỷ lạc đó đâu mà biết ở đâu! Bởi vì mình chưa có ly dục mà, tâm mình còn ham muốn cái này cái kia mà, làm sao mình biết? Chừng nào mình ly sạch rồi mình mới biết. Thì đó, đó là những cái mình chưa làm được, cho nên mình chưa thấy hỷ lạc đó.

Cũng như bây giờ, người ta nói ăn miếng bánh này nó ngon quá, mà mình chưa có ăn mình biết nó ngon làm sao? Chỉ nghe theo, mình theo, mình nghe nói vậy thôi, chừng nào mình bỏ trong miệng, mình nhai, mình nuốt, thì đó là cái hỷ lạc của dục. Mình ăn mình mới biết nó ngon, nó ngọt, hay nó đắng cay trong đó.

Còn bây giờ chưa ăn, nghe người ta nói: “Trời! Cái bánh này ngon lắm! Cái bánh này làm ở đâu bên Huê Kỳ đó mới đem về đây! Cái thợ làm bánh này rất khéo, mà rất ngon! Ăn cái mùi vị nó đặc biệt không có cái bánh nào ngon (bằng)!” Người ta nói vậy chứ mình chưa có nếm lưỡi mình chưa biết.

Thì bây giờ bốn cái hỷ lạc mà của pháp này thì các thầy chưa có biết, chưa có nếm được. Mà nếm được rồi quý vị mới biết được cái mùi vị của nó. Nó không phải ngon như cái bánh mà chúng ta ăn mà nó có mùi ngọt ở trong miệng đâu. Mùi ngọt ở trong miệng đó là dục lạc chớ không phải là hỷ lạc.

Bởi vậy khi có tu tới rồi người ta nói thì biết, nói thì biết, mà chưa tới thì nói gì chúng ta cũng tưởng tượng ra cũng không nổi hết, mà tưởng tượng ra nó thành ra dục lạc.

Cho nên vì vậy quý thầy bởi vì do cái sức tưởng ra mới ngồi nghe khinh an, mới nghe nhẹ nhàng, mới thoải mái, nó sung sướng: “Chà! Cái này là hỷ lạc!” Đó là hỷ dục chớ hỷ lạc gì? Đó là cái sai, không có đúng.

Ở đây chúng ta có tám loại hỷ lạc: Bốn loại thuộc về phàm phu, thường sanh ác pháp; bốn loại thuộc về bậc thánh, thường sanh các thiện pháp.

Bây giờ quý thầy đã rõ hỷ lạc nào đúng và hỷ lạc nào sai thì hãy chọn cái đúng mà đi, còn cái sai thì bỏ đi, để kiếp kiếp, đời đời thoát khỏi khổ đau.

Đó, cái sai thì nó luôn luôn nó gắn liền với khổ đau, mà cái đúng thì nó mới thoát ra khỏi khổ đau. Thầy vạch quá rõ, còn đi hay không đi là quyền của quý thầy, còn muốn hay không muốn là do quý thầy, chớ Thầy không có còn mà cõng quý thầy đi được nữa!

Đó thì quý thầy nhớ Phật ngày xưa cũng nói: “Các con tự thắp đuốc lên mà đi, ta không thắp đuốc cho các con đâu!” Đó, thì các con hiểu điều đó.

Bây giờ các con rõ rồi đó. Thầy vạch ra hai cái lộ trình rất rõ. Đầu tiên thì giảng nói cái này kia, nhưng bây giờ tới cái giai đoạn này thì các con biết Thầy đã chỉ cho thấy rõ ràng là hai cái lộ trình, phải bước một lộ trình chớ không thể nào bước hai lộ trình được.

4- TU TẬP CHÁNH NIỆM TỈNH THỨC

4.1- TU TẬP TỈNH THỨC TRONG MỌI HÀNH ĐỘNG, VIỆC LÀM

(18:15) Sau khi tu tập Tứ Chánh Cần xong, các thầy nên tiếp tục tu tập Chánh Niệm Tỉnh Thức Định.

Ở lộ trình này, các cư sĩ đang tu, phải tu tập theo mọi hành động việc làm của mình. Hằng ngày làm bất cứ việc gì quý vị cứ chú ý việc ấy, không được xao nhãng hoặc nghĩ đến chuyện khác, phải luôn luôn chú ý hành động làm, tu trong tất cả việc làm.

Đó, nghĩa là luôn luôn cái người cư sĩ hiện bây giờ đang thực tập để cho mình bước qua một cái giai đoạn mới, cái lộ trình mới, cái lộ trình của người tu sĩ, thì mình luôn luôn tu tập ở trong các việc làm của mình, để tập cho có cái sức tỉnh thức ở trong đó, cho có một cái Chánh Niệm Tỉnh Giác ở trong đó.

Điều này rất khó nhưng Thầy dạy quý vị tu hành cũng không khó đâu.

Nghĩa là bây giờ bảo mình cứ tu tập theo cái hành động của mình, chú ý theo hành động, tu sao mà cứ chút có vọng tưởng, chút có vọng tưởng à. Trời đất ơi! Làm sao mà tỉnh thức được! Cho nên không có cách thức tu.

Cho nên từ lâu tới giờ có nhiều người dạy về tu trong mọi công việc, nhưng mà cái kết quả cho người ta tu mà được kéo dài từ ngày này đến ngày khác mà không có niệm vọng tưởng, không có vô ký trong đó thì ít có ai mà làm được hết.

Còn đến đây Thầy dạy cho quý thầy có sẽ làm được cái điều đó, mà có thể giúp cho quý thầy được tỉnh thức suốt ngày này qua ngày khác, trong mọi công việc, mà không cần phải có cái sự tập trung quá cao độ, quá tập trung trong các hành động.

4.2- VÔ KÝ VÀ VỌNG TƯỞNG ĐỀU LÀ THIẾU TỈNH THỨC

(19:40) Quý vị nên lưu ý: Tu trong hành động có hai điều cần tránh.

Đó bây giờ mình phải biết: Tu ở trong cái hành động, việc làm của mình có hai điều mình cần tránh:

1. Tránh suy tư chuyện khác…​

Nghĩa là, mình tránh suy tư ở trong hành động đó, mình tránh có sự suy tư có vọng tưởng ở trong đó. Nói thì dễ hiểu.

…​ đừng để vọng tưởng xen vào trong công việc đang làm. Nghĩa là, vừa làm việc mà vừa nghĩ chuyện khác, tức là thiếu sự tỉnh thức trong hành động.

2. Tránh vô ký…​

Đó, cái hành động mình vừa làm mà vừa nghĩ chuyện này chuyện kia, đó là thiếu tỉnh thức rồi, thì phải lưu ý là cái phần (thứ) nhất. Cái phần thứ hai là tránh vô ký.

…​ tức là đang làm mà không nhớ cử chỉ đang làm, lúc bấy giờ đang rơi vào trạng thái không nghĩ tưởng. Đó là thiếu tỉnh thức, thiếu tỉnh giác trong việc làm.

Tu Chánh Niệm Tỉnh Giác phải biết dùng hai pháp.

Nghĩa là, trước Thầy nêu lên hai cái lỗi ở trong cái sự tu tập đó: Cái thứ nhất là vọng tưởng ở trong hành động; cái thứ hai là vô ký ở trong hành động. Thì hai cái đó phải tiệt trừ, phải tiêu diệt nó, không được để ở trong cái sự tu tập thì như vậy là không đúng.

Chớ không phải là bây giờ tui tu vậy tui giữ tỉnh thức được năm, ba phút rồi kế đó nó có vọng tưởng, rồi tui tu năm, ba phút nữa rồi kế đó có vọng tưởng; hàng ngày tôi cũng tu ở trong công việc mà thường xuyên nó cũng có vọng tưởng xen ra, thì người đó dậm chân tại chỗ, tu ngàn đời cũng không được.

Tức là chúng ta phải biết tu như thế nào để làm chủ tuần tự cái thời gian chúng ta tăng dần, tăng dần lên, chớ không phải là ngày nào nói tu trong hành động rồi lúc nào cũng làm trong hành động, rồi tu có vọng tưởng ra vô ra vô hoài, cũng tu vậy mà tu Chánh Niệm Tỉnh Thức kiểu đó là kêu tu dậm chân.

Còn bắt đầu bây giờ chúng ta cho một cái thời gian nhất định, là chúng ta tu ba mươi phút ở trong cái hành động làm, hay hoặc là quét sân hay hoặc gì đó, đúng giờ chúng ta nghỉ, rồi bắt đầu chúng ta xả, chúng ta làm theo cái sự suy nghĩ gì của nó kệ nó.

Nhưng mà đúng giờ chúng ta tu, đúng giờ chúng ta tu. Chúng ta tu chừng năm phút hay là mười phút mà chúng ta đạt được cái kết quả chất lượng của tỉnh thức ở trong năm phút, ba phút thôi, rồi hoàn toàn chúng ta xả nghỉ. Chớ sức của chúng ta không có thể mà suốt ngày làm công việc mà chúng ta giữ nó được.

Cho nên phải hiểu được cái sức của mình. Nhiều khi nghe nói tu trong hành động, điên khùng mà tu suốt ngày, lúc nào cũng có vọng tưởng hết mà nói là tỉnh thức là tỉnh thức gì?

Chúng ta tỉnh thức được năm phút, ba phút đó là may lắm rồi, rồi từng đó mà chúng ta tập dần chúng ta tăng dần lên thì chúng ta sẽ có chất lượng cao, và từng đó chúng ta sẽ chiếm tất cả cái thời gian tỉnh thức trong mọi hành động.

Bởi vì tu phải biết chớ. Chớ còn tu mà không biết, mà cứ tu điên tu khùng, thì tu ngàn đời cũng nói là tu trong công việc làm, ai nói cũng hay hết, nhưng mà cuối cùng thì chẳng có tỉnh thức gì hết. Bởi vì luôn luôn có xen kẽ vọng tưởng ra vô, làm sao tỉnh thức được!

Đó, thì hôm nay Thầy dạy để cho quý thầy biết cách thức mà tu tập pháp tỉnh thức.

Cũng như nghe thầy nói tu Chánh Niệm Tỉnh Thức, thôi đi kinh hành luôn lung tung, lung tung, suốt ngày Thầy thấy đi chăm chăm. Thầy nói tu cái kiểu này là tu mù, tu ngu. Tu như vậy là không bao giờ có tỉnh thức!

Cho nên cuối cùng Thầy nhìn thấy quý thầy càng ngày là càng sai. Càng sai là nó không có tập trung được cái độc cư, mà nó lại xuyên qua những cái khác, cho nên Thầy nhận ra rất rõ cái điều mà quý thầy…​

Thôi bây giờ chúng ta sắp tới giờ ăn cơm.

4.3- DÙNG PHÁP TÙY VÀ PHÁP HƯỚNG ĐỂ KÉO DÀI SỨC TỈNH THỨC

(22:54) Bây giờ bắt đầu tiếp tục cái bài học vừa rồi là tu cái Chánh Niệm Tỉnh Giác. Vậy thì phải tu cái Chánh Niệm Tỉnh Giác như thế nào?

Như Thầy đã dạy ở trong cái vừa rồi đó, ở cái sức của mình nó ở cái mức thời gian nào thì mình nên tập luyện cái mức thời gian đó, chớ không phải luôn lúc nào ở trong mọi cái hành động, mọi công việc mà mình tập tỉnh thức được liền.

Mà ngay trong cái thời gian đầu tiên mới tu thì mình chọn cái thời gian ngắn nhất với cái sức của mình, mình tập sao cho có chất lượng cao. Trong lúc đó, mình giữ gìn mọi hành động của mình mà cái sức tập trung của mình ở trong mọi hành động đó thì cái sức tỉnh thức nó mới có.

Muốn được vậy thì chúng ta phải nương vào hai cái pháp: cái pháp tùy và cái pháp hướng.

Tùy pháp là nương theo cái hành động.

Bởi vì cái hành động của chúng ta, đó là cái hành động mà chúng ta gọi là pháp. Vì hàng ngày cái đối tượng, cái hành động của chúng ta đó là cái pháp hành. Cho nên, chúng ta lấy cái hành động hàng ngày: đi, đứng hay hoặc làm công việc, thì đó là cái pháp tùy theo cái hành động đó.

Cho nên cái tâm nó chú ý vào cái hành động đó gọi là tùy pháp.

Còn hướng pháp là chúng ta nhắc nó.

(24:11) Cho nên chúng ta tu tập như thế nào mà nó tự nhiên, chớ không phải là tu tập theo cái kiểu mà thiếu tự nhiên.

Thí dụ như tùy pháp là cái thân của chúng ta làm công việc đó nó nhanh nhẹ thì chúng ta tùy theo cái sự nhanh nhẹ đó mà chúng ta tập luyện. Hoặc là chúng ta làm nó chậm chạp thì chúng ta cũng tuỳ theo cái sự chậm chạp mà tập luyện cho nó tự nhiên.

Chớ còn bây giờ, chúng ta thấy bây giờ mình phải chú ý cái hành động thân của mình, cái bắt đầu mình phải làm cho chậm thiệt chậm mới chú ý được, hay hoặc là làm cho nhanh để chú ý được, thì cái đó là mình mất tự nhiên, mình làm sai cái pháp hành của mình đi. Cái thân hành có người thì làm nhanh, có người thì làm chậm.

Cũng như bây giờ có người thì đi nhanh, mà cũng có người đi chậm. Nhưng mà cái người đi chậm thì tùy theo cái pháp hành đi chậm của mình mà mình tập cái tỉnh thức ở đó. Mà cái người đi nhanh thì cũng tùy theo cái đi nhanh mà mình tập tu cái Chánh Niệm Tỉnh Thức ở chỗ nhanh.

Chớ không phải là bắt buộc mình, mình đi nhanh mà bây giờ phải tu tập mình phải đi cho chậm trở lại. Mà đi chậm như vậy thì nó không thể nào là đúng cái cách tự nhiên của nó.

Cho nên chúng ta tu, nhiều khi chúng ta không biết, chúng ta tu, con người thì nhanh nhẹ, thanh thoát, mà tu riết rồi đi chậm như con rùa, thấy coi cũng không được. Đó là những cái sai.

Rồi có nhiều người lại thấy mình đi chậm quá như vậy là cái sức tập trung của mình – tu tập như vậy thấy nó quá lâu, cho nên lại là chạy nhảy, nhanh nhẹ để nương theo cái chỗ nhanh nhẹ như vượn đó để mà tu tập, thì nó cũng trật.

Tùy theo cái pháp hành của thân của chúng ta, nhanh thì chúng ta tu nhanh, chậm thì chúng ta tu chậm, chớ không phải bắt buộc nó vô cái khuôn khổ nào, chậm nhanh theo cái ý của mình được.

Bởi vì đây là cái pháp, tự nó nó có cái pháp của nó, cho nên mình chỉ có cái hướng theo mà thôi, nương theo, tùy theo cái pháp mà mình tu tập.

Đó là tùy pháp theo hành động, công việc làm sống hằng ngày mà tu tập sức tỉnh thức.

Muốn đạt được sức tỉnh thức này, người tu sĩ phải dùng pháp hướng tâm Như Lý Tác Ý.

Bây giờ mình kèm theo cái pháp hướng tâm đó, mình nhắc để cái tâm của mình nó luôn luôn nó nhớ được cái hành động việc làm của mình.

Như mình nhắc: Tôi đang làm việc gì thì tôi nhắc tôi làm việc đó. Nghĩa là mình làm cái gì thì mình nhắc theo nó. Thí dụ như bây giờ mình đang quét nhà, đang chú ý – bây giờ mình đang quét nhà, thì tôi chú ý hành động đang quét nhà, và hướng tâm nhắc: “Tôi đang quét nhà!”

Đó thí dụ đó, thì bây giờ mình dùng cái câu pháp hướng của mình thì: “Tôi đang quét nhà!” Bây giờ mình đang quét nhà, cho nên mình nhắc: “Tôi đang quét nhà!” Như vậy là mình sẽ có nhắc cái tâm của mình nhớ được cái hành động mình đang quét. Như đang nấu cơm, thì mình lại nhắc: “Tôi đang nấu cơm!”

Đó thì, đó là những cái mình hướng theo để giúp cho cái ý thức của mình nó tỉnh thức ở trong cái hành động của nó, mà nó không bị thất niệm, nó ở trong cái chánh niệm của nó.

Cho nên cái chánh niệm của nó là cái hành động, vì chúng ta đặt lấy cái hành động để làm cho cái sức tỉnh của chúng ta có.

Cho nên lúc bấy giờ, cái chánh niệm là không phải là cái niệm nào mà nó thông suốt cái này cái kia gọi là chánh niệm, mà chính cái hành động đó là cái chánh niệm của chúng ta đã đặt ở trước mắt của chúng ta, trước cái ý của chúng ta, cho nên cái đó gọi là chánh niệm.

Mà nó chánh niệm ở luôn luôn lúc nào nó cũng biết được cái hành động đó đó, thì nó là tỉnh giác hay là tỉnh thức.

(27:57) Hiểu như vậy thì chúng ta biết rằng cái niệm của chúng ta là cái niệm gì. Cái niệm hành động, cái niệm đang làm cái gì đó, đang hiện đang làm công việc gì đó, đó là cái niệm, mà cái niệm mà đang hiện tiền trước mặt của mình đó gọi là chánh niệm.

Chớ không phải là mình đặt cái niệm khác vào ở chỗ đó được, hay hoặc là mình đặt cái hơi thở ở chỗ đó được. Vì chánh niệm mà ở trên cái hành động thì phải là cái hành động chớ không phải là cái hơi thở.

Còn nếu mà chúng ta vừa đặt cái đi kinh hành, vừa biết cái chân đi mà vừa biết hơi thở, thì như vậy là chúng ta đã đặt hai cái niệm một lượt, thì như vậy là chúng ta sai. Đó là không phải chánh niệm, mà nó niệm đôi ở trong đó thì nó trật.

Cho nên chúng ta chỉ biết có mình đi kinh hành mà thôi, thì như vậy là mình đặt cái chánh niệm, thì lúc bấy giờ nó tỉnh giác ở trong cái chánh niệm đó, cho nên cái định gọi là Chánh Niệm Tỉnh Giác.

Hiểu như vậy thì chúng ta nó không có đi hàng hai, và không có đặt sai cái niệm. Mà nếu mà trong khi đương đi kinh hành có một cái niệm gì nghĩ ở trong đầu thì cái đó là sai.

Là tại vì, cái niệm khác chớ không phải là cái niệm hành động của chúng ta, cho nên nó đâu có chánh niệm? Vì cái niệm đó không phải là cái niệm mình đặt, cho nên nó là tà niệm.

Đi trên hè phố thì nhắc:“Tôi biết tôi đang đi trên hè phố!”

Đó thì mình đang đi trên hè phố thì mình nhắc: “Tôi biết tôi đang đi trên hè phố!” Đó là cái pháp hướng của mình, để cho cái chánh niệm của mình là đang đi ở trên hè phố.

Đó là những cái mà chúng ta cần phải hướng theo để cho cái tâm, cái ý của chúng ta luôn luôn lúc nào nó cũng tỉnh thức ở trên cái hành động mà chúng ta đang đi. Mà cái hành động đó là cái chánh niệm.

Chứ nghe chánh niệm thì chúng ta nói – bây giờ nói về cái niệm chân chánh của chúng ta thì nói: “Bây giờ nói “Đời là khổ” là cái niệm chân chánh”, thì như vậy là nó sai đi, nó thuộc về cái loại khác, cái loại định khác chớ không phải là cái định Chánh Niệm Tỉnh Thức ở đây.

Mình nghe chánh niệm rồi mình đem cái chánh niệm nào đó vô chỗ này thì nó là sai. Mình phải hiểu được cái chánh niệm của trong khi mà đi kinh hành là cái niệm nó như thế nào.

Mà thất niệm, tức là mất cái niệm đó đi, Đức Phật gọi là thất niệm. Thí dụ mình đương đi kinh hành mà mình quên mình đi kinh hành, tức là mình bị thất niệm. Thầy giải thích như vậy để quý thầy thấy rõ chỗ thất niệm, để chúng ta biết cái chỗ tu chúng ta đúng hay là sai.

(30:10) Cũng như một người đang tu Định Vô Lậu, mà đang quán cái thân bất tịnh, bỗng dưng cái nhớ chuyện gì khác đi, không có quán cái thân bất tịnh mà lại quán một cái câu kinh “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, thì suy nghĩ về cái câu đó, thì như vậy là thất niệm.

Cái niệm đó – đang có cái niệm đó, cái niệm đó nó nói về cái tâm của mình như thế này, thế khác ở trong kinh điển, mà trong khi đó mình quán bất tịnh của cái thân này, thì cái thân này đang quán bất tịnh đó là cái chánh niệm, mà quán một cái câu kinh nào đó thì đó là thất niệm, nó là cái tà niệm chớ không phải là cái chánh niệm của cái người đang tu cái pháp môn Vô Lậu. Đó phải hiểu.

Mặc dù là cái niệm đó nó không phải là niệm thế gian, nhưng nó vẫn là một cái niệm không có đúng cái chỗ vị trí nó đứng, mà mình đặt cái niệm đó nó ngay cái chỗ mà mình đang tu cái pháp đó, nó không đúng cái pháp, thì do đó là cái niệm đó thuộc về tà niệm chớ không phải là chánh niệm.

Mà cái niệm như vậy xen vào thì đương nhiên coi như người tu hành đó bị thất niệm.

Đang súc miệng thì nhắc:“Tôi biết tôi đang súc miệng!”

Nghĩa là mình đang súc miệng, mình rửa mặt đó, thì mình nhắc: “Tôi súc miệng tôi biết tôi đang súc miệng!” Đang ăn cơm thì nói: “Tôi biết tôi đang ăn cơm!” Đang nhai thực phẩm: “Tôi biết tôi đang nhai thực phẩm!” Như vậy là lúc nào chúng ta cũng tỉnh thức ở trong cái chánh niệm của cái hành động đang nhai.

Đang mặc áo thì tôi cũng nhắc: “Tôi biết tôi đang mặc áo!”

Đó mình nhắc như vậy, tức là cái pháp hướng của mình kèm theo để cho mình biết cái hành động mình đang xỏ tay vô cái tay áo, rồi đang gài nút. Thì đó là những cái mà nhắc chúng ta biết đang trong hiện tại đó, chúng ta đang làm cái việc đó.

Cho nên cái ý của chúng ta luôn luôn nó bị cái pháp hướng mà nó không có chạy ra khỏi cái chánh niệm của nó, cho nên luôn luôn lúc nào nó cũng ở trong cái chánh niệm của nó.

Như vậy là hôm nay, quý thầy đã biết một cái chánh niệm của nó là cái niệm gì khi chúng ta đã đặt nó trước mặt của chúng ta. Cho nên Phật bảo – thí dụ như, mình ngồi cái định nào, mình tu cái định nào, thì mình cứ đặt cái niệm trước mặt.

Thì bây giờ đó, mình đặt cái niệm Chánh Niệm Tỉnh Thức, cái niệm hành động, thì tức là trong hành động thì mình phải đặt nó trước mặt của mình, luôn luôn phải giữ nó, đừng có cho thất niệm đó, thì như vậy là chúng ta mới có cái sức tỉnh giác, tỉnh thức cao. Còn nếu mà bị thất niệm thì nó không có cái sức tỉnh giác cao đâu.

Đó là người tu Chánh Niệm Tỉnh Giác Định luôn luôn dùng pháp tùy và pháp hướng để giúp cho tâm có thời gian kéo dài sức tỉnh thức ra.

Mình cứ nhắc như vậy thì nó sẽ kéo dài cái thời gian tỉnh thức.

Nhưng như vừa rồi, Thầy cũng đã nhắc quý thầy là chúng ta phải khéo như thế nào, là vì cái sức của chúng ta nó không thể từ giờ này đến giờ khác mà nó tỉnh thức nổi đâu.

(33:05) Cho nên chúng ta thí dụ chúng ta tập chừng năm phút chúng ta nghỉ, nghỉ xả ba mươi phút hay hoặc là mười lăm phút cái bắt đầu chúng ta tu lại năm phút. Cái sức của chúng ta tu lại, cái sức tỉnh rất cao, rất tốt mà cái chánh niệm của chúng ta hoàn toàn nó an trú ở trong cái hành động, cái chánh niệm nó không có thất niệm, nó không có mất.

Còn chúng ta tu nhiều quá, nó lờ mờ. Mặc dù là nó không mất cái chánh niệm, tức là cái niệm hành động của chúng ta nó không mất, nhưng nó không rõ, do đó cái sức tỉnh nó không cao, vì vậy mà chúng ta tu mất thì giờ rất lớn.

4.4- CÓ SỨC TỈNH CAO MỚI PHÓNG RA ĐƯỢC TRI KIẾN GIẢI THOÁT

Lưu ý cái phần này thì quý thầy tu ít nhưng mà đạt cái chất lượng cao. Rồi từng cái sức tỉnh chúng ta ngày càng cao lên thì chúng ta lại tăng dần lên, thì cái thời gian chúng ta sẽ thấy rất là tỉnh.

Thà là mình tu ít, mà lúc bấy giờ đó mình tập trung vào một cái gì đó cái sức tỉnh mình rất cao. Và cái sức tỉnh rất cao thì nó mới có một cái tri kiến giải thoát nó phóng ra, nó mới tu cái Định Vô Lậu, nó quét sạch những cái lậu hoặc.

Còn cái sức tỉnh mình nó thấp quá, mình ngồi lại mình dùng cái cái Niệm Vô Lậu để mình quán xét, thì mình ngồi hoài nó ỳ hoài mà nó không phóng ra được. Đó là cái sức tỉnh mình không có cho nên cái tri kiến giải thoát phóng ra không được.

Vì vậy mà khi mà mình chưa có đủ sức tỉnh thì mình dùng cái tri kiến. Cái tri kiến tức là cái huân cái sự hiểu biết vay mượn của người khác để rồi mình suy xét, quán xét từ đầu đến chân của mình bằng cách này, bằng cách khác.

Còn khi mà chúng ta đã có được cái sức tỉnh thức rồi thì chúng ta không cần vay mượn của ai nữa hết, mà chúng ta chỉ đặt cái niệm trước mặt, thí dụ như: niệm thân bất tịnh, hay niệm thân vô thường, vô ngã.

Chúng ta đặt cái niệm trước mặt, chúng ta ngồi im lặng một chút xíu, tự ở trong tâm của chúng ta phóng ra cái tri kiến giải thoát, từ đó nó quán sát , nó thấy rất rõ tất cả những cái bất tịnh như thế nào, tự nó nó quán sát, nó không vay mượn của ai hết mà nó thông suốt như vậy đó. Đó là cái tri kiến giải thoát.

Nhưng vì cái sức tỉnh thức của chúng ta không có, cho nên chúng ta ngồi lại nó ỳ đó mà nó không phóng ra được. Bởi vì tỉnh thức không cao. Vì vậy mà khi chúng ta tu tập chừng năm phút hay mười phút mà cái sức cao rồi thì tự chúng ta ngồi im lặng là nó phóng ra liền.

Bởi vì người ta nói: “Định thì có Tuệ”. Mà mình chưa có cái Định, tức là chưa có được cái sức tỉnh thức. Cái sức tỉnh thức tức là cái sức định chớ đâu phải là cái gì? Nó là cái sức nhất tâm của chúng ta. Cho nên chúng ta chưa có nó thì cho nên cái Tuệ nó không phóng ra được.

Mà nó không phóng ra được thì tri kiến giải thoát không có, mà tri kiến giải thoát không có thì bây giờ cái tâm chúng ta nó còn bao nhiêu cái sự ràng buộc, dính mắc, cho nên chúng ta muốn giải quyết cái sự ràng buộc dính mắc của lậu hoặc này thì chúng ta phải dùng cái tri kiến, tức là cái vay mượn, cái hiểu biết của kinh điển, của quý thầy dạy bảo, để chúng ta hiểu được cái bất tịnh như thế nào, cái vô thường như thế nào, để chúng ta quán xét theo cái sự hiểu biết của vay mượn, chớ không thể có tri kiến giải thoát được.

Đó thì, cái sự tu tập nó phải rõ như vậy. Chớ nếu mà không biết thì chúng ta ngồi ỳ đó hoài mà cái tri kiến giải thoát nó không phóng ra rồi cứ nương theo hơi thở, tưởng đó là mình thiền định chớ sự thực ra mình bị thất niệm.

Mình thất niệm là vì cái định này nó không thể nào là ở trong hơi thở được. Rồi mình tưởng rằng ở trong hơi thở nó không có vọng tưởng đó là mình không có thất niệm, nhưng mà thật sự đó mình tu lầm lạc rồi, mình tu sang qua một cái pháp khác, mà mình không có chủ động điều khiển được, tức là thiếu sức làm chủ.

4.5- HƯỚNG TÂM KHÔNG PHẢI LÀ NIỆM CÂU PHÁP HƯỚNG

(36:23) Nhưng quý vị lưu ý, ở đây hướng tâm chớ không phải niệm câu pháp hướng.

Cái phần này chúng ta cũng phải rõ là chúng ta hướng tâm, chớ không phải là niệm. Để không rồi chúng ta cứ liên miên mà niệm thì nó cũng lại trật.

Ở đây hướng tâm chớ không phải niệm câu pháp hướng. Vì hướng tâm phải có cách khoảng thời gian, ít ra câu hướng này với câu hướng kia.

Nghĩa là nó phải có một cái thời gian với câu – ví dụ bây giờ chúng ta hướng nè, bắt đầu: “Tôi quét sân tôi biết tôi quét sân!” Thì không thể nào mà chúng ta lặp lại một lần thứ hai kế tiếp nữa: “Tôi quét sân tôi biết tôi quét sân!” – rồi nói: “Tôi quét sân tôi biết tôi quét sân!” – mình lặp lia lịa vậy gọi là niệm.

Còn mình nhắc một cái câu: “Tôi quét sân, tôi biết tôi quét sân!” Rồi chúng ta cứ tự nhiên mà chúng ta quét, để cho cái sức ý thức của chúng ta tập trung nơi cái hành động chánh niệm của nó, cái hành động đó đang quét. Thì một lúc, khoảng độ chừng ba phút, năm phút chúng ta lại nhắc một lần nữa. Thì cứ có cái khoảng cách để cho cái tâm nó lặng theo cái hành động, nó tập trung theo cái hành động mà không cần tác ý ra nữa thì do đó gọi là pháp hướng.

Còn nếu mà không – còn nếu mà cứ liên tục niệm thì nó là niệm pháp hướng chớ không phải là hướng tâm.

Cho nên ở đây chúng ta cũng phải hiểu được cái điều này. Người mới tu họ không biết, thì cứ luôn luôn liên tục lúc nào cũng nhắc – thí dụ đi kinh hành thì họ cứ nhắc: “Tôi đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành!” – rồi lúc nữa họ cũng nhắc liên tục nữa, thì cái đó là cái sai.

Cho nên, khi mà nhắc rồi thì họ phải tuần tự để cho có khoảng thời gian để lắng tâm xuống trong cái chánh niệm – cái hành động đi của chúng ta. Thì khi mà lắng tâm trong cái khoảng thời gian đó, cái sức tỉnh nó tăng lên.

Và đồng thời, cái thời gian mà lắng tâm đó nó sẽ bị vơi đi, tức là cái sức tập trung của chúng ta nó sẽ dần dần – cái ý thức nó chưa có quen, cho nên nó không có tập trung chặt vào đó được, cho nên nó lơi lỏng.

Nó lơi lỏng thì chúng ta lại dùng một cái câu hướng nữa, chúng ta lại nhắc nó lần nữa: “Tôi đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành!” Thì bắt đầu, từ đó nó lại tập trung vào cái hành động đi nữa, thì nó lại tỉnh thức cao hơn nữa.

Do đó chúng ta tiếp tục cứ như vậy thì cái sức tỉnh nó càng cao.

4.6- CÓ THỂ KẾT HỢP HƠI THỞ VỚI CHÁNH NIỆM TỈNH THỨC

(38:43) Nhưng mà rồi nó có cái trường hợp, là tại vì quý thầy đã tu tập cái hơi thở nhiều quá. Thay vì chúng ta chưa nên tập hơi thở trong cái lúc này, mà phải tu các định khác, bây giờ nó lại quen hơi thở đi, vừa đi mà vừa lại biết hơi thở.

Cho nên Phật dạy tất cả các pháp đều chúng ta có thể nương hơi thở mà tu tập được, do đó thì chúng ta nhắc cái câu ám thị, nó vừa là có hơi thở mà vừa có cái Chánh Niệm Tỉnh Thức của cái hành động chúng ta đi nữa, thì: “Hơi thở vô tôi biết tôi thở vô, hơi thở ra tôi biết hơi thở ra!” – “Hơi thở vô tôi biết tôi đi kinh hành, hơi thở ra tôi biết tôi đi kinh hành!”

Đó là những cái câu nhắc để lấy dùng cái hơi thở để mà cho tập trung xuống với cái hành động đi, chớ không phải tập trung hơi thở.

Nhưng mà tại vì cái tâm của mình nó đã quen với hơi thở, cho nên vừa đi mà vừa biết hơi thở, cho nên mình nhắc: “Hơi thở vô tôi biết tôi đang đi kinh hành, hơi thở ra tôi biết tôi đang đi kinh hành!” Mình dụng cái hơi thở, mình tập trung xuống cái hành động liền, nó làm cho mình tỉnh thức ngay liền, và đồng thời mình bỏ cái hơi thở được.

Đó là những cách mà có thể nương hơi thở mà tu vào cái Chánh Niệm Tỉnh Thức, để cho chúng ta càng sức càng tỉnh thức hơn.

Đó, đó là những cái cách thức mà tu tập để chúng ta tu cái Chánh Niệm Tỉnh Thức cho nó đạt được cái mức tỉnh thức cao.

4.7- HƯỚNG TÂM PHẢI CÓ CÁCH KHOẢNG THỜI GIAN

(40:02) Vì hướng tâm phải có cách khoảng thời gian, ít ra câu hướng này với câu hướng kia: Người mới tu ba mươi phút mới hướng một lần, còn người tu lâu có sức tỉnh thức nhiều, một phút hoặc hai phút hướng một lần.

Nghĩa là người mới tu mà tu ba mươi phút, thì họ phải tu trong một phút họ phải hướng một lần, hay hoặc hai phút họ hướng một lần. Còn người tu lâu thì có thể nó khoảng từ năm phút hay mười phút họ mới hướng một lần.

Nếu mà thấy cái sức tỉnh của mình mà nó luôn luôn nó bắt đầu nó tập trung ở dưới cái hành động đi của mình, thì lúc bấy giờ đó, lâu lâu mình mới hướng.

Mà nó thấy nó lờ mờ, nó không có (tỉnh), nó bị hàng hai như nó nương hơi thở hoặc là nó bị âm thanh gì tác động nó, nó đi hàng hai trong đó, thì ngay đó mình phải hướng liền để cho nó gom lại, chớ không khéo nó lờ mờ, lờ mờ. Nó đi hàng hai là nó lờ mờ rồi đó, nó không tập trung được rồi, nó không tỉnh thức đâu.

Cho nên khi đó chúng ta – người tu thì người ta thiện xảo lắm, người ta phải khéo léo ở trong cái sự tu tập. Người ta biết cái tâm mình lúc bấy giờ nó lờ mờ rồi, người ta biết lúc bấy giờ nó rất tỉnh rồi, mà lúc lờ mờ người ta biết.

Cho nên người ta rất khéo léo ở chỗ người ta dùng pháp hướng là cái chỗ lờ mờ, cái chỗ tỉnh. Hễ tỉnh thì người ta không có dùng hướng nữa để cho nó tập trung ở trong sức tỉnh. Mà nó lờ mờ thì chúng ta phải ngay đó dùng pháp hướng để phá liền, để cho cái ý thức của chúng ta nó gom lại cho nó mạnh hơn. Biết rõ như vậy thì chúng ta tu rất là có kết quả.

Ở đây không được nhắc liền miệng, vì nhắc liền miệng là niệm câu trạch pháp hướng. Như vậy là tu sai, sau này sẽ rơi vào định tưởng, lạc đường giải thoát của đạo Phật.

Nghĩa là rơi vào những cái định tưởng. Niệm riết rồi thành nó sẽ rơi vào những cái định tưởng, nó làm cho chúng ta có sự an lạc ở trong cái niệm mà nó không đúng cái pháp hướng.

5- TU TẬP ĐỊNH VÔ LẬU

5.1- ĐẶT NIỆM TRƯỚC MẶT, QUÁN XÉT ĐỂ PHÁ VÔ MINH

(41:57) Bây giờ quý vị tu Định Vô Lậu.

Ban đêm, tối đến, quý vị chọn giờ nào yên tịnh nhất, ngồi kiết già, lưng thẳng, rồi đặt niệm trước mặt, quán xét cha mẹ, anh em, bà con ruột thịt, vợ chồng, con cái, xét qua nhân quả khổ vui, giận hờn, thương ghét, đầy dẫy một cuộc sống đau khổ và bằng nước mắt do nghiệp nhân quả tạo nên.

Đó, khi bây giờ đó, mình còn là người cư sĩ ở trong gia đình thì mình đặt cái niệm gì? Cái niệm của một cuộc sống chung nhau ở trong gia đình: cha mẹ, anh em ruột thịt, con cái của mình, của cải, tài sản mình đặt ra trước, mình quán xét về nhân quả.

Mình mới suy tư lại, từ cái ngày mà mình lập gia đình cho đến khi mà mình sống có con, có cái như thế này, sự vui, sự khổ như thế nào, mình phơi bày ra tất cả những cái cuộc sống của mình, để cho mình thấy đó là bằng mồ hôi bằng nước mắt của mình, bằng sự đau khổ, mà do cái nhân quả nghiệp báo nó đưa đẩy chúng ta quá nhiều cái sự khổ đau đó, vui thì ít mà khổ thì nhiều.

Do cái sự tu tập như vậy, mà chúng ta đặt được cái niệm như vậy, tức là chúng ta sẽ – càng ngày chúng ta sẽ hướng về cái lối đi giải thoát, càng ngày cái tâm chúng ta càng rõ nét ở trên cái hướng giải thoát.

Còn nếu mà không chịu đặt như vậy thì chúng ta bị cái sự Vô Minh nó che mờ, nó làm cho chúng ta tưởng rằng cái cuộc sống của chúng ta là hạnh phúc, nhưng nó là cái hạnh phúc giả, rồi tiếp tục trên con đường nhân quả, nghiệp báo, rồi chúng ta cũng trôi lăn ở trong sáu nẻo.

Rồi những người thân của chúng ta cũng chẳng còn là người thân, mà chỉ là những người nhân quả, những người vay nợ với nhau, chớ không có nghĩa lý gì ở trong cuộc đời của chúng ta nữa.

Như vậy là, cái người cư sĩ mà chúng ta muốn bước qua một cái giai đoạn của cái người tu sĩ, thì chúng ta nên đặt cái niệm đó để chúng ta quán xét cái cuộc sống sum họp của gia đình, của tất cả những người thân, để xem coi: Có phải là thân thật hay là thân giả? Có phải là nợ vay hay là không nợ vay? Có phải là nghiệp báo, gặp nhau để mà trả nghiệp báo hay không?

Cho nên quán xét cuối cùng thì chúng ta thấy tâm chúng ta dửng dưng mà không còn bị trói buộc những cái dây thương, dây ghét nữa, cho nên chúng ta được xa lìa để tìm lấy con đường giải thoát hoàn toàn.

(44:14) Đó là, cái người mà ở trong cái lộ trình thứ nhất này – cái người cư sĩ chuẩn bị cho mình bước qua một cái giai đoạn tu tập của lộ trình thứ hai của tu sĩ – thì chúng ta nên đặt cái niệm đó ở trước để tu tập cái Định Vô Lậu.

Ở đây, đầu tiên Thầy dạy cái định Chánh Niệm Tỉnh Giác Định, kế đó thì cái Định Vô Lậu. Hai cái này là cái người cư sĩ ở trong cái giai đoạn đầu tiên phải tu tập.

Khuya thức dậy cũng ngồi kiết già, đặt niệm trước mặt, quán xét lại như buổi tối. Sáng, chiều cũng thế. Cứ mỗi lần quán xét là nó lại rõ thêm nhân quả.

Nghĩa là mỗi lần mà mình ngồi mình tu, thì càng ngày mình thấy cái đường đi của nhân quả rất rõ ràng.

Tại sao mà Thầy biết như vậy?

Tại vì trước kia Thầy cũng có tu cái này rất nhiều, cho nên tại sao mà Thầy biết được đường đi lối về của nhân quả? Là tại vì mình có đặt được cái nhân quả đó mà mình quán xét được cuộc đời mình, rồi quán xét của mọi người, cho nên càng ngày nó làm cho mình thấu rõ được cái đường đi của nhân quả.

Vì vậy mà bây giờ mà viết ra một cái giáo án của nhân quả – tức là đạo đức nhân quả – Thầy viết ra rất dễ dàng. Bởi vì Thầy đã thấu suốt được cái đường đi của nó rồi. Mỗi một cái hành động mà chúng ta làm thì nó sẽ có cái quả nào Thầy đã biết rồi.

Còn như quý thầy không chịu quán xét cho nên quý thầy: Hành động của mình làm đây chớ mình chưa biết cái quả nó ra sao hết! Còn cái người mà đã thông suốt cái nhân quả đó, thì người ta ngồi lại người ta biết cái hành động đó làm cái điều đó là sẽ có cái quả gì nó đến đó. Nó không có sai chỗ nào hết, nó không có trật. Bởi vì nhân quả mà!

Cho nên từng xét như vậy, thì cái tri kiến giải thoát của chúng ta nó thấu suốt được cái lý của nhân quả, cho nên nó thông suốt được cái đường đi của nhân quả, nó không có sai. Còn nếu không chịu tu cái Định Vô Lậu mà dùng cái pháp quán thì chúng ta khó mà thấy được đường đi nước bước của nhân quả.

5.2- CÁC ĐỀ MỤC ĐỊNH VÔ LẬU

(46:05) Đến đây, Thầy cho thêm vài đề mục Thiền Vô Lậu:

Nghĩa là Thầy cho thêm một vài cái đề mục, tức là một cái niệm để mà tu cái Định Vô Lậu.

Đặt niệm của cải, tài sản…​

Nghĩa là mình đem của cải, tài sản của mình đặt trước cái đó, để mình quán xét cái của cải, tài sản của mình nó vô lậu như thế nào.

…​ quán xét xem cho thấu lý về của cải, tài sản làm cho ta bất an, phải lo lắng bảo vệ và còn phải liên tục chạy theo để mà tạo nó ra nữa.

Đó thì, ở đây Thầy cho cái đại khái, chúng ta hiểu rằng: Khi mà chúng ta đặt cái niệm của cải tài sản trước mặt, thì chúng ta quán xét cái của cải, tài sản khi mà chúng ta làm ra có nó, rồi cho đến khi mà nó có rồi chúng ta phải bảo vệ giữ gìn nó như thế nào, mọi mặt, đủ cách làm cho chúng ta đau khổ ở trong cái cuộc đời chúng ta như thế nào đối với của cải, tài sản.

Quán xét đến khi chết có mang theo được không?

Nghĩa là khi mình chết rồi mình có mang được cái vật gì không? Tức là mình quán xét: Bây giờ phỏng chừng mình chết rồi, bây giờ cái gì quý nhất? Vàng bạc hay cái gì quý nhất mà mình muốn mang theo được, có thể mang theo được mình không?

Đó, mình quán xét cái vật chất, tiền của, châu báu mà mình đã làm ra được, vậy thì khi mình mất đi rồi, thì mình có mang cái vật gì theo được không? Để cho mình thấy nó, nó không phải là những cái người mà thân thương với mình, luôn luôn nó sẽ ở bên mình được.

Cho nên mình phải thấy được cái điều này là do mình phải đặt cái niệm đó rồi mình quán xét mình mới xả ly nó ra được, mình mới có vô lậu được với những cái đối tượng này.

Đặt niệm thân bất tịnh để quán xét;

Vì mình thường chấp cái thân của mình, cho nên mình phải đặt cái niệm bất tịnh để cho thấy nó thật sự là bất tịnh, vì vậy mà mình ngao ngán, mình không có còn dính vào cái thân này, chấp cái thân này nữa.

Đặt niệm thân vô ngã;

Nghĩa là mình đặt cái niệm thân của mình trước mặt của mình vô ngã để mình quán xét coi cái ngã của mình ở đâu để mình tìm. Khi mình thấu được cái lý vô ngã của nó, thấu suốt được cái lý vô ngã, cho nên mình thấy trong thân của mình không có cái gì gọi là có ngã trong đó.

Đặt niệm thân vô thường quán xét;

Tức là mình đặt cái niệm thân vô thường của mình rồi mình quán xét.

Đặt niệm thân khổ quán xét;

Mình đặt cái thân khổ của mình, mình quán xét.

Đặt niệm thực phẩm quán xét bất tịnh;

Những cái thực phẩm ăn hằng ngày của mình, mình cũng đặt cái niệm đó trước mặt, cái chánh niệm đó trước mặt, rồi mình quán xét nó, mình dùng pháp quán mà quán xét để thấy cái thực phẩm mình ăn có bất tịnh, đúng hay là sai? Từ đó mình thấu suốt được cho nên mình không có ham ăn, ham uống nữa.

Đặt niệm vợ con quán xét có phải là nhân quả vay nợ không?

Đó, mình đặt cái niệm vợ con. Bởi vì vợ con là những người gần gũi với mình nhất và dễ làm cho mình dính chặt ở trong cuộc đời của mình. Cho nên mình đặt cái niệm đó mình quán xét có phải là cái nhân quả vay nợ, hay hoặc là đó là một cái tình cảm thiêng liêng nào để mà có thành vợ thành chồng với nhau.

Đó là mình phải đặt cái niệm mình quán xét, vì vậy mà mình phá được cái lậu hoặc đó.

(49:11) Đặt niệm danh quán xét;

Cái danh – ai lại cũng ham danh này kia, do đó mình phải đặt cái niệm danh. Cái danh đó có thật hay là nó giả? Do đó mình phải đặt cái niệm danh để mình quán xét nó.

Đặt niệm sắc dục mình quán xét;

Thí dụ như sắc dục nó gợi cho mình ham thích tình dục, do đó mình đặt cái niệm đó để mình xem coi có cái niệm đó nó có thật sự là hạnh phúc không? Hay hoặc là đó là một cái giả để mà tạo cho chúng ta những cái nhân tái sanh luân hồi, những cái hành động bất tịnh, cái hành động không có sạch sẽ?

Đó là những cái mà chúng ta phải đặt cái niệm quán xét. Và quán xét thì chúng ta sẽ thấu triệt được tất cả những cái này, do đó mà chúng ta phá vỡ những cái lậu hoặc ở trong tâm của mình.

Đặt niệm ngủ;

Mình ngủ cũng đặt cái niệm ngủ mình quán xét cái ngủ từ đâu đến, cái ngủ nó đưa đến những cái gì, tai hại sao, sao? Tức là mình thấu suốt được cái ngủ thì mình không còn ham ngủ nữa.

Đặt niệm ăn;

Mình cũng đặt cái niệm về ăn, thì tức là mình quán xét về cái ăn của mình coi nó ngon chỗ nào, rồi nó hết ngon chỗ nào, rồi nó bất tịnh chỗ nào, nó dở chỗ nào, nó như thế nào? Do đó mình thấu suốt được cái ăn của mình.

Đặt niệm thân của người phụ nữ để mình quán xét.

Vì hầu hết là mình thấy thân của người phụ nữ là đẹp, là tốt, là cám dỗ, là mềm mại, là thích thú…​ cho nên mình đặt cái niệm đó, mình xem thử coi nó như thế nào.

Do mình thấu suốt được, mình thấy cái thân người phụ nữ mình thấy sợ, và mình ghê gớm, và mình xem như là một cái thân của một con rắn độc, mình quá sợ hãi.

Đây là một số chánh niệm để chúng ta đặt để tu cái Định Vô Lậu.

Đó thì, hôm nay quý thầy thấy rằng, trên bước đường mà tu tập, thì chúng ta phải biết cách để mà đặt cái niệm cho đúng cách để mà quán cái Vô Lậu, để diệt trừ cái tâm lậu hoặc của chúng ta.

6- PHẢI TU TẬP HẾT SỨC MỚI VƯỢT QUA LỘ TRÌNH THỨ NHẤT

(51:03) Đến đây quý vị chỉ có siêng năng thì quý vị đã vượt qua lộ trình thứ nhất, mà quý vị phải tu tập hết sức thì mới thoát ra khỏi lộ trình này.

Vì lộ trình này biết bao nhiêu dây mơ, rễ má chằng chịt buộc chặt quý vị, khó mà quý vị thoát ra được. Nếu không có lộ trình giáo án này thì quý vị khó mà thoát khỏi nhà lửa đang hừng hực cháy.

Nghĩa là quý vị mà không thấy được có cái giáo án này thì quý vị chấp, tưởng rằng mình đang sống ở trong cái lộ trình thứ nhất này là hạnh phúc, là chân thật.

Nhiều khi chúng ta đi tu rồi, chúng ta xuất gia rồi, nhưng mà chúng ta cũng vẫn còn ở trong cái lộ trình thứ nhất này: Nào là của cải, tài sản, nào là chùa to tháp lớn, nào là những cái vật chất xung quanh vây quanh chúng ta.

Rồi trong đó anh em, dòng họ, Phật tử…​ đủ loại, đủ cách ở trong đó, nó vây quanh còn hơn là cái người ở ngoài đời đang sống có một vợ hai ba con nữa, mình còn đông hơn nữa: Phật tử thì thôi không biết là bao nhiêu, đệ tử thì cũng không biết bao nhiêu, nó trói chặt mình còn hơn cái gì nữa!

Do cái chỗ mà tu hành mà chúng ta không thấy được cái lộ trình thứ nhất này, càng ngày nó càng bị xiết chặt hơn. Người ta có một hai con à, còn mình là ông thầy, mình có cả trăm, cả ngàn đứa con, chết được rồi!

Bây giờ đứa này nó nói vầy, đứa kia nói khác, nó hỏi pháp này, hỏi pháp kia, dạy hoài, tu không giải thoát mà nó cứ đem cái thứ này, đem cái thứ kia. Hầu hết là nó trói chặt mình thêm.

Chẳng hạn là bây giờ có một số đệ tử cư sĩ – thì một ông thầy mà – đệ tử cư sĩ họ đem tiền cúng. Ông thầy này có tiền nhiều thì ổng xài cái này, cái kia nọ, ổng tạo ra đủ thứ tội lỗi. Rồi bắt đầu nó đem máy đem móc này kia nó cúng dường, nó thương thầy nó cúng dường, thì cũng như đứa con mà, do đó nó đem ra của cải tài sản riết, ông thầy quá nhiều.

Rồi nó thấy cái nhà của ông thầy, cái thất ông thầy xấu, nó bỏ tiền ra cất thất ông thầy cho tốt. Rồi bắt đầu nó thấy ông thầy sao mà mệt nhọc quá, không có khỏe, cho nên nó đặt máy điều hòa không khí, rồi quạt máy, rồi tủ lạnh gì đủ thứ cho ông thầy hết. Cuối cùng thì nó đem bao nhiêu cái sự trói buộc ông thầy, chặt càng chặt thêm.

Còn ở ngoài đời người ta có một vợ, hai ba con, nó không có tiền nhiều như vậy đâu. Bởi vì nó ít cho nên cái ông cha nó bị trói buộc ít, còn cái ông thầy coi vậy chớ bị trói buộc nhiều!

Do vì vậy mà chúng ta càng ngày càng bị trói buộc mà giải thoát thì không có. Từ đó chúng ta càng ngày càng sa lầy xuống cái cuộc đời mà không thấy được giải thoát.

Cho nên ở đây cái lộ trình thứ nhất chúng ta phải thấy cho rõ ràng để mà chúng ta dứt khoát, để chúng ta bước qua cái lộ trình thứ hai là không có còn một cái gì mà trói buộc chúng ta được hết, trắng bạch như vỏ ốc, ba y một bát, cho nên nó đâu còn gì mà trói buộc mình, đó là giải thoát hoàn toàn.

Không có chùa, cũng không có đệ tử. Người ta đến hỏi đạo thì dạy người ta tu thôi, chớ đừng có bày mà cúng cái này, cúng cái kia, đủ thứ y áo cả đống mà còn cúng nữa, thì cái đó là cái trật.

Thầy thấy các Phật tử họ thương Thầy lắm, họ mua cái này cái kia, từ cái chai kem, từ cái bàn chải họ mua cũng đồ tốt nữa, từ cái khăn tốt họ cũng cho ông thầy nữa. Họ sắm cho ông thầy đủ thứ hết, họ coi từ cái đôi dép nữa. Đó, sắm đủ thứ. Cho đến khi mà cái mền, cái mùng mà của ông thầy họ cũng phải sắm đồ cho tốt nữa chớ không có sắm đồ xấu.

Và cũng từ đó ông thầy bị nhiễm. Nhiễm dính cứng ngắc à, không có ra được!

7- TỔNG KẾT GIAI ĐOẠN 1

7.1- TRƯỚC TIÊN CẦN THÔNG HIỂU ĐỂ VÉN MÀN VÔ MINH

(54:34) Để kết thúc cái bài này, cái lộ trình thứ nhất này thì (của) người cư sĩ, để kết thúc cái lộ trình thứ nhất này của người cư sĩ thì Thầy sẽ tóm tắt lại toàn bộ cái bài Thập Thiện để kết luận cái buổi giảng hôm nay.

Là chúng ta từ cái tu Tứ Vô Lượng Tâm, Tứ Chánh Cần, rồi đến cái Chánh Niệm Tỉnh Giác Định, cho đến cái Định Vô Lậu, thì đây là một cái sự đơn sơ, thô sơ, nhưng nó cũng có được cái phương pháp tu tập. Còn về cái phần sau này của lộ trình của người tu sĩ, thì Thầy sẽ dạy kỹ hơn về các cái pháp này.

Vì ở đây là chúng ta sơ lược để cho cái người cư sĩ họ biết cách hành của họ một cách đơn giản, mà đạt được cái chất lượng của sự tu tập của họ, để cho họ tìm mọi cách mà họ dứt ra cái lộ trình thứ nhất, để họ bước sang qua cái lộ trình thứ hai, hoàn toàn là phải trắng bạch như cái vỏ ốc, mà không có bị còn một cái sợi dây mà trói buộc họ nữa, để rồi đi vào một cái con đường giải thoát chân thật của đạo Phật, khép mình ở trong những cái khuôn khổ của giới luật, của Phật sau này, để thực hiện được cái sự giải thoát hoàn toàn.

Đây, cái phần để kết luận của cái phần này, của cái lộ trình này, thì Thầy tiếp tục.

Để kết luận cái phần cái lộ trình thứ nhất, thì Phật đã dạy chúng ta đó: Muốn thông hiểu những gì cần phải thông hiểu. Bây giờ chúng ta đã thông hiểu được cái lộ trình thứ nhất rồi đó, thì đó là chúng ta đã muốn thông hiểu những gì cần phải thông hiểu.

Đó là cái giai đoạn của những người cư sĩ, cũng như những người Tỳ Kheo hữu học, họ phải học, phải hiểu biết, họ phải thường quán xét vạn pháp, tâm họ phải rõ cái nguồn gốc Vô Minh, phá trừ những cái tư tưởng dính mắc, chấp trước, hàng ngày tinh tấn tiến bước trên cái đường về nội tâm của mình để đập tan những cái màn Vô Minh đen tối.

Đó cho nên, để kết luận cái lộ trình thứ nhất này, thì chúng ta – như Phật đã dạy cái điều kiện thứ nhất ở trong bốn cái điều kiện, thì cái sự thông hiểu là phải thông hiểu thứ nhất – thì bây giờ chúng ta đã thông hiểu, thì phải thông hiểu tức là phải là những bậc hữu học mới thông hiểu. Còn nếu mà chúng ta không có chịu học hành, không có chịu nghe, không có chịu hiểu thì làm sao mà chúng ta hiểu!

Cho nên ở đây qua một cái giai đoạn mà quý thầy đã được nghe Thầy giảng đó, thì đó là cái chỗ mà thông hiểu để cho quý thầy rõ cái sự thông hiểu tất cả cái điều kiện mà chúng ta cần phải thông hiểu trên con đường tu tập, cái lộ trình mà chúng ta phải tu tập.

Cho nên khi mà thông hiểu như vậy, đó là chúng ta đã đập tan cái màn Vô Minh đen tối mà từ lâu nó đang phủ dày ở trong tâm tư của chúng ta.

7.2- PHÁ TRỪ SI MÊ ĐỂ THÀNH TỰU MƯỜI ĐIỀU CÔNG ĐỨC

(57:25) Quý thầy hãy lấy Thập Thiện mà làm vũ khí…​

Đó, bây giờ Thầy mới kết luận về cái…​ Bởi vì cái lộ trình của người cư sĩ là phải lấy Thập Thiện mà làm cái điều kiện mà chiến đấu lại với những cái sự si mê của mình.

Cho nên ở đây quý thầy phải lấy Thập Thiện mà làm vũ khí:

…​ phá trừ si mê, sẽ thành tựu được mười cái công đức mà kinh Thập Thiện đã dạy.

Tức là kinh Mười Điều Lành đã dạy.

1. Không si mê được ý vui chân thiện;

Nghĩa là mình phải lấy Thập Thiện mình tu tập đó, thì mình không có si mê cái ý vui mà thiếu cái sự thiện ở trong đó, nghĩa là bây giờ mình làm điều ác mà mình vui theo, đó là nó không đúng. Cho nên mình phải lấy một cái sự vui chân thiện, mà không được có si mê ở trong cái điều ác, mà phải vui theo cái sự thật, sự thiện chớ không phải là cái vui theo cái sự ác.

Bởi vì Thầy có phân tích cho quý thầy thông rõ đó: nó có bốn cái hỷ lạc của cái ác pháp, mà nó có bốn cái hỷ lạc của pháp xuất thế. Tức là nó có những cái vui, mà cái vui nó là cái vui ác. Còn cái vui của đạo, cái vui mà vượt ra, nó là thiện. Cho nên ở đây nó ly tất cả các pháp ác, thì nó là có cái vui của cái ly các pháp ác.

Mà cái vui của các pháp ác nó có cái vui đó, cho nên chúng ta lầm chấp, vì vậy mà chúng ta lấy Thập Thiện mà kê vào, để chúng ta thấy biết được cái vui nào chân thật, mà cái vui nào không chân thật.

Cho nên ở đây, cái thứ nhất là chúng ta không được si mê theo những cái vui của ác pháp, mà hãy vui theo cái chân pháp, cái thiện pháp. Đó là cái thứ nhất.

Cái thứ hai là:

2. Người cư sĩ phải tin sâu nhân quả;

Mình phải tin ở cái nhân quả.

Bởi vì nhân quả nó sẽ trở thành một cái nghiệp, mà nghiệp thì nó trở thành một cái nơi mà nó sản sinh ra mình. Rồi cũng từ cái nhân quả đó mình mới tạo ra những cái nghiệp, rồi từ cái nghiệp đó đó, khi mà sản sinh ra mình rồi mình tạo ra cái nghiệp thì tức là mình bỏ cái thân này mình cũng trở về nghiệp, rồi từ cái nghiệp đó nó lại sản sanh ra mình nữa.

Đó là mình đi trong cái lòng vòng của nhân quả mà mình không biết.

Đó là mình tin sâu nhân quả để cho mình thực hành cho đúng cái nhân thiện mà không làm cái nhân ác.

3. Tin sâu ba ngôi Tam Bảo;

Bởi vì Phật, Pháp, Tăng là cái nơi mà chúng ta phải nương tựa để chúng ta thoát ra khỏi cái nhân quả. Mà nếu mà chúng ta không có nương tựa, tin sâu ba cái ngôi Tam Bảo này thì chúng ta khó mà thoát ra nhân quả.

Vì ba ngôi Tam Bảo này đều đặt ở trên cái nền tảng của nhân quả, cho nên cái hành động của Phật, Pháp và các vị Tăng là cái hành động không có ác pháp, cái nhân lành, không có cái nhân ác ở trong đó. Vì vậy mà chúng ta tin sâu ba ngôi Tam Bảo tức là chúng ta đã thực hiện được cái nhân quả tốt, không phải là cái nhân quả xấu.

(01:00:37) Đó thì ở đây, thứ nhất là chúng ta tin nhân quả rồi. Thứ hai chúng ta tin ba ngôi Tam Bảo tức là những cái người, những cái pháp mà dạy chúng ta thoát ra nhân quả; những cái người đã sống vượt thoát ra nhân quả đó là Phật, là Tăng, và những cái pháp mà dạy chúng ta để vượt thoát ra nhân quả, đó là Pháp.

4. Tâm được Chánh Kiến;

Nghĩa là, khi mà chúng ta dùng cái Thập Thiện mà chúng ta dùng nó làm vũ khí, thì chúng ta sẽ có mười cái điều mà chúng ta cần phải lưu ý là: vui theo cái sự thiện, tin sâu nhân quả, tin sâu ba ngôi Tam Bảo, tâm thì nếu mà chúng ta tin sâu ba ngôi Tam Bảo thì luôn lúc nào chúng ta cũng thấy cái đúng chớ không có còn có thấy cái sai nữa.

Bởi vì tin nhân quả, rồi tin ba ngôi Tam Bảo thì những cái gì mà ở trong ba ngôi Tam Bảo này dạy, thì đó là những cái Chánh Kiến của chúng ta.

5. Không đọa ba đường ác;

Nghĩa là cái người mà có Chánh Kiến rồi thì lúc bấy giờ ba cái đường ác họ không có rơi vào trong đó. Còn nếu chưa có Chánh Kiến, thì lúc thì sân, lúc thì phiền não, lúc thì làm cái điều này, lúc làm cái kia đều là tạo cho chúng ta có những cái đau khổ liên tục ở trong cái hiện tại.

Chớ không phải là ba đường ác là chờ chúng ta để chết đi rồi mới đọa xuống địa ngục mới là gọi là ba đường ác đâu. Trong cái cuộc sống hiện tại chúng ta nó đã có ba đường ác ở trong đó rõ ràng. Cho nên vì vậy mà khi tâm mà được Chánh Kiến rồi thì chúng ta đoạn dứt được ba cái đường ác này.

Và khi mà ba cái đường ác này nó không có thì

6. Cái phước huệ của chúng ta không lường được;

Nghĩa là cuộc sống của chúng ta hạnh phúc vô cùng lận, nó rất là an vui.

7. Thấu rõ đường tà, tiến vào đường chánh;

Lúc bấy giờ chúng ta thấy rõ đường nào là tà, đường nào chánh chúng ta thấy rõ. Vì vậy mà trên con đường chúng ta tiến tới nó thuộc về nhân lành chớ không bao giờ có nhân ác ở trong đó.

8. Xả ngã, diệt tâm, chuyển hết nghiệp ác;

Nghĩa là bây giờ, lúc bấy giờ, cái tâm chúng ta lần lượt nó mới xả được cái ngã, nó mới diệt được cái tâm ham muốn của chúng ta, nó chuyển được hết các nghiệp ác.

Nghĩa là tất cả những cái nghiệp ác từ lâu mà chúng ta đã tích trữ, mà khi mà chúng ta chưa có biết được Phật pháp đó, chưa có biết nhân quả đó, chúng ta đã có những cái nhân ác nhiều đời nhiều kiếp của chúng ta ở trong cái nhân ác đó, mà nó tạo thành cái quả của chúng ta, hiện giờ bây giờ chúng ta đang ôm ấp những cái quả đó đó.

Thì khi mà rõ được, thấu suốt cái này, thì chúng ta chuyển được, xả được cái ngã, diệt được cái tâm thì chuyển được tất cả những cái nghiệp ác, cái quả ác ở trong cái cuộc đời chúng ta đang nhận, đang thọ lãnh đó. Nó chuyển sạch ra hết, làm cho chúng ta không còn khổ đau nữa. Mặc dù đứng trước mọi cái cảnh nào, mọi cái tình huống nào chúng ta cũng không còn khổ nữa.

9. Luôn luôn trụ Chánh Kiến;

Lúc nào chúng ta cũng ở trong cái sự hiểu biết, luôn luôn lúc nào cái hiểu biết của chúng ta cũng chân chính, chứ không phải bị chấp cái này, chấp cái kia, chấp cái nọ.

Và cái cuộc sống của cái người này, thứ mười chín là:

10. Cuộc sống người này không còn bị tai nạn nữa;

Nghĩa là, thay vì người ta bị nhân quả thì người ta sẽ gặp tai nạn này, tai nạn khác hay hoặc chuyện này, hoặc chuyện khác, thậm chí như bệnh tật, thì đó là những cái mà có thể nói đến là làm cho con người đau khổ đó, cái người mà người ta thực hiện được, người ta lấy mười cái điều lành này mà người ta làm vũ khí để người ta chiến thắng thì người ta có được mười cái điều lợi như vậy đó, thì cuộc đời của người ta kể từ đây người ta chuyển hóa được cái nhân quả, chuyển hóa được cái nghiệp ác của người ta.

Thì do đó trước những cái hoàn cảnh nào, trước những cái đối tượng nào thì những cái tai họa, tai nạn mà xảy đến, họ hoàn toàn họ vượt ra được hết, không bao giờ mà còn có một cái gì mà bủa vây làm cho họ khổ sở trong tâm hồn của họ được. Thậm chí như cái bệnh họ, đau nhức đến mà có thể nói rằng cái sức tận cùng chịu đựng của thân họ, họ cũng vẫn thản nhiên.

Bởi vì họ đã thực hiện được đúng Thập Thiện cho nên họ thấy hoàn toàn tâm họ bất động trước những cái đau khổ nhất của cái thân của họ, họ vẫn thản nhiên. Cho nên họ thoát khỏi tai nạn là như vậy, họ chuyển hóa được cái nghiệp ác của họ, cái quả ác của họ, cho nên họ không còn thấy đau khổ nữa.

7.3- TU THẬP THIỆN ĐỂ BỎ NGHIỆP DỮ, THÀNH TỰU NGHIỆP LÀNH

(01:04:49) Người tu Thập Thiện thường chế ngự lòng buông lung, phóng dật, bỏ các nghiệp dữ, thành tựu các nghiệp lành, chuyển đời khổ đau, bất an, bất toại nguyện thành đời sống an vui hạnh phúc, mọi việc đều được toại nguyện như ý, đời sống luôn thuận theo chánh đạo.

Tu Thập Thiện chỉ có người trí mới có ý thức hiểu được sự lợi ích của nó đối với cuộc sống, tâm thường quyết thực hành, sống cho bằng được. Nhờ có quyết tâm sống đúng mười điều lành, chúng ta mới chuyển được kiếp sống địa ngục lầm than đầy khổ đau, phiền muộn biến thành cảnh thiên đàng, an lạc, hạnh phúc, an vui.

Đó thì, nội cái Thập Thiện không – thì quý thầy đã thấy rằng Thập Thiện nó thuộc về nhân quả, cho nên nó nhân quả thiện thì tức là cái nhân quả ác nó sẽ bị diệt đi, mà nó diệt đi thì nó đem lại cái đời sống an lạc, hạnh phúc cho con người.

Do thế cái điều kiện mà quan trọng cho cái con người ở trên cái hành tinh này là cái điều kiện là họ phải thực hiện những cái điều lành. Từ cái bàn tay, cái khối óc, cái hành động của họ, cái miệng của họ mà thực hiện điều lành thì họ mang lại cái sự an lạc, hạnh phúc cho đời sống của họ.

Mà nếu họ từ cái hành động thân, khẩu, ý của họ mà họ thực hiện điều ác thì tự họ, họ cũng đem lại cái sự đau khổ, cái sự bất an, cái sự bất toại nguyện cho họ. Và chính cái chỗ này cho nên đó là cái vấn đề trọng đại của đạo Phật.

Chớ không phải cái sự trọng đại của đạo Phật là chúng ta ngồi thiền, nhập định làm chủ sự sống chết, chấm dứt sự tái sanh luân hồi. Cái đó là cái thiểu số, cái đó là cái số ít, cái (đó) là cái số ít người.

Còn cái chỗ Thập Thiện này là cái chỗ đông người, mọi người làm được, đem lại một cái hạnh phúc cho mọi người an vui, thanh bình, đem lại cho một cái xã hội có trật tự, cho con người biết thương nhau, cho con người không xa lìa với nhau, đem lại cho con người sống chan hòa một tình thương phủ trùm bên nhau. Đó là Thập Thiện đó.

Vì vậy mà cho nên cái lộ trình thứ nhất này mà quý thầy đã thấy là cái người mà theo đạo Phật người ta phải thực hiện Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả.

(01:07:07) Để làm gì?

Để thực hiện cái tình thương chan hòa với nhau, để xây dựng một cái đời sống biết thương nhau, biết giúp đỡ nhau, biết an ủi nhau.

Vì con người sanh ra là do nhân quả, cho nên nhân quả là phải có sự khổ đau. Mà đã thực hiện được tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả thì do đó nó mới hết khổ đau, con người mới chấm dứt sự khổ đau. Cái mục đích đó là cái mục đích chính của đạo Phật, để đem lại sự thoát khổ cho con người.

Chớ không phải cái mục đích mà nhắm vào cái chỗ mà tu tập cao siêu đến cái mức độ mà có dùng Tứ Như Ý Túc là biến hóa thần thông phép tắc, không phải là mục đích đó đâu. Mà cái chính của đạo Phật là cái chỗ Thập Thiện này, là cái chỗ nhân quả lành này, chớ không phải là nhân quả ác.

Muốn hưởng được phước báu trời, người thì hãy dứt trừ, từ bỏ, xa lìa, viễn ly mười nghiệp ác…​

Mười điều dữ đó.

…​ hàng ngày trau dồi tu tập mười điều lành. Cứ mỗi lần bỏ xuống một nghiệp ác thì ngay đó nghiệp lành hiện ra. Thiện nghiệp càng nhiều, thân tâm càng được thanh thản, an vui, sống không biết khổ đau, không biết chán chường.

Biết được sự lợi ích và quả giải thoát lớn cho kiếp sống con người và xã hội, người cư sĩ phải quyết tâm nỗ lực thực hiện bằng mọi cách để sống đúng mười điều lành mà Đức Phật đã đem hết tâm huyết mình truyền lại cho đời sau, để con người trong cuộc sống được an vui, hạnh phúc bên nhau.

Kinh Thập Thiện dạy: Cứ tiếp tục mãi xây dựng tư tưởng và cuộc sống toàn Thập Thiện, không còn một chút thập ác thì sẽ được bốn ưu điểm trong cuộc sống:

1. Thân tâm thanh thản, nhẹ nhàng, an lạc, thường hiển lộ một niềm vui bất tận.

Đó là cái thứ nhất của cái lợi ích của Thập Thiện đó. Nó làm cho thân tâm của mình nó nhẹ nhàng, thanh thản, tâm hồn lúc nào cũng an vui với cái sự an vui của mười cái điều lành.

(01:09:24) Hành động thân khẩu ý biểu lộ đầy đủ đạo đức nhân quả, không làm khổ mình, khổ người. Lòng hiếu sát, hung hăng xưa kia biến mất, lòng từ bi bác ái hiện rõ, đối với người khác và loài vật đều thương. Thường lấy câu “lấy ân trả oán” thì oán sẽ trở thành ân nghĩa và thương yêu nhau.

2. Tâm không còn giận hờn thì dù oán, dù bất cứ sự việc gì cũng tiêu tan. Con người đối với con người không còn sự đấu tranh, giết hại lẫn nhau, chỉ còn một lòng tương thân, tương ái. Xã hội con người không còn biết ghét nhau, giận nhau, chỉ có một lòng thương yêu duy nhất.

Chúng ta hôm nay có đủ duyên lành mới được nghe lời thuyết giảng dạy của Đức Phật để thông hiểu và trau dồi và dứt bỏ để tu tập Thập Thiện.

Pháp môn Thập Thiện rất cụ thể, thực tế, có thứ lớp, trong khi thực hành rất khoa học để cho mọi người dễ dàng thực tập. Sống đúng Thập Thiện đạt được cuộc sống hạnh phúc, an lạc, đầy đủ.

Đã quyết tâm tiến bước trên đường về đất Phật, nếu không khởi hành bằng đường Thập Thiện thì đừng mong đến xứ Phật được. Ba đời chư Phật và các bậc Thánh Hiền thoát vòng sanh tử, chứng quả Vô Thượng Bồ Đề sống và tu tập đúng Thập Thiện. Các Ngài lấy Thập Thiện làm nền tảng vững chắc để xây dựng ngôi nhà thiền định của mình.

Thập Thiện có công năng giúp ta ngăn ngừa các hành vi độc ác thân, khẩu, ý của mình, nhờ thế, tất cả hoàn cảnh đều được yên vui, an lành và hạnh phúc.

Thập Thiện giúp cho ba nghiệp thân, khẩu, ý chúng ta lần lần tiêu tội và được thanh tịnh.

Nhờ thân khẩu, ý, thanh tịnh, thân tâm chúng ta mới thanh tịnh.

Nhờ thân tâm thanh tịnh chúng ta mới tịnh chỉ các hành trong thân.

Nhờ tịnh chỉ các hành trong thân chúng ta mới nhập định.

Nhờ nhập định chúng ta mới khai triển trí tuệ Tam Minh.

Nhờ Tam Minh chúng ta mới diệt sạch lậu hoặc.

Nhờ diệt sạch lậu hoặc chúng ta mới làm chủ sự sống chết và chấm dứt luân hồi.

(01:12:21) Người biết tu Thập Thiện và sống đúng Thập Thiện là người đầy đủ hạnh phúc nhất trần gian. Nhờ tu Thập Thiện, vạn pháp không còn là chướng ngại của tâm thì sự đau khổ phiền não đoạn dứt, thân tâm thường được an ổn, thanh thản, đời sống hạnh phúc và phước báu rõ ràng.

Thập Thiện là cái nhân đoạn dứt ba đường ác khổ trong thân tâm. Tuy ta còn ở cõi Ta Bà, nhưng cuộc sống của chúng ta như ở cõi Trời, cõi Thiên Đàng.

Thông hiểu rõ sự lợi ích lớn của pháp môn này, chúng tôi thành tâm khuyến khích mọi người cư sĩ cũng như tu sĩ đừng thấy pháp môn Thập Thiện chê nó là pháp môn thấp bé, cho nó là những người ngu mới tu hành pháp này.

Hiểu như vậy rất là lầm lạc. Thập Thiện là pháp môn tu tập rèn luyện đạo đức nhân quả cho mỗi con người trở thành tốt đẹp và xây dựng xã hội thanh bình, an lạc.

Vì vậy, trước tiên quý vị phải tu tập Thập Thiện. Đừng ngồi thiền như cây, như đá, chẳng ích gì cho mình, cho người, cho xã hội.

Ngồi thiền riết không thành Phật mà thành cóc, hễ ai đụng tới thì tham, sân, si, mạn, nghi nổi lên ầm ầm như sóng bủa, hở ra một chút thì chướng tâm, ngại ý, luôn luôn tâm hồn bất toại nguyện, sống trong cảnh nào cũng bất an.

Đó thì quý thầy thấy, có nhiều người tu thiền rồi cứ dính mắc cảnh này, cảnh kia.

Bây giờ ở trong cảnh này xe cộ rần rần, nhà máy chạy xình xịch như vậy đó, thì: “Cảnh này tu không được đâu, tui đi tìm rừng rú kìa, không tiếng động kìa, tui mới tu được!” Đó là mình bất an, bất toại nguyện ở trước cái cảnh của mình rồi.

Tu thiền thì đâu có động tâm như vậy! Cho nên cái người mà thực hiện Thập Thiện người ta không có động tâm cái điều đó đâu, cho nên lúc bấy giờ người ta thực hiện thiền định ở cảnh nào người ta tu cũng tốt hết.

Còn mình thì cứ lo tìm cái cảnh yên tịnh để mà tu thiền định, nhưng mà cuối cùng thì đụng cảnh nào cũng bị động hết, không có cảnh nào mà gọi là toại nguyện cho mình.

Tu như vậy không giải thoát mà địa ngục mở cửa đón chờ, quỷ sứ hầu hạ!

Thập Thiện là đường lối, là pháp môn rèn luyện con người sống đạo đức không làm khổ mình khổ người, không làm rối loạn xã hội, đem lại sự an vui cho người, cho mình, cho xã hội.

Vậy quý thầy cần phải siêng năng tu tập và rèn luyện thân tâm mình trong pháp môn Thập Thiện này, nó là pháp môn rất quý báu ở thời đại, trong thế gian hiện đại của chúng ta.

7.4- KHẨU NGHIỆP TẠO CHO CON NGƯỜI NHIỀU ĐAU KHỔ NHẤT

(01:15:30) Để kết thúc cái giai đoạn tu Thập Thiện bằng một bài kệ: Phàm con người ở đời. Đây là cái bài kệ đây.

Phàm con người ở đời

Búa rìu từ trong miệng

Sở dĩ giết chết mình

Là do lời nói độc

Người đáng chê thì khen

Người đáng khen thì chê

Đây thuộc nghiệp ác khẩu

Mà thân chịu hành khổ.

Đó là cái bài kệ trong cái kinh Thập Thiện. Khi mà đến kết luận của bài Thập Thiện thì Thầy rút ra một cái bài kệ ở trong tất cả những cái kệ ngôn của Phật.

Nói về những cái điều mà làm ác của mình, thì Phật lại lấy cái lời nói của chúng ta mà cho nó là…​ Bởi vì ở trong Thập Thiện thì về cái hành động của khẩu nó có bốn cái hành động ác khẩu lận, chớ không phải một, mà về thân thì nó có ba, mà về ý có ba à, mà về khẩu rất nhiều.

Cho nên Phật mới nhắm vào cái chỗ khẩu nghiệp, mà tạo cho con người ta đau khổ nhiều nhất là cái khẩu nghiệp: Nói ra thì có chuyện này, nói ra có chuyện kia đó.

Cho nên ở đây cái bài kệ đó, Đức Phật lấy từ cái chỗ khẩu nghiệp mà nói ra để chúng ta biết rằng chúng ta khổ sở là do cái nghiệp khẩu của chúng ta rất nhiều.

Phàm con người ở đời

Búa rìu từ trong miệng.

Đức Phật nói: Cái lời nói của mình như búa rìu đó.

Sở dĩ giết chết mình

Nó giết mình chết, mà nó giết người khác nữa chớ không phải là nội giết mình đâu.

Là do lời nói độc

Người đáng chê thì khen

Người đáng khen thì chê

Đây thuộc nghiệp ác khẩu

Mà thân chịu hành khổ.

Đó, chỉ lấy cái Thập Thiện mà lấy về cái khẩu nghiệp – về bốn cái điều ác của cái miệng mà tạo con người quá khổ, mất hạnh phúc ở trong cuộc đời này.

(01:17:28) Cho nên kế tiếp thì Phật có đem ví dụ:

Dùng chú thuật đạt lợi

Tội ấy cũng còn nhẹ

Nghĩa là mình dùng bùa chú mình làm để mình lấy của người ta đó, thì Đức Phật xem như là cái tội nó còn nhẹ hơn là cái tội mà mình dùng cái khẩu – ác khẩu của mình đó. Đó là cái thứ nhất.

Cái thứ hai thì Đức Phật cũng đem cái so sánh nữa:

Nếu lấy kinh điển Phật

Hiểu không thấu nghĩa lý

Thành hủy báng Thánh Hiền

Tội ấy rất là nặng.

Nếu mà đem cái kinh điển của Phật mình dạy cứ thiền định không đó, thì tức là người ta không có hiểu được cái nghĩa lý của những cái điều mà tạo ra những cái đau khổ cho con người như thế này thì đó là mình phỉ báng Phật pháp rồi.

Cho nên hầu như người ta cứ lấy kinh điển Phật mà người ta cứ lo tu thiền mà người ta không có tu thiện, cho nên từ đó mà con người khổ vẫn hoàn khổ.

Cho nên đó là chỗ cái bài kệ này Đức Phật đem chúng ta thấy để chúng ta nhận cho rõ.

Nếu lấy kinh điển Phật

Không hiểu thấu nghĩa lý

Tức là mình không hiểu, cho nên mình lấy nó, lấy đó để mình tu thiền mà mình không thấy được cái Thập Thiện, vì vậy đó thành ra hủy báng Phật pháp đó.

Bởi vì cái bài kệ này nó liên tục để Đức Phật thấy cái chỗ mà chúng ta hiểu sai, mà không hiểu Thập Thiện mà lại hiểu về thiền định, hiểu về Bốn Thiền tám định hay hoặc là Tam Minh, mà không hiểu được cái chỗ mà căn bản nhất của cái đạo Phật, mà lợi ích nhất của đạo Phật đối với con người.

Bởi vì đạo Phật nhằm ra đời là để giải quyết cái nỗi khổ của con người, chớ đâu phải giải quyết Tam Minh, đâu phải giải quyết cái sự vi diệu, thần thông phép tắc đâu, đâu có giúp con người làm cái chuyện đó!

Mà giúp cho người thoát cảnh khổ, biết thương nhau, biết đùm bọc nhau, để biết xoa dịu những cái sự khổ của cái nhân quả nghiệp báo mà mỗi con người đều đã có mang theo nó ở trong thân tâm của mình rồi.

Cho nên ở đây mà hiểu kinh điển của Phật theo cái kiểu mà cứ biết thiền, biết định đó không thì cái đó là cái hiểu sai, cái đó thành hủy báng Phật pháp, cái tội đó rất nặng.

Cho nên chúng ta phải trở về với cái Thập Thiện thì chúng ta mới hiểu đúng Phật pháp, mà không trở về với Thập Thiện thì chúng ta hiểu sai Phật pháp.

(01:19:32) Đây cái bài kế nữa, Đức Phật cũng nhấn mạnh cái chỗ này để chúng ta thấy:

Nếu lấy kinh điển Phật

Không thấu hiểu nghĩa lý

Không thực hành viên mãn

Lại đem dạy người khác

Thành hủy báng Thánh Hiền

Tội ấy còn nặng hơn.

Đó. Bây giờ mình thực hiện Thập Thiện chưa được nè, mình chạy theo ham muốn, mình còn làm những cái điều ác bằng những cách này, bằng những cách khác, thế mà mình thực hiện chưa xong rồi mình đem mình dạy người khác, người khác người ta cũng thực hiện chưa xong, đó là mình phỉ báng Phật pháp.

Thay vì kinh điển của Phật đem ra dạy người để cho người ta được cái hạnh phúc, an vui, được cái sự thương yêu nhau, thì cái đó là cái đúng. Mà bây giờ người ta không thương nhau, mà người ta theo đạo Phật mà người ta dày xéo lên nhau bằng cách này, bằng cách khác, thì thử nghĩ cái đạo Phật bây giờ là cái đạo cứu khổ, mà bây giờ cứu ai đâu bây giờ?

Càng ngày họ càng học Phật pháp họ lại càng huênh hoang nữa, thì cái điều đó là cái điều càng lúc càng sai.

Và cái người mà không hiểu Phật pháp đem kinh điển của Phật pháp dạy như vậy đó, thì cái người đó phải thọ lấy những cái tội còn nặng hơn.

7.5- ĐẠO PHẬT THOÁT KHỔ NHỜ ĐI TRONG CON ĐƯỜNG THIỆN

Đó, kết thúc cái bài kinh mà cái lộ trình thứ nhất tu tập về Thập Thiện – mười cái điều lành để dứt trừ mười cái điều ác là cái lộ trình thứ nhất để chúng ta biết được cái đúng của đạo Phật. Mà chính cái chỗ này là cái mục đích của đạo Phật, muốn đem cái giáo pháp này để giúp cho đời thoát khổ.

Chớ không phải để giúp cho chúng ta có những cái thiền định cao siêu, làm cái chủ cái sống chết, để làm cho người ta thấy: “Cái ông đó nhập định không có thở nữa!” – hay hoặc là biến ra nhiều thân, hay hoặc là hóa lửa, hóa hào quang…​

Cái điều đó là không phải cái chỗ mục đích của đạo Phật đâu. Cũng như không phải là ngồi đó mà thực hiện Tam Minh nhớ lại nhiều đời nhiều kiếp của mình, gọi là cái đó hay đâu.

Cái chính của đạo Phật là cái chỗ làm sao cho con người ở trên thế gian này, trên hành tinh này là không còn khổ nữa. Cuộc sống không có cần mà thánh thiện gì hết, mà chỉ biết thương nhau, chỉ đừng có làm khổ nữa.

Mà chính những cái bàn tay khối óc của họ, họ hành đúng, ba cái hành động thân, khẩu, ý của họ toàn là thiện thì họ sẽ gặt được cái quả tốt của đời sống của họ. Từng đó họ chấm dứt được cái đau khổ, chính bàn tay của họ.

Cho nên Phật gọi là “tự thắp đuốc lên mà đi”. Đi ở trong con đường thiện để cứu lấy mình, chớ đâu phải đi trên con đường thiền định để mà cứu có mình mình à!

(01:21:48) Bây giờ Thầy nhập định được, thử hỏi quý thầy bây giờ muốn chết như Thầy được không? Mà Thầy có làm gì cho quý thầy chết được không? Có đâu được!

Thầy bảo hơi thở Thầy ngưng, còn quý thầy, Thầy nói bảo – Thầy bảo giùm cho các thầy, Thầy bảo hơi thở của các thầy ngưng, có ngưng được không? Thầy chỉ ngưng có mình Thầy à. Còn bao nhiêu người đó, muốn chết không có được. Bây giờ nó gần dở chết, dở sống, đau khổ gần chết mà bảo ngưng hoài nó ngưng không được!

Thầy đâu có bảo được, Thầy chỉ có bảo một mình Thầy, thì cái đó là cái ích kỷ của Thầy chớ không phải là cái thực hiện tốt đâu.

Còn cái Thập Thiện là cái chúng ta đem lại cái nguồn hạnh phúc chung cho mọi người, mà cái đó cái dễ, đâu có phải là cái khó.

Bởi vì chúng ta biết cái ác thì chúng ta đừng làm, chúng ta biết cái thiện thì chúng ta làm, thì cái điều đó là cái điều đem đến hạnh phúc cho mọi người. Và cái tầm vóc của con người nào cũng có thực hiện được hết, không có người nào mà làm không được.

Một trẻ con bây giờ năm, sáu tuổi, bảy, tám tuổi, bảo nó: “Đừng có giết mấy con kiến đ! Những con vật đó nó biết đau lắm, con đừng có giết nó!” Những cái đứa trẻ nó nghe vậy nó thấy nó không bao giờ nó giết đâu. Cái chuyện đó con nít làm được mà, nó vẫn tu được mà, đâu có gì mà khó đâu!

Đó là những cái điều kiện mà chúng ta dạy nó, từ đó nó không giết hại chúng sanh, nó không làm đau khổ chúng sanh, thì cái hành động đó nó sẽ đem lại cho nó sau này nó không có cái quả khổ đối với cái hành động của nó làm tốt.

Đó thì, tự nó, nó đã làm, chớ mình đâu có làm cho nó được đâu. Nó không giết hại thì nó không khổ, mà nó giết hại thì nó phải chịu lấy cái thọ khổ đó.

Đó là những điều mà hôm nay nó thực tế và cụ thể như vậy, thì con nít bây giờ năm tuổi mười tuổi nó vẫn tu tập được theo đạo Phật, mà nó đem lại cái hạnh phúc cho nó sau này, đâu có gì mà khó đâu! Thập Thiện Thầy nói không khó đâu.

Chớ không phải là ngồi thiền hít thở như chúng ta bằng cách này, bằng cách khác thì con nít làm không được. Hay hoặc là bảo ngưng hơi thở thế này thế khác thì nó làm không được. Chớ bảo nó: “Đừng giết chúng sanh, đi coi chừng đừng đạp kiến đồ đó!” – thì có thể nó làm được.

Mà nó làm được, cái tâm nó từng đó nó biết thương tất cả chúng sanh thì nó phải thương tất cả mọi người khác. Từng đó chúng ta tập luyện nó, mà những hành động hằng ngày nó làm như vậy, thì nó huân lại những cái điều đó, thì cái đời nó không có còn khổ nữa, chính cái đó là cái tốt của nó./.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 131)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.