ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giáo án 04 – Sống mười điều lành 01

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giáo án 04 – Sống mười điều lành 01

A A A
Module cannot be rendered as the requested content is not (longer) accessible. Contact the administrator to get access.

GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 04

SỐNG MƯỜI ĐIỀU LÀNH – PHẦN 1

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 1997

Thời lượng: [02:14:11]

 

1- TỔNG QUAN VỀ THẬP THIỆN

(00:00) Trưởng lão: Đến đây Thầy sẽ dạy tiếp. Vì trong cái giáo án này, người cư sĩ bắt đầu phải tu tập, học hiểu mười cái điều lành mà trong kinh Phật dạy là Thập Thiện.

Để tóm lại bài giảng kỳ rồi để cho quý thầy thông hiểu nghiệp:

Đối với đạo Phật được xem nghiệp là đấng tạo hóa sinh ra loài người và chúng sanh, nên nó thường sai khiến con người. Vì thế, con người là kẻ được thừa tự của nghiệp. Đời đời, kiếp kiếp của con người tiếp nối nhau trong sáu nẻo luân hồi, đau khổ đều chính do nghiệp mà ra.

Biết vậy, chúng ta cần phải chấm dứt nghiệp. Chấm dứt nghiệp là chấm dứt tái sanh luân hồi, sanh tử và đau khổ.

Muốn chấm dứt nghiệp thì chúng ta phải xem xét nghiệp đang hành sự ở chỗ nào? Trên thân chúng ta có ba nơi mà nghiệp đang hành sự.

Ba trụ sở đó là đâu? Là thân, miệng, ý của chúng ta. Hằng ngày đêm, nghiệp thường đến ba nơi này làm việc liên tục.

Nó làm việc gì ở đây? Nó đến ba nơi này để chỉ đạo, điều khiển con người và tất cả chúng sanh làm điều thiện hoặc điều ác.

Vậy điều thiện như thế nào và điều ác như thế nào?

Muốn biết được điều thiện, điều ác chúng ta cần phải tư duy, suy nghĩ: Con người sinh ra đời, mang theo thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.

Nếu thân, khẩu, ý nghiệp thiện, con người được hạnh phúc, ấm no, an vui, yên ổn. Bằng ngược lại, thân, miệng, ý nghiệp ác thì phải thọ lấy bệnh tật, tai nạn, nghèo đói, phiền não, đau khổ, giận hờn, thương ghét, sầu muộn, sợ hãi v.v…​

(02:15) Như Thầy đã giảng trạch ở trên, nghiệp phân chia loài người và chúng sanh có tốt xấu, sang hèn, quyền thế, vua chúa, dân dã, quan quân, sĩ tốt, người nghèo, người giàu, người thông minh, người u tối, v.v.

Ước vọng của con người khi sinh ra đời đều mong được mạnh khỏe, sống lâu, an vui, hạnh phúc, ít bệnh, ít tật, nhiều may mắn. Nhưng mấy ai trên đời này được toại nguyện?

Sự thật, đời người từ khi sinh ra cho đến ngày đi về lòng đất, chỉ một chuỗi dài thời gian chịu biết bao nhiêu gian khổ, lại còn bệnh tật, tai ương và chết.

Thảm trạng của đời người là vậy nhưng mấy ai đã biết? Nếu không có Đức Phật mở lối, khai đường dẫn dắt chúng sanh thì biết chừng nào ra khỏi sáu nẻo luân hồi đau khổ này!

Vì chính vô minh mê mờ không hiểu, con người đã lầm chấp mọi vật trên thế gian này là thường còn, thường hằng, cho thân tâm này là cái ngã của mình, nên cố gắng bảo vệ, nuôi dưỡng và phục vụ nó một cách điên khùng, tạo nhiều điều ác độc. Thậm chí có người còn mơ mộng đi tìm thuốc trường sanh hoặc tu hành luyện đơn để được trường thọ sống lâu muôn đời.

Nhưng xét cho cùng có mấy ai đã làm được? Chỉ vì vạn pháp trên thế gian này đều vô thường, nay còn, mai mất, tan hợp như mây giữa trời.

(04:51) Vì vô minh không hiểu lý duyên hợp của vạn pháp, nên không thấy nghiệp lực diễn biến trên lộ trình nhân quả kiếp này đến kiếp khác, liên tục không bao giờ dứt; thân tâm này vừa tan hoại, kế nối thân tâm khác, như cây đuốc này vừa tắt nối tiếp cây đuốc khác; cứ mãi tiếp nối như vậy suốt thời gian vô tận mà không có một lộ trình nào thoát ra khỏi.

Mỗi kiếp người sinh ra, phải chịu biết bao quả báo đau khổ do chính hành động thân, miệng, ý của mình. Nhưng nào ai có biết, cứ mãi chạy theo danh lợi và vật chất thế gian, càng lúc càng tạo thêm nhiều điều ác độc, tội lỗi.

Người cư sĩ muốn chấm dứt hoàn cảnh khổ đau đời sống của mình, vượt thoát cảnh tù tội ở thế gian, những tai nạn hiểm nghèo, bệnh tật nan y, những xung đột; lòng tỵ hiềm, ganh ghét, tánh ích kỷ, nhỏ mọn, hẹp hòi và tâm dối trá, xảo quyệt, v.v…​ thì trước tiên phải thông hiểu Thập Thiện – tức là mười điều lành Phật đã dạy. Rồi sau lần lượt phải trau dồi thân tâm trong mười điều lành này để dứt trừ mười điều ác.

(06:23) Thập Thiện là con đường đưa con người đi đến nơi hạnh phúc chân thật, giúp con người thoát ra khỏi tâm niệm thường tình thế gian.

Thập Thiện rèn luyện con người đạo đức nhân quả, trở thành người tốt trong xã hội hiện nay và mai sau; giúp tâm tánh con người không còn ác độc, xảo trá, gian dối, lừa bịp; khiến con người trở thành điềm đạm, khiêm tốn, giản dị, hiền lành, có đầy đủ nhân cách làm người và còn đủ sức nhẫn nại vượt qua bao cam go thử thách của cuộc đời.

Thập Thiện chuyển cảnh khổ đau, đói rét, bất toại nguyện trở thành cảnh an vui, yên ấm, hạnh phúc và tạo cảnh thuận duyên mãi mãi cho cuộc sống con người.

Thập Thiện xây dựng cho chúng ta một cuộc sống đạo đức chân thật, luôn luôn mọi cá nhân làm gương tốt cho người khác.

Thập Thiện biến kẻ hung ác sát nhân, trộm cướp, hãm hiếp trở thành những người lương thiện, tâm hồn trong sạch, không còn lo sợ tù tội thế gian và ba đường ác.

Thập Thiện cải biến nghiệp ác thân, miệng, ý trở thành nghiệp thiện thanh tịnh, không phạm phải lỗi lầm, lỗi ác.

(08:13) Người cư sĩ không tu Thập Thiện, ba nghiệp thân, miệng, ý tạo đầy đủ mười điều ác. Đó là tạo nhân quả khổ đau cho kiếp sống hiện nay và đưa đến ngày mai.

Địa ngục là con đường đau khổ nhất trong sáu nẻo luân hồi. Đâu phải đợi ngày mai chết mới sa địa ngục mà chính ngay trong cuộc sống hiện tại, nếu ai đã làm đủ mười điều ác chắc chắn phải chịu thọ một đời sống hoàn toàn đau khổ như trong địa ngục vậy.

Quý thầy cứ xem có một kẻ nào ưa làm điều ác: sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói lưỡi hai chiều, nói lời thêu dệt, nói lời hung ác, tham lam, sân hận và si mê; có lúc nào người này được an vui đâu? Dù họ ở địa vị nào trong xã hội, bản thân và tâm hồn của họ vẫn đen tối và đau khổ bất tận.

Phật dạy chúng ta tu Thập Thiện cốt là tạo đầy đủ phước báu để chuyển hóa cuộc sống của chúng ta hiện nay được an vui, hạnh phúc và đời sau còn được thỏa mãn mọi nhu cầu trong cuộc sống dù bất cứ sanh nơi đâu.

Thập Thiện có lợi ích, có thành quả lớn như vậy, ai là người đã đủ duyên được nghe, đọc, thấy, hiểu biết và được tu tập, đó là một phước báu lớn của kiếp người, kiếp làm con người.

(09:50) Vậy hôm nay, chúng ta đã được biết Thập Thiện, đừng để luống qua một cuộc đời đen tối và đau khổ. Được kho báu đạo đức làm người tốt mà không biết dùng kho báu, đành để một đời nghèo khổ đạo đức, lang thang trong sáu nẻo luân hồi, khổ đau bất tận!

Như trên Thầy đã dạy, người nào muốn thoát khỏi thân bệnh, tâm bệnh, tai nạn này hoặc tai nạn khác và cầu mong gia đình được an vui, đằm thắm, con cái hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, sống trong tình nghĩa thương yêu mặn nồng, tràn đầy hạnh phúc thì hãy tu tập Thập Thiện.

Thập Thiện là mười điều lành do thân, miệng và ý hành động.

1. Thân có ba nghiệp thiện, ngược lại là ba nghiệp ác:

1. Không giết hại chúng sanh;

2. Không trộm cắp;

3. Không tà dâm.

2. Khẩu có bốn nghiệp thiện, bằng ngược lại là bốn nghiệp ác:

1. Không nói dối;

2. Không nói thêu dệt;

3. Không nói hai chiều;

4. Không nói lời hung ác.

3. Ý có ba nghiệp thiện, ngược lại là ba nghiệp ác:

1. Không tham lam;

2. Không sân hận;

3. Không si mê.

Bây giờ chúng ta trở lại giải thích từng phần của Thập Thiện.

2- THẬP THIỆN – THÂN HÀNH

2.1- TỔNG QUAN VỀ BA HÀNH ĐỘNG THIỆN CỦA THÂN

(11:50) Bây giờ trở lại, Thầy giải thích để hiểu biết về cái phần một là do thân của chúng ta.

Bởi vì thân chúng ta có ba cái hành động của nó. Cái hành động thứ nhất của nó là nó giết hại chúng sanh như tay, chân của mình đánh đập hoặc làm đau khổ chúng sanh do cái hành động của thân.

Trên đường đi mà chúng ta vô tình, đi không nhìn xuống đất thì chúng ta sẽ đạp phải những loài côn trùng, dế hoặc là những loài vật nhỏ dưới mặt đất, thì đó là chúng ta cũng phạm vào cái tội vô tình giết hại chúng sanh.

Còn huống hồ là chúng ta cố ý bắt những con vật giết đi rồi làm thịt rồi để biến nó thành những thực phẩm để nuôi cái cơ thể chúng ta. Đó là những điều rất là ác.

Cho nên cái thân chúng ta có những hành động làm ác, cái hành động đó tạo thành cái nghiệp: nghiệp đau khổ, nghiệp giết chóc.

Cho nên đạo Phật dạy chúng ta, khi thọ thực thì cái tâm từ bi chúng ta phải biến mãn khắp cùng chúng sanh, nghĩa là lòng thương yêu chúng ta đối với chúng sanh, khi miếng ăn là cái vật để nuôi thân chúng ta sống, thế mà trước khi ăn chúng ta đã thấy, nghe và nghi.

Cái thấy, nghe và nghi đó giúp cho chúng ta trau dồi được tâm từ bi, tức là lòng thương yêu của chúng ta đối với muôn loài.

Người đời không hiểu, họ ăn để sống, họ nghĩ để cho sức khỏe họ được đầy đủ, dồi dào nên họ không nghĩ đến sự đau khổ, sự chết chóc của chúng sanh trong sự ăn uống của họ.

Vì thế, thân họ hay làm những điều độc ác để biến chúng sanh thành những thực phẩm họ ăn. Từ đó họ tạo cho họ có nhiều sự đau khổ diễn biến trong cuộc đời của họ do tâm ác độc này.

(14:12) Cái thứ hai, cũng do thân hành động của họ đó là lấy của không cho, tức là trộm cắp.

Người đời người ta muốn ở không mà ăn, muốn rảnh rang mà sướng, cho nên có nhiều người nghĩ rằng: tham lam lấy của người, nó thêm cho mình được cái này, cái nọ kia mà không mất sự lao động của mình, không có sự lao động của mình. Vì thế mới có trộm cắp, tham lam do thân chúng ta làm.

Cũng như, khi tâm chúng ta ham ăn một cái bánh, cái kẹo hoặc là một trái cây, do chúng ta không dừng được, không ngăn được, không xả bỏ được cái hành động thân, mới lấy cái bánh, mới trộm trái cây mà ăn, thì đó cũng thuộc về loại trộm cắp.

Do cái thân hành động đó tạo cho chúng ta nghèo khổ và đói rách sau này.

Thân chúng ta còn hành động một điều nữa là tà dâm.

Đối với người cư sĩ thì Phật không cấm cái sinh lý con người, nhưng đừng có dan díu với người này, người kia để tạo cho gia đình mình không yên ổn.

Không có người nào mà khi vợ mình tà dâm với người khác mà không ghen. Ngược lại thì khi người chồng của mình tà dâm với người khác mà người vợ không ghen. Mà nỗi ghen tuông là sự đau khổ có thể đi đến cái tai hại rất lớn là giết người.

(15:45) Vì thế thân có ba hành động, người cư sĩ chúng ta cần phải lưu ý. Mỗi hành động chúng ta làm ra do thân, chúng ta phải hiểu, phải biết thương yêu chúng sanh, đừng làm đau khổ, đừng đánh đập đau khổ chúng sanh.

Như vừa rồi có một con chó ở xóm này, nó chỉ ăn hai cái trứng gà của một người, người chủ mới bắt nó trói lại rồi treo lên, cứ khoảng độ hai, ba giờ đồng hồ thì đánh cho con chó một chập, và cứ như vậy mà suốt ngày hôm qua con chó mỗi lần bị đánh đập là kêu la, đau khổ.

Nhưng người đời người ta tưởng như vậy là người ta đã cái nư giận, là làm như vậy cho con chó không còn phạm phải những điều đó nữa. Nhưng thiết nghĩ chúng ta nuôi dưỡng chúng, không cung cấp cho chúng đầy đủ, chúng đói khát mới đi ăn trộm, ăn cắp để mà sống, thì lỗi của người chủ chớ không phải lỗi của con chó, thế mà người chủ lại hành hạ con chó một cách đau khổ!

Cũng như chúng ta, trong khi đang ngồi trong thất tu hành, nghe tiếng con ếch, con nhái bị con rắn cắn, tiếng kêu cầu cứu rất đau khổ, chúng ta thản nhiên ngồi tu hành nhiếp tâm không lưu ý. Nhưng đối với người tu sĩ đạo Phật không thể ngồi thiền trong một ngày mà thành đạo được, mà hãy thực hiện tâm từ bi.

Khi có một chúng sanh kêu cứu, chúng ta vội tháo chân ra để làm động cho hai con vật bỏ ra. Một con vật thoát khỏi sự đau khổ, sự chết chóc là chúng ta thấy an vui trong lòng hơn là chúng ta ngồi thiền trong một giờ hoặc hai giờ.

Lòng thương xót chúng sanh, chúng ta không nỡ nghe tiếng kêu cầu cứu của một con vật mà chúng ta vô tình.

Cũng như chúng ta nghe hai con mèo cắn lộn nhau, chúng ta biết chúng là con vật không trí tuệ, không hiểu được Phật Pháp cho nên thường tranh nhau ăn, hoặc là những điều gì chúng mới đánh lộn nhau gây ra thương tích đau khổ. Nghe một con vật khác không đủ sức chống cự, kêu cầu cứu mà chúng ta nỡ đành tâm để cho chúng đau khổ!

(18:34) Như vừa rồi, Thầy và Minh Tông ngồi trong thất, đang hỏi cách thức tu hành thì nghe một bầy chó cắn hiếp một con chó khác. Tiếng kêu la của con chó kia làm Thầy ngồi không yên, Thầy vội chạy ra và đuổi bầy chó, cứu đi một con chó đang bị chúng nỗ lực xé nhau mà giết con chó nọ.

Người tu sĩ chúng ta cần phải trau dồi lòng thương yêu của chúng ta đối với muôn loài. Bất kỳ trong giờ nào, phút nào, có quan trọng cách gì, trước cái đau khổ, trước cái chết của một chúng sanh, chúng ta đừng đành tâm vì công việc của mình mà để cho chúng đau khổ, chúng bị giết hại.

Thân hành của chúng ta có ba chỗ, không giết hại mà còn nỗ lực giúp cho chúng sanh thoát cảnh khổ và chết chóc.

Thân hành thứ hai của chúng ta là không tham lam, không lấy trộm, không lấy của không cho, nhất định dù một vật nhỏ nhất chúng ta cũng không lấy.

Thân hành thứ ba: đối với người cư sĩ thì không nên dan díu với người ngoài làm cho gia đình tan nát, lòng trung nghĩa đối với nhau không còn nữa. Bởi vậy, chúng ta là con người, chúng ta phải tránh những điều hành động không đúng cách này để tạo cho gia đình được đầm ấm, hạnh phúc, an vui.

Còn riêng đối với tu sĩ đã xuất gia thì hoàn toàn phải đoạn dứt tâm dâm dục. Như Thầy đã dạy: tâm dâm dục là con đường sinh tử của con người.

Ở đây trong bài này, Thầy dạy cho người cư sĩ mới đến với đạo Phật, cho nên giữ gìn nghiêm túc hành động, tránh đừng tà dâm để tạo cho gia đình mình một sự hòa thuận, yên vui. Cần phải suy ngẫm cho kỹ điều này, không khéo vì tâm sắc dục mà chúng ta tạo cảnh khổ cho bản thân mình và cho những người xung quanh mình.

2.2- KHÔNG GIẾT HẠI CHÚNG SANH

(21:08) Không giết hại chúng sanh.

Tại sao hành Thập Thiện con người thoát khỏi bệnh tật, tai nạn, giận hờn, phiền não, đau khổ và yểu tử?

Như trên Thầy đã giảng, con người do nghiệp sinh ra mà cũng chính con người tạo ra nghiệp để rồi con người chịu lấy những hậu quả của nghiệp.

Nếu nghiệp ác tạo ra thì họ phải chịu lấy những sự khổ đau, tai ương, hoạn nạn hoặc yểu tử, chia lìa, bệnh và chết. Nếu nghiệp thiện được tạo ra thì họ phải hưởng lấy những hạnh phúc, an vui như câu hỏi đã nêu trên.

Thập Thiện tạo ra nghiệp lành. Vì thế, chúng ta cần phải tư duy, suy nghĩ chín chắn.

Tại sao không giết hại chúng sanh?

Điều quả quyết: Vạn vật sanh ra trong vũ trụ này, không một loài vật nào không sợ chết, không sợ đau khổ và bệnh tật. Chẳng có sự vui mừng nào hơn sự vui mừng khỏi bị giết, khỏi bệnh tật, tai nạn.

Người đời thường nói: “Thà nghèo mạnh giỏi, còn hơn giàu sang đau ốm”. Câu tục ngữ của chúng ta, của dân tộc Việt Nam: “Ăn được, ngủ được là tiên”.

Ở đời không ân huệ nào lớn hơn ân huệ tha mạng chết. Loài vật sắp bị giết mà được tha thì nỗi lòng vui mừng không tả được.

Hòa Thượng Thiện Hoa dạy:

Như khi chúng ta thả một con chim sắp bị cắt cổ, nhổ lông, thả một con cá sắp đem chặt kỳ, đánh vảy. Chim được sống vui mừng bay nhảy, cũng như cá khỏi chết hớn hở lội bơi. Thế mới rõ: thoát nạn giết hại, chúng sanh nào không khấp khởi vui mừng! Nên chi không giết hại chúng sanh mà lại còn phóng sanh là nghiệp lành đứng đầu trong Thập Thiện.

Suy bụng mình nghĩ loài vật, chúng ta có nỡ lòng nào giết hại chúng sanh chăng? Chúng ta còn ham sống, sợ chết, lẽ đâu lại cướp mạng sống của muôn loài? Đừng mượn câu: “Nhơn dưỡng vật, vật dưỡng nhơn” mà hiểu nghĩa cạn cợt để đôi tay của chúng ta vấy máu chúng sanh, để tâm hồn chúng ta ngày càng hung ác.

(24:18) Chúng sanh giãy giụa trên thớt, dưới dao, tiếng kêu la thương đau quằn quại. Nhìn lại chúng ta, lăn lộn trên giường bệnh trong cơn bệnh ngặt nghèo, cơ thể rã rời, đau nhức vô kể, tiếng rên chẳng dứt.

Xét cái đau của thân mình, thương cái đau của chúng sanh chẳng khác nhau. Vậy mà, chúng ta nỡ đành lòng nào giết hại chúng sanh, ăn thịt chúng sanh?

Khi đã hiểu thấu pháp môn Thập Thiện là pháp môn tạo ra nghiệp lành, đưa chúng ta thoát cảnh lầm than của nghiệp ác, cải tạo đời sống của chúng ta từng hành động biết thương yêu muôn loài. Vì thế, chúng ta đâu còn nhẫn tâm làm đau khổ hay giết hại chúng sanh và ăn thịt chúng sanh được nữa!

Muốn không sát hại chúng sanh, chúng ta hãy chế ngự và khắc phục tâm mình. Đừng chạy theo những thực phẩm ăn ngon, khoái khẩu mà tạo tội lỗi ác độc: máu đổ, thịt rơi như núi, như biển mà chẳng lấp đầy lỗ miệng của chúng ta!

Thấu hiểu sự đau khổ của muôn người, muôn vật như chính sự đau khổ trong thân tâm của mình thì chúng ta phải cố gắng từng phút, từng giây tỉnh thức để tu tập và tránh khỏi vô tình giết hại chúng sanh vì sát sanh là cái nhân tạo ra nghiệp bệnh khổ, tử vong, tai nạn, yểu tử…​ Nợ máu xương này phải đền bù, dù trốn đâu cũng không khỏi!

(26:15) Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” dạy:

Nếu ai không giết hại chúng sanh, không làm đau khổ chúng sanh thì sẽ được mười điều lợi ích:

1. Tất cả chúng sanh đều kính mến;

2. Lòng từ bi biến mãn khắp chúng sanh;

3. Trừ sạch thói quen giận hờn;

4. Thân thể thường được mạnh khỏe;

5. Tuổi thọ được lâu dài;

6. Thường được người lành giúp đỡ;

7. Ngủ ngon giấc không ác mộng;

8. Trừ được sự thù oán;

9. Khỏi bị đọa vào ba đường ác;

10. Sau khi chết được sanh vào cõi hạnh phúc, an vui.

Quả thực, kẻ nào biết sự đau khổ của chúng sanh chính là sự đau khổ của chính mình, thì người ấy không bao giờ giết hại, làm đau khổ và ăn thịt chúng sanh nữa. Thân người ấy sẽ ít bệnh, ít tai nạn, sống trường thọ, ít khổ đau.

Pháp môn Thập Thiện là lộ trình đưa con người đến nơi hạnh phúc chân thật của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi xã hội.

Nếu ai hằng ngày siêng năng tu tập, trau dồi Thập Thiện thì ngay trong đời hiện tại, thân thể được mạnh khỏe, tinh thần được thơ thới, nhẹ nhàng, an lạc, tâm hồn lúc nào cũng an vui, thanh thản.

Người cư sĩ đệ tử Phật phải thực hiện tu tập và sống cho được đúng Mười Điều Lành này, vì Thập Thiện là giáo pháp căn bản, đạo đức nhân quả của người xuất gia cũng như người tại gia, không thể bỏ qua, đừng xem nó tầm thường. Nó xây dựng đạo đức cho mỗi con người và cũng chính từ đó xã hội mới đi đến tốt đẹp, thanh bình, an lạc.

Muốn cầu đạo giải thoát, ra khỏi nhà sanh tử thì phải hết sức thiết tha tu tập, nhiệt tình, nhiệt tâm, trau dồi thân tâm sống đúng Mười Điều Lành này thì kết quả an vui, hạnh phúc đến với quý vị ngay đây, tức thời.

2.3- KHÔNG TRỘM CẮP

(29:30) Hành động của thân kế tiếp là không trộm cắp.

Trộm cắp do lòng tham lam, làm ít mà muốn được nhiều, không làm mà có ăn, không đổ mồ hôi mà có của cải, tài sản.

Hòa Thượng Thiện Hoa dạy: Người không gian tham trộm cắp là người yêu chuộng sự công bằng, thường trọng của kẻ khác như trọng của mình. Biết rằng tiền bạc là huyết mạch của con người nên ai ai cũng có tiền bạc mới có thể sắm ăn, sắm mặc, chỗ ở và tất cả nhu cầu cho cuộc sống.

Ta thường thấy nhiều người bị trộm cắp của cải thất vọng đến đỗi phải quyên sinh, như vậy, ai nỡ lòng nào trộm cắp cho đành! Vì của cải của mình mất, mình cũng biết tiếc, biết buồn khổ, rầu rĩ thì của cải người mất, người cũng biết than, biết sầu muộn.

Vả lại, chúng ta cũng phải hiểu: của phi nghĩa có giàu đâu! Vô cửa trước, ra cửa sau, tiêu hao như nước soi cát chảy, manh tâm giành giật cho lắm, chết rồi cũng hai bàn tay không.

Người không trộm cắp, cuộc sống luôn được an vui, tinh thần không hồi hộp, vì không sợ pháp luật, chẳng lo ngại ai thù oán. Trong nhà người này không trộm cắp của người kia thì mọi người đều sống hòa thuận, thương mến.

Còn ngược lại, bất hòa, sống nghi kỵ với nhau, khiến cho gia đình sống như trong địa ngục, người này để ý người kia, vì thế lòng thương yêu tổn giảm, không còn nữa.

Ngoài xã hội, người này không lấy của người kia thì nhà nhà khỏi đóng cửa. Ra đường, người không lượm của rơi, giữa xã hội loài người đều là lương dân thì thế giới đâu còn chiến tranh tàn khốc.

Trộm cắp là một tánh xấu, đời đời, kiếp kiếp phải chịu cảnh nghèo đói, tai ương, vì nhân trộm cắp, quả nghèo đói.

Do hiểu biết nghiệp tham lam, trộm cắp thì đời đời nghèo cùng khốn khổ, biết như vậy, chúng ta phải quyết tâm không bao giờ khởi ý trộm cắp, tham lam của ai. Dù trái cà, trái bí, cây đinh, sợi kẽm…​ nói cho cùng, từ bụi đậu phộng không nhổ cắp đến một mụt măng tre cũng không hề cắt trộm. Vì không bao giờ muốn bị mất của thì há nào lại lấy của kẻ khác cho đành!

(32:02) Kinh Thập Thiện dạy:

Người không trộm cắp mà còn bố thí cho kẻ khác, giúp đỡ người đang nghèo đói thì sẽ được mười quả báo, phước lành:

1. Tiền của dư giả, không bị vua quan, giặc giã cướp mất, không bị nạt lụt trôi, lửa cháy và con cái không phá tán;

2. Được nhiều người kính mến và tin cậy;

3. Không bị ai lừa dối, gạt gẫm;

4. Xa gần đều khen ngợi, lòng ngay thẳng từ thiện;

5. Luôn lòng được an ổn, không sợ mất mát, hư hao;

6. Tiếng lành đồn xa;

7. Ở chỗ đông người không lòng khiếp đảm;

8. Tiền của, tánh mạng, nhan sắc, sức khỏe luôn được đầy đủ;

9. Tâm thường sẵn lòng bố thí cho người bất hạnh;

10. Khi chết được sinh vào cõi an vui, hạnh phúc.

Đó là cái hành động không tham lam sẽ được mười cái điều lành như vậy.

Cuộc đời người ta có nhiều cái góc độ tham lam, nhưng có người thì tham tốt, nhưng có người thì tham xấu.

Tham tốt như thế nào? Cố gắng làm ra cho nhiều tiền, nhiều bạc, đó là sự tham tốt. Lấy mồ hôi nước mắt của mình, đó là sự tham tốt. Còn có nhiều người tham xấu là lén trộm cắp của người khác về làm của cải của mình, đó là lòng tham xấu.

Người tham tốt thì vất vả, suốt đời quần quật lao động bằng tay chân hoặc bằng trí óc. Người tham xấu thì chờ lúc sơ hở của kẻ khác mà lấy trộm của người. Người tham xấu bằng trí thì suy tư bằng những thủ đoạn gian ác để lấy của người mà không bị pháp luật bắt tội trộm cắp.

Cho nên đối với cái hành động tham lam, trộm cắp này, nhiều hình thức chớ không phải một hình thức. Nhưng tóm lại, dù cái hình thức nào, dù có thiện thì vẫn là đem đến sự đau khổ cho bản thân của mình.

Người tham làm ra của nhiều thì đày ải thân tâm của mình phải suy tư, tính toán làm cách nào, rồi phải chạy Đông, chạy Tây giao thiệp bằng cách này, bằng cách khác để có được nhiều tiền, nhiều của. Vẫn là đau khổ!

(35:15) Nhưng đời người sanh ra thì chúng ta biết làm sao hơn? Nhưng chúng ta chọn lấy cái tham mà bằng mồ hôi nước mắt của mình thì cái tham đó rất là quý. Còn cái tham mà không có mồ hôi nước mắt của mình, không có sự suy tư, tính toán ở trong đó thì cái tham đó là tham xấu, chúng ta nên tránh.

Nhưng chúng ta nên nghĩ rằng: có nhiều người tiền bạc rất nhiều mà vẫn còn tham tiền, tham bạc. Ngồi trên đống tiền cao như núi mà ăn chẳng yên, ngủ chẳng yên, thế mà người ta không thấy cái nỗi khổ đó.

Mặc dù cái việc làm của họ rất là lương thiện chứ chưa phải có những manh tâm gian ác trong đó. Thế mà họ không dám buông xả để họ được một giờ, một phút yên vui, thanh thản tâm hồn của họ. Dù họ có cố gắng làm cho nhiều, tham cho nhiều, chất cho nhiều vàng bạc, nhưng phỏng chừng chết đi họ có giữ được đồng nào, có đem theo được?

Thì chúng ta có đủ phước tạo được tiền bạc nhiều, chắc chắn chúng ta sẽ không xài hết được, thì chúng ta nên nhớ: xung quanh chúng ta có nhiều người bất hạnh đang nghèo đói, không cơm ăn áo mặc vì họ là người đã tạo nhiều nghiệp ác, do đó chúng ta hãy bố thí cho họ, giúp cho họ. Sự giúp và bố thí này sẽ giúp cho đời sống của chúng ta hiện tại và mai sau, sẽ chuyển hóa được nghiệp khổ của chúng ta.

Thầy đem một cái ví dụ.

Như trong hiện tại, Thầy có một người đệ tử đó là chú Chơn Tâm. Chú từ một giáo viên cấp II, tiền lương rất là túng thiếu, không đủ cung cấp cho gia đình sống trong cái cuộc sống hiện giờ. Thế mà cái phước chú đến, do đó chú chuyển cái nghề giáo viên thành cái nghề làm vàng bạc, đá quý. Chỉ trong vòng hai năm, chú đã có một số tiền rất lớn.

Chú thường về đây để thưa hỏi Thầy về pháp tu hành, Thầy khuyên chú nên bố thí và làm những việc lành. Chú nghe lời Thầy, lúc nào chú cũng đến thăm những trại mồ côi, trại cùi, dưỡng lão, những nơi nghèo đói thì chú thường đến để bố thí.

Trên bước đường làm ăn nó không phải suôn sẻ luôn đâu, vì thế chú gặp những tai nạn. Do những tai nạn đó mà khi xảy ra thì chính quyền người ta xét thấy: cái người này làm có tiền sống giúp xã hội chớ không có lo lắng cho cá nhân mình. Cho nên từ cái tai nạn xảy ra đó, nhà nước đã không có bỏ tù chú và thấy chú là một người rất tốt.

(38:35) Nếu chú mà tích lũy sự có tiền của này chỉ riêng cho cá nhân mình, chắc chắn chú sẽ không thoát được cái tù tội. Vì người ta xét thấy hành động làm ra tiền mà không phục vụ cho riêng cá nhân gia đình mình mà cho cả xã hội, người ta nghĩ người này là người làm ra tiền mà rất tốt.

Vì thế mà Thầy thiết nghĩ: trên bước đường ngồi trên đống vàng mà rất đau khổ. Trong một chuyến xe mà chú chở vàng, một trăm ký, năm ba chục ký lô vàng, thì trên bước đường đi chuyển hàng, tâm hồi hộp lo sợ chớ không đơn giản như chúng ta không có tiền bạc.

Sau này Thầy khuyên chú: “Chú nghỉ đi, đừng nên làm nữa. Có bao nhiêu hãy bố thí cho người, chỉ dành dụm đủ sống mà thôi”. Từ ngày đó, chú nghe lời Thầy, chú rất là an ổn, không còn lo lắng, không còn sợ hãi nữa.

Nhưng tâm con người nó không phải đứng yên một chỗ. Tiền bạc là cái sự cám dỗ rất lớn làm chúng ta khó mà giữ tâm mình yên ổn như những bậc tu hành. Cho nên, càng thấy sự làm ăn càng khá giả lên thì chúng ta nên càng dè dặt. Coi vậy chớ nó chưa được yên ổn cho đời chúng ta đâu.

Tại sao vậy? Đức Phật đã xác định: “Tiền bạc, châu báu là rắn độc”. Khi trong tay chúng ta có nó, mặc dù nó không phải là tiền bạc phi nghĩa mà chính mồ hôi của chúng ta, nhưng nghiệp quả khi có tiền bạc vẫn đem đến cho chúng ta nhiều tai nạn.

(40:26) Vì vậy mà Thầy ở đây Thầy nhắc các cư sĩ: khi các con làm có tiền bạc, nhớ đến những nỗi bất hạnh của người khác. Vì phước của mọi người cộng lại lớn hơn phước của chúng ta. Vì chúng ta có một cá nhân, không thể nào có đủ phước để thọ hưởng cái sự giàu sang đó.

Cũng như một nhà vua, khi ngài lãnh đạo trong một nước, ngài giàu sang, tiền bạc rất nhiều. Thế cái phước nhà vua đó sẽ hưởng được bao lâu? Nếu phước đó dài thì được mười năm, hai chục năm. Nếu cái phước ngắn, vị vua đó vừa lên ngôi trong năm ba hôm là bị truất phế hoặc là bị giết.

Thường chúng ta thấy, cái phước của cá nhân rất nhỏ mà cái phước của mọi người rất lớn. Nếu một vị vua lên nắm quyền, giàu sang mà biết bố thí giúp cho dân nghèo thì nhà vua chắc chắn sẽ được ở ngai vàng bền lâu. Còn nếu mà nhà vua lên chỉ hoang phí, lo ăn chơi thì Thầy nghĩ rằng, trong lịch sử chứng minh điều đó rất rõ ràng: nhà vua đó ở ngôi không lâu!

Cũng như một người giàu có mà có lòng từ thiện thì sẽ giữ vững cái sự giàu có đó, không phải trong một đời của họ mà cả đến đời con cái của họ. Nếu sự giàu có đó mà chỉ có mình họ hưởng thì cái phước báo của người đó sẽ tiêu mòn rất nhanh chóng. Từ đó, trong một đời người của họ chưa hưởng trọn mà của cải đã bị nước lửa, bị giặc giã cướp bóc, làm cho họ trở thành hai bàn tay trắng, nghèo đói như người khác.

Vì thế không tham lam, không trộm cắp mà có đủ duyên, có đủ tài làm ra tiền, ra bạc thì nhớ: phước báo của mọi người là lớn, phước của mình nhỏ, vì vậy mình cố gắng san sẻ cho những người bất hạnh trong xã hội. Từ đó, của cải tài sản mình bảo vệ được rất là yên ổn mà không hao mất.

Nhớ những lời này là những kinh nghiệm, trong đời Thầy, Thầy đã từng dạy một người cư sĩ và thường nhắc nhở nhiều người nữa. Trên cuộc đời những người cư sĩ, họ đã được an vui, hạnh phúc, họ đã được sung sướng, thoát khỏi cảnh tù tội, thoát khỏi cảnh ghen ghét của người khác. Đó là lòng bố thí của họ.

2.4- KHÔNG TÀ DÂM

(43:14) Bây giờ tới hành động thứ ba: Không tà dâm.

Phàm con người sanh ra đều do dâm dục. Nhưng dâm dục là con đường sanh tử luân hồi, nó là ma chướng làm ngăn trở bước đường tu giải thoát.

Phật dạy: “Lòng dâm không trừ thì không ra khỏi trần lao”. Muốn giải thoát mà không đoạn lòng dâm dục thì dù tu muôn ngàn kiếp cũng không bao giờ giải thoát được.

Kinh Thập Thiện dạy:

Người cư sĩ phải ngăn ngừa tà dâm chứ chưa phải tu rốt ráo của bậc xuất gia. Hành động thiện đối với vấn đề sinh lý không phải đoạn trừ, chỉ đừng tà dâm, tức là không chung chạ, ngoại tình với người khác. Nhờ vậy, cuộc sống chung của gia đình mới được an vui hạnh phúc, gia đình đầm ấm, làm ăn phát đạt: Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.

Sự dâm dục thái quá đưa con người đi đến chỗ bệnh tật nan y, thọ mạng không được lâu dài.

Kinh Thập Thiện dạy:

Người không tà dâm là người trung tín, giữ gìn tiết hạnh, được bốn điều lợi:

1. Sáu căn đều được vẹn toàn;

Nghĩa là cái người mà tà dâm, cái tâm ham dâm thì sáu căn của họ khó mà vẹn toàn: hoặc bị đui, bị điếc hoặc là thân bị tật nguyền, hoặc là mắt, hoặc là tai, hoặc là lưỡi…​ tất cả những cái điều kiện mà họ giữ gìn được, cái tâm mà đừng tà dâm thì họ sẽ giữ gìn được sáu căn trọn vẹn.

Nhiều khi chúng ta có sáu căn mà lỡ hai mắt đui thì đó là một điều bất hạnh cho chúng ta, lỡ hai tai điếc cũng là một điều bất hạnh cho chúng ta. Cho nên sáu căn chúng ta phải được trọn vẹn đầy đủ.

2. Đoạn trừ hết thảy phiền não quấy nhiễu;

Người mà không có tà dâm thì họ dứt trừ tất cả những cái phiền não ở trong gia đình của họ.

3. Ở đời được mọi người khen tiếng tốt;

4. Vợ con không ai dám xâm phạm.

3- THẬP THIỆN – KHẨU HÀNH

(45:48) Bây giờ đến cái phần thứ hai là do cái miệng của mình, do hành động miệng của mình.

Miệng mình có bốn cái hành động để tạo nghiệp, rồi từ cái chỗ nghiệp đó mà chúng ta đi vào trong cuộc sống hiện tại cũng như mai sau, khổ đau hay là hạnh phúc do nơi miệng của chúng ta.

Cho nên, người xưa nói: “Họa tùng khẩu nhập” – tai họa đều do nơi miệng chúng ta mà ra. Vậy chúng ta phải cẩn thận trong lời nói của chúng ta.

3.1- KHÔNG NÓI DỐI

(46:21) Thứ nhất, sống trong xã hội, nếu ai nói dối là tự mình làm mất lòng tin của mọi người.

Nghĩa là chúng ta gạt người ta, chúng ta nói láo người ta một lần người ta chưa biết, chớ hai lần thì người ta sẽ biết liền.

Nói chung, dù mình có khéo léo nói như thế nào thì sự thật nó vẫn là sự thật. Ngày hôm nay người ta chưa biết nhưng ngày mai sự thật nó sẽ đưa đến, người ta sẽ biết mình là người nói láo, người không thành thật, cho nên người ta không bao giờ tin. Từ đó, cái lòng tin của mình bị mất đi, cho nên mình có nói thật người ta cũng chẳng tin mình.

Nói dối là một điều tai hại cho sự chung sống.

Trong gia đình mà mình nói láo, thí dụ như mình đi chơi, mình nói mình đi làm, thì vợ ở nhà tưởng là mình đi làm thật, nhưng mai mốt đổ bể ra thì rõ ràng là làm cho vợ con không tin mình nữa, chỉ một lần thôi cũng đủ không tin mình nữa.

Cũng như mình lãnh lương, rồi về mình dành ra một ít nào đó để cho mình tiêu phí mà mình không nói cho vợ con mình biết. Mình nói: “Đây là cái số lương hôm nay như vậy vậy”, mình đưa cho vợ con để chi phí ở trong gia đình.

Vợ con thì tin thật, nhưng một hôm bà ta đem cái áo của mình đem giặt thì móc trong túi ra thấy một số tiền, bà ta nghi ngờ liền: “Chồng mình không thật!” Do cái sự nói không thật đó đã làm cho gia đình bắt đầu tan nát. Người ta không tin nhau nữa rồi thì có sự nghi kỵ nhau làm cho gia đình mình càng ngày càng đau khổ.

Cho nên cái lời nói chúng ta mà nói dối thì chúng ta phải biết rằng, sẽ đưa đến chúng ta những cái quả khổ sau này.

Do nói dối, mọi người mất niềm tin với mình, cuộc sống xem như bị cô lập…​

Người ta hết tin mình rồi, vì vậy cho nên mình nói gì thì ngoài mặt người ta làm như tin nhưng sự thật trong bụng người ta: “Thằng này nói láo”, người ta không bao giờ tin mình nữa.

…​ không ai muốn thân cận với mình.

Người ta không có muốn gần gũi mình nữa.

Hòa thượng Thiện Hoa dạy:

Người ta ở đời dù trong một việc nói chơi cũng không nên nói dối. Vì lẽ nói dối quen miệng người ta biết mặt, sau có nói thật cũng chẳng ai tin. Nhất là người học đạo thì không nên nói dối.

Nếu nói dối cứu khổ, phò nguy cho người và vật thì ta còn không nói huống là nói dối hại người, lợi mình thì còn không nên nói nữa.

(49:15) Như Thầy đã nhớ một câu chuyện:

Khi Đức Phật ngồi ở trong rừng mà tu hành thì có một nhà vua đi săn bắn. Ngài đuổi theo một con nai, thì con nai chạy vào trong cái nơi của Đức Phật đang ngồi tu, nó chui vào cục đá đó nó núp, nó trốn. Thì nhà vua đuổi theo mới đến đây, gặp Đức Phật đang ngồi tu ở trên cục đá mới hỏi: “Ông có thấy con nai mà chạy ngang đây không?”

Nếu Đức Phật nói “không” tức là vọng ngữ, mà nói “thấy” thì tức là nhà vua hỏi: “Nó ở đâu?” , ông chỉ nó ở dưới hang, cục đá của mình ngồi, thì nhà vua sẽ giết con vật, thì mình là tội sát sanh.

Nếu ở trong cái câu này, như Hòa thượng Thiện Hoa dạy đó thì như thế này: “Nếu nói dối mà cứu khổ phò nguy cho người và vật thì ta nên nói”.

Nhưng ở đây thì Thầy thấy qua cái hình ảnh của Đức Phật, người tu hành thì dù là cứu người, cứu vật cũng không nên nói dối. Vì thế nhà vua hỏi, Đức Phật làm thinh. Lần thứ nhất đến lần thứ ba thì nhà vua tức giận, cho nên mới lấy gươm mà xẻo cái lỗ tai của cái người này. Và hỏi nữa thì Đức Phật cũng không nói, nhà vua cắt cái lỗ mũi thì ông cũng không nói. Cho đến khi mà nhà vua tức quá chặt hai cánh tay thì ông cũng chẳng nói. Cho đến khi móc mắt ông thì ông cũng chẳng nói.

Đó là chúng ta thấy, giữ gìn cái hạnh không nói dối! Mặc dù là nói dối sẽ cứu được mình đó, nghĩa là thoát khỏi cái cảnh nhà vua giết mình đó, thế mà ông vẫn thản nhiên giữ đúng cái hạnh không nói dối.

Nghĩa là nói dối rất dễ dàng: “Con nai vừa chạy ngang qua đây và chạy luôn đi rồi, không còn ở đây nữa, thì nhà vua hãy chạy theo mà tìm giết nó đi, hay tìm bắn nó đi!”, thì lẽ đương nhiên nhà vua phải đuổi theo chứ đâu có cắt tai, móc mắt ông?

Rõ ràng là nói dối một chút xíu mà mình không có đau khổ, thế mà Đức Phật thà chết, thà chịu đau khổ bằng sự hành hạ của nhà vua mà không phạm vào cái lỗi nói dối.

Do thế chúng ta mới thấy cái lời nói dối, dù là một người tu sĩ mà nói dối, khi người ta biết được thì cái giá trị của người tu sĩ đó không ra gì hết. Cũng như chúng ta là những người cư sĩ đệ tử của Phật, đã biết Phật Pháp rồi thì không nên nói dối, dù nói dối có ích lợi cho mình, cho người cũng không nên nói. Huống hồ là nói mà để làm lợi cho mình thì chắc chắn là không nói rồi!

Do qua cái hành động của Đức Phật, chúng ta cần phải học hỏi, cần phải theo gương đó mà giữ gìn cho trọn vẹn giới cái nói dối này. Cho nên thà chết chúng ta không bao giờ phạm giới.

Cũng như giới sát sanh hồi nãy, thì thà là chúng ta chết chớ không giết hại chúng sanh. Đó là những cái quyết định của những người mà thực hiện theo con đường của đạo Phật, để thực hiện được những cái nghiệp lành, từ cái nghiệp lành đó sẽ đưa chúng ta đi đến cái cảnh giới không còn đau khổ nữa.

(52:11) Kinh Thập Thiện dạy:

Người không nói dối được tám điều lợi ích:

1. Được mọi người tin tưởng;

2. Lời nói ra được người người kính yêu;

3. Miệng thường thơm sạch;

Tức là miệng thường thanh tịnh đó.

4. Lời nói thường êm ái;

5. Luôn được an vui như ý nguyện;

6. Lời nói không buồn giận và luôn được vui vẻ;

7. Lời nói được mọi người vâng theo;

8. Trí tuệ thù thắng không ai hơn.

Đó là cái người mà không nói dối họ được tám cái điều lợi ích như vậy.

Và chúng ta cũng nhớ lấy cái gương của Đức Phật mà chúng ta làm cái gương là không bao giờ nói dối. Nhất là những người thân trong gia đình của mình, đừng nên có một lời nói dối, vì nói dối sẽ làm mất niềm tin và từ đó trong gia đình bất an.

Người cư sĩ thì chúng ta sống còn chung đụng nhiều người, còn tiếp duyên nhiều người. Một người hay nói láo thì chúng ta không tin người đó, và không tin người đó thì người đó dù có thất nghiệp, dù có trong cảnh đau khổ nào đó thì chúng ta cũng không giúp được, là tại sao?

Tại vì chúng ta nghĩ rằng: “Người này hay nói láo là sẽ gạt mình!” Trong khi họ, vợ con họ khổ sở, khốn khổ, họ đến nói thật mà mình vẫn nghi rằng họ nói láo, cho nên chúng ta vẫn thấy họ là cái người không (cần) giúp đỡ. Đó là những cái tai hại cho cái người nói láo.

Vì vậy mà chúng ta biết, chúng ta cần phải dè dặt, không bao giờ nói sai sự thật, phải nói đúng sự thật. Có thì nói, thấy thì nói, mà không thấy thì nói không thấy, không nên nói một cách không đúng sự thật.

3.2- KHÔNG NÓI LỜI THÊU DỆT

(54:09) Bây giờ đến cái phần thứ hai của cái miệng là:

Không nói lời thêu dệt.

Người đời thường trau chuốt lời nói, đi buôn vật xấu nói tốt để bán cho được giá, gạt người mua về không xài được.

Đó là cái lời nói nói thêu dệt đó.

Chỉ một chút lòng nhỏ mọn, hờn ghen liền dùng lời nói thêu dệt để cho đôi bên thù hận, có thể giết hại lẫn nhau, làm tổn hại tánh mạng của người khác.

Đó là lời thêu dệt rất là tai hại, có thể giết người.

Chỉ một chút lòng ganh tỵ, thù vặt bèn dùng lời nói thêu dệt để lung lạc lòng người khác hoặc để quyến rũ hay gạt gẫm người khác làm tổn hại danh dự và tài sản, cốt để đem lại cho mình được nhiều lợi lạc và còn được tiếng thơm, tiếng tốt cho mình.

Ngược lại, người không có lời nói thêu dệt dùng lời nói đúng đắn, chánh lý, không gạt gẫm, lừa bịp người, không làm tổn hại danh giá, tài sản, thậm chí cho đến tánh mạng.

Thêu dệt tức là đặt điều nói xấu người khác, khiêu khích người khác, khiến cho người phải buồn khổ, có thể đi đến sự tự tử, quyên sinh tánh mạng.

Nghĩa là chuyện không có mà mình thêu dệt ra cho thành có chuyện. Chuyện người ta không xấu, mình nói người ta xấu; chuyện người ta xấu, mình thêu dệt mình nói người ta tốt để được tình được nghĩa với người này, người kia. Cái lời nói đó chúng ta cần phải tránh. Đem cái lời nói làm cho người ta giận hờn nhau, rồi đem cái lời nói làm cho người ta ưa nhau.

(56:15) Như những người làm môi giới, thấy cái chú này không được, nhưng mà đến đằng gái thì khen chú này là tốt, là học giỏi, là này kia đủ thứ, là có đức, có hạnh đủ thứ, nhưng mà sự thật thì cái chú này thì tham lam, hút thuốc, rượu chè bê bết! Thế mà cái ông làm mối thêu dệt nói chú này thế này, thế khác cho tốt, cho được lòng đằng gái.

Rồi lại đằng trai thì nói cô này là công, dung, ngôn, hạnh như thế này, như thế khác, hiền đức đủ loại, nhưng mà cô này thì chẳng ra gì hết! Những cái tay mà có thể ăn chơi hoặc là có thể đủ cách ở trong thế gian này, thế mà cũng được ca ngợi.

Đó là những cái thêu dệt. Những lời thêu dệt đó đã làm cho gạt người ta, để làm cho người ta không biết, người ta tin theo, rồi người ta rước cái cô dâu đó về, hay hoặc là người ta rước cái chú rể đó về. Chừng đùng một cái thì người ta: “Hỡi ôi! Mình lầm người!”

Đó là những lời thêu dệt, chúng ta không nên. Cái tốt thì chúng ta nói tốt mà cái xấu thì chúng ta nói xấu, không được thêu dệt tốt biến thành xấu mà xấu biến thành tốt. Điều đó là điều thêu dệt, không được.

Kinh Thập Thiện dạy:

Người không đặt điều nói xấu người khác có ba điều lợi ích:

1. Được mọi người quý mến;

2. Thường đáp được những câu hỏi khó;

3. Có đầy đủ uy tín cao quý trong cuộc đời.

3.3- KHÔNG NÓI LƯỠI HAI CHIỀU

(57:50) Không nói lật ngược.

Về hành động của miệng của mình hay nói lật ngược trở lại, nói rồi rồi nói lại cái khác. Vừa mới nói đó mà thấy cái điều đó có hại cho mình thì ngay đó mình lật ngược lại, nói: “Tôi không nói điều đó!”

Người đời có lắm kẻ nhiều mồm mép, vừa nói đó một lúc sau lại nói ngược lại, lấy quấy làm phải, lấy phải làm quấy.

Người ta nói: “Cái lưỡi không xương nhiều điều lắt léo, cái miệng không vành nó méo tứ tung”. Đúng vậy, những hạng người nói lật ngược là những người “lưỡi không xương”, là những người “miệng không vành”.

Hạng người này là hạng người nhiều chuyện. Họ là kẻ dụm ba, dụm bảy chuyên nói xấu người khác; đem chuyện người này nói ra, nói vào bêu xấu, khiêu khích người khác, gây phe nhóm tạo cảnh bất hòa, thù hận; và còn đem chuyện người này dèm pha với người kia, nhạo báng, chê bai làm cho người khác tức giận hoặc xấu hổ, đau khổ; dùng môi mép đứng trung gian gây ác cảm đôi bên để đi đến kiện thưa.

Người không nói lưỡi hai chiều thì không có chuyện lôi thôi với mọi người, không bị người ta lôi ra làm chứng cớ. Còn ngược lại, những kẻ ấy đều gọi là người nhiều chuyện.

Người không nói lưỡi hai chiều không làm phiền muộn ai hết, được thân bằng quyến thuộc, kẻ xa người gần đều kính mến.

Người không nói lưỡi hai chiều thường dùng lời êm ái, an ủi, khuyên giải giúp cho mọi người được hòa thuận thân yêu nhau, khiến cho mọi người đều vui vẻ, an lòng. Người này đi đến đâu, ở đâu cũng được mọi người kính yêu. Gặp việc khó bất hòa, người này đứng ra thu xếp, hòa giải một cách dễ dàng.

Người không nói lưỡi hai chiều khiến gia đình sum họp, an vui, tình làng nghĩa xóm hòa thuận, kính yêu nhau.

(01:00:28) Kinh Thập Thiện dạy:

Người không nói lưỡi hai chiều được năm điều bất hoại:

1. Nhân bất hoại;

2. Sống trong gia đình sum họp;

3. Đức tin bất hoại;

4. Pháp hạnh bất hoại;

5. Thiện hữu tri thức bất hoại.

Nghĩa là:

1. Nhơn bất hoại: là đối với cái thân của mình thường được vui vẻ, được tốt lành, nó không làm cho mình hư hoại.

2. Sống trong gia đình sum họp: nghĩa là cái người này sống trong gia đình nào, gần người nào cũng đều có sự hòa hợp, sum họp khi họ là người không nói lưỡi hai chiều. Ở đâu thì họ cũng được sự hòa hợp.

Ví dụ như quý thầy là những người sống trong Tăng đoàn mà không nói lưỡi hai chiều, tức là không dựa theo người này nói theo thế này, dựa theo người kia nói theo thế kia, nói không đúng cái sự thật, thêu dệt ra, thì những người này thường sống được hòa hợp trong mọi người.

3. Đức tin bất hoại: Ai cũng tin tưởng người này, cho nên cái lòng tin không có bị hoại diệt.

4. Pháp hạnh bất hoại: Cái hạnh của người tu này, dù là người cư sĩ cũng không bao giờ bị hoại diệt, cái đức hạnh của họ không bao giờ bị hoại diệt.

5. Thiện hữu tri thức bất hoại: Nghĩa là họ luôn hj luôn họ gặp nhiều bậc thiện hữu tri thức, những người tốt, không phải là người xấu. Còn cái người mà nói hai chiều này thì họ không bao giờ có những thiện hữu tri thức tốt.

Đó là tất cả năm cái điều lợi ích này cho một người không nói lưỡi hai chiều.

3.4- KHÔNG NÓI LỜI HUNG ÁC

(1:02:29) Không nói lời hung ác.

Lời nói hung ác là lời nói dữ, lời nói hung ác là lời vu khống người.

Người ta không có làm một cái chuyện bậy mà mình vu khống người ta làm chuyện bậy. Thí dụ như người đó không ăn cắp mà mình hô người ta ăn cắp; người đó không tà dâm mà mình hô là người đó tà dâm; người đó không nói láo mà mình nói rằng người đó nói láo.

Mình vu khống người ta những cái mà người ta không có làm, rồi mình nói phao phản người ta. Chẳng hạn người ta không phản phúc mà mình nói người ta phản phúc.

Lời nói hung dữ còn là lời nói bươi móc việc xấu của người khác ra.

Đó là lời nói hung dữ.

Người ta làm cái điều xấu thì để người ta thọ lấy cái quả xấu của họ, thế rồi chúng ta bươi móc ra cho người này nghe, người kia biết để cho mọi người cười chê, biếm nhạo người đó. Tức là cái lời nói đó là lời nói hung dữ.

Lời nói hung dữ còn là những lời nói cộc cằn, thô lỗ như lời nói mắng nhiếc, mạ lỵ người, khinh chê người, làm cho người khác tức giận, khổ đau.

Người không nói lời nói hung ác thường dùng lời nói khen ngợi, lời lẽ ôn tồn, trang nhã, hiền hòa, lời nói luôn luôn làm cho mọi người được an vui, yên ổn.

Kinh Thập Thiện dạy:

Kẻ nào không nói lời hung dữ sẽ được tám món công đức:

1. Nói đúng pháp;

2. Lời nói có ích lợi;

3. Lời nói đúng chân lý;

4. Lời nói khôn khéo;

5. Nói điều chi ai cũng vâng theo;

6. Lời nói được nhiều người tin;

7. Lời nói không ai chê;

8. Lời nói được yêu mến.

Đó là tám cái điều lợi ích cho một cái người không có lời nói hung ác, không có lời nói dữ tợn.

Lời nói dữ tợn thường lưu xuất từ cái tâm sân hận của họ, lời nói dữ tợn do từ cái tánh xấu của họ, cho nên cái lời nói đó nó theo tâm tánh của cái người đó. Vì vậy mà thấy cái lời nói hung ác là biết cái người đó là người dữ tợn, cái người sân cũng dữ mà tánh cũng ác dữ. Những cái lời nói hung ác thì chứng tỏ, nghe cái lời nói thì biết cái người đó là cái người dữ tợn.

4- TỪNG PHẦN DỨT BỎ, TRAU DỒI VÀ TU TẬP TRONG THẬP THIỆN

(01:05:18) Đến đây là bốn cái điều kiện của cái miệng của mình hành động để tạo thành một cái nghiệp đau khổ cho chính đời mình. Vì vậy mà những cái điều này, từ cái thân của chúng ta nó có ba cái hành động, thì chúng ta hãy cố gắng.

Ở đây như Thầy đã dạy là chúng ta có bốn cái điều kiện để tu tập trong cái giai đoạn một của người cư sĩ. Như cái giai đoạn thứ nhất thì chúng ta phải thông suốt, thông hiểu những gì phải thông hiểu đó. Cái giai đoạn thứ hai là phải trau dồi.

Cái giai đoạn thứ hai thì chúng ta thấy rằng: mình cũng phải trau dồi từng cái hành động, từng cái ý tứ của mình, rồi từng cái bước đi, từng mọi cái hành động của chúng ta như là lấy của không cho, chúng ta cũng phải trau dồi cái hành động.

Chẳng hạn là như người ta nói rằng, khi mình đi ngang qua một đám dưa, mặc dù là mình không tham nhưng mình cúi xuống mình sửa giày là cái người giữ dưa người ta nghĩ rằng mình đã hái dưa. Cho nên đó là mình phải trau dồi những cái hành động khéo léo để mình tránh cái sự nghi ngờ của kẻ khác.

Do khi đi ngang qua đám dưa, dù là chiếc giày chúng ta có sút đi nữa, hoặc là như thế nào thì chúng ta cũng đừng nên cúi xuống mà làm cho người khác sanh cái tâm nghi ngờ, tạo cho cái tội của họ. Và đồng thời họ đánh giá trị chúng ta là người không trau dồi được cái hành động của mình.

Cho nên sự trau dồi cũng như chúng ta tu Chánh Niệm Tỉnh Giác là để đi kinh hành từng cái sự ý tứ của chúng ta, từng cái hành động làm hàng ngày của chúng ta; đó là chúng ta trau dồi cái hành động của chúng ta, cái hành động thiện, cái hành động ác của chúng ta đều biết rõ ràng. Cho nên chúng ta phải trau dồi từng chút.

Và cái phần thứ ba là những gì mà chúng ta cần phải dứt. Chúng ta biết rằng cái hành động giết hại chúng sanh làm đau khổ chúng sanh, chúng ta phải đoạn dứt, không được cho nó tiếp diễn.

Như vậy là lấy ba cái hành động thân, khẩu, ý để làm tiêu chuẩn trau dồi Mười Điều Lành, như hồi nãy Thầy đã giảng dạy ở trên.

(01:07:51) Về thân hành thì phải dứt bỏ.

Quý thầy phải nhớ: Về thân hành thì quý thầy phải tập dứt bỏ. Dứt bỏ cái gì?

Thứ nhất là dứt bỏ sát sanh.

Thứ hai là dứt bỏ trộm cắp, không được lấy của không cho.

Thứ ba là dứt bỏ tà dâm, dâm dục.

Về phần khẩu hành phải trau dồi.

Mà trau dồi cái gì đây?

Thứ nhất là phải trau dồi không nói dối, phải luôn luôn nói lời chân thật;

Hai là trau dồi không nói lời hai chiều, phải luôn luôn nói một chiều, nói đúng sự thật;

Ba: Trau dồi không nói lời phù phiếm, nói cái gì đáng nói, đúng thời, đúng lý; không có lý luận, không nói một cách viển vông, nói một cách không có đúng, thì không được nói;

Bốn: Trau dồi cái lời nói, không được nói lời hung dữ, phải luôn luôn nói lời nhẹ nhàng, ôn tồn, nhã nhặn, dễ thương.

Đó là cái phần trau dồi về cái lời nói.

Về phần ý thì phải tu tập.

Đây quý thầy phải nhớ: về phần cái ý thì phải tu tập.

Thường ngày phải tu tập Định Vô Lậu, quán xét các pháp vô thường, bất tịnh, khổ, vô ngã để diệt ý tham, ý sân. Và hàng ngày quý thầy còn phải tu tập và quán sát các pháp để thông suốt khiến cho tri kiến giải thoát của quý thầy được triển khai rộng ra, hiểu lớn ra. Do cái tri kiến giải thoát của mình nó làm cho mình hiểu được các pháp vô thường, khổ và vô ngã, làm cho tâm si lần lần lui mất.

Và hàng ngày, quý thầy còn phải tu tập Chánh Niệm Tỉnh Giác, đi kinh hành để phá cái tâm si ám, ham ngủ, lười biếng, bần thần, khó chịu. Vì có tu tập như vậy thì Minh lần lần phát triển và Vô Minh lần lần sẽ bị tiêu diệt, tức là ý si tiêu trừ.

5- VÌ MÊ MỜ KHÔNG HIỂU MÀ TẠO NHIỀU ĐIỀU ĐỘC ÁC

(01:10:18) Chính mười cái điều ác này đã đưa kiếp con người đi đến khổ đau bất tận, chịu biết bao nhiêu gian khổ, lại còn bệnh tật, tai ương, già, chết.

Thảm trạng của đời người là vậy, nhưng mấy ai đã biết. Nếu không có Đức Phật mở lối dẫn dắt chúng sanh thì biết chừng nào ra khỏi sáu nẻo luân hồi đau khổ!

Vì chính vô minh, mê mờ, không hiểu, con người đã lầm chấp mọi vật trên thế gian này là thường còn, thường hằng; cho thân tâm của mình là cái ngã nên cố gắng bảo vệ, nuôi dưỡng và phục vụ nó một cách điên khùng, tạo nhiều điều độc ác.

5.1- CHƯA SỐNG ĐƯỢC VỚI LÝ VÔ THƯỜNG NÊN BỊ DÍNH MẮC CÁC PHÁP

(01:11:15) Bởi vậy khi mà chúng ta lầm chấp cái thân này là thật, rồi những vật xung quanh chúng ta như: bàn, ghế, nhà cửa…​ tất cả đều là thật, cho nên lầm chấp cái đó mà chúng ta cố gắng, hở đồng xu nào mà làm ra được thì chạy thôi mua sắm mua sắm dẫy đầy, nhà thì nhỏ mà chất riết rồi không chỗ chất. Giường thì chúng ta có cái hộc rất nhỏ mà ở riết thời gian thì ngập hết, không biết đâu mà chứa cho hết!

Đó là cái sai lầm, cái hiểu lầm vật chất. Mọi vật trong thế gian này nó đâu có thường hằng? Mà cái bản ngã của chúng ta đâu có có? Thế mà chúng ta cứ lấy những cái vật đó để phục vụ cho cái thân, để cho nhiều ra.

Mà hễ mỗi lần nhiều ra như vậy, mất mát một cái gì thì tâm hồn điên đảo, buồn khổ, có nhiều người khóc sướt mướt. Mà thử hỏi vật chất đó có cái gì mà còn tồn tại đâu mà tiếc?

Hôm nay chúng ta mua cái vật này – như cái máy này – chúng ta xài. Thời gian năm năm, mười năm sau nó cũ đi, rồi nó hư trong đó đi, rỉ sét hoặc này kia, đem quăng ngoài kia không ai thèm lượm hết.

Thử hỏi nó có thường hằng không? Mà mới mua về, đứa nhỏ nào mà lỡ làm trầy một cái là táng trên đầu nó liền, không có nương tay chút nào hết, mà còn la mắng dữ tợn nữa, coi cái của hơn là mạng người nữa!

Cho nên ở đây, vừa rồi Thầy thấy có một người tiếc hai cái trứng gà mà treo con chó lên, cứ vài ba giờ đồng hồ là đập con chó la, kêu la thảm thương mà họ không thấy sự đau khổ của con vật. Vô tình ăn trộm có hai trứng gà mà bị đòn gần nát thân! Thầy nghe cô Út nói bóp cái miệng máu ra nữa. Quá tội!

(01:13:06) Nghe trước thảm trạng đó thì mình thấy: người ta thấy vật chất, thấy hai trứng gà là quá quý. Nhưng nuốt khỏi cổ rồi có quý chỗ nào đâu? Thử hỏi ngày mai đi cầu ra nó là cái chất gì? Nó còn như cái trứng gà nữa không? Hay hoặc nuốt khỏi cổ rồi mửa ra thử hỏi còn ai dám nuốt nó vô nữa không? Thế mà đập con chó gần chết!

Đáng thương, con chó cũng vì vô minh, lầm, cho nên mới đi lẽo đẽo vô ổ gà mà ăn cắp hai trứng mà bị đòn nát thân.

Bởi vậy, chúng ta là những người tu, đừng nhìn những vật chất. Cho nên Thầy mỗi lần mà thấy có những cái vật gì mà quý Phật tử mua về cúng dường là Thầy thấy quá đau khổ!

Như vừa rồi Minh Tâm mang cái máy cưa về đã là một nỗi đau khổ. Thầy dặn cô Út: “Thôi trả người ta đi, chịu lỗ chút ít không sao!” Rồi bây giờ đem về Thầy một cái máy nữa! Thầy: “Trời ơi!” Thầy đi vô rừng làm sao Thầy quải theo cho được, mà cứ cúng dường, cúng dường!

Như vậy là một thời gian sau đây các con biết, phòng Thầy vách liếp, mà nó kê bằng máy điều hòa không khí ở trong đó thì chắc là Thầy lạnh chắc chết!

Đời tu hành sao mà lại cám dỗ đến thế à? Bởi vậy, khổ quá. Thầy không còn có cái nghĩ gì hết. Tại sao chúng ta chỉ xin họ cơm ăn mà họ không cho chúng ta cơm ăn, mà họ cho chúng ta chi những cái đồ vật nặng nề?

Các con nghĩ, Thầy xách cái cưa tay nhỏ vầy, Thầy ra Thầy kéo một chút Thầy mệt Thầy vô Thầy nghỉ, Thầy xách vô đâu có mệt! Đẩy một cái máy cưa ra đó, cưa có mấy gộc cây rồi đẩy vô, nội cái đẩy ra đẩy vô không thì chắc chắn là Thầy tối đó Thầy ngồi thiền cũng hết muốn nổi rồi. Các con hiểu không? Nó nặng quá!

Bây giờ thì Minh Tâm nó sợ đèn đuốc của chúng ta nó hay cháy bóng rồi mấy con cứ xin Thầy hoài, cho nên mua cái máy ổn áp như thế nào đó để cho chúng ta xài nó không có hư hao bóng đèn. Cũng bày đặt nữa. Thầy thiệt!

Chất cả chùa rồi bây giờ còn chất thêm. Thấy toàn là vật chất đau khổ. Đời thì người ta thêm được cái gì thì người ta mừng lắm, nhưng mà Thầy thấy cái nhà Thầy mà nó chật thêm Thầy thấy không có chỗ ngủ, khổ lắm!

Nhưng nói làm sao khi người ta có tâm thành cúng dường mình. Thầy đã nói rằng y áo Thầy đủ mặc rồi, họ bảo: “Thầy bỏ cái y áo này đi, nó ẩm hết rồi”. Mà Thầy thấy nó còn chắc thì Thầy đâu bỏ được? Mặc cho tận cùng đi, còn mặc được ấm thân, kín thân của mình mà!

Họ bảo họ cúng dường Thầy cái này, cái kia: “Thầy mặc đi, bỏ những cái đó đi, để nó ngứa!” Thầy thấy mặc có ngứa chỗ nào đâu, Thầy giặt hàng ngày.

Bởi vậy họ phí, rất phí, họ có tiền rồi họ phí, họ bảo mình cũng phí như họ. Nhưng mà Thầy có mồ hôi nước mắt Thầy đổ ra đâu mà Thầy phí, cho nên Thầy mặc tận cùng, chừng nào vá không được thì thôi.

(01:16:03) Thầy thấy Mật Hạnh xin hai bộ đồ là hai cái bộ đồ thay thôi, cho thêm cái nữa không cất: “Con cất kiến vô trỏng, con mất công cực!”. Phải không? Các con thấy không. Cho nên cho nó hai cái khăn là nó nhận một cái thôi, đủ xài thôi, không thèm dư. Chừng nào không có thì Thầy cho nữa mà có thì thôi, không xin.

Thầy thấy lập hạnh như vậy quá đúng. Cho nên nhìn trước, nhìn sau, nhìn vào trong thất nó chẳng có gì hết, cuối cùng mới là giải thoát. Qua những cái hạnh đó đáng chúng ta noi gương.

Và Thầy thì Phật tử cứ nay mua cái này, mai sắm cái kia, nếu cỡ mà Thầy gật đầu, cái phòng này quạt máy nó chạy chắc mấy con ngồi không đổ mồ hôi đâu. Nhưng mà khi mình học Phật Pháp, mồ hôi mình đổ ra một chút để mình học được pháp thì nó thấm thía lắm, còn mát mẻ quá mà ngồi nghe pháp chắc chắn là ngủ gục. Đó là những cái điều mà Thầy biết.

Cho nên ở đây quý thầy, những cái buổi trưa, cái mùa này mùa mưa nó còn mát đó, còn mùa nắng thì quý thầy có nhiều người nói: “Thầy xin Phật tử cho mấy cây quạt máy ở đây treo đi, mình ngồi ăn mát!”

Thôi, Thầy nói ông Phật chắc ổng treo quạt máy ở gốc cây ấy, chứ ổng biểu ổng ăn ở gốc cây, rồi mỗi lần đi xin ổng phải treo cái quạt máy trên cần cổ ổng đeo đi, chớ bây giờ ổng làm sao? Các con hiểu. Cho nên, tu hành thì buông xả mà sợ nóng nực thì phải mang quạt máy theo!

Cái cuộc đời, Thầy thấy thiệt không có hiểu làm sao hết! Bởi vậy Thầy nói quý thầy sao mà tu hành còn sợ nóng, sợ nực? Ông Phật nhiều khi ổng ngồi giữa đồng ăn cơm nữa, ổng có nói gì đâu. Bởi vì ở sa mạc mà, đâu có cây!

Đó là tất cả những cái sai của nghiệp, nó thúc đẩy cho chúng ta chạy theo những cái dục lạc của cái thân tâm của chúng ta. Cho nên chúng ta lầm chấp nó mà nuôi dưỡng, phục vụ nó một cách điên khùng, tạo nhiều điều ác mà chúng ta không biết.

Bởi vì mình muốn có tiền để sắm ra những cái vật dụng đó đó, mình phải suy tính đủ cách. Người buôn bán thì mình phải bán mình phải đo vải rồi đo thiếu người ta đi để kiếm lời nhiều. Mà cân đậu, cân mè, cân đường thì cân bớt đi một vài khía có làm sao đâu, người mua đâu có biết!

Bởi vì nó bớt đi một khía, hai khía họ đâu có biết đâu, cho nên mang về, nhưng mà cuối cùng cái lời đó là cái tội lỗi chớ không phải là cái đúng. Từ đó tạo những cái tội lỗi gian xảo, độc ác, gian ngoa đó thì thử hỏi các con nghĩ, ai chịu những cái nghiệp quả này?

Không phải là từ cái chỗ mà ham tiền nhiều để cho mình sắm sửa cái này kia, nhưng mà rồi thỉnh thoảng Thầy thấy nó hư, hư rồi cũng đem quăng, sắm cho nhiều rồi hư cũng quăng bỏ, chớ cũng chẳng có cái gì mà lợi ích.

Bởi vì nó là vô thường, làm sao mà nó thường hằng được. Cho nên bỏ, bỏ hết, bỏ hết, không có còn để gì hết.

(01:18:54) Thậm chí có người còn mơ tưởng tìm thuốc trường sanh hoặc tu hành luyện đơn để được trường thọ sống lâu muôn tuổi.

Trời ơi! Thiệt ra cái thân này vô thường mà tưởng nó thường. cho nên bây giờ muốn cho nó được sống với mình hoài hoài, lâu lâu. Thôi ráng tu tập thiền đi để kéo dài tuổi thọ từ kiếp này đến kiếp khác! Ông Phật ổng nói, ổng muốn sống bao nhiêu kiếp cũng được, mình cũng ráng nỗ lực tu thiền để kéo dài tuổi thọ!

Thiệt ra, ăn ngày một bữa, Thầy thấy cái kiểu mà sống như vầy Thầy cũng không ham kéo dài thêm nữa đâu! Các con thấy ăn có ngon ngào gì nữa đâu! Hàng ngày thì đặt niệm ăn trước mặt của mình quán xét, ăn vô khỏi cổ rồi thì nó bất tịnh toàn bộ, còn ham đâu mà ăn! Cho nên đâu còn thích sống ở trong cuộc đời này, cái đời này còn cái gì nữa mà thích?

Cho nên cuối cùng được đủ duyên rồi mà các con tu hành được thì mau mau nhập Niết Bàn chớ tham gì mà sống nữa! Các con thấy nè, ngủ thì ngủ ở trên cục đá nè, ăn thì không có cần ngon, chỉ nuốt để mà sống thì đâu còn có cái gì nữa mà gọi là ham.

Còn ở ngoài đời, người ta ăn là phải ngon nè, ăn ngày ba bốn bữa nè; cái gì ngon nhất ở trong thế gian này – mỹ vị – thì có tiền là chạy đi mua về ăn, ăn thưởng thức cho biết. Còn mình đâu có dám điều đó, một người tu thì đâu có ăn cái kiểu vậy được. Ai cho gì ăn cái nấy để mà sống chớ đâu đi tìm những mỹ vị trên thế gian này ngon để mà ăn?

Cho nên, sống có còn ham thích nữa không? Không ham thích chút nào hết. Nhưng vì cái nhân Phật Pháp còn, chúng ta phải ráng để duy trì cái tuổi thọ thêm để hướng dẫn người mà thôi.

Cũng như bây giờ tuổi của Thầy nó là sáu mươi mấy tuổi rồi, thì nó cũng nằm ở trong dạng thượng thọ chứ đâu phải là trung thọ nữa. Như Thầy đã giảng các con thấy: từ ba mươi tuổi trở lại là yểu tử, mà từ ba mươi tuổi trở lên sáu mươi thì nó là trung thọ, mà từ sáu mươi trở lên một trăm tuổi đó là thượng thọ. Thì tuổi của Thầy thì nó cũng đi về cái phía bảy mươi rồi.

Mà xưa có một nhà thơ nói: người đời mà sống được bảy mươi thì rất là hy hữu rồi. Thế mà Thầy bây giờ còn có bảy năm nữa là bảy mươi rồi thì không phải là hy hữu sao?

Nhưng mà cỡ sức Thầy sống thêm mười năm nữa, hai chục năm nữa cũng có thể được chớ, nhưng mà sống làm chi thêm, lê cái thân vô thường này, nay đau, mai ốm!

Thầy nói như bây giờ cô Huệ Ân nè, nay thì nhức cái đầu, mai thì tức cái ngực, mà bây giờ chết thì nó không chịu chết, mà sống thì nó cứ đau bệnh. Thử hỏi, nếu mà cô Huệ Ân mà có sức thiền định: “Thôi, tao bỏ thân này tao đi cho khỏe đi! Thử hỏi coi ở đây có làm gì ích lợi nữa đâu?” Phải không?

(01:21:45) Cho nên, tại vì chưa có đạt được cái sức làm chủ cho nên còn giữ nó để mà chúng ta thực hiện cho được. Vì vậy mà hàng ngày thì Huệ Ân hãy ráng cố gắng hướng tâm tu Định Vô Lậu và luyện tập từng hơi thở.

Không cần phải tu nhiều như cô Út dạy, chừng năm, mười hơi thở mà mỗi hơi thở đều là có sự vận dụng cho chậm nhẹ, và đồng thời trong năm, mười hơi thở đó hướng tâm nhắc: “Hơi thở phải ngừng đi! Đừng thở nữa! Để cho tao làm chủ cái thân này coi được không?” Dặn nó vậy, mỗi lần mà hít thở thì cứ nhắc nó vậy. Một ngày nào đó nó ngưng lại mà mình không chết, biết rằng mình làm chủ được cái chết rồi.

Đó thì nhớ lời Thầy dạy. Cố gắng! Còn không bao lâu nữa mà nỗ lực tu tập cho đúng cách như vậy, không cần phải ngồi nhiều, năm mười hơi thở mà nó dừng được thì tức là làm chủ được sanh tử.

Nhưng mấy ai đã làm được chỉ vì vạn pháp trên thế gian này đều vô thường.

Vạn pháp – tất cả các pháp trên thế gian này không có một pháp nào mà thường hằng được. Cho nên nói do chỗ hiểu biết của Phật Pháp thì chúng ta thấy vô thường. Do sự vô thường đó thì chúng ta còn luyện đơn, còn tìm thuốc trường sanh để mà chúng ta kéo dài tuổi thọ nữa không?

Chúng ta không làm điều đó đâu. Điều đó là điều mơ tưởng của những người chấp ngã, của những người thân kiến chớ không phải là của những người hiểu biết rõ các pháp.

Chúng ta được Phật dạy cho chúng ta hiểu:

Các pháp trên thế gian đều là vô thường, nay còn, mai mất, tan hợp như mây giữa trời.

Đó, rõ ràng là các cái pháp ở trong thế gian này, bữa nay chúng ta thấy nhưng ngày mai nó sẽ bị hoại diệt, do đó mà như đám mây giữa trời lúc tan, lúc hợp.

Vì vậy mà chúng ta đã hiểu thấu suốt được cái lý này thì chúng ta hãy tu tập ở trên cái Định Vô Lậu để chúng ta chứng được cái lý vô thường. Mà chứng được cái lý vô thường thì chúng ta không còn bị dính mắc các pháp. Và không còn bị dính các pháp thì tâm của chúng ta vô lậu hoàn toàn.

(01:24:02) Cho nên các con không chịu khó tu tập cho chứng được cái lý vô thường. Vì hàng ngày chúng ta đặt niệm, đặt các pháp trước mặt của chúng ta mà suy xét mọi sự vô thường của nó, thì lúc bấy giờ, ngày ngày tu tập như vậy làm cho tâm của chúng ta đạt được cái như lý vô thường.

Nghĩa là bây giờ, các con nghe Thầy giảng thì các con hiểu được các pháp là vô thường, thân người là vô thường, nhưng các con mới ngộ được lý vô thường nhưng các con chưa chứng được lý vô thường.

Các con nói thì được, các con hiểu thì được nhưng các con chưa sống được lý vô thường. Cho nên vì vậy mà tất cả các pháp các con đều bị dính mắc. Nếu các con chứng được lý vô thường thì các pháp các con không tiếc gì hết.

Cũng như Thầy rũ bỏ tất cả để ẩn bóng, thì đó là Thầy đã chứng được lý vô thường Thầy mới bỏ đi được. Còn Thầy không chứng được lý vô thường Thầy rất sợ: vô rừng đây rồi không biết lấy gì ăn mà sống, đây rồi nó đau nó bệnh, rồi đây là cọp nó xé xác mình, đây rồi rắn, rít độc nó cắn, rồi đau, ôm chân mà khóc ở trong rừng, nó bao nhiêu cái mà nó làm cho Thầy không thấy nó vô thường.

Còn Thầy thấy nó vô thường, Thầy chẳng ngại chút nào hết. Vì nó vô thường, có chết cũng là vô thường.

Còn các con có dám vậy không? Tức là các con chưa chứng được lý vô thường.

5.2- KHÔNG HIỂU LÝ DUYÊN HỢP NÊN KHÔNG THẤY DIỄN BIẾN NHÂN QUẢ

(01:25:31) Vì vô minh không hiểu lý duyên hợp…​

Đó, bây giờ tức là các con thấy Đức Phật đã dạy chúng ta biết được cái duyên hợp của các pháp, nó hợp ra nó mới thành. Một cái máy này nó phải do những cái vật dụng gì nó mới hợp nhau mới thành cái máy này, chớ nó đâu có một vật duy nhất mà nó thành được!

Cũng như cái thân của chúng ta, nó phải là đất, nước, gió, lửa nó mới hợp lại thành cái thân chúng ta. Cũng như cái nhà này nó phải có những cây rồi những cột, kèo, rồi những liếp, những tôn nó mới kết lại nó mới thành cái nhà. Nó do cái duyên hợp nó mới thành.

Cho nên có người hỏi: “Tóc có phải là Thầy không?” Thì đâu phải Thầy là tóc, phải không? “Xương có phải là Thầy không?” Cũng đâu phải là Thầy! Có người hỏi: “Da có phải là Thầy không?” Cũng đâu phải là Thầy. Người ta hỏi: “Cái y của Thầy có phải là Thầy không?” Đâu phải Thầy!

Hỏi tất cả toàn bộ trong thân Thầy, cái nào cũng không Thầy hết, nhưng mà hợp lại thì đó là Thầy. Phải không? Các con thấy, đó là lý duyên hợp.

Mà khi hiểu biết được lý duyên hợp thì chúng ta biết vạn vật trong thế gian này đều là do duyên hợp mà thành, không có một chất nguyên tử duy nhất của nó mà thành được.

Đó thì như vậy là chúng ta đã biết được lý duyên hợp của các pháp, cho nên chúng ta thấy hoàn toàn là không có một vật gì thường hằng được. Nó có hợp rồi nó phải tan.

Vì vậy mà Phật đã dạy chúng ta Mười Hai Nhân Duyên đó, mười hai cái duyên mà nó hợp lại, nó thành ra một cái thế giới: Cái thế giới đau khổ, cái thế giới hữu hình. Mà mười cái hai duyên này nó tan hoại, thì cái giới đau khổ nó hết và cái thế giới hữu hình nó hoại diệt. Đó là bài Thập Nhị Nhân Duyên, để cho biết, nó không còn có một cái vật cái gì, không còn có một cái thứ gì mà vô hình ở trong đó nữa.

Cho nên thậm chí như người ta xây dựng cái linh hồn, thì đạo Phật đã xây dựng trên Thập Nhị Nhân Duyên là cái lý duyên hợp, làm cho thấy cái thế giới siêu hình không có. Đó là cái xác định của đạo Phật rất rõ ràng.

​nên không thấy nghiệp lực…​

Thầy đọc lại:

Vì vô minh không hiểu lý duyên hợp của vạn pháp, nên không thấy nghiệp lực diễn biến trên lộ trình nhân quả…​

Đó, các pháp này nó hợp lại thì nó thành, thì do cái nghiệp đó nó mới tạo ra những cái nhân quả của nó, cái nhân duyên của nó. Rồi từ cái nhân duyên đó, cái nghiệp lực nó thúc đẩy đi ở trên cái diễn biến của lộ trình nhân quả.

Thí dụ như bây giờ Thầy không nghiền rượu nè, rồi bắt đầu Thầy lần lần Thầy quen với rượu rồi Thầy ghiền rượu nè. Rồi bắt đầu từ đó Thầy mới tạo ra cái nghiệp này, nghiệp kia, nghiệp nọ, cái nhân này, nhân kia, cho nên đó nó diễn biến trên cái lộ trình nhân quả.

Mà diễn biến ở trên cái lộ trình nhân quả đó thì nó dẫn dắt con người chúng ta như thế nào?

…​ kiếp này đến kiếp khác.

(01:28:17) Các con thấy rất rõ mà! Cho nên, khi mà kiếp này qua rồi thì những cái gì mà trong hiện tại bây giờ các con có là nó tan hoại hết. Thậm chí như tình thương của các con đối với các con nó cũng mất luôn.

Bây giờ Thầy đặt thí dụ như cô Diệu Hồng nè, cô Huệ Ân nè, các con có mấy đứa con nè. Mà khi bỏ cái thân này rồi thì cái tình thương của các con nó tan hoại theo với cái thân xác của các con, nó mất tiêu luôn hết. Từng lúc, từng lúc nó tan biến dần dần, nó mất tiêu hết.

Thì lúc bấy giờ các con chỉ sanh ra (là) một đứa bé thơ ở bên kia, ở bên cái nơi nào đó, ở cái chỗ nào đó, thì các con đâu còn biết rằng con của mình đang ở đây tu, hoặc là đang ở Long Hải làm những công việc để sống?

Mình đâu còn thương, đâu còn biết nữa, hết biết rồi. Toàn bộ, hoàn toàn là đoạn lìa hết tất cả những tình cảm của các con đối với những người đang hiện sống.

Cho nên các con thấy, người đi tu người ta đoạn dứt như là người ta đã chết, do đó mà người ta mới thực hiện con đường giải thoát này được. Không đoạn dứt được như vậy, khó mà đi đến nơi đến chốn.

Bởi vì nhân quả nó luôn luôn nó diễn biến:

…​ từ kiếp này đến kiếp khác, liên tục không bao giờ dứt. Thân tâm này vừa tan hoại, kế nối tiếp thân tâm khác; như cây đuốc này vừa tắt, nối tiếp cây đuốc khác. Cứ mãi tiếp nối như vậy suốt thời gian vô tận…​

Nghĩa là cái thời gian mà không có thể nói rằng một kiếp, hai kiếp hay ba kiếp, mà nó vô tận, nó mãi mãi như là một cái vòng tròn không bao giờ có một cái lối ra.

…​ mà không có một lộ trình nào giải thoát ra khỏi nó.

Đó thì các con thấy, chúng ta đang bị đi vào trong cái quỹ đạo của nhân quả, của nghiệp, của các pháp duyên hợp, cho nên chúng ta muốn ra không ra được, nó đi trong cái lộ trình đó.

Cũng như các con thấy, mặt trời nó phải đi trong cái quỹ đạo của mặt trời, mà mặt trăng nó phải đi trong cái quỹ đạo của mặt trăng mãi mãi muôn đời muôn kiếp. Mà các con có sanh ra đời nay, từ thời Đức Phật cho đến bây giờ chúng ta nhìn thấy mặt trời thì nó vẫn đi trong cái quỹ đạo của mặt trời, mà mặt trăng thì nó cũng phải đi trong cái quỹ đạo của mặt trăng, nó không bao giờ ra được.

Thì con người chúng ta sanh diệt, sanh diệt nó cũng đi ở trong cái quỹ đạo của nhân quả, nó không bao giờ dứt được.

Cho nên, muốn mà dứt ra cho được thì chúng ta phải tu tập như thế nào? Làm sao? Đó là một cái điều rất là phải nỗ lực chớ không, lơ mơ thì nó dẫn lôi chúng ta mãi mãi trong đó.

Mỗi kiếp người sanh ra phải chịu biết bao quả báo đau khổ do chính hành động thân, khẩu, ý của họ…​

Nghĩa là mình sanh ra, mình thọ những cái quả báo của những cái hành động của cái kiếp trước của mình. Bây giờ cái hành động kiếp này mình cũng tạo ra những cái quả báo đó nữa, hơn nữa, rồi mình chịu lấy những cái quả báo cho kiếp tới của mình nữa.

Nhưng đâu có ai biết được, luôn luôn cứ than khổ, cứ than thân, trách phận mình: “Sao người ta giàu, mình nghèo?”; “Sao người ta lên xe, xuống ngựa, còn mình đi bộ hoài, không xe không cộ gì hết?”; mình than thân, trách phận: “Sao người ta làm vua, mình cứ làm tôi tớ người ta hoài?”

Đó là những cái mà mình không thấy được cái chu kỳ, cái chu vi của cái nhân quả, nó đang diễn biến ở trên cái vòng tròn đó.

5.3- TỪ BỎ DANH LỢI MỚI GIỮ ĐƯỢC ĐỨC HẠNH NGƯỜI TU

(01:31:50) Vì không hiểu cho nên chúng ta cứ mãi chạy theo danh lợi và vật chất…​

Danh lợi, danh là muốn cho mình có danh là ông này, ông kia hoặc là có cấp bằng này, cấp bằng kia, làm ông lớn có tiếng tai này kia.

Đó thì các con thấy, Thầy là một tu sĩ nè, bây giờ mọi người biết Thầy là một người chơn tu, là một người giữ gìn giới hạnh, có thiền định, nhập định như thế này kia, ai cũng đồn với nhau. Tức là danh chứ gì? Đó là một điều kiện.

Mà đời thì người ta ham danh lắm. Nghe người ta hướng tâm đến mình, biết mình tu như vậy, làm như vậy, có thần thông phép tắc, có thiền định như vậy, thì bắt đầu ai cũng tập trung đến mình thì ham lắm, ham rất ham.

Rồi bây giờ người ta đến thì người ta kính mộ mình, người ta đem tiền của, máy móc đồ này kia người ta cúng. Trời ơi! Người ta để chật ngập cái thất của mình hết!

Chẳng hạn như vừa rồi Minh Tâm xách hai cái máy, chật muốn đầy cái thất của Thầy rồi. Các con thấy không? Trong cái vấn đề đó nó làm cho Thầy thấy con người tu không thể nào mà sống như vậy được.

Nhưng nói làm sao khi mà tâm người ta quá tha thiết với Thầy, người ta muốn cho đời sống của tu sĩ ở đây, cho Thầy được khỏe hơn, không có cực khổ hơn. Đó là cái tâm tốt chớ không phải là cái tâm xấu.

Người ta làm ra tiền bằng mồ hôi nước mắt, tại sao người ta dám bỏ như vậy? Là vì người ta quá kính mộ mình, quá kính trọng mình, cho nên người ta mới bỏ ra của cải, tài sản mà người ta cúng mình.

Đó là những danh và lợi.

Rồi những cái vật chất đó nó làm cho chúng ta thấy, có người lại: “Trời ơi! Cái máy này đẹp tốt lắm nè, cái máy này nó làm cho cái khu vực của Thầy hoàn toàn là xài đèn điện rồi nó không có hư”. Ai cha, nghe khen một cái vậy, cái tâm mình nó nghe nó thích rồi: “Trời! Như vậy là cái Tu viện mình nó ngon lắm chớ gì?”

Nhưng mà Thầy thì nghe như vậy Thầy lại còn buồn cho thân phận của mình hơn, không giữ tròn được cái con người tu, chớ Thầy không ham. Người ta thì nghe ham lắm chớ riêng Thầy, Thầy không ham thích chỗ nào hết.

Cho nên đối với đời sống của Thầy thì Thầy giữ rất trọn hạnh của người tu. Làm sao cho xứng đáng để cho các con còn kính ngưỡng Phật Pháp thì điều đó là điều mơ ước của Thầy.

Người ở đời thì họ không biết, họ thấy danh, lợi và vật chất thì họ ham, càng ai cho mình nhiều thì càng thích, nhưng người chân tu thì rất sợ hãi. Vì Phật đã căn dặn, đã dạy: “Danh lợi và sự cung kính thì phải ẩn bóng!”

(01:34:26) …​ càng lúc càng tạo thêm nhiều điều tội ác, tội lỗi.

Là tại sao? Tại vì chúng ta chạy theo danh lợi. Nếu mà muốn có danh thì nhiều khi chúng ta cũng phải tạo cái thế này thế khác để làm quen, làm thân lớn với người này, người kia, để mua cái chức quan nhỏ, quan lớn gì đó để cho mình có danh. Còn lợi thì đủ cách mánh khóe, gian ngoa, thủ đoạn để mà làm ra lợi, để mà cướp giựt trên mồ hôi nước mắt của người khác mới làm lợi được chớ!

Đó thì, còn vật chất thì các con thấy rằng, cái thời đại của chúng ta, người ta khoa học tiến bộ, người ta phát minh ra máy móc này, máy móc khác phục vụ cho đời sống: nào là máy điều hòa không khí, rồi quạt máy, rồi tủ lạnh, rồi máy video, truyền hình, rồi cassette, đủ thứ như thế này đây!

Ngồi đây mà Thầy thấy nội đây cũng là cám dỗ. Nếu mà người ở ngoài đời họ thấy vầy là họ mừng lắm rồi, phải không? Nhưng mà Thầy thấy đây là nước mắt Thầy rơi. Mồ hôi nước mắt của bao nhiêu người, người ta vì cung kính mình mà người ta bỏ ra người ta cúng dường mình!

Thầy thì Thầy đau khổ lắm, Thầy không ham. Nhưng vì những lời dạy của Thầy, Thầy phải sử dụng, nhưng ra đi Thầy không mang một vật gì với những cái đau khổ này. Thầy để lại, những người nào ở trong Tu viện này thì họ còn sử dụng cái này để giảng dạy cho người sau. Thầy hai bàn tay trắng như đi vào lòng đất của một người chết, Thầy không lấy gì cả hết.

Thậm chí như tiền bạc để lên xe đi Thầy cũng không sử dụng. Đi tới đâu, Thầy xin tới đó. Nghĩa là Thầy nghĩ rằng, trên bước đường đi, Thầy là một bậc chân tu, đến đâu Thầy xin quá giang xe người ta sẽ đưa Thầy đến đó, không khó khăn gì hết. Xe nào cũng đưa, chớ Thầy không có xin tiền mà để đi rồi trả tiền xe này kia, hoàn toàn là Thầy không nhận một đồng xu đồng điếu nào hết, đi tới đâu thì Thầy xin tới đó.

(01:36:25) Vì cuộc đời Thầy có trải qua một thời gian khất thực, Thầy xin từ thành phố mà Thầy xin đi xuống miền Hậu Giang, rồi Thầy đi đến Rạch Giá, rồi Thầy xin tàu đi ra Hòn Sơn, người ta vẫn cho Thầy, Thầy không có đồng xu điếu nào hết. Thầy đến Sóc Trăng, Thầy đến Sóc Thơm, Thầy vẫn xin xe Thầy đi. Thì xe ôm, xe lôi gì nó vẫn chở Thầy đến nơi, đến chốn.

Thầy xin, Thầy nói: “Bây giờ, xin cho Thầy quá giang vì Thầy không có tiền bạc!” Xe nào đồng ý thì chở Thầy, mà xe nào không đồng ý thôi. Cho nên Thầy xin, Thầy tới đâu thì người ta cho Thầy đi đến đó.

Cho nên thời gian Thầy đi khất thực Thầy đã biết được cái lòng của người Phật tử, họ rất là tha thiết với những bậc tu hành, những người mà không có tiền.

Cho nên ở Sóc Thơm, hầu hết là cái người Miên ở trong đất Việt mình, họ chạy xe lôi đó, họ nói: “Mấy ông lục Việt Nam là không có tiền, còn mấy ông lục của Miên thì có tiền mình lấy tiền, còn mấy ông lục Việt Nam không có tiền, không lấy”.

Đó là trên bước đường mà Thầy đã thấy được cái bậc tu hành nó không cần phải có đồng xu, đồng điếu nào. Đói thì ôm cái bình bát mình đi theo đường, đúng cái giờ Ngọ người ta thấy mình đi thì người ta cho mình ăn.

Còn nếu mà không ai cho, quá giờ Ngọ mình không có gì ăn thì mình về mình ngồi thiền. Đêm đó mình nhập định, mình giữ thân tâm mình trong yên lặng thì nó cũng như là mình ăn bữa ăn rồi.

Cho nên người mà theo Thầy phải có đủ sức, không đủ sức thì theo Thầy không nổi, sống như Thầy thì chắc sống không nổi. Các con mà đi theo Thầy, một bữa mà xin ăn không có thì bữa sau chắc đi vào trong non núi chắc không nổi nữa rồi, đói quá chịu không nổi rồi.

Chớ còn Thầy thì vẫn bình thường, đi như thường. Dù là ba, bốn ngày không ăn vẫn có thể duy trì sự đi đứng của mình được, không đến đỗi mà mệt nhọc. Vì Thầy biết cái sức thiền định của mình, nó giữ gìn được cái sức khỏe của mình dễ dàng.

6- LỘ TRÌNH TU HỌC THẬP THIỆN

(01:38:37) Đó thì hôm nay Thầy dạy cho các con biết được: trong con đường nhân quả, nghiệp nó đã chi phối mình, để rồi mình sẽ tu tập cái gì đây?

Người cư sĩ muốn chấm dứt hoàn cảnh khổ đau đời sống của mình, vượt thoát cảnh tù tội ở thế gian, những tai nạn hiểm nghèo, bệnh tật nan y, những xung đột, những lòng tỵ hiềm ganh ghét, tánh ích kỷ nhỏ mọn, hẹp hòi và tâm dối trá, xảo quyệt v.v…​ trước tiên phải thông hiểu Thập Thiện.

Nghĩa là cái người cư sĩ mà muốn xa lánh được những cái tâm của mình, những bệnh tật, những tai nạn, những sự xung đột với nhau, những lòng tỵ hiềm ganh ghét, tánh ích kỷ nhỏ mọn của mình thì mình phải hiểu Thập Thiện.

Thập Thiện tức là mười điều lành mà Phật đã dạy.

Mười cái điều lành đó, nếu mà chúng ta làm ngược lại nó tức là mười cái điều ác.

Sau này, lần lượt chúng ta phải trau dồi thân tâm trong mười điều lành này để dứt trừ mười điều ác.

Nghĩa là, khi mà cái người cư sĩ bước vào tu theo đạo Phật thì trước tiên chúng ta phải tu tập Thập Thiện để trau dồi cái đức hạnh và cái oai nghi tế hạnh của chúng ta, phải trau dồi thân tâm của mình trong mười cái điều lành này.

Vậy thì trau dồi như thế nào?

Cho nên nó có bốn điều mà Thầy nhắc ở trước, khi người cư sĩ mà bắt đầu vào đạo Phật là phải tìm hiểu những gì mình cần phải hiểu, rồi trau dồi những gì mình cần phải trau dồi, thì bây giờ đây là mình trau dồi Thập Thiện đây. Rồi dứt bỏ những gì mình cần phải dứt bỏ. Đó là những cái điều mà mình cần phải biết được từng cái giai đoạn tu tập của mình.

Khi mình tìm hiểu, thông hiểu được Thập Thiện rồi thì bắt đầu mình phải trau dồi Thập Thiện cho thân tâm của mình. Rồi mình trau dồi nó thì trong sự trau dồi đó mình biết cái nào đúng, cái nào sai, cái nào mà mình phải dứt bỏ, cho nên đến cái giai đoạn thứ ba là mình phải dứt bỏ. Và khi đến cái giai đoạn thứ tư thì mình phải tu tập.

(01:40:54) Vậy thì muốn thực hiện mười cái điều lành này thì có lúc mình phải trau dồi, trước tiên là mình phải tìm hiểu, sau đó mình phải trau dồi. Rồi trau dồi rồi thì còn phải có lúc phải dứt bỏ những cái gì mà mình cần phải dứt bỏ. Cái đó không được trau dồi mà phải dứt bỏ.

Nhưng có cái mình phải cần tu tập nó mới thực hiện được, nó mới sống được ở trong mười cái điều lành này. Chớ không phải nghe mười điều lành này là chúng ta nghe suông thôi mà chúng ta còn phải hành, còn phải tập luyện, còn phải trau dồi, còn phải tu tập hàng ngày, còn phải dứt bỏ hàng ngày.

Mà khi dứt bỏ, chúng ta phải làm pháp gì, tu tập pháp gì để mà chúng ta dứt bỏ? Khi trau dồi, chúng ta phải tu tập pháp gì để mà chúng ta trau dồi? Chớ đâu phải đơn giản, đâu phải nghe nói trau dồi rồi chúng ta nghe nói như vậy…​

Như một cái ông thợ vót tên, họ bào chuốt cây tên cho suôn và cho trơn, thì lúc bấy giờ họ trau dồi làm cho cái cây tên đó cho bóng, cho láng lên. Cũng như một ông thợ mộc, ổng trau dồi cái bàn này cho nó bóng, cho láng lên, rồi ổng đánh vecni lên làm cho cái bàn nó tốt lên. Đó là sự trau dồi một vật dụng làm cho cái vật dụng đó được tốt đẹp.

Còn bây giờ, chúng ta muốn trau dồi cái đạo đức của con người thì chúng ta phải trau dồi như thế nào để thân tâm của chúng ta có những cái đạo đức? Đó là sự trau dồi.

Mà bây giờ chúng ta trau dồi trong mười cái điều lành này, nó rất rõ ràng, chớ không phải chúng ta trau dồi một cách thông thường, một cách nói chung chung, mà đây nó rõ ràng phân ra mười điều lành, mà chúng ta lấy đó để mà trau dồi, rèn luyện, tu tập, dứt bỏ để chúng ta thực hiện được mười cái điều lành của Phật dạy.

7- TU THẬP THIỆN ĐỂ CHUYỂN HÓA VÀ LÀM CHỦ NGHIỆP ÁC

(01:42:29) Thập Thiện là con đường đưa con người đi đến nơi hạnh phúc chân thật, giúp con người thoát ra khỏi tâm niệm thường tình thế gian.

Thập Thiện rèn luyện con người đạo đức nhân quả, trở thành người tốt trong xã hội hiện nay và mai sau; giúp tâm tánh con người không còn ác độc, xảo trá, gian dối, lừa bịp; khiến con người trở thành điềm đạm, khiêm tốn, giản dị, hiền lành, có đầy đủ nhân cách làm người và còn đủ sức nhẫn nại vượt bao cam go thử thách của cuộc đời.

Thập Thiện chuyển cảnh khổ đói rét, bất toại nguyện trở thành cảnh an vui, yên ấm hạnh phúc, và tạo cảnh thuận duyên mãi mãi cho cuộc sống con người.

Thập Thiện xây dựng cho chúng ta một cuộc sống đạo đức chân thật, luôn luôn mọi cá nhân làm gương tốt cho người khác.

Thập Thiện biến kẻ hung ác, sát nhân, trộm cướp, tà dâm trở thành những người lương thiện, tâm hồn trong sạch, không còn lo sợ tù tội thế gian và ba đường ác.

Thập Thiện cải biến nghiệp ác thân, khẩu, ý trở thành nghiệp thiện thanh tịnh không phạm phải lỗi lầm, lỗi ác.

Người cư sĩ không tu Thập Thiện, ba nghiệp thân, miệng và ý tạo đầy đủ mười điều ác, đó là tạo nhân quả khổ đau cho kiếp sống hiện nay và đưa đến ngày mai.

Địa ngục là con đường đau khổ nhất trong sáu nẻo luân hồi. Đâu phải đợi ngày mai chết mới đọa địa ngục mà chính ngay trong cuộc sống hiện tại, nếu ai đã làm đủ mười điều ác, chắc chắn họ phải chịu thọ một đời sống hoàn toàn khổ đau như trong địa ngục vậy.

Các con cứ xem, có một kẻ ưa làm điều ác: Sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói lưỡi hai chiều, nói lời thêu dệt, nói lời hung ác, tham lam, sân hận và si mê, có lúc nào người này được an vui đâu? Dù họ ở địa vị nào trong xã hội, bản thân và tâm hồn của họ vẫn đen tối và đau khổ bất tận.

(01:45:38) Dù là ông vua đi nữa mà đã làm mười cái điều ác này thì ông ta vẫn khổ, và có thể ngai vàng của ông ta không bao lâu sẽ sụp đổ.

Bằng chứng rõ ràng là các con sẽ đọc lại những trang sử: những ông vua mà lo cho chúng dân cơm ăn, áo mặc đầy đủ, không lấy thuế cao, làm cho đời sống dân chúng được ấm no thì ông vua đó ở ngai vàng lâu dài.

Còn những ông vua mà ham chơi, hoang phí, sắc dục, lo ở trong cung đàn ca xướng hát, uống rượu ngâm thơ, thì những ông vua đó chỉ có một thời gian rất ngắn một năm, hai năm rồi bị mất ngôi. Hầu hết trong lịch sử đều chứng minh điều đó. Mà những hành động vui chơi, chạy theo dục lạc như vậy đều là trái với Thập Thiện.

Cũng như chúng ta đọc trong truyện Tàu chúng ta thấy, vua Trụ Vương ngày xưa đã giết người một cách vô cớ, đó chỉ là một cái sự mua vui, làm những chuyện tàn ác. Tất cả những điều đó để đưa đến vua Trụ mất ngôi, chết bị thiêu rất là đau khổ.

Phật dạy chúng ta tu Thập Thiện cốt là để tạo đầy đủ phước báu, để chuyển hóa cuộc sống của chúng ta hiện nay được an vui, hạnh phúc và đời sau còn được thỏa mãn mọi nhu cầu trong đời sống, dù bất cứ sanh nơi đâu.

Thập Thiện có lợi ích, có thành quả lớn như vậy, ai là người đã đủ duyên được nghe, đọc, thấy hiểu biết và được tu tập, đó là một phước báu lớn của kiếp làm người.

Vậy chúng ta đã được biết Thập Thiện, đừng để luống một cuộc đời đen tối và đau khổ. Được kho báu đạo đức nhân quả như thế mà không biết dùng kho báu, đành để một cuộc đời nghèo khổ đạo đức, lang thang trong sáu nẻo luân hồi, khổ đau bất tận.

(01:47:55) Đó thì, qua cái sự giới thiệu của Thầy cho các con bắt đầu để mà học, hiểu biết về mười cái điều lành của Phật, và biết khi mà chúng ta chuyển được nghiệp của chúng ta là do mười cái điều lành này mà chúng ta chuyển được nghiệp và bắt cái ông chủ nhân nghiệp của chúng ta phải trở thành tôi tớ của chúng ta.

Nghĩa là ông chủ nhân nghiệp này không còn sai chúng ta được làm gì. Ông không biểu chúng ta ăn ngon mà chúng ta nghe theo, ông không bảo chúng ta uống rượu mà chúng ta nghe theo, ông không bảo chúng ta sát sanh mà chúng ta làm theo, ông không bảo chúng ta trộm cắp mà chúng ta làm theo.

Còn trước kia thì chúng ta chưa biết ông, cho nên ổng bảo chúng ta uống rượu, ông bảo chúng ta ăn cái này, thích cái kia thì chúng ta làm theo, ông bảo chúng ta cái gì là chúng ta làm theo cái nấy, không dám sai lời. Còn bây giờ chúng ta đã được học Phật Pháp, đã được hiểu biết Thập Thiện, thì chúng ta không còn để ông ta sai chúng ta được. Vì thập ác – mười điều ác, đó là nghiệp, nó sẽ sai chúng ta làm mười điều ác.

Mà khi chúng ta đã hiểu được Phật Pháp thì chúng ta đã tự mình thắp sáng lên cái ngọn đuốc giải thoát cho chính chúng ta, cho nên chúng ta chống cự lại, không làm theo những cái điều thập ác mà luôn luôn tuân hành theo những lời Phật dạy: Hành Thập Thiện.

Do vì vậy mà chúng ta chấm dứt nghiệp, đoạn dứt nghiệp. Ông chủ nghiệp sẽ trở thành người tôi tớ của chúng ta, sẽ trở thành người xa lạ không còn sai khiến chúng ta được. Do ông chủ nghiệp mà không sai khiến chúng ta được thì nghiệp sanh tử cũng không sai khiến chúng ta được.

Đó thì các con thấy, bắt đầu từ cái chỗ Thập Thiện mà cho đến khi sống chết của chúng ta, thì ông chủ nghiệp này cũng không làm sao bảo chúng ta chết là chúng ta chết đâu.

Nghĩa là nghiệp chết chúng ta đến, chúng ta nói: “Không được chết!” thì do đó chúng ta sống. Mà nghiệp sống không cho chúng ta chết, nói: “Ông còn năm năm, mười năm nữa, ông phải trả hết những cái đau khổ này, chứ ông không có đi bây giờ được!” Thì chúng ta nói: “Ông sai tôi không được đâu! Bây giờ tui đủ sức tui sẽ làm cho nó chết, vậy thì tui ra lệnh cái hơi thở ngưng là tui đã chết”.

Thì các con thấy, mình làm chủ cái nghiệp, thì nghiệp chết, nghiệp sống. Nếu mình còn cái nghiệp sống thì nó phải sống chớ làm sao chết được? Thế mà mình tu tập rồi, thì bắt đầu mình đang sống, mình bảo là “Chết!”, nó phải nghe theo chết, thì ông chủ nghiệp có còn sai mình được không?

Cho nên, ngay từ bắt đầu chúng ta đã học nghiệp để chúng ta biết cái ông chủ nhân – cái người mà cầm cái vận mệnh sanh tử của chúng ta là ai, chớ không phải ông trời, chớ không phải có một thiên thần nào đó mà cầm vận mệnh sống chết của chúng ta.

Như Nam Tào, Bắc Đẩu mà cầm sổ sống, chết của chúng ta: “Cái ông này tới số rồi, gạch cái tên ổng đi, đưa linh hồn ổng xuống địa ngục đi!” – thì không có chuyện đó đâu. Mà chính chúng ta tu hành theo đạo Phật là chúng ta cầm cái sổ sống chết trong bàn tay của chúng ta.

(01:50:58) Cho nên Đức Phật đã ví dụ: “Ta đã nhờ tu Tứ Như Ý Túc, cho nên…​” Đức Phật nhắc ba lần: “…​ Ta muốn sống từ một kiếp cho đến nhiều kiếp, từ tiểu kiếp cho đến trung kiếp, đại kiếp, Ta có thể kéo dài tuổi thọ được.”

Ba lần Đức Phật nhắc ông ta, ba lần Đức Phật nói Tứ Như Ý Túc cho ông ta nghe, nhưng ông ta không hiểu gì hết. Cuối cùng Ma Vương đến thỉnh Đức Phật: “Ba tháng nữa Đức Phật hứa nhập diệt!”

Đến khi mà ông tỉnh lại thì đến xin Phật trụ thế, thì Đức Phật nói: “Hồi đó Ta nhắc ông nhiều lần, Ta đã nói rằng: Ta do sự chuyên cần, tinh tấn tu tập Tứ Như Ý Túc, cho nên bây giờ Ta kéo dài tuổi thọ Ta ra bao lâu cũng được hết. Nhưng hồi đó sao ông không xin? Bây giờ ta đã hứa rồi, không lẽ Ta đã ăn rồi mà Ta nhổ ra rồi Ta ăn lại được sao?”

Đức Phật ví dụ cho ông A Nan biết: như một người nhà giàu, của cải nhiều, đồ ăn thực phẩm ngon nhiều, bây giờ ông ăn vô trong miệng ông rồi ông nhả ra, bây giờ ông còn muốn ăn lại nữa không? Ông đâu phải người nghèo đói mà ông đi ăn vậy, ông giàu có mà, ông đâu có ăn vậy. Cho nên, đã nhả ra là nhả ra chớ không có ăn lại. Đức Phật ví dụ rất là thực tế.

8- THẦY DỰ ĐỊNH ẨN BÓNG VÌ PHẬT PHÁP, VÌ HỌC TRÒ

(01:52:12) Cũng như Thầy đã hứa ẩn bóng thì Thầy sẽ ẩn bóng. Tại vì Thầy không bỏ các con cho nên Thầy ẩn bóng, chớ Thầy sống thêm một, hai ngày, các con biết là một con người bằng xương, bằng thịt như các con, thế mà ẩn bóng trong rừng sâu, núi thẳm, gian khổ chớ đâu phải không gian khổ! Thế mà vì Phật Pháp, vì các con mà không nỡ ra đi. Cho nên phải chịu gian khổ vì các con chớ đâu phải vì ai!

Vì Phật Pháp có một bậc chân tu, Thầy phải ra đi. Chớ bây giờ Thầy nằm ở đây Thầy rất sung sướng, có gì đâu mà phải cực? Cơm thì ngày nào cũng đủ, áo ngày nào cũng lành, mưa gió không ướt. Còn ở trong rừng, trong núi, trong hang, mưa to gió lớn thì ướt đẫm, nhiều khi không có chỗ núp nữa.

Chớ đâu phải vô rừng rồi bắt đầu cất nhà, cất cửa, lầu đài trong đó ở như vua chúa đâu? Ở như một người tu, một người ẩn bóng thì đâu có làm rền rang những điều này, thế kia!

Do vì Phật Pháp, vì các con mà Thầy phải kéo dài tuổi thọ thêm để chờ các con tu hành cho xong. Đó, các con có hiểu được cái ý Thầy không?

Nếu mà không được thì Thầy ở đây hoài hoài, các con cũng tu cỡ chừng đó mà thôi, không thấy được điều gì đâu. Còn Thầy ra đi, các con nỗ lực, luôn luôn tin rằng: có Thầy ở bên, mình nỗ lực đúng, Thầy sẽ đến giúp mình, mình gặp những khó khăn, Thầy gỡ rối.

Thầy nhớ: ngày xưa ông Mục Kiền Liên ở trong rừng núi xa vắng, không được ở gần bên Phật, ông nỗ lực tu, thì Đức Phật luôn luôn thể hiện đến bên ông, giúp đỡ ông từng chút.

Gặp hôn trầm nhiều, Đức Phật đến dạy ông năm cách phá hôn trầm. Khi ông tác ý ra, không nhập được Nhị Thiền cho nên Phật dạy ông im lặng như thánh, trụ như thánh. Khi ông nhập Tứ Thiền, nhập Tam Thiền, Đức Phật dạy ông từng chút. Cuối cùng ông nhập được Tứ Thiền và toàn bộ các thiền định ông đều nhập hết được.

Thì hôm nay cũng vậy, không phải ở gần Thầy các con tu được mà ở xa Thầy không tu được. Tất mình phải nỗ lực để cứu lấy mình, vì thân mạng của các con rất quý, được thân người là khó, nay còn, mai mất.

(01:54:18) Các con tu hành nhưng các con không quý thân các con nhiều đâu. Thầy mười năm trong thất, Thầy tiếc từng phút, từng giây, nhưng vì không ai hướng dẫn cho nên Thầy phải tự tu lấy.

Nhiều khi phải tự mình nỗ lực hết sức, không ai khuyên, không ai sách tấn, không ai dạy bảo, mình phải tự tu tập lấy, để rồi đến khi thành tựu được sự làm chủ, Thầy mới thấy được con đường đi của mình, đem lại dạy các con, có Thầy từng phút giây.

Suốt những năm tháng bên các con, hầu như các con lơ đễnh, không thấy thời gian quý báu. Đến khi nghe Thầy đi thì các con cầu khẩn ở lại. Nhưng ở lại sao được khi Thầy đã nói ra, như một người nhà giàu ăn thực phẩm rồi nhả ra rồi ăn lại được sao? Nói là phải giữ, không thể nào sai lời nói được.

Và đồng thời Thầy đã suy nghĩ kỹ: nếu Thầy nói nhập diệt thì chắc các con mất đi người Thầy quý báu, mà nói ẩn bóng thì chắc các con không mất. Vì có ngày nào đó thì Thầy sẽ còn gặp lại các con trên bước đường tu tập khi các con gặp khó khăn, hoặc khi các con tu được sự hướng dẫn, sự chỉ bảo của Thầy, các con còn phải làm những gì mai sau cho Phật Pháp.

Nếu không Thầy, các con tu hành có được thì các con hướng dẫn Phật Pháp, biết ai tin ở mình mà hướng dẫn nếu không có Thầy? Còn có Thầy, lời tuyên bố của Thầy, lời nói của Thầy làm cho người ta đủ niềm tin ở các con mà tập trung với các con mà tu tập.

Cho nên, Thầy muốn thắp sáng lại ngọn đuốc Phật Pháp, nó có nhiều điều mà Thầy cần phải làm. Mà Thầy đã suy nghĩ rất kỹ chớ không phải thiếu suy nghĩ đâu, Thầy không phải là người vô tâm mà bỏ các con chơi vơi giữa đường tu tập nửa chừng như thế này.

9- TU SĨ VÀ CƯ SĨ CÓ PHÁP TU KHÁC NHAU

(01:56:17) Bây giờ thì sắp hết giờ rồi, các con sẽ nghỉ. Tới chủ nhật, Thầy tiếp tục cái bài Thập Thiện này để cho hết mười cái điều lành, rồi chúng ta sẽ học tới, như Thầy đã dạy ở trong cái giáo án là chúng ta sẽ học tới Tứ Vô Lượng Tâm, rồi trau dồi bốn cái Tứ Vô Lượng Tâm.

Không biết là cái cuộn băng trước Thầy có đọc lại cái chỗ này cho các con nghe không? Bây giờ Thầy đọc lại để sau đó Thầy lấy cái điểm này mà dạy các con.

Đạo Phật không chấp nhận những người cư sĩ chuyên tâm:

1. Làm khổ người

Không biết cái này các con có học chưa đây?

Có rồi hả con?

Những hàng cư sĩ chân chánh của đạo Phật cần phải được hàng ngày trau dồi Tứ Vô Lượng Tâm.

Có chưa? Có rồi hả con?

1. Tâm Từ trau dồi sẽ diệt sân hận;

Có rồi hả con? Rồi:

Tâm Hỷ trau dồi sẽ diệt trừ lòng ganh tỵ.

Cũng rồi hả con? Như vậy coi như là…​. Rồi tâm xả nè. Rồi còn về cái thân bất tịnh thì Thầy không có dạy, phải không?

Thân bất tịnh thì sẽ diệt trừ tâm dâm; thân vô thường sẽ diệt trừ tâm kiêu căng ngã mạn; còn hơi thở thì sẽ dừng các hành trong thân, làm chủ sống chết.

Ba cái điều kiện này thì nó không nằm ở trong Tứ Vô Lượng, cho nên nó không nằm vào trong cái giai đoạn của người cư sĩ, cho nên Thầy không có giảng phải không?

Lẽ ra thì đây là bảy cái điều kiện mà Phật đã nêu ở trong cái bài kinh trong kinh Trung Bộ, Phật đã nêu bảy cái điều kiện mà chúng ta tu tập, từ tu tập tâm Từ, tâm Bi, tâm Hỷ, tâm Xả rồi cho đến thân bất tịnh, rồi thân vô thường, rồi hơi thở, thì tất cả những cái này Phật dạy luôn cho một người tu sĩ chớ không phải người cư sĩ.

Cho nên đến đây Thầy ngắt ra làm hai đoạn. Cái phần dưới này là cái phần của người tu sĩ, còn cái phần trên, bốn cái tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả này là cái phần của người cư sĩ đang thực hiện trau dồi những cái Thập Thiện, vì vậy mà phải tu tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả.

(01:58:36) Bây giờ mình có Từ Bi thì mình mới không giết hại chúng sanh, nó mới vào cái chỗ Thập Thiện chứ, các con hiểu không? Mình có Hỷ thì mình mới không có lòng ganh tỵ, mình có Từ Bi thì mình không có hung bạo, mình không sân hận. Các con thấy Thập Thiện thì nó có sân, rồi si, rồi tánh hung dữ của mình mới có những cái lời nói thô bạo đó, hung dữ đó.

Cho nên muốn áp dụng Thập Thiện, tu tập cho nó được kết quả đó, thì người ta phải tu Tứ Vô Lượng Tâm. Các con thấy không? Khi mà nói về Thập Thiện thì mình phải tu cái gì, rồi mình trau dồi cái gì, thì nó có những cái pháp để trau dồi.

Cho nên ngồi lại mà viết cái giáo án nó không phải là tầm thường, mà phải có sự suy tư chín chắn lắm. Bởi vì, nhằm để đối trị cái tâm sân, mà ở trong Thập Thiện thì có về ý của mình: tham, sân, si đó. Cho nên nếu không tu Tứ Vô Lượng Tâm thì làm sao mình diệt được cái sân? Các con hiểu không?

Do tu như vậy đó mình mới diệt trừ được cái tâm sân, thì cái tâm hận thù của mình mình mới xả được, cái tâm hung bạo của mình mình mới xả được, cái tâm ganh tỵ mình mới xả được, thì tham, sân, si ở trong đó, nó có ở trong cái ý hành của chúng ta. Cho nên chúng ta phải tu Tứ Vô Lượng Tâm là ở cái giai đoạn của người cư sĩ.

Nhưng mà tu về thân bất tịnh thì tức là trên thân quán cái nhân tướng của thân – cái tướng thân của chúng ta, mà đặt cái bất tịnh ra để mà chúng ta quán xét nó bất tịnh để trừ, đối trị cái tâm dâm.

Thì bắt đầu ở trên cái thân này, mình quán vô thường để thấy cái sự vô thường của nó, cho nên nó diệt trừ cái tâm ngã mạn của mình. Ngã mạn thì nó ở trong cái Ngũ Triền Cái: tham, sân, si, mạn, nghi; thì mạn là kiêu mạn đó.

Cho nên nếu mà mình không cái tu tập về cái thân vô thường thì cái tánh kiêu căng, ngã mạn của mình nó vẫn còn, mình hễ thấy mình tu học hơn một chút là mình có cái ngã mạn của mình trong đó rồi, cái tánh tự kiêu của mình ở trong đó rồi.

Còn về hơi thở thì Phật cũng dạy, nó sẽ dừng các hành ở trong thân, mình nương hơi thở thì mình dừng các hành trong thân, cho nên mình mới nhập định được, cho nên mới làm chủ được cái sống chết.

Đó cho nên các con thấy, ở đây Phật nêu lên bảy cái điều kiện, nhưng mà đây cho cái người tu sĩ. Còn Thầy ngắt ra làm bốn cái điều ở trên để cho người cư sĩ họ tu Thập Thiện, họ thực hành Thập Thiện.

Còn ba cái điều dưới này thì để cho cái người mà tu Tứ Niệm Xứ, họ trên thân quán thân, rồi trên thân quán vô thường, rồi trên thân quán nội thân về thân hành, thì do đó quán hơi thở, và hơi thở đó thì họ làm chủ sống chết, họ nhập Bốn Thiền.

Tất cả những cái này nó đều rất rõ, mà Phật nêu lên bảy cái điều kiện tu tập đây là để cho tu sĩ. Còn bốn cái điều kiện Từ, Bi, Hỷ, Xả này để cho cư sĩ người ta tu để người ta thực hiện được Thập Thiện.

Đó lần lượt những cái này thì các con sẽ phải…​ và đồng thời thì các con, không biết Thầy có ghi tới đây không?

10- GIỮ GÌN THÂN, KHẨU, Ý VÀ ĐỜI SỐNG THANH TỊNH

10.1- ƯỚC NGUYỆN TRỌN ĐỜI SỐNG THANH TỊNH

(2:01:42) Người cư sĩ theo đạo Phật phải ước nguyện trọn đời sống:

Sống cái gì đây?

1. Thân hành thanh tịnh;

Có ghi chưa? Chưa hả? Tâm Xả được trau dồi sẽ diệt hận thù chứ gì? Bây giờ để Thầy tiếp thêm cái chỗ này nữa.

Người cư sĩ theo đạo Phật phải ước nguyện trọn đời sống:

Nghĩa là trọn đời mình phải sống như thế nào? Sống phải giữ gìn như thế nào?

1. Thân hành thanh tịnh;

Cái hành động của cái thân của mình phải thanh tịnh, phải trong sạch, phải không gian ác ở trong đó. Đó là mình phải nguyện trọn đời của mình: Một là thân hành phải thanh tịnh.

2. Khẩu hành phải thanh tịnh;

Tức là miệng mình nói cái gì mình phải nói cho trong sạch, không có được nói không thanh tịnh.

3. Ý hành thanh tịnh;

Cái ý suy nghĩ của mình phải thanh tịnh.

4. Sinh sống thanh tịnh.

Sinh sống là hàng ngày mình làm công việc như ăn uống hay hoặc là làm tất cả những công việc lặt vặt, mọi thứ việc đó, thì phải thanh tịnh.

Nghĩa là cái sự sinh sống của mình làm sao mà nó không có bị mất cái sự thanh tịnh, tức là không có làm ồn náo, không có những lời rầy rà hay hoặc là có những cái cuộc xung đột nhau, không có toại nguyện nhau; sống phải hòa thuận nhau, thấy việc thì giúp nhau cùng làm, chớ không có nạnh nhau người làm nhiều, người làm ít. Mình lăn xả vô, ai làm không làm mình làm hết, hoàn toàn.

10.2- GƯƠNG HẠNH SỐNG THANH TỊNH CỦA THẦY

(02:03:16) Cũng như các con thấy cái gương hạnh Thầy không? Thầy làm hết. Có người quét Thầy cũng quét mà không người quét Thầy cũng quét, nghĩa là mình chia với nhau cùng làm cho nó vui.

Không có người, Thầy quét hết từ cái sân này tới sân khác không có phiền hà, mà có mọi người đều phụ Thầy, Thầy cũng xách chổi ra quét chung, chớ thấy mọi người quét rồi mình nói: “À, có nhiều người, thôi, mình nằm ghế mình nghỉ cho khỏe!” Mình có phải ông vua đâu các con? Thầy là một người tu sĩ mà.

Bởi vì trong Lục Hòa Phật dạy đó: “Thấy việc cùng làm, giúp nhau cùng sống”, mình chia sẻ. Mình xách cây chổi ra, mặc dù mình quét mấy chổi à, nhưng mà tất cả chúng đều là người ta cảm mến. Phải không?

Thí dụ như bây giờ trong chúng các con nè, mà cái việc làm đó nó nhiều người quá rồi, nhưng mà mình vẫn xách chổi ra mình quét thì mình thấy chia sẻ được cái chút ít của họ. Còn không có ai thì mình sẵn sàng mình quét, mình không than không thở gì hết. Đó là mình là người tu, không có cái thấy đó là cái chỗ mệt nhọc của mình.

Cho nên sinh sống thanh tịnh là thanh tịnh chỗ đó đó.

Còn mình nạnh, mình này kia, mình sanh nạnh người này làm nhiều, người kia làm ít, do cái chỗ đó nó làm cho mình mất thanh tịnh liền.

Ở đời, vì cái tâm của con người phàm phu thì thích mình sống sung sướng, còn người khác cực mặc họ. Người nào làm cực mà mình được sung sướng thì hơn. Lo cho mình tức là bản ngã của mình, và cũng vì vậy mà cái đạo càng ngày mình càng xa.

Còn mình lăn mình ở trong mọi việc cực khổ, Thầy nói, Thầy làm việc quần quật. Có người kêu: “Nước không có! Sao mấy buồng tắm ở đây sao không nước ra?” Thay vì họ thấy không nước họ đi tìm phăng cái ống nào, chỗ nào nghẹt, họ cũng kêu Thầy!

Thầy vui vẻ, tại vì họ chưa biết cái chỗ nào. Thầy vác cái cuốc Thầy đi mò coi. Lại cái buồng tắm người thứ nhất này coi nó có nước chảy không? Không nước chảy. Lại người thứ hai cũng không nước, người thứ ba không nước, người thứ tư không nước. Tới người thứ năm có nước, biết rằng cái khoảng chỗ này đây là nó nghẹt, cho nên cái người này không có, cho nên toàn bộ khúc này không có.

Cũng như bây giờ các thất này không có, Thầy lại coi cái robinet đây, chỗ này không có, chắc chắn là chỗ này bị nghẹt, Thầy móc ở chỗ này, chứ Thầy đi móc ở chỗ kia nó mất công chứ gì? Mà khai chỗ này thông thì mấy cái chỗ kia có nước hết. Các con hiểu điều đó.

“Bây giờ chỗ nhà con không điện. Không biết nó mát cái chỗ nào, nó chạm chỗ nào đó mà nó đứt rồi nó không điện. Coi mấy cầu dao ở trong nhà con thấy không có, vậy thì nó ở chỗ dây nào?”

Bắt đầu Thầy cúp hết, bởi vì Thầy có những cái hệ thống, Thầy cúp hết các điện. Bắt đầu Thầy mở lại coi thử coi chỗ cái nhà con coi có không, mà nhà con không có, tức là mấy chỗ kia Thầy cắt hết rồi, Thầy cho dòng cái điện vô nhà con thôi, mà nhà con không có, Thầy biết nội khu chỗ nhà con, Thầy tìm ra cái chỗ mà nó bị đứt dây, Thầy nối lại liền.

Cho nên Thầy đâu có đi tìm kiếm khua hết, Thầy chỉ cần Thầy cúp mấy cái khu kia thôi, rồi Thầy mở ngay cái khu con thôi, thì cái khu con bây giờ không điện, Thầy biết là chỗ đó đứt dây chỗ nào, Thầy lại đó.

Còn các con làm sao biết được. Cho nên, hở ra chút nào: “Thầy, cái bóng đèn con cháy! Nhà con bây giờ nó tắt!” Thầy phải đi làm hết tất cả hết, như là một cái ông thợ mà bao thầu hết ở trong Tu viện. Các con hiểu không?

(02:06:30) Rồi bây giờ các con nói: “Nay không thấy gạo”. Thôi Thầy cũng viết cái thơ gởi cho Phật tử hay gọi mấy con, gọi điện thoại xuống Như Trì, hay Như Lý, hay hoặc là Tâm Như, hay hoặc là Minh Tâm, nói: “Thầy bây giờ hết gạo, xin nó cho vài tạ gạo đi!” thì ở dưới nó chở lên cho Thầy.

Các con thấy không? Đói thì các con nói Thầy, Thầy cũng chạy đi xin, chớ Thầy làm sao Thầy có được, nhưng mà Thầy đâu có bỏ đói các con được, phải không?

Cho nên tất cả mọi cái gì đều là Thầy làm hết. Bây giờ có cái nhà các con dột, cũng chạy lại nói: “Thầy, nhà con nó dột nước!” Thầy cũng chạy lại Thầy làm chớ Thầy có nói gì đâu, bởi vì Thầy là thầy mà!

Tu sinh: Thưa hỏi

Trưởng lão: Vậy thì tới sau này các con thấy nhà dột tự mình lợp!

Cho nên bây giờ đó, sinh sống thanh tịnh là sinh sống như vậy đó các con, cái việc gì mình cũng làm cho mọi người hết.

Mà Thầy làm vậy Thầy thấy: “À, như vậy là mình sống, ngày mình ăn một bữa mà lợi ích cho chúng sanh, lợi ích cho mọi người!” Cho nên đời mình sung sướng lắm, không có cái gì,cho nên tối Thầy lại ngủ ngon, rồi ngồi thiền, Thầy lại ngồi thiền rất ngon!

Nhiều khi cái nghiệp của Thầy, cái chân Thầy đau, Thầy nói: “Cái chân này không có đau nữa! Cái thọ là vô thường, không có đeo cái chân Thầy nữa, văng ra đi!” Đó, rồi sao mà nó riết nó đi mất, nó không đau nữa. Các con thấy không? Thầy sai khiến sao nó được vậy.

Cho nên Thầy thấy, tại vì mình là một cái người có cái tâm tốt, biết thương người, biết lo, không rầy mắng ai hết, ai nói gì cũng tùy thuận được hết, ai nói trái cũng được mà nói phải cũng được, cho nên từ cái tâm hạnh đó mà cuộc đời của Thầy nó giải thoát.

Danh thì không ham. Thấy ai đem của cải cúng dường mình nhiều, sợ. Mình mắc công dọn, quét rồi coi chừng mối, kiến rồi đủ thứ hết, sợ lắm! Cho nên Thầy thấy đồ mà nhiều là Thầy ngán.

Thầy nói cô Út đừng sắm gì hết. Mình ăn ba chén mủ này, mai mốt có ấy mình đốt, nó không có ai đạp miểng chai. Còn ba cái chén sành đó, coi mấy nhà nghèo đó, mình bây giờ không xài nữa, hồi trước thì nó không có chén mủ mình mua chén sành đó, mình cho người ta đi. Người ta nghèo người ta không có, cứ lén cho đi, để không mấy cô thấy, nói mình lấy của chùa cho!

Chớ mình để chi? Mình không ăn mình để chi! Các con hiểu điều đó. Cho người ta, giờ người ta chén người ta không có tiền người ta mua, mình cho người ta. Trời, người ta được một chục, hai chục tô chén người ta mừng lắm!

Đó Thầy khuyên cô Út, cô Út nói: “Để kỳ này mấy cô đi hết rồi cái mình lấy mình cho, để người ta nói mình lấy của chùa mình đem cho người khác, kỳ lắm”. Cô Út nói với Thầy vậy.

Thầy có khuyên, nói thôi đừng có chất chứa, Thầy thấy đồ nhiều lắm, ớn lắm! Nên chùa mà không có cái gì hết thì mình khỏe lắm. Đồ chùa mà có cái này, cái kia, mệt lắm! Nhất là đồ máy móc này kia, nó ăn trộm rồi nó ngó, nó nhìn dữ lắm, thành ra mình rất là khổ tâm lắm. Thà là không có gì là khỏe, có là mệt lắm!

Đó là những cái điều mà Thầy thường nhắc nhở, khuyên, để cho mình buông xả, buông sạch hết, không còn có gì nữa là khỏe nhất.

Cho nên những cái hạnh đó là những cái hạnh để Thầy thực hiện cho các con buông xả chớ không phải gì hết.

Mà cái hạnh mà Thầy đụng đâu Thầy làm hết để cho các con thực hiện cái hạnh hòa đồng, cái hạnh mà chúng ta chia sẻ nhau từng chút.

Mấy con ở bên nữ Thầy không có đến Thầy làm chớ bên nam mà làm cái chỗ nào là Thầy có đến hết, Thầy chia sẻ nhau hết. Bởi vì bên nữ Thầy xen vô làm nó coi kỳ, chớ lẽ ra các con cưa củi, cưa cây, bửa này kia Thầy cũng vô Thầy làm được hết. Nhưng mà thôi, có con Phượng nó mạnh để cho nó vác, nó bửa, chớ Thầy cũng không giành chi. Nhưng mà thấy nó làm Thầy thấy cũng tội, vất vả, nặng nhọc lắm.

(02:10:05) Thầy không muốn ba cái cây lớn lớn. Nó gãy, bỏ đi các con, cho mối ăn làm phước. Mình đâu hết củi. Mình có hết củi mình chặt mấy cái nhánh nhỏ nhỏ đi, còn cây lớn lớn mình để cái sức mình tu. Mình cắt nó ra rồi mình bỏ cho nó mục đi, mối nó ăn cũng là mình bố thí được chớ.

Con biết con mối nó ăn hết ba cái lá mục rồi nó biết tìm đâu nó ăn? Nó nhờ mình cắt mấy cái gộc cây lớn mình không có bửa nổi đó, mình bỏ, thì nó ăn nó cũng no được lòng nó. Thì Thầy nghĩ cái nào ở trên đời, Thầy nghĩ cái gì Thầy cũng nghĩ Thầy thương được chúng sanh hết. Thầy cũng bỏ được mà không phải bỏ phí, bỏ bố thí cho chúng sanh.

Phải không, các con thấy. Thầy chất trong gốc cây chớ Thầy nói: “Đây là để dành cho mối ăn”. Thầy cũng nuôi nó chớ gì? Nhưng con mối nó có cắn phá mình đâu, chớ phải kiến lửa thì mình nuôi không được, nuôi rồi nó cắn!

Đó là những cái điều mà Thầy nhắc nhở cho các con, để hôm nay các con hiểu được cái tâm hạnh của Thầy, những cái hành động sống của Thầy, mà các con phải thực hiện tất cả những cái tâm hạnh đó nó mới là tâm hạnh của Bồ Tát, mới là một người chân tu.

Chớ còn mình, bây giờ Thầy làm Viện chủ của Tu viện Chơn Như rồi cứ ngồi đó mà soạn kinh, viết sách, thì cái chuyện đó Thầy thấy nó chỉ ở một góc độ nhỏ mà thôi, nó không có lợi ích lắm đâu. Giờ nào mà soạn viết thì soạn viết, mà giờ nào làm tất cả những gì cứ làm.

Đó thì, trên cái bước đường tu tập, qua cái sự sống của Thầy, từ trong mười năm ở trong thất chuyên tu thì không làm gì hết, nhưng làm rất nhiều.

Các con, Thầy nói Thầy không làm là vì tâm niệm Thầy thấy Thầy không làm, vì lúc nào Thầy cũng đang ở trong Chánh Niệm Tỉnh Thức, Thầy ở trong cái hành động của Thầy. Cho nên Thầy không nghĩ rằng Thầy làm cái đó để cho có tiền hay hoặc cái này kia, Thầy không có nghĩ cái điều đó đâu. Mà Thầy làm là để cho quân bình cái cuộc sống của mình mà khỏi bị động.

Các con chắc không nghe cô Út nói, chớ lúc nào mà cổ nhạy miệng cổ nói lại những cái lúc mà Thầy ở trong thất các con thấy, mặc cái áo nghĩa là mẹ Thầy vá, đắp nhìn…​ Chân Tịnh đó, Chân Tịnh về đây là lúc trước nó chưa có về đây tu, nó đến đây nó gặp Thầy đầu tiên, nó thấy cái áo của Thầy là nó đã biết Thầy là cái bậc tu như thế nào rồi.

Nghĩa là cái áo của Thầy y như là cái áo hồ cầu mà của vua Trụ mặc đó, nó dày như vầy nè mà vá, đắp, nghĩa là mặc nó tới nó bạc màu chớ nó không còn gì, mà mẹ Thầy vá hết. Thầy nói: “Không có được bỏ! Con ở trong thất con tu con làm cái gì được, nhờ mẹ cứ vá đắp vô giùm con!” Đắp riết, cái áo mặc ấm lắm, khỏi cần mặc áo ấm!

Những cái áo đó đó mà Chân Tịnh nói: “Nếu lúc bây giờ mà con được ở gần bên Thầy, con xin cái áo đó con để dành!” Chính bây giờ cái y vấn của Thầy mà còn mà Thầy để nằm đó, cái y vấn đó là Thầy đã đi khất thực, bây giờ Thầy trải để mà Thầy nằm trên cục đá là cái y vấn, nó cũng rách bươi rách bướt nó hết mà Thầy cũng còn nằm đó, chưa bỏ đâu!

Trên cái bước đường tu tập thì những cái hạnh mà cái người tu chúng ta cần phải lập hạnh đó, chúng ta cần phải sống đúng.

10.3- SỐNG THANH TỊNH MỚI CHỨNG ĐƯỢC TRI KIẾN BỒ ĐỀ

(02:13:09) Đến đây đã gần năm giờ rồi. Thôi, Thầy thêm một chút xíu để cho nó cho hết, đặng cái bữa khác để chúng ta học cái bài khác. Bây giờ Thầy tiếp cái câu này để cho nó cuối cùng các con, để cho hết cái phần, để không nó còn kéo dài nữa.

Nếu người cư sĩ có sống được như vậy, từ đó mới chứng được tri kiến Bồ Đề.

Nghĩa là mình có sống được trong bốn cái hạnh này: Thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh thì mới có thể có được cái tri kiến chứng Bồ Đề. Còn nếu không sống đúng bốn hạnh này thì khó mà chứng được cái Tri Kiến Bồ Đề.

11- CÁC PHÁP TU CHO NGƯỜI CƯ SĨ

(2:13:49) Người cư sĩ phải tiếp tục tu tập Tứ Chánh Cần…​

Nghĩa là, sau đó tu tập Tứ Niệm Xứ rồi thì bắt đầu tiếp tục tu Tứ Chánh Cần.

…​ để dứt bỏ những điều ác, lìa xa những điều ác, từ giã những điều ác.

Kế đến phải tu tập Chánh Niệm Tỉnh Giác Định, Vô Lậu Định.

Nghĩa là kế đến mình phải tu, người cư sĩ ở trong giai đoạn họ chưa có thọ giới Tam Quy đâu, họ vẫn tu được Chánh Niệm Tỉnh Thức. Vì hành động họ làm công việc sống hàng ngày, họ đều tu tập ở trên hành động đó.

Và họ tu tập Định Vô Lậu để cho cái tâm họ ít phiền não, ít giận hờn, ít tham, ít sân si nữa. Đó là hai cái định mà người cư sĩ bước đến đạo Phật cần phải tu tập và cần phải học kỹ những cái điều này, để cho cái tâm của họ được giải thoát.

Đến đây Thầy xin chấm dứt./.

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 103)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.