ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang
Giữ gìn giới luật – Như lý tác ý dẫn tâm vào đạo

(CHUYỂN NGỮ TỪ PHÁP ÂM)

Giữ gìn giới luật – Như lý tác ý dẫn tâm vào đạo

A A A

GIỮ GÌN GIỚI LUẬT

– NHƯ LÝ TÁC Ý DẪN TÂM VÀO ĐẠO

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Phật tử

Thời lượng: [01:30:14]

Tên cũ: Thầy nhắc nhở – Dẫn tâm vào đạo – Trả lời thưa hỏi

 

1- GIỮ NGHIÊM GIỚI LUẬT, LÀM CHỦ NHÂN QUẢ

(00:00) Trưởng lão: Các con thấy, còn Thầy thì ăn, ngủ hoặc là tất cả mọi cái, các con đâu cần lo. Mà rồi không còn Thầy thì các con phải tự lo lấy cái đời sống của mình. Ăn như thế nào, rồi phải làm như thế nào để có mà sống. Còn Thầy, che chở đủ mọi mặt; còn Thầy, tu sai một cái gì thì có Thầy nhắc nhở, trật một cái gì thì có Thầy.

Nếu phỏng chừng như cô Minh Cảnh mà ở Long Thành, mà bây giờ Thầy đã ẩn bóng, Thầy đi mất rồi không còn nữa. Thì thử hỏi bây giờ biết hỏi ai bây giờ? Khi mà gặp những cái lúc như thế này thì còn biết hỏi ai mà để sửa cho đúng. Cho nên đó là những cái điều rất là tai hại, rất là nguy hiểm!

Cho nên tuy rằng, thay vì Thầy sẽ ẩn bóng, nhưng mà vì các con, nếu mà các con bỏ đi hết. Đó thí dụ như cô Minh Cảnh đi rồi, rồi mấy đứa này cũng bỏ đi hết rồi thì trong khi đó là Thầy thấy vừa đúng để cho mình đi. Vì họ đi rồi thì coi như là mình không còn trách nhiệm nữa rồi. Mình dạy theo đó thì họ cứ tu theo đó mà thôi, đủ rồi, thì sự thật ra nó đâu có phải như vậy, đơn giản như vậy đâu.

Cho nên còn lại những đứa, mấy đứa đây thôi, cho nên Thầy ở lại đây để mà cố gắng, để mà giúp đỡ cho mấy đứa, đi đến cuối cùng để đủ kinh nghiệm, để sau khi mà có một người, nhất là Thầy nói Minh Tâm còn bám chặt theo Thầy, làm sao Thầy bỏ nó được!

Cho nên Thầy không thể nào mà bỏ nó được, vì bỏ nó tức là tự nó sẽ đi đến vào cái chỗ chết chứ làm sao mà sống được, cho nên không bỏ nó. Vì vậy mà các con còn cái duyên mà gặp Thầy, chứ còn không khéo thì các con đã rời khỏi đây rồi, thì coi như đương nhiên là đứa nào có chỗ ở thì nấy lo cơm ăn, áo mặc rồi, thì đâu cần, đâu còn gì mà Thầy phải lo.

Thì hôm nay, thì các con thấy đó, có những cái khó khăn mà những cái khó khăn đó là Thầy biết các con đã theo Thầy, tức là Thầy có một cái trách nhiệm, trách nhiệm phải hướng dẫn các con tới nơi, tới chốn, mà các con không ráng thì làm sao Thầy dẫn tới. Con đường nó còn khó chứ đâu phải dễ. Hãy buông xuống đi, các con hãy xa lìa nó đi. Giới luật của Phật đã dạy như vậy rồi, thì chúng ta phải ráng cố gắng mà xa lìa cái tâm chúng ta, giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh.

(02:06) Thầy nhắc đi, nhắc lại sự độc cư các con rất nhiều, các con hỏi một điều gì quan trọng là hỏi, ai hỏi một điều gì không quan trọng thì tìm cách mà lững lờ mà trả lời: “Đó hỏi cô Út hoặc hỏi Thầy, em không biết”, thì từ chối khéo léo. Bởi vì luôn luôn mình phải cảnh giác tất cả mọi mặt, không có nên tiếp duyên, không có nên nói chuyện đời, không có nói nên chuyện này, chuyện kia, không có nói chuyện ở ngoài vì cuộc đời của mình ở ngoài người ta không có cứu mình được đâu, người ta không có nuôi mình được đâu, mà chỉ mình cứu mình.

Các con chưa có thấy cái nỗi khắc khoải, cô Út thì cô cũng lo xa lắm. Cô nói : “Bây giờ nếu một mai mà Thầy đi đâu rồi, Thầy ẩn bóng đâu rồi, thì tụi con phải tự túc sống, phải làm như thế này, phải làm thế khác, chứ không lẽ mà Thầy sống đây hoài. Hoặc là Thầy nói Thầy ẩn bóng mà Thầy cứ ở đây hoài thì cũng không được, mà Thầy đi thì tụi con làm sao sống”. Cho nên do vì vậy nó là cái nỗi khổ, cho nên con mới định cách thức này, cách thức khác, nhưng mà đâu phải giải quyết một ngày, một giờ mà được. Đó là cái nỗi lo của cô Út là như vậy. Thì cô nghĩ rằng bây giờ Thầy còn sống, mai mốt Thầy sống đây rồi Thầy chết, chứ đâu phải Thầy sống hoài được, không lẽ là Thầy lột da Thầy sống hoài.

Cho nên hôm nay, cái bài học kinh Ước Nguyện là để nhắc cho các con cái bước đầu tiên của Đạo Phật, là cái giới luật nghiêm chỉnh, sống đúng trầm lặng, độc cư, sống ăn ngày một bữa, chết bỏ nhất định là không phi thời, chết là chết, chết trong giới luật, không thể là chết phạm giới, mà bài kinh Thừa Tự, thừa tự pháp chứ không thừa tự thực phẩm.

Cái bài kinh Thừa Tự Pháp, đức Phật đã vẽ ra cho chúng ta thấy, hai vị Tỳ kheo vượt qua sa mạc để đến thăm Phật, thì một người vì đói khát, mà chịu chết giữ đúng giới luật, một người thì sợ chết, mà để sống để mà tiếp tục tu, thì cuối cùng người này chẳng có ra gì, mà người đã sống đúng giới luật chết để rồi thành tựu được cái sự tu tập của mình, có bấy nhiêu đó mà thôi.

Cho nên ở đây, thí dụ như Thầy trong cái tập của cô Huệ Ân đó, Thầy khuyên là con sắp sửa tuổi đời nó mòn mỏi rồi nó không còn nữa, hãy xả hết đi, đừng nghĩ gì hết, luôn luôn giữ tâm thanh thản, sống trong Định Sáng Suốt, luôn lúc nào cũng vô sự, chẳng biết gì bên ngoài.

(04:41) Coi như là trách nhiệm làm mẹ đối với mấy con cũng đã đủ lắm rồi không còn nữa, đưa cho chúng nó lớn khôn, như con trai thì có vợ, có con rồi; con gái thì đi tu hành rồi, không có còn có lo lắng gì nữa hết. Coi như là gánh nặng mình đã buông xuống hết rồi, chỉ còn hiện giờ là cứu lấy mình mà thôi, cho nên giữ tâm hồn thanh thản, an lạc đừng để tâm bận bịu một cái gì ở bên ngoài nữa hết. Thì tới chừng mà con bỏ thân này thì con rất là an ổn, an nhiên chứ không còn khổ đau nữa.

Còn có những cái thân nó hoại diệt, nó bệnh đau chỗ này, chỗ kia thì chúng ta đã có pháp hướng, thành tâm, tin tưởng, nỗ lực, ra lệnh, triệt để mà cái bài kinh Như Lý Tác Ý mà cô Út đã hỏi. Tại sao Thầy dạy Như Lý Tác Ý, là một phương pháp ám thị, mà Phật thì dạy Như Lý Tác Ý vậy có nghĩa lý gì mà Thầy nhắc đi, nhắc lại cái này rất nhiều? Do đó Thầy sẽ trả lời, sau này thì các con đọc, các con sẽ hiểu được cái pháp Như Lý Tác Ý, nó rất là hiệu nghiệm và rất là (…​). Cái công năng của nó rất lớn đối với cái sự tu tập của mỗi chúng ta, biết sử dụng nó, thì chúng ta thoát ra cảnh khổ.

Như vừa rồi, Thầy nói như thế này, vì trên chuyến xe đi ra ngoài Phước Hải, ra ngoài Long Hải, thì Minh Tâm hỏi Thầy: “Tại sao cái tay của Thầy lại bó như vậy?” Thầy nói: “Thầy chặt sắt phụ với Mật Hạnh, thì cây sắt nó chĩa vào nó làm gây ra vết thương”. Thì nó nói như thế này, một người mà làm chủ nhân quả, chắc chắn là Thầy sẽ biết cái sự mà kiện nó xảy ra cho cái thân Thầy, thì Thầy tránh chứ Thầy đâu có để cho nó bị thương như vậy, tại sao Thầy để cho nó bị thương?

Đây cũng là một cái câu hỏi mà để cho thấy được, một cái người mà tu chứng làm chủ được nhân quả, các con hiểu làm chủ được nhân quả, nghĩa là nhân quả đến với mình, mình làm chủ được nó chứ không có nghĩa là mình chặn nhân quả, nghĩa là mình biết nhân quả ở cái giờ phút đó.

(06:41) Bởi vì Thầy sinh ra, trong mang cái thân này là cái thân nhân quả, mà nhân quả thì nó có cái ngày đó, giờ đó nó phải xảy ra, nó không phải ngẫu nhiên đâu, nó xảy ra tai nạn, nó xảy ra một vết thương nhỏ, phải đạp một cây gai, phải đạp một chất rắn hay hoặc là đạp phải một cái lông sâu, để nó trở thành những cái bệnh tật, làm cho mình khổ đau phải trả cái nhân quả đó. Thì cái này không ai chạy khỏi hết, nghĩa là, dù là chư Phật thì đối với cái thân này, cũng không thể tránh khỏi, nhưng mà làm chủ được cái nhân quả đó.

Bây giờ cái quả đó nó đến với Thầy, thì một cái người mà không làm chủ nhân quả, thì thấy đau nhức khổ sở, còn trái lại với Thầy, Thầy làm chủ nhân quả và Thầy đã có cái pháp hướng nữa. Cho nên cái vết thương nó làm cho đau nhức, thì thầy ra lệnh: “Cái thọ vô thường phải đi rời khỏi cái thân này, không được đau nhức nữa”. Do đó Thầy giữ cái trạng thái yên lặng, trong tâm của thầy thanh thản thì một lúc sau, cái vết thương không còn nghe đau đớn nữa, gọi là làm chủ nhân quả, chứ không có nghĩa là chặn đứng nhân quả.

Vì cái thân nhân quả là cái thân nó phải thọ lấy những cái bệnh tật, tai nạn, cái gì nó xảy ra cho nó đã nó sắp xếp sẵn rồi, không thể chặn cái nhân quả đó được, mà nó xảy đến, mình có làm chủ nó được hay không? Bây giờ cái thân của Thầy này nè, nó phải tới giờ phút đó nó chết nè, mà bây giờ Thầy làm chủ được cái nhân quả, cho nên tới giờ phút nó chết, Thầy làm chủ được ở trong cái chỗ chết của nó, mà cái giờ phút nó chưa có chết, Thầy muốn chết trước, Thầy cũng làm chủ được nó, đó là cái chỗ làm chủ được cái sự sống chết của nó.

Còn bây giờ vết thương, nó có vết mà bây giờ Thầy chưa có xảy ra tai nạn gì hết, nhưng mà Thầy biết rằng ngày mai này nó sẽ có tai nạn đến Thầy, mà Thầy trốn tránh lại không phải, không đúng, bởi vì cái thân của Thầy thân nhân quả, nó phải trả cái nhân quả đó, mà tránh cái nhân quả sao được? Nhưng mà Thầy phải sống ở trong cái nhân quả đó, tức là nó xảy ra cái tai nạn đó, rồi từ cái tai nạn đó, Thầy mới làm chủ cái tai nạn đó. Cho nên tâm Thầy nó bất động, nó không có còn khổ đau trong cái tai nạn đó. Cho nên gọi là làm chủ nhân quả, chứ không phải trốn nhân quả.

Còn bây giờ Thầy biết, ngày mai này Thầy bị xe đụng nè, nhất định là ngày mai Thầy ở trong chùa, Thầy không đi để cho xe đừng đụng Thầy, tức là Thầy trốn nhân quả, chứ không phải là trả nữa, không phải là làm chủ nhân quả, gọi là trốn tránh, né nhân quả. Các con hiểu.

(8:45) Ở đây, Phật nói, làm chủ nhân quả, làm chủ sự sống chết tức là làm chủ nhân quả, mà làm chủ nhân quả thì trước những cái nhân quả của nó, chúng ta làm chủ chứ không phải trốn nhân quả, còn chúng ta tránh né gọi là tránh né nhân quả.

Cho nên Thầy giải thích như vậy thì nó hiểu rõ ràng. Do đó Thầy mới nói thêm, khi một cái vết thương như vậy, đây là một cái tâm mà. Sự thật ra nó từ cái vết thương này, nó sẽ xảy đến cho một cái tâm niệm, thì trong khi nó xảy ra như vậy rồi, Thầy băng bó cái vết thương rồi, thì đêm đó Thầy nằm ở trên cái tảng đá Thầy ngủ, khuya Thầy thức dậy, Thầy nghe sao cơ thể của mình sao nó mỏi mệt, mọi lần nó không có, mà nay vậy thì nghe nó khó chịu như thế này, mà nghe nó bị sốt.

Thầy mới nghĩ trong đầu, Thầy mới nghĩ như thế này, là như vậy là thanh sắt này nó có vi trùng của phong đòn gánh, cho nên nó bị cái vết thương này mà nó làm cho mình cảm sốt đây, thì như vậy là bị phong đòn gánh rồi. Thầy mới nói: “Phong gì phong, mặc mày, tao có pháp hướng thì tao sẽ đuổi phong đòn gánh đi ra khỏi đây”.

Cho nên Thầy mới ngồi kiết già, Thầy mới hướng tâm, Thầy nhắc: “Cái vết thương này là do giả, do nhân quả mà nó tạo ra, cho nên ở đây mày phải lui ra khỏi đây, phong gì cũng không thể thắng được cái tâm tao, tao không có sợ”. Mà do đó Thầy hướng tâm Thầy nhắc như vậy: “Phải hoàn toàn là cái sốt này, cái cảm nóng lạnh này phải lui ra đi, không được ở đây nữa”. Thầy bắt đầu Thầy ngồi, Thầy nương vào hơi thở, Thầy biết ra nhẹ nhàng ra vô. Bắt đầu cái hơi thở Thầy nó nhẹ nhẹ, nó lặng dần, lặng dần. Một lúc sau Thầy thấy không có còn mà nóng lạnh, không có còn mà đau nhức, không có còn gì hết, hoàn toàn là tự nhiên.

Chứ theo mà các con hoảng hồn, sáng rồi đi chích thuốc rồi, chích thuốc ngừa phong đòn gánh rồi. Còn Thầy thì tự nhiên, do cái pháp hướng của mình đẩy lui hết tất cả những cái gì mà cái tâm nó bị dao động, là đẩy lui lại, nó làm cho chúng ta an ổn trở lại liền tức khắc, tâm hồn thanh thản và bây giờ cái vết thương thì sắp lành, không còn gì nữa, mà chỉ trong mấy hôm, ba, bốn hôm nay chứ không có lâu. Thì các con cái vết thương này sắp lành rồi đâu còn gì nữa. Mà cho nên vì vậy, mà đâu có thể nói rằng bị phong đòn gánh được. Chứ còn nếu mà người khác thì nghĩ rằng đó là cái thanh sắt, thì chắc chắn là nó bị phong đòn gánh.

(11:14) Đó thì ở đây Thầy muốn nhắc cái như vậy để các con thấy là cái pháp hướng của chúng ta có hiệu quả. Cũng như bây giờ, cái thân của cô Huệ Ân nó già, thì nó phải suy yếu, thì nó nay nó phải bệnh tật này, mai bệnh tật kia, nó đau nhức chỗ này, nó đau nhức chỗ kia để nó hoại diệt chứ có gì đâu.

Một cái nhà mà nó sắp sửa nó hoại diệt, thì nó bao giờ nó cũng mục nát, rồi nó mới sập xuống được, chứ còn nó cứng như vậy làm sao mà nó sập được? Thì cái thân của mình nó muốn đổ vỡ, nó muốn sập, thì nó cũng phải mục nát ở bên trong đó rồi nó mới đổ, mà nó mục nát thì tức là nó phải đau nhức chứ. Nó đau nhức thì cái nhân quả của cái thân nó hoại diệt, nó vô thường như vậy thì mình trốn sao khỏi nó.

Cho nên, mình có pháp hướng, mình làm chủ, mình chỉ cần giữ cái tâm mình thanh thản, tự nhiên, không sợ hãi, không lo lắng cái sự chết, sống, không sợ hãi cái sự đau nhức, mà mình dùng pháp hướng nhắc thì tức là cái bệnh của mình sẽ mất đi và mình sống lại với cái trạng thái bình thường, thanh thản, không đau, không nhức, không thọ gì hết.

Mặc dù cái cơ thể này nó đang hoại diệt, chứ không phải là thiếu hoại diệt. Đó, thì các con thấy, cái pháp hướng của chúng ta là cái pháp làm chủ được cái thọ, được cái thân, được cái sự sống chết của chúng ta rất là rõ ràng, cụ thể. Mà nếu mà các con đừng sợ hãi, đừng để tâm dao động, thì pháp hướng rất hiệu quả. Còn các con có sự sợ hãi, có tâm dao động, một chút sợ nó chết, sợ này, kia, lo nó phải uống thuốc, rồi phải phá giới, phải ăn thêm thì các con sẽ không bao giờ mà có hiệu quả ở trên pháp hướng hết. Nó mất thanh tịnh rồi, thì nó không có còn hiệu quả, nó không còn vi diệu nữa được. Còn cái người mà người ta giữ gìn đúng giới hạnh thì nó vi diệu, nó hiệu quả, nó giúp chúng ta thấy an ổn được cái cuộc sống chúng ta, không ai mà động chạm.

Cho nên, các con sẽ đọc tới cái pháp Như Lý Tác Ý, mà khi bị người khác chửi, mà chúng ta dùng nó mà chúng ta…​ Đến đỗi mà đức Phật dạy như thế này nè, khi mà chúng ta quán xét từng cái hành động nó, mà chúng ta chưa xả ra được, chúng ta quán nó là ác pháp, thiện pháp cũng xả chưa được thì chúng ta hãy đè nó lên nóc vọng, nghĩa là răng cắn chặt lại, lưỡi đè lên nóc vọng, chúng ta dùng pháp hướng ra lệnh nó, thì cái tâm sân, cái tâm phiền não chúng ta sẽ xuống liền tức khắc.

(13:26) Nghĩa là, chúng ta ra lệnh nó bằng cách là chúng ta cắn chặt răng lại, chuyển hết thân cái lực của chúng ta để mà dùng cái pháp hướng Như Lý Tác Ý ra, thì cái tâm sân của mình bắt đầu nó sẽ đoạn dứt liền tức khắc, nó không giận hờn, phiền não nữa, nó không còn kéo dài nữa. Đó là cái lối phương pháp để dùng cho những cái pháp hướng.

Cho nên bây giờ, cái thân chúng ta đang đau nhức nè, mà bây giờ nó nhức quá chúng ta chịu không nổi nữa. Bây giờ cắn chặt răng lại, lưỡi đẩy lên nấc vọng nè, tập trung tâm mình gom lại, dùng pháp hướng: “Cái thọ phải lui đi, không có được ở đây nữa”, hoàn toàn trong khi tâm chúng ta ra lệnh, mà thân của chúng ta thì cắn chặt răng lại, coi như là gom hết cái sức thân của mình lại trong cái lưỡi và cái hàm răng của chúng ta. Do đó chúng ta ra lệnh cái đau đó nó sẽ lui đi, nó không còn đau nữa. Đó là cái lời trong kinh đức Phật dạy, mà của cái bài kinh mà Thầy…​ Các con sẽ đọc, sau này thì các con biết, cái gì đức Phật cũng căn dặn, dạy chúng ta rất đầy đủ.

Qua bài kinh Ước Nguyện, đối với Đạo Phật, ta ước muốn những gì để đạt được kết quả theo ý muốn của mình, thì đều phải thực hiện tu tập và sống đúng giới luật, đó là một nền tảng vững chắc của Đạo Phật. Nếu ai bỏ nền tảng vững chắc này, tu tập dù tu đúng thiền định của Đạo Phật thì cũng trở thành tà thiền, tà định. Nghĩa là, bây giờ mình có tu, mình cách thức mà Phật dạy đúng như vậy mà mình bỏ giới luật, thì mình cũng sẽ, những cái thiền định đó cũng sẽ là tà thiền, tà định.

Cũng chẳng hạn bây giờ các con thấy, Thầy bảo các con hướng tâm này, nhắc này, phá âm thanh này, tai, nhĩ căn, nhĩ thức quay vô này, không có được nghe này, đó là đúng pháp rồi đó, mà các con sống chưa đúng giới luật, thì các con có thấy phá được không? Không phá được tức là các con tu tà thiền, tà định rồi đó, các con thấy chưa? Tại sao vậy?

Tại vì lìa khỏi pháp môn căn bản của Đạo Phật, mà cái pháp môn mà căn bản đó là cái pháp môn Giới Luật của Phật, mà Phật gọi là pháp môn căn bản. Tức là Giới Luật, một pháp môn đầu tiên của ba pháp môn vô lậu Giới – Định – Tuệ.

Bởi vậy, nhìn tu sĩ Phật Giáo mà biết Phật Giáo suy hay thịnh, mất hay còn không phải ở số đông tu sĩ Phật Giáo, không phải ở chỗ Phật Giáo được chấp nhận là quốc giáo, không phải Giáo hội Phật Giáo được tổ chức như một quốc gia, có các trường học từ sơ, trung và cao đẳng, để tu sĩ học tập có cấp bằng cử nhân, tiến sĩ, v.v…​ Cũng không phải ở chỗ xây chùa to, tháp lớn, kiến trúc kiên cố, vĩ đại mà ở chỗ tu sĩ phải sống đầy đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn, sống phòng hộ sáu căn với sự phòng hộ của giới bổn đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt.

(16:05) Nói tóm lại, vị Tỳ kheo phải giữ gìn giới luật nghiêm túc thì Phật Giáo mới còn và hưng thịnh, còn chúng Tỳ kheo phá giới luật, Phật Giáo mất và không hưng thịnh. Lời di chúc năm xưa của đức Phật còn vang mãi trong tai chúng ta: Giới luật còn là Phật Giáo còn, giới luật mất là Phật Giáo mất. Đó là cái lời mà di chúc của Phật khi mà Phật sắp mất đó, đức Phật đã nói.

Hỡi quý vị Tăng, Ni và cư sĩ, quý vị có muốn Phật Giáo trường tồn với loài người trên hành tinh này chăng? Hay để cho Phật Giáo suy tàn, chìm mất trong lớp bụi mù dày đặc của tà pháp ngoại đạo đang phủ trùm che khắp?

Nếu muốn nó được trường tồn và hưng thịnh mãi mãi, đem lại hạnh phúc an vui cho loài người, không làm khổ mình, khổ người, thì người cư sĩ đệ tử Phật tại gia hãy giữ gìn giới luật của người cư sĩ mà đức Phật đã dạy. Phải nghiêm túc khi đã thọ Tam Quy, Ngũ Giới và Thập Thiện, phải lấy nó phòng hộ cuộc sống của mình. Phải gìn giữ đầy đủ oai nghi chánh hạnh, phải thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt thì Phật Giáo sẽ còn với quý vị, với loài người.

Còn Tăng, Ni đệ tử xuất gia của đức Phật, nếu muốn Phật Giáo được trường tồn, làm ngọn đuốc sáng soi đường cho mọi người trên quả địa cầu này, đi tìm chân lý giải thoát, thoát khỏi kiếp khổ đau của loài người và cũng chính bản thân của quý vị. Quý vị có muốn làm chủ bốn sự khổ đau sanh, lão, bệnh, tử đang tấn công quý vị hàng giây, hàng phút, nếu quý vị lơ đễnh thì ôi thôi, uổng một kiếp người. Nếu muốn làm chủ bốn sự đau khổ này thì quý vị đã thọ Cụ túc giới phải nghiêm chỉnh, sống đầy đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn, không bẻ vụn giới luật như các Tổ đã làm, mà quý vị đang chịu ảnh hưởng rất nặng. Quý vị phải sống phòng hộ sáu căn với sự phòng hộ của giới bổn, phải đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm nhỏ trong những lỗi chân chánh, lãnh thọ và học tu các giới.

(18:22) Thì đó thì các con thấy, trong cái sự tu tập ở đây là cái bài cuối cùng về giới luật, đó là cái lời nhắc và muốn Phật Pháp sống thì phải làm như vậy, không thể nào khác hơn; và muốn cứu mình ra khỏi sự đau khổ của kiếp người, thì không phải ngoài pháp môn giới luật mà làm chủ được mà ở trong pháp môn giới luật. Thì muốn tu tập được như vậy, thì các con phải cố gắng và cố gắng hơn, để mà thực hiện cho được sự làm chủ của kiếp người.

Mà hầu hết là từ khi mà Thầy dạy về giới luật cho đến nay, thì hầu như Thầy thấy các con quá thờ ơ với những cái lời dạy và quá thờ ơ với sự xả tâm. Hãy cố gắng xả đi, đừng có giữ nó làm gì trong tâm của chúng ta để mà khổ. Mọi cái duyên sự gì bên ngoài thì chắc chắn là nhân quả thì của ai thì người ta phải chịu lấy, chúng ta có nghe được mà giúp đỡ họ, thì cứ lấy giới luật mà nhắc nhở họ mà thôi, được hay không được là do ở quyền của họ, còn mình hãy cứu mình, chứ còn nếu mình không cứu mình thì ai cứu mình cho được?

2- LỜI KHUYÊN DẠY, HƯỚNG DẪN CÁCH XẢ TÂM

Cho nên, ở đây Thầy khuyên các con, bây giờ còn lại không có mấy người. Thầy cũng không muốn nhận thêm, vì trong một cái số tu sĩ ở ngoài Biên Hòa, mà các cô cũng như là các thầy muốn về đây ở tu. Nhưng mà Thầy không chấp nhận là vì cái người mới quá, biết đâu chừng giới luật người ta không thể nào sống được, mà người ta ham thì như vậy trong một, hai ngày, nhưng mà lâu rồi người ta sẽ chểnh mảng và cũng coi thường giới luật.

Vì chúng ta đã sống ở đây quá nhiều người rồi, chúng ta biết rồi. Bây giờ có muốn nhận họ thêm, thì cũng chẳng qua là làm cho cực thêm mấy con mà thôi, rồi lại cực Thầy thêm chứ cũng không gì hơn. Cho nên khéo léo từ chối không để làm mích lòng thôi. Chứ con đường của Phật Pháp quá khó, khó tại vì giới luật, khó tại vì đức hạnh của chúng ta phải xả tâm ly dục, ly ác pháp. Cho nên cái con đường này rất khó, không phải dễ.

(20:23) Nếu là thiền định của Đông Độ, của Đại thừa, của Tịnh Độ, của Mật Tông thì chắc chắn không khó. Bởi vì đời sống chạy theo những dục lạc thế gian, ăn ngủ phi thời, thì chắc chắn là không khó rồi. Còn đời sống của chúng ta khó quá là vì ăn ngủ không được phi thời, sống trầm lặng một mình. Còn cái kia thì vui chơi, nói chuyện này kia nọ đủ thứ, cho nên làm sao mà họ theo được. Vì vậy mà Thầy chỉ mong, làm sao chúng ta chỉ một, hai người là cũng đủ nói lên được Phật Pháp rồi. Chứ còn trông nhiều người thì không thể nào hy vọng được hết.

Thì hôm nay, ở đây thì các con còn lại mấy người, thì các con hãy ráng mà nỗ lực. Đứa nào có quyết tâm thì giải thoát cho chính bản thân mình và cũng là thắp sáng lại ngọn đèn của Phật Pháp. Còn lại không được mấy đứa nhưng mà còn cố bám theo Thầy, chứ Thầy định khi mà Thầy tuyên bố ẩn bóng rồi, thì chắc chắn lần lượt thì các con sẽ rút lui. Vì đối với cô Út, thì các con biết rằng, cô không từ, không tha một người nào, cô mong rằng đập cho được, xả cho được tâm của mấy con mà thôi. Cho nên, chắc các con là, Thầy nghĩ rằng, sau những cái cuộc mà ẩn bóng của Thầy, thì chắc các con không còn ở đây nữa.

Nhưng mà cuối cùng thì các con cũng còn được năm, ba đứa mà ở lại đây, cho nên vì vậy mà Thầy tiếp tục, Thầy ghi lại những cái điều đúng, sai của Phật Pháp, để mong ngày sau có những cái tài liệu làm cảnh giác cho người sau. Nếu mà người ta tu không được, thì người ta cũng thấy cái đúng của Phật Pháp mà cái sai của Phật Pháp, chứ không khéo người ta cũng cho đó là của Phật Pháp hết thì đau lòng cho đức Phật.

Pháp của Phật đâu có giống như pháp của người ta thế mà bây giờ cái gì cũng là của Phật hết thì rất đau lòng. Lên đồng, nhập cốt cũng hô Phật, rồi bói khoa rồi cũng là Phật, rồi làm thầy trị bệnh cũng hô Phật, cái gì cũng của ông Phật hết, làm những chuyện mê tín cũng Phật, cái gì cũng là Phật, đau lòng như vậy.

(22:45) Cho nên, nhân cái dịp còn ở lại thế gian trong một vài phút, vạch ra cho hết những cái sai lệch của Đạo Phật, giúp cho người sau người ta biết được Phật Giáo cho nó rõ ràng hơn và chính xác hơn, là cái bộ kinh Nguyên Thủy mà Hòa thượng Minh Châu đã dịch.

Thì hôm nay, các con là những người mà có đủ phước duyên, chứ hầu hết là nhìn chung các tu sĩ hiện giờ, các con thấy họ có thể nào mà theo mình tu được không? Mà họ có biết được cái đúng cái sai đâu. Kinh sách của Thầy thì các con thấy, họ đọc chỉ có một cái số hàng triệu người, thì Thầy nói rằng ở trên đầu ngón tay chúng ta đếm mười người, chưa có đọc đủ đến mười người nữa, huống hồ là phải nói rằng cái số đông.

Bởi vì, vừa rồi thì các con biết rằng, kinh sách của Thầy in ra nó đâu có dễ dàng đâu. Nếu mà in ra được thì nó lại còn cái những khó khăn, người ta có quyền người ta tịch thu nó được, cho nên tất cả những cái khó khăn này nó không đơn giản đâu.

Vì vậy mà, cái phước của chúng sanh mà để đọc những cái lời kinh, lời dạy của Thầy thì nó không phải là nhiều đâu. Cho nên nếu mà nói nhiều thì chắc chắn là chúng sanh có phước lớn, còn nó không nhiều thì chúng sanh nó đang thiếu phước, cho nên nó chẳng biết Phật Giáo là gì, nó chẳng biết Phật Giáo là ở góc độ nào. Cho nên nó chưa có thông suốt được Phật Giáo, còn các con là những người có phước, biết được con đường tu đúng và sai, không phải là ở lời nói của Thầy, mà ở sự suy ngẫm của các con, suy ngẫm như thế nào?

Hai mươi mấy năm trời nay, thì Thiền tông từ khi Hòa thượng chấn hưng lại, phải nói rằng người ta tích cực tu thiền rất nhiều. Nhưng mà hiện giờ, thì bàn tay chúng ta đếm lại cái người mà đạt được có cái ngón tay nào không? Hay là chỉ là lý thuyết suông? Nếu mà Thiền tông thì phải nói làm chủ sanh tử chứ, chấm dứt sự luân hồi chứ, mới đúng chứ, chứ đâu phải là Thiền tông mà cái lời nói suông, nói miệng không.

Nhưng có ai mà nhập định bảy, tám ngày, một tháng, hai tháng làm chủ được sự sống chết này chưa? Chưa nè. Quý thầy lớn có nè, quý thầy nhỏ có nè, các vị đệ tử Hòa thượng tu mười năm, hai chục năm, bây giờ có người chết. Các con thấy, như các vị huynh đệ của Thầy, có người bây giờ đã chết rồi nhưng họ có làm chủ được không? Họ cũng theo Hòa thượng tu rất lâu, đến khi chết họ bệnh đau cũng khổ sở rồi họ chết, có người nào làm chủ không?

(25:00) Đây, bắt đầu bây giờ các con hỏi cô Minh Cảnh nè, biết thầy Thiện Pháp không? Thầy làm trụ trì Thường Chiếu trước kia đó, thầy chết đi thầy có làm chủ không? Bây giờ tới giai đoạn của thầy Phước Hảo nè, thầy cũng sắp sửa nè, thầy cũng già yếu rồi đó. Bây giờ ai về đó hỏi thầy, thầy có làm chủ được sự sống chết chưa nè. Thì tất cả những cái này, khắc khoải trong suốt cái thời gian quý thầy nhập thất tu hành, chứ đâu phải quý thầy lơ mơ đâu, nhưng mà cuối cùng bây giờ có được gì không?

Thì sau khi mà Hòa thượng tịch rồi, thì các thầy này phải sống như thế nào đây? Thì các thầy phải trở về Tịnh Độ thôi, chỉ có Tịnh Độ mới sống được thôi. Thì hôm nay, thì bây giờ các con mà không tu được, thì ngày mai này cái chùa này Thầy có dạy các con tụng niệm không? Người ta còn có tụng niệm nè, mặc dù là Hòa thượng dạy thiền, nhưng mà người ta còn tụng niệm, người ta tụng Bát Nhã, người ta đi cầu an, cầu siêu được.

Còn các con có tụng niệm gì đâu được đâu, cuối cùng thì các con đi đến những chùa người ta…​ Phật tử đến mời các con tụng niệm, như thầy Từ Minh chẳng hạn. Các con thấy, ở ngoài miền bắc người ta đến mời thầy đi tụng niệm, thì thầy cũng làm bướng chứ thầy có dạy tụng niệm đâu. Cho nên thầy cũng xách mõ, gõ mõ thì không đúng cách, phải không? Hồi hướng thì cũng không đúng, cho nên Phật tử mới nói dường như thầy là người mới tụng niệm lần đầu tiên. Đúng vậy, đầu tiên tụng niệm, thuở giờ có tụng niệm bao giờ đâu, chuông chẳng biết đánh sao nữa, chứ đừng nói.

Thầy ở đây Thầy dạy các con đúng theo Phật là không có tụng niệm, không có đi Tịnh Độ. Cho nên ở đây, chuông, mõ này kia Thầy dẹp sạch, không có tụng niệm kiểu đó. Cuối cùng bây giờ các con ra làm sao mà đi đám ma người ta mà sống nè? Phải không? Bây giờ không lẽ đi làm sao bây giờ? Đâu có biết. Mà bây giờ nếu mà muốn vậy thì các con phải đến mấy chùa Tịnh Độ mới học một khóa lại đi, rồi mới về gõ mõ, gõ chuông tụng niệm.

Bây giờ như cô Lan đó biết tụng niệm đó, làm kên kên đi ăn thịt thây ma được đó. Chứ còn các con đi ăn thịt thây ma họ không cho ăn đâu. Họ còn nói thầy bộ mới tụng niệm lần đầu tiên, phải không? Các con hiểu chưa? Đó như Chơn Trí, nó tụng niệm được đó, nhưng mà nó cũng không muốn làm kên kên đi ăn thịt đám ma mà, ăn người chết mà. Cho nên vì vậy đó, mà ráng mà nỗ lực tu, cho nên vì vậy các con thấy xét đi, xét nghĩ kỹ lại, đó là cái thứ nhất.

(27:14) Các con không thể mà biến các con được thành Tịnh Độ đâu, Thầy không chấp nhận điều đó, cho nên không dạy các con tụng niệm. Thầy từ ở trong cái gia đình Tịnh Độ ra, Thầy tức là Thầy phải biết tụng niệm rồi. Nhưng mà chưa hề Thầy dạy ai hết về tụng niệm. Rồi bây giờ, Thầy dạy các con tu mà các con tu không xong thì các con làm cái gì giờ? Rồi đến cái nghề nghiệp sống Thầy cũng chẳng có dạy các con cái nghề nào sống hết.

Thầy nói, nhìn cái đám mà các con trồng hồi đó tới bây giờ, chưa có cây nào mà nên hồn nên vía hết, phải không? Các con thấy có cái trái nào ăn đâu. Mà bây giờ, Thầy giao cho Mật Hạnh, rồi Thầy chỉ cho Mật Hạnh làm, thì các con thấy nữa nè thơm nó ra thơm nè, cái gì nó ra cái nấy nè. Mà nếu mà giao các con thì ba cái đống rác đó đổ riết rồi chắc nó cũng không ra gì hết, thật sự ra nó không ra gì hết, không có cái kết quả.

Cho nên, xét đi, xét lại cô Út cô lo là vậy, không biết là khi Thầy chết hay hoặc là Thầy đi đâu, Thầy ẩn bóng rồi, thì bắt đầu bây giờ mình ở đây sống làm sao đây? Phải không? Các con hiểu điều đó. Cho nên, cái khó khăn là cái chỗ này, phải ráng tu để cứu lấy mình và đồng thời cũng làm ánh sáng cho người khác soi. Và vì vậy mà cái uy tín của các con là tự các con đã thắp sáng lên, thì chừng đó, các con ngồi đó mà các con không phải cần mà người ta đem cúng dường các con đâu.

Các con muốn ăn cái gì nó có cái nấy, cái đạo lực của các con đó, các con còn sống, các con muốn một bữa cơm chay. Thầy nói như thế này này nè, cỡ sức bây giờ Thầy vào trong rừng, trong núi đi, Thầy ở một mình đó, Thầy chẳng cần củ khoai gì hết, Thầy muốn ăn cơm chay, muốn ăn hủ tiếu, muốn ăn đồ xào, đồ gì, Thầy bảo đem dâng đây Thầy một mâm đi, cái nó đem vô, Thầy ngồi đây Thầy ăn đã thôi, phải không các con? Thầy biểu dọn đi thì nó biến mất, không có sướng hay sao, tu hành đến cái mức độ vậy không sướng sao.

Cho nên đâu có cần gì, thí dụ như bây giờ, Thầy muốn đi đâu, đâu cần phải đi xe hơi, xe cộ gì, Thầy bảo bay đi cái chỗ đó đi, cái thân nó bay riết tới cái chỗ đó, nó đáp xuống, ra lệnh nó đi mà. Thì cái chuyện tu hành chúng ta, nói đùa chơi như vậy, nhưng mà sự thật ra nó tự tại như vậy, nếu mà tự tại trong sanh tử thì phải tự tại được cái gì chứ. Chứ đâu phải.

(29:04) Cho nên bây giờ, tu không xong thì cơm không biết làm sao đây mà có cơm ăn. Còn tu xong rồi thì muốn ăn cỗ bàn bây giờ, nhà hàng nó có cái thứ gì mình muốn ăn cái thứ gì cũng có. Đó là cách thức muốn nói như vậy, để biết rằng cái đạo lực của chúng ta tu nó đến mức độ đó, mà tại sao chúng ta biết được như vậy mà chúng ta không thực hiện cho được, mà chỉ có chút xíu.

Thầy nói, bỏ cái tâm tham, sân, si đi, dẹp nó qua bên đi, ai chửi mình như cục đất vậy, thử coi các con được không? Thầy nói, các con mà cái tâm mà nó không có phiền não nữa rồi, các con bảo nó bay trên mây xanh, nó bay cho mà coi, nó đi còn hơn máy bay nữa, phải không? Các con bảo, bây giờ đi ra miền Bắc tức thì bây giờ ở miền Bắc, thì ngay đây cái thân đây mất nó ra ngoài đó, tới ngoài đó rồi, đâu có Chơn Trí mà đi hai, ba bữa mới tới ngoài.

Các con thấy, nó nhanh như vậy đó, nó quyền lực như vậy, các con chưa tin đâu, tới chừng nào mà các con làm được rồi: “Trời ơi! Thầy nói hồi đó mà tôi không tin, cho nên tôi tu quá chậm”. Các con thấy không? Không phải là Thầy gợi cái tâm ham muốn thần thông các con đâu, mà cái đạo lực, cái quyền lực của người tu là như vậy đấy.

Mà có chút xíu, Thầy nói có chút xíu, cái tâm tham, sân, si đừng có, bỏ xuống hết đi, bỏ xuống sạch đi, đừng có ham, đừng có thắc mắc, đừng có rầy rà, đừng có cái chuyện lặt vặt của các con nhỏ, cái chuyện không ra gì hết, mà cứ ôm ấp hoài trong lòng. Sao không bắt chước Thầy bỏ hết đi, ai nói mình như cục đất vậy có được không? Có bấy nhiêu đó thôi, Thầy bảo các con bao nhiêu, có cần gì tu, bỏ xuống cái khỏi cần tu gì hết, nó sướng gần chết, rồi muốn đi đâu nó cũng tự tại hết, thật sự ra thì như vậy đó, các con cứ làm đi.

Bởi vậy Thầy nói, cuối cùng Thầy nói: “Có một chút sao lại tụi nó bỏ không được, kỳ?” Có một chút tham, sân, si có một chút thôi, mà bỏ xuống mà bỏ không được. Mà bỏ xuống nè bệnh đau không có nè, khổ đau không có, bởi vì mình bảo nó bỏ được thì mình bảo cái gì nó cũng bỏ được hết.

Đó bằng chứng như cái tay Thầy này, Thầy bảo nó không nhức, không đau, không nhức đau gì hết. Thì bằng chứng các con thấy cái pháp mà nó có hiệu quả, thì nó có chút chút các con cũng thấy có hiệu quả rồi, nhưng mà nó chưa sâu, nó chưa bằng cái lực như Thầy.

Các con có bệnh đau nè, các con làm cho cái tâm mình vững vàng, đừng dao động nó chút nó hết, thì đó các con thấy nó hiệu quả vậy, đây là cái hiệu quả nhỏ nhỏ thôi. Nếu mà các con bỏ sạch cái tâm của các con rồi, thì cái hiệu quả nó như thế nào các con biết không?

Bây giờ bảo ông trời sụp, nó sụp xuống hết, chứ nó không dám cãi mà nó nằm đó đâu. Bảo đất này tan nát nó phải tan nát hết, nó chết hết cả đám nhau nữa, nó không dám cãi mình nữa. Nhưng mà mình đâu có làm chuyện ác như vậy, làm chuyện vậy nó sụp xuống chết thiên hạ sao.

Cho nên Thầy ví dụ như vậy đó, mình không có làm ác như vậy. Nhưng mà mình bảo sao nó nghe vậy, bảo trái đất này nó tan tành là nó tan tành. Cái lực của mình nó vĩ đại như vậy, nó siêu việt như vậy đó, mà sao các con không có, chấp làm chi mà nhỏ mọn, cái tâm tham, sân, si mà cứ ôm hoài trong bụng.

Thầy mà biết nó nằm chỗ nào, Thầy mổ ra, Thầy lôi nó ra, Thầy ném ở ngoài đồng, Thầy đem Thầy chôn ở ngoài cái đám mả kia kìa, cho nó hết. Bởi vì cái tâm đó nó không biết ở chỗ nào mà móc nó ra, chứ còn Thầy biết, Thầy móc Thầy ném đi cho rồi, để làm chi mà nó chịu cực khổ. Bây giờ thì nó cũng hết giờ rồi.

(32:06) Bây giờ thật sự ra thì, Thầy nhắc lại, trong khi mà tại sao mà các con ngồi đây, mà Thầy kiểm tra, từ ba mươi phút hay hoặc là, thường thường thì ba mươi phút thì các con ngồi thẳng thớm, ngay ngắn? Tại vì các con quá sợ Thầy cho nên mới ngồi ngay ngắn. Còn một mình các con ẹo qua, ẹo lại, là tại vì các con tự tại, tự do quá rồi, không ngán ai hết, cho nên theo thân của mình sao thì mình ngồi vậy.

Cho nên ở đây, các con thấy, lúc nào các con muốn mà ngồi cho ngay ngắn thì các con cứ nói, Thầy đứng sau lưng đó, coi chừng đó, thì như vậy thì may ra cái lưng con nó mới thẳng và tâm nó mới chân chánh và đồng thời thì các con nhớ rằng, trong cái vấn đề Thầy dạy, nó không phải cấp ở chỗ các con ngồi nhiều mà tập tỉnh thức, tỉnh thức trong cái sự tỉnh thức đó, xả tâm trong sự tỉnh thức nó, để mà ly, để mà dụng cái pháp hướng.

Thí dụ như bây giờ các con ngồi hít thở nè, thì chỉ trong vòng mười hơi thở hay năm hơi thở nó yên lặng nó không có một tạp niệm, thất niệm thì các con hướng: “Quán ly tham tôi biết tôi ly tham”, nghe không? “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”. Các con nhắc như vậy, câu hữu vậy để cho nó ly cái tâm tham, sân, si của mình ra.

Rồi hàng ngày các con quán như vậy, để cho nhắc nhở cái tâm của mình, cho nó định tĩnh ở trên cái sự tham, sân, si cho nó biết, thì nó có cái sự tham, sân, si đó để cho mình nhận ra. Mình thấy tâm này là tâm tham, tâm này là ác pháp, mà khi các con biết nó là tâm tham, ác pháp thì nó xả xuống, các con hiểu chưa? Bây giờ nó không chịu xả xuống thì bắt đầu các con mới sử dụng nó, quán nó nhân quả thì nó xả xuống, mà nó không chịu xả xuống thì các con quán cái hành của cái niệm nhân quả đó, cái hành của cái tâm tham, sân, si đó.

Các con đi từng từng tuần tự những cái hành của nó, thì chẳng hạn cái hành nó như thế nào? Bây giờ các con quán, hồi nãy nó xảy ra, nó phát khởi như thế nào? Rồi bắt đầu cái hành đó nó đi dần dần, nó ngầm ngầm ở trong tâm mình như thế nào? Nó chậm chậm lại dần như thế nào? Bây giờ nó còn ở trong dạng gì? Thì mình hướng tâm từ từ.

Thí dụ như bây giờ Thầy nói nhắc thí dụ, một người đang chạy, họ đang chạy vùn vụt vầy, thì họ biết, họ suy nghĩ trong đầu họ, họ biết họ đang chạy. Cho nên họ ra lệnh, bây giờ đi chậm không có được chạy, thì bắt đầu họ ra lệnh bảo đi chậm thì cái người đó họ đi chậm lại.

(34:24) Rồi bắt đầu bây giờ họ đi chậm, rồi thì họ biết, họ suy nghĩ đi chậm. Họ bảo bây giờ không có đi chậm nữa, mà phải đứng lại thì cái người này họ đứng lại. Bởi vì mình ra lệnh mình bảo, từ từ dùng pháp hướng đứng lại. Rồi bắt đầu bây giờ nó đứng lại rồi, thì bắt đầu cái người này biết mình đã đứng lại rồi.

Do đó bây giờ đó là quán xét các hành, các hành của cái tâm tham của mình, mà cái hình ảnh thì giống như là Thầy nói cái hành của một cái người chạy đi đó. Bây giờ đứng rồi, nó đứng rồi thì mình biết cái tâm mình nó đứng rồi, thì do đó mình mới quán bây giờ ngồi xuống, mình ra lệnh nó ngồi, bây giờ biết đứng rồi thì bảo nó ngồi xuống thì bắt đầu đến bây giờ nó ngồi.

Thì bắt đầu mình ngồi xuống chứ gì, mình ra lệnh cái mình ngồi xuống, mình ngồi xuống rồi thì bây giờ mình biết nó đang ngồi rồi, thì do đó bây giờ mình bảo nằm xuống, thì bắt đầu mình ra lệnh nó nằm xuống thì nằm xuống, tức là nó xả. Các con hiểu không? Đó là quán các hành để mà xả cái tâm tham, sân, si của mình.

Mà bây giờ nó không được nữa, nói vậy mà nó không được nữa, nó không xả cái tâm tham, sân, si nó còn tức ở trong này nè. Mà do đó, mình cắn nóc vọng cho cứng, mình ra lệnh: “Hãy buông xả đi”, thì nó sẽ buông xả. Nó năm cách thức mà, Thầy đã nói là năm cách thức ly dục, ly ác pháp mà, các con nhớ cái bài Thầy chưa? Phải không?

Cho nên khi mà chúng ta cắn chặt hàm răng, để cái lưỡi nóc vọng, hướng tâm ra lệnh: “Như Lý Tác Ý phải xả xuống, không có được giận hờn nữa, không được phiền não nữa, chuyện tầm thường mà không chịu bỏ, mày chết”. Ra lệnh nó vậy cái bắt đầu nó nhẹ xuống, nó hết, nó xả, nó có năm cái phương pháp để mà chúng ta ly dục, ly ác pháp.

Bây giờ nó xả, như vậy là hàng ngày mình tập tỉnh thức như thế nào? Mình ngồi, mình thở, mình nhớ, mình nhắc nó, rồi mình đi kinh hành. Đi kinh hành có hai cách.

Cách thứ nhất là kinh hành tập trung, tập trung là mình để tay mình trước ngực hay hoặc mình khoanh tay hoặc là mình chắp tay sau lưng của mình. Vừa đi vừa nhìn dưới bàn chân mình tỉnh thức. Rồi đi chừng mười bước hay năm bước mình lại nhắc: “Quán ly tham tôi biết tôi đang đi kinh hành, quán ly tham tôi biết tôi đi kinh hành”, thì cứ mình nhắc như vậy, thì mình đi vậy nó tỉnh thức để mà nó ly tham, ly sân, ly si mình ra, đó là cái thứ nhất.

Cái thứ hai, bây giờ nó mệt nhọc, mà thấy nó không được mình thư giãn nó ra. Thì bắt đầu bây giờ mình vừa đi, mình thư giãn: “Tất cả các tâm, cơ này đều kêu thư giãn xuống, buông xuống, buông xuống hết, buông xuống, thanh thản”. Thì mình vừa đi, vừa biết mà vừa buông, mình không có tập trung như vậy nữa, mình không ấy. Mình thì đi chút chừng khoảng độ chừng năm, mười bước thì mình nhắc: “Tinh thần, tư tưởng, cái thân, các cơ đều buông xuống, xả xuống, thư giãn hết, mình nhắc nó vậy, một lát nó thoái mái, nó dễ chịu hết”.

Còn về cái phần mà xả, hồi nãy dùng pháp hướng để xả thư giãn nữa, nếu mà bây giờ nó dụng hết sức của mình mà đuổi nó không được rồi bắt đầu đó mình thư giãn, mình dùng cái pháp hướng mình thư giãn: “Bây giờ, tâm tham, sân, si này nè, các cơ buông xuống, thả xuống, thư giãn”, rồi bắt đầu mình nằm dài ra, mình hướng tâm mình xả xuống, thư giãn, thư giãn. Mình thư giãn lúc, cái sân nó cũng mất hết.

(37:13) Đó là cách thức để mà dùng pháp hướng để mà xả nó bằng cách thư giãn. Cho nên nó có những cái pháp để mà chúng ta thư giãn. Chứ không phải là nói là bây giờ tôi quán cái nhân quả rồi, cái ngay nó xả cái tâm tôi, nó chưa có cái nó chưa chịu xả đâu, nó chưa có hết sân đâu. Bây giờ đó mình tiếp tục những cái pháp lần lượt cái mình xả, xả riết cái tới cái pháp thư giãn là mình thư giãn, buông hết.

3- DẪN TÂM VÀO ĐẠO, ĐỪNG DẪN ĐẠO VÀO TÂM

Đừng dẫn đạo vào tâm như thế nào? Dẫn đạo vào tâm là nghe nhiều, học nhiều kinh sách mà không có thực hành hoặc có thực hành cũng chỉ là thực hành bằng hình thức, lấy lệ. Càng học nhiều, càng nghe nhiều, bản ngã càng to lớn, thì tâm tham danh, thích lợi càng nhiều, nên làm bít mất đường lối tu tập giải thoát của họ. Cho nên suốt đời họ chẳng có sự giải thoát mà chỉ có sự đam mê.

Bởi vậy, Thầy dạy đừng dẫn đạo vào tâm là vậy. Cô Diệu Quang dạy, không chịu giải thích cho các con, mà phải tự các con tìm cách xả ngã, diệt tâm ham muốn của mình và cũng từ đó phải tự triển khai trí tuệ thông minh, vô sư của tư tuệ. Phần nhiều đời nay, người ta dẫn đạo vào tâm chứ ít ai biết cách dẫn tâm vào đạo.

Trong kinh Nguyên Thủy Phật dạy Như Lý Tác Ý, đó là dẫn tâm vào đạo. Trong kinh Tiểu thừa Phật dạy pháp hướng tâm, tức là pháp dẫn tâm. Xưa đức Phật còn tại thế, không có cho ghi chép kinh sách, chỉ vì sợ các đệ tử của mình dẫn đạo vào tâm, nên đức Phật chỉ nói, để cho tu tập mà không cho ghi chép lại.

(40:15) Đến sau này, kết tập mới có kinh sách, nhưng cũng từ khi có kinh sách thì người ta tu khó chứng đạo, chỉ vì họ đã dẫn đạo vào tâm quá nhiều. Rồi phát triển những kiến giải, tưởng giải, viết rất nhiều kinh sách, làm lệch lạc con đường tu của Đạo Phật. Đạo Phật bây giờ là Đạo Phật triết lý, Đạo Phật mê tín, Đạo Phật khoa học, Đạo Phật siêu việt, không có một tôn giáo nào hơn được Đạo Phật.

Theo Thầy thiết nghĩ, Đạo Phật không có triết lý, không có mê tín, không có khoa học, không có siêu việt, Đạo Phật chỉ thuần là đạo của con người, như bao nhiêu con người khác trong thế gian này. Nhưng người đó, phải biết sống một đời sống an vui, sống không làm khổ mình, khổ người, sống thanh thản trước mọi diễn biến của nhân quả và luôn luôn, lúc nào cũng làm chủ được nhân quả. Khi nghe đến đây, các con hãy cố gắng tu tập, khắc phục tâm mình cho được. Chừng nào khắc phục được, Thầy sẽ giảng tiếp những phần sau này, những giai đoạn sau này.

(42:27) Hôm nay, Thầy tiếp tục cái buổi kiểm tra về cái phần mấy con vừa trả lời cho cô Diệu Thành, tức là cô Minh Cảnh đó các con. Cô có hỏi một số câu hỏi và trước khi trả lời và sau đó kiểm tra, thì Thầy sẽ đọc lại cái lời nói đầu, mà trong cái tập Đường Về Xứ Phật tập 5, mà Thầy soạn và đã viết ra thành một cái lời tựa của cuốn sách. Bắt đầu cái lời nói đầu: “Từ nay về sau trong cái phần vấn đạo, để trả lời mọi câu hỏi, chúng tôi sẽ giải đáp, thành một bài pháp, chỉ thẳng những pháp nào của Đạo Phật và những pháp nào không phải của Đạo Phật, bằng cách chứng minh cụ thể, xác thực qua những bài kinh Nguyên Thủy của Đạo Phật, để quý vị tránh khỏi bị tà giáo, ngoại đạo, mạo danh Phật Giáo”.

Ngoài đời, trên thương trường có biết bao nhiêu mặt hàng giả, mạo danh bằng bao bì nhãn hiệu, nhưng bên trong toàn là đồ dỏm. Trong tôn giáo cũng thế, chắc chắn phải có pháp môn giả. Tại sao chúng ta biết như vậy?

Vì trải qua nhiều thời gian năm, tháng trước kia chúng ta chỉ nghe các bậc Tôn túc thuật lại sự tu chứng đắc của các Tổ, mà không trực tiếp thấy, còn hiện giờ chúng ta thấy biết rất rõ với thời gian hơn thế kỷ nay. Thầy Tổ chúng ta, từ người này đến người khác qua đời (viên tịch), không để lại cho chúng ta một niềm tin sâu với Phật Pháp. Khi còn sống các ngài thuyết pháp rất hay, nào là các pháp như mộng, như huyễn, nào là sáu trần như hoa đốm giữa hư không, nào là chết biết ngày, biết giờ, biết khắc, biết được tánh linh, nào là làm chủ sự sống chết. Nhưng đến giờ phút cuối cùng, chúng ta chỉ thấy, một hình ảnh đau thương nằm trên giường bệnh mệt nhọc khổ sở, đau đớn, trăn trở và có lúc lại mê man, chẳng biết gì cả trước khi viên tịch.

Thầy Tổ chúng ta, họ đều là những bậc chân tu, tinh cần siêng năng, thức khuya, dậy sớm, xâu chuỗi không rời tay, lúc nào cũng thấy ngồi thiền, niệm Phật, công phu, bái sám không thời nào không có mặt trừ khi làm Phật sự và bệnh đau.

4- CHẶNG ĐƯỜNG TU HÀNH GIAN NAN CỦA THẦY

(45:31) Từ lúc bé, tám tuổi chúng tôi được vào chùa tu học với các thầy Tổ, đến ở chùa nào cũng mang dòng phái Thiền tông, Lâm Tế, Tào Động, Liễu Quán, Thái Thượng, v.v…​ Nhưng không thấy thầy Tổ tu thiền mà lại thấy tu Tịnh Độ.

Sau những năm tháng theo thầy tu học, lòng tin tưởng pháp môn Tịnh Độ, noi theo gương hạnh của thầy tu tập, nuôi hy vọng niệm Phật cầu vãng sanh về Cực Lạc Tây Phương. Bỗng dưng, làn gió Thiền tông thổi đến, kinh sách thiền rộ nở như hoa mùa xuân, nào là Pháp Bảo Đàn kinh, Thủ Lăng Nghiêm kinh, Kim Cang kinh, nào là Nguồn Thiền, Luận Tối Thượng Thừa, Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất, Thiền Luận, v.v…​

Càng đọc những kinh sách này, chúng tôi càng say mê và tưởng mình như được của báu. Chúng tôi được theo tu học thiền, lớp học đầu tiên tại Tu viện Chơn Không, do Hòa thượng Thích Thanh Từ đảm trách, ba tháng an cư tu học ở đó, chúng tôi liền rời khỏi tu viện về và về Trảng Bàng thuộc tỉnh Tây Ninh, nhập thất tu tập suốt chín năm trời. Chuyên cần tu tập pháp môn Tri Vọng, thấy các pháp như mộng, như huyễn, thấy lục trần như hoa đốm giữa hư không. Gần chín năm mài miệt tu hành, chúng tôi ngộ tất cả công án Thiền tông. Ngồi thiền thì không vọng tưởng, trạng thái tâm hồn yên lặng như hòa mình trong vũ trụ, lúc bấy giờ, chúng tôi tỉnh thức rất rõ. Nhưng xét lại, không biết cách nào làm chủ sự sống chết, tâm mình cũng vẫn còn phiền não, (tham, sân, si). Biết rằng gặp những việc bất toại nguyện thì thấy các pháp như mộng, như huyễn, như hoa đốm giữa hư không. Dù biết vậy, nhưng tâm vẫn còn phiền não, chưa thật sạch, phải đợi có thời gian.

Đối với các pháp Đại thừa, từ Tịnh Độ, Mật tông đến Thiền tông, sự tu tập đối với chúng tôi gần như mất hy vọng. Vì chính ông thân của chúng tôi là một tu sĩ Mật tông, chú thuật của ông có nhiều thần lực lạ kỳ, nhưng lại để trị bệnh, bói toán như một phù thủy, bùa chú tuy linh hiển nhưng tôi không thấy nó làm chủ sự sống chết, tự tại an vui trong cuộc sống mà chỉ làm chuyện lợi danh như các nghề khác trong thế gian.

(47:52) Tôi tư duy, suy nghĩ và khắc khoải trong lòng, nghĩ đến mình tu hành đến giờ này: “Đời chẳng ra đời, Đạo chẳng ra đạo”. Nếu bây giờ tôi trở ra đời thì quá muộn màng, tuổi đã bốn mươi bốn rồi còn gì nữa, ở trong đạo thì biết pháp nào tu cho đến nơi đến chốn: “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm, độ hết chúng sanh thì thành Phật”. Những điều kinh sách đã dạy, tôi đều chuyên cần, siêng năng, tinh tấn tu hành không dám biếng trễ, thế mà xét lại tâm mình chưa được làm chủ, cuộc sống còn nhiều bất toại nguyện, tâm vẫn còn ham muốn danh lợi, ăn ngủ còn thích, thấy nữ sắc còn muốn nhìn. Gần suốt chín năm trời, sự tu hành dường như tránh né các pháp thế gian.

“Chẳng niệm thiện, niệm ác, thấy các pháp như mộng, như huyễn, thấy sáu trần như hoa đốm giữa hư không”. Chúng tôi đã thực hiện những câu này đã nằm lòng, hễ có các pháp đến thì những câu này xuất hiện, nhanh chóng đuổi chúng đi, một lúc mới tan biến. Đuổi mãi chúng, thời gian gần chín năm, mà tâm chúng tôi vẫn chưa an. Cảm thấy như tôi là kẻ trốn chạy các pháp, tránh né sáu trần và cuối cùng xét lại các pháp này tu không thể giải thoát được.

Không biết giờ này các bạn đồng tu của tôi, tu hành ra sao? Riêng tôi lúc này (năm 1980), tôi rất ngao ngán với số phận làm thầy tu. Một hình ảnh đen tối đến với tôi, tôi tự nghĩ: “Hay mình tìm một nơi đâu trong rừng hoang vắng, rồi tự tử cho xong đời (kiếp đời tu sĩ)”. Nhưng một hình ảnh hiện lên trong tôi, một người mẹ già yếu đuối, lưng còm, hàng ngày nấu cơm bưng vào thất, giúp tôi sống tu hành. Nhờ hình ảnh ấy, nếu không có mẹ tôi, chắc tôi không thể sống vì con đường giải thoát của Đạo Phật đã trở thành mây khói.

Trong lúc tâm hồn tôi chán nản, trước mặt là bước đường cùng. Bỗng nhiên, tôi nhớ đến lời dạy, lời của Hòa thượng Minh Châu đã nói trong bài tựa kinh Trung Bộ tập 2, Pali – Việt Đối Chiếu: “Càng dịch, chúng tôi càng thấy rõ ác ý của các nhà Bà La Môn, đã dùng danh từ Tiểu thừa để gán vào những lời dạy thực sự Nguyên Thủy của đức Phật và khiến cho các Phật tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy. Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các Bà La Môn đã khôn khéo xuyên tạc Đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu không được biết đến, không được học hỏi, tu hành. Nhưng chân lý bao giờ cũng là chân lý. Mặt trời bao giờ cũng là mặt trời”.

(51:12) Nhớ đến đây, tôi vô tình nhìn bộ kinh Nguyên Thủy Pali – Việt Đối Chiếu để trên tủ sách trong thất, do Hòa thượng Minh Châu dịch lần đầu tiên. Bắt đầu tôi nghiên cứu lại bộ kinh sách này. Sống và tu tập đúng theo lời dạy của đức Phật: “Giới – Định – Tuệ”.

Theo lộ trình Tam Vô Lậu Học, sống đúng giới hạnh, lấy giới luật phòng hộ sáu căn, đời sống thiểu dục ít muốn, biết đủ luôn theo pháp Định Tư Cụ “ngăn ác diệt ác, sanh thiện, tăng trưởng thiện”. Nhờ đó, kết quả tâm hồn thanh thản, an lạc, tâm thường quay vô, không phóng dật, biết rõ những hoạt động trong nội thân, tâm luôn không để ý sáu trần, nên thấy rõ thân, tâm có một cuộc sống giải thoát, an lạc, vô sự.

Càng giữ gìn giới luật, càng tu tập Tứ Chánh Cần thì kết quả thân tâm giải thoát rất rõ ràng và cụ thể. Càng tu lại càng ham thích, tự tâm siêng năng và tinh tấn, không cần cố gắng. Nhờ sự nghiên cứu và tu tập này, tôi rất am tường, thông hiểu kinh sách Nguyên Thủy và có kinh nghiệm, vì vừa nghiên cứu lý thuyết, vừa thực hành lời dạy của đức Phật, nên từng bài kinh, từng câu, từng chữ trong tạng kinh Pali này.

Riêng về phần kinh sách Đại thừa và Thiền Đông Độ, tôi đã bỏ công tu tập chín năm trời, nên những trạng thái ức chế tâm, tu tập các pháp hành của Thiền Đông Độ và Đại thừa, tôi đều biết rất rõ. Vì vậy, khi được hỏi điều gì đến những trạng thái định có liên quan đến Phật Giáo, dù ở bộ kinh nào Đại thừa, Thiền tông và Nguyên Thủy. Tùy cơ đối đáp để làm sáng tỏ lại Phật Giáo, còn nếu không có ai hỏi thì thôi. Đối với tôi, ai tu sao cũng được, có giải thoát hay không giải thoát là quý vị nhờ và chịu lấy. Chuyện Phật Pháp không phải là chuyện riêng của tôi mà của chung của mọi người.

(53:14) Tôi trả lời đây, vì duyên của quý vị hỏi, chứ không phải tự tôi đặt ra câu hỏi để trả lời nhằm có mục đích chống, báng ngoại đạo, Đại thừa và Thiền tông. Mặc dù, tôi biết Đại thừa đã truyền vào đất nước Việt Nam đầu thế kỷ thứ ba, cuối thế kỷ thứ hai và Thiền tông truyền vào thế kỷ thứ năm, thành một truyền thống dân tộc của đất nước này, muốn xóa nó không phải là một việc dễ làm. Nhưng tôi nghĩ đến số phận của những người tu như tôi, nên tôi nói, ai có tin thì tin, không tin thì thôi, tu hành có được thì quý vị nhờ, không được thì quý vị chịu, giải thoát của quý vị đâu có liên quan gì đến tôi.

Tôi trả lời vì sự bắt buộc ở câu hỏi của quý vị, nếu không trả lời, tôi phụ lòng quý vị, mà trả lời cho quý vị thì phải nói thẳng, nói đúng, nói cái sai, không đúng của Đạo Phật, nói cái sai tu hành sanh bệnh tật, điên khùng, nói cái sai để quý vị không bị lừa đảo bởi những pháp môn mê tín, phi đạo đức, lường gạt để làm tiền, làm danh (kinh doanh tôn giáo).

Do nói cái sai để quý vị không uổng phí một đời tu hành, thì quý vị lại cho rằng tôi bài bác các Tổ, sư, chống trái kinh sách Đại thừa.

Thưa quý vị! Tôi chống trái để làm gì? Khi tôi cũng là một nạn nhân của các pháp môn này, tôi nói ra vì quý vị, quý vị có hiểu thấu chăng? Tôi là chiếc xe đã lọt hố, muốn cho các xe sau đừng lọt hố nữa, nên cảm thông những câu hỏi của quý vị mà tôi trả lời. Biết như thế nào, tôi nói như thế nấy, đúng, sai quý vị còn suy ngẫm.

Khi tôi trả lời, chỉ mong quý vị suy ngẫm kỹ lời tôi nói và lời kinh Nguyên Thủy dạy, có tương ưng, có phù hợp, có đúng nghĩa hay không? Đúng thì quý vị tin tôi, bằng không đúng thì quý vị đừng tin và cũng đừng cười chê vì tôi cũng chỉ là con người như quý vị.

(55:44) Tôi cũng là một con người phàm phu như quý vị, nhờ sống đúng giới hạnh và giới đức, tu tập đúng các pháp Phật đã dạy. Từ đó tôi sống đạo đức nhân quả, không làm khổ mình, khổ người. Hằng tu tập tỉnh thức trong mọi oai nghi tế hạnh, cả niệm hơi thở, tôi đều hướng tâm ly tham, sân, si và ái dục, nhờ thế mà tôi thấy được tâm mình giải thoát, đó cũng là mãn nguyện lắm rồi.

Vì đã không làm khổ mình, khổ người, tôi thấy rất rõ là tâm tôi đã ly dục, ly ác pháp. Ly dục, ly ác pháp tức là tôi đã làm chủ được cuộc sống của tôi. Làm chủ cuộc sống tức là làm chủ được sanh như trong kinh Phật đã dạy. Sanh là một trong bốn cái khổ của kiếp người.

Tôi trở về pháp môn Nguyên Thủy, tu tập chỉ trong vòng sáu tháng, làm chủ được tâm, không còn thấy các pháp như mộng, như huyễn, sáu trần như hoa đốm giữa hư không. Nhờ tu tập có kinh nghiệm và nghiên cứu toàn bộ kinh Nguyên Thủy, nên lập trường trả lời của chúng tôi đều dựa vào đó dựng lại Phật Giáo, trong lúc giáo pháp của Phật đã bị dìm mất, ít có người được biết đến. Vì vậy, chúng tôi trả lời quý vị không ngoài lời Phật dạy. Tin hay không tin đó là quyền của quý vị, tôi thì nói thẳng, nói thật mà thôi chứ không có tâm phỉ báng ai hết.

Xin thưa quý vị! Chúng tôi biết rằng, lời thật mất lòng, nhưng vì bị hỏi, chúng tôi phải nói toạc móng heo để cho một số người không bị tà giáo ngoại đạo lừa đảo và những người đang tu hành không lầm lạc pháp môn của ngoại đạo, tu dở chết dở sống (Đời chẳng ra đời, Đạo chẳng ra đạo) giống như tôi tu hành lúc năm 1980. Tôi cảm thông với những người tu sĩ ấy, có nhiệt tâm quyết tìm đường giải thoát trong Đạo Phật.

(58:12) Chúng tôi chỉ ước mong, những câu trả lời của chúng tôi sẽ làm sáng tỏ những gì của Đạo Phật, đang bị che mờ bởi giáo pháp của Bà La Môn. Với thâm ý của chúng tôi không muốn chống trái ai hết, ai có duyên tu pháp nào cũng được, nhưng có tu được giải thoát thì dạy người, bằng tu chưa có kết quả thì đừng dùng lý thuyết suông lừa đảo, gạt người, gây mê tín, dị đoan khiến cho mọi người khổ sở, phí hết kiếp người và cũng đừng vì quyền lợi ích kỷ, nhỏ mọn mà gán cho các pháp môn đó là của Phật Giáo, thì tôi rất đau lòng.

Vì Phật Giáo không có các pháp môn tưởng đó, mê tín, trừu tượng, mơ hồ. Buộc lòng chúng tôi phải nói thẳng để cho người đời sau đừng lầm lạc, đáng thương.

Chúng tôi tu hành theo Phật Giáo đã bị lầm lạc pháp môn của ngoại đạo, nhiều khi chúng tôi muốn chết hơn là sống, vì sống làm gì? Đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo. Sống bằng ba tấc lưỡi, gạt người, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ gia đình, vợ, con, bỏ cả thân bằng quyến thuộc, bỏ cả của cải, tài sản, sự nghiệp, nhà cửa để đi tu, mong tìm đường giải thoát thân, tâm mình, chứ đâu phải để thành tên lừa đảo có sách vở.

Vì cảm thông nỗi khổ đau của những người đồng bệnh, nên tôi nói thẳng, chẳng hề sợ hãi trước thế lực quyền uy của kẻ khác, dù tôi có ra sao và như thế nào, tôi cũng vui mừng, vì đã nói một sự thật có lợi ích cho muôn người, không phải vì cá nhân của mình.

Tôi trả lời thẳng vì tín đồ Phật Giáo khắp năm châu, bốn biển đang hướng về Phật Giáo chơn chánh.

Tôi trả lời thẳng vì đạo đức của Đạo Phật đã bị đánh mất, bởi giáo pháp của ngoại đạo (Đại thừa), thay vào một đạo đức mê tín, làm cho nhân loại mất đi một nền đạo đức sống thật, một nguồn hạnh phúc, an vui của mọi người.

Tôi trả lời thẳng chỉ vì con người trên hành tinh này, đang cần một nền đạo đức nhân bản, không làm khổ mình, khổ người. Trên cuộc đời này duy chỉ Đạo Phật mới có nền đạo đức công lý và công bằng mà thôi.

(01:00:28) Tôi nói thẳng vì lợi ích chung cho con người trên hành tinh này, dù ai có nghĩ sao về tôi, cho tôi là điên khùng, dốt nát, không thông suốt kinh sách Phật Giáo, không hiểu giới luật Phật là gì, nói bậy bạ không trúng vào đâu, tôi vui lòng chấp nhận cả. Nhưng xin mọi người hãy theo đúng giáo pháp Nguyên Thủy của đức Phật mà tu tập và sửa những gì sai, để xây dựng cho mình một tâm hồn thấm nhuần nhân quả của Đạo Phật “không làm khổ mình, khổ người” thì tôi đã mãn nguyện lắm rồi.

Trải qua thời gian tu tập, tôi biết rất rõ con đường nào tu tập đi đến kết quả làm chủ sanh, già, bệnh, chết của Đạo Phật. Con đường ấy không phải để cho những người tu hành phạm giới, bẻ vụn giới, phá giới như các vị Tỳ kheo của Phật Giáo Đại thừa, Thiền Đông Độ và Phật Giáo Nam tông. Phạm giới, phá giới, bẻ vụn giới, sống không đúng giới đức, giới hạnh, đời sống không thiểu dục, tri túc, không lấy giới bổn phòng hộ sáu căn, ăn, uống, ngủ, nghỉ phi thời, không sống độc cư, thì dù họ có tu trăm ngàn kiếp vẫn không đến đâu, chỉ uổng cho một đời tu mà thôi.

Trả lời những câu hỏi của quý vị, nói thẳng sẽ đụng chạm rất nhiều, mong quý vị vui lòng tha thứ cho và quý vị hãy suy ngẫm những lời chúng tôi nói, nếu sai xin quý vị bỏ qua cho, còn đúng xin cầu chúc quý vị may mắn, gặp thiện hữu tri thức có kinh nghiệm, hướng dẫn tu tập đến nơi, đến chốn.

Tu hành giải thoát làm chủ thân tâm không phải việc dễ làm, nếu tu tập một mình, giống như người đi biển không có la bàn, vào rừng không có người hướng đạo.

Nếu chúng tôi có trả lời điều chi sai sót, xin những bậc cao minh, chân tu, thạc đức chỉ giáo, chúng tôi thành kính tri ân.

Kính ghi.

Đây là cái lời tựa của cái tập 5, của Đường Về Xứ Phật, Thầy đã ghi và đánh vi tính, in ra, rồi sau này sẽ thu nhỏ lại thành trang sách.

5- TRUYỀN KINH NGHIỆM TU HÀNH CHO TU SINH

(1:02:50) Đây là cái phần hôm nay mà Thầy nói để các con biết rằng, trong cái cuộc đời mà tu tập của Thầy, rất là vất vả vì pháp môn không nắm vững. Còn hôm nay, có Thầy dạy, có kinh nghiệm của Thầy, mỗi sai, cái gì sai có Thầy sửa, mà nhắc đi, nhắc lại nhiều lần, các con không giữ đúng.

Nhất là, Thầy đã từng tuyên bố với các con, bí quyết thành công của thiền định là độc cư, nhưng mà các con không có giữ được trọn vẹn, cho nên trên cái con đường tu hành nó còn bấp bênh, nó còn xa, rồi cuối cùng chỉ còn mình Thầy. Thậm chí, như các con nhớ rằng năm 1991, cái hạ năm đó xong thì Thầy vào thất, lúc bấy giờ, thì một số người đã tu, Thầy quyết định là khép chặt giới luật, không có cho sống ba bữa, ngày một bữa và độc cư, thì chỉ còn lại một số rất ít, còn bao nhiêu đều rút lui hết.

Do đó, trong những ngày đó thì Thầy cố gắng Thầy hướng dẫn cho Mật Hạnh độc cư trọn vẹn, trong cái suốt ba năm mà Thầy nhập thất. Cái kết quả rất tốt là vì giữ gìn cái độc cư trọn vẹn như vậy, cho nên tâm quay vào, không cần phải ngồi thiền, nhập định nhiều, không cần phải nhiếp hơi thở cho hết vọng tưởng, mà tới chừng tâm quay vào thì nó không còn có vọng tưởng nữa.

Đó là cái kết quả thực sự, mà Thầy đã biết được con đường đi theo kinh Nguyên Thủy, trong sáu tháng cuối cùng của năm chín mươi, thì Thầy đã thấy kết quả như vậy. Và Thầy cố gắng chỉ tập trung hướng dẫn cho mình Mật Hạnh, thì cuối cùng thì Mật Hạnh cũng đạt được cái kết quả như vậy và rất tốt.

Đầu tiên thì khắc phục cho nó phá được hôn trầm, sống độc cư phá hôn trầm. Phá hôn trầm thì Thầy bắt nó ngồi với Thầy, rồi Thầy điều khiển cho nó suốt đêm để cho nó phá cho được cái hôn trầm. Từ đó giờ giấc nghiêm chỉnh, giờ nào ra giờ nấy, không có bê trễ nữa. Rồi bắt buộc sống độc cư không được tiếp duyên, cho nên tâm tuôn trào, từ tuôn trào chuyện này đến chuyện khác, cuối cùng thì không còn tuôn trào nữa, cho nên tâm quay vào, không phóng dật ra ngoài, do đó lúc bấy giờ nó thấy rất là thiền định rất tốt.

(1:05:50) Thì các con thấy rằng, cái kinh nghiệm tu hành của Thầy và cố gắng hướng dẫn cho Mật Hạnh, Mật Hạnh là một cái người u tối nhất, khó khăn nhất không có như cái người khác có học thức giỏi, hiểu biết nhiều. Nó chỉ dốt nát như ông Bàn Đặc, do đó chỉ cái sự cố gắng sống cho đúng thật đúng là có kết quả, mà chẳng có một cái bệnh đau nào mà xảy ra cho nó hết, chỉ có một cái bệnh tưởng của nó mà thôi.

Nhưng vì nó không nghe lời Thầy, cho nên nó phá độc cư mà đi ra, cho nên vì vậy mà cái thời gian nó còn phải kéo dài, chứ còn nếu mà nó đừng phá độc cư, đừng có sợ hãi của cái bệnh tưởng, thì chắc chắn nó thành tựu lâu lắm rồi, nghĩa là làm chủ được sự sống chết lâu lắm rồi, chứ không phải mới bây giờ.

Thì hôm nay, thì các con thấy rằng, trên bước đường mà tu tập, cái gì mà Thầy dạy, mà các con giữ đúng, thì các con nhanh, mà các con giữ không đúng thì các con không nhanh. Chẳng hạn Thầy bảo các con, như tại sao cô Út không có dạy các con ngồi, nhưng mà Thầy thì Thầy tùy thuận ở các con nhiều hơn, không nên gắng ép người khác, từ từ khẽ lần.

Cô Út thì đập phá để cho xả tâm cho được mà thôi. Còn riêng Thầy, Thầy nhẹ nhàng an ủi, sợ e mà đập phá mạnh thì làm cho các con thối tâm, không có tu tập được, giúp cho các con được vui vẻ theo cái ý muốn của mình, lần lượt rồi bẻ dần, lái dần cho đến khi mà các con đi vào đúng cái quỹ đạo của Phật dạy mà thôi.

Cũng như các con biết, như Minh Tâm theo Thầy tu học nay là bốn năm rồi, cũng như các con đã theo Thầy, thì bên nữ các con đã theo Thầy kể như là nay cũng là bốn năm rồi. Nhưng mà tại sao các con không có kết quả được? Thì bằng chứng là các con thiếu độc cư, nhưng mà tại sao Minh Tâm lại có độc cư mà không có kết quả?

Độc cư chưa trọn vẹn đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai thì nó có độc cư hơn các người khác, nhưng vì nó đã tu từ Tịnh Độ rồi đến Mật tông, rồi sau khi Thiền tông đến hơi thở Thầy dạy, thì nó có một sức ức chế tâm rất là vĩ đại. Hít thở, nương vào hơi thở hay hoặc niệm Phật từ một ngàn, hai ngàn câu, cho đến một ngàn, hai ngàn hơi thở không có một niệm vọng tưởng xen vào, khi mà sổ tức như vậy đấy thì các con biết cái sức ức chế tâm của nó hết sức và cái sự mà gom tâm của nó thì các con không có thể nào lường được cái sự gom tâm của nó. Nhưng mà cuối cùng, thì các con biết tại sao không kết quả không? Tại vì cái tâm không xả.

(01:8:22) Cho nên đến gần bước vào Tứ Thiền thì đứng lại, bởi vì đi tới nữa mà để mà dừng hơi thở mà dùng pháp hướng, thì nó sẽ dừng hơi thở. Mà dừng hơi thở mà trong cái pháp hướng để điều khiển, mà nhắc nó để mà dừng hơi thở thì cái cơ thể sẽ bị bệnh tật liền tức khắc.

Cho nên nó có bị thời gian bị ra máu, bị ra máu là do bị ức chế hơi thở, do tâm và cũng là do cơ để mà ức chế, gần như là nín, coi như là nín thở đó, không thở đó, thì tai hại rất lớn, mà may là phát giác kịp chứ không khéo thì nó sẽ thành bệnh rất nặng không có thể tưởng, mà Thầy gọi là thọ hành hay là hành thọ. Nghĩa là mình tu hành, mình tạo ra cái thọ đó, chứ không phải là tự thân mình có cái bệnh đó, gọi là hành thọ.

Do cái hành thọ, một phần thì nếu mà cái người mà không có dùng cơ mà ức chế đó, mà cái hành thọ mà xảy ra thì đó là tưởng thọ, còn cái người do các cơ mà ức chế, cũng như bây giờ nói tịnh chỉ hơi thở, thì các con lại hiểu lầm, hiểu lầm cái danh từ tịnh chỉ, như Thầy đã nhắc, tịnh chỉ là nó thanh tịnh cái hơi thở, rồi tuần tự nó chỉ, nó ngưng, chứ không phải chúng ta ức chế nó, mình tập thở chậm nhẹ, chậm nhẹ lần lần, rồi ngưng hơi thở, tự mình nín hơi thở lại thì cái đó là cái sai, nó không phải tịnh chỉ mà nó là đình chỉ hơi thở, thì cái đó là cái sai của các con tu tập.

Cho nên chúng ta muốn mau mà thành chậm, chúng ta phải biết rằng cái tâm thanh tịnh là cái tâm không tham, sân, si thì nó là tịnh, mà khi tịnh thì nó mới chỉ được hơi thở, nó mới ngưng được hơi thở. Tức là, cái hơi thở nó phải theo cái thân thanh tịnh, mà nó mới thanh tịnh được cái hơi thở, nó thanh tịnh được cái hơi thở thì nó mới chỉ được cái hơi thở. Còn nếu không thanh tịnh thì không chỉ được hơi thở, cho nên không thể nào mà nhập vào Tứ Thiền.

Cho nên Minh Tông hỏi Thầy, như trong kinh Phật dạy, thì xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh thì nhập Tứ Thiền, chứ Phật đâu có dạy tịnh chỉ hơi thở mà nhập Tứ Thiền. Thì rõ ràng là trong những cái bài kinh, thì phần nhiều thì Phật nói xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh thì nhập Tứ Thiền. Nhưng các con nên nhớ rằng, có một cái bài kinh Phật dạy, trong thân chúng ta có ba hành thân hành, khẩu hành và ý hành.

Khẩu hành là tầm tứ, mà thân hành là hơi thở, ý hành là thọ tưởng. Do đó, một cái người mà nhập Nhị Thiền, thì tịnh chỉ tầm tứ tức là tịnh chỉ khẩu hành, mà nhập Tứ Thiền thì tịnh chỉ thân hành, mà thân hành tức là hơi thở.

(01:11:24) Cho nên, trong cái bài kinh Nhập Tức Xuất Tức ở trong kinh Trung Bộ thì Phật dạy: “Hơi thở tức là thân, khi hơi thở mà dừng thì thân dừng, mà tâm dừng, mà tâm dừng thì cái thức nó dừng”, nó đâu còn biết. Cho nên ở đây, chúng ta muốn biết được, tại sao nhập Tứ Thiền mà lại còn cái thức, vậy cái thức nào mà còn, mà cái thức nào lại dừng? Đó là cách thức mà Thầy sẽ giảng dạy trong những cái buổi vấn đạo, những lời hỏi của các con.

Đó thì hôm nay, chúng ta thấy được cái điều kiện do các con tu sai ngồi ức chế, như Thầy không có kiểm tra các con, chứ sự thật ra các con biết, khi mà chúng ta ngồi như thế này, kiết già xong rồi, bắt đầu chúng ta ngồi, chúng ta hít thở, để mà gom tâm, thì các con biết như thế nào, hai cái vai các con gồng lên liền tức khắc. Nếu mà các con không có chịu thư giãn, xả xuống như thế này thì các con sẽ bị gồng hai cái vai, và thấy nó gom, nó tập trung nhưng mà bị gồng, bị dùng cơ mà gom tâm, ở hai cái vai rất là cảm giác rất rõ ràng.

Cho nên khi chúng ta gom lại một hơi thở chậm rồi, bắt đầu thở hơi thở bình thường, thì chúng ta nương vào hơi thở bình thường, thì chúng ta hướng tâm, chúng ta nhắc: “Các cơ trong thân phải xả xuống, buông xuống, thư giãn”, thì lúc bấy giờ các con nhắc thả xuống, thì các con nghe cái vai các con buông xuống cái vậy, thì các con nghe nó nhẹ nhàng, chứ nó không còn gồng lên, đó là cách thức chúng ta thư giãn lại cho cơ thể nó thư giãn hoàn toàn, không bị ức chế các cơ mà gom tâm, mà chúng ta tu tập bằng cách xả tâm.

Cho nên vì vậy, mà khi nương vào hơi thở thì chúng ta thường theo pháp Như Lý Tác Ý mà quán: “Quán ly tham tôi biết tôi đang thở vô, quán ly tham tôi biết tôi đang thở ra”, thì như vậy rõ ràng là chúng ta nương vào cái tỉnh thức của hơi thở, để mà chúng ta xả cái tâm khắc phục tham ưu như trong Tứ Niệm Xứ Phật đã dạy.

Chứ còn nếu mà chúng ta cứ ngồi để mà lặng lẽ không có niệm vọng tưởng, biết hơi thở ra biết hơi thở vô, rồi chúng ta hướng tâm nhắc: “Hơi thở phải mất đi để tầm tứ diệt, để nhập Nhị Thiền”, thì một lúc hơi thở chúng ta sẽ xả bỏ, không chú ý hơi thở nữa, thì lúc bấy giờ chúng ta không thấy hơi thở, thì chỉ có một trạng thái an lạc của Định Sanh Hỷ Lạc của Nhị Thiền, tức là của diệt tầm tứ. Thường thường là các con sẽ thấy thích thú ở trạng thái này rất nhiều, nhưng đó là cái sai, không đúng.

Thật sự hiểu biết bị hạn lượng trong không gian và thời gian, nên con người sống không nhìn rõ sự vật và các pháp nên lầm chấp, bởi vì chúng ta sống trong cái ý thức. Cái trí mà hữu hạn này nó bị hạn lượng, mà hạn lượng của không gian và thời gian, cho nên chúng ta nhìn sự vật, nhìn các pháp, thì chúng ta lầm, tưởng là thật, như bây giờ mình thấy cái bàn, cái nhà cửa này mình cho thật, thấy người này, người kia ngồi đó mình cho thật, chứ thật đó là mình tưởng chứ không phải thật.

(01:14:14) Cho nên ở cái bài kinh mà Pháp Môn Căn Bản, Phật nói con người sống ở trong cái thế giới tưởng, mà tưởng tri chứ không phải liễu tri, mà cái gì con người hiện giờ đang sống ở trong cái trí thức hữu hạn này, thì hoàn toàn là phải nói sống tưởng, chứ không có.

Cho nên cái thế giới siêu hình, cũng là cái thế giới tưởng của các người, chứ không phải có thật cái thế giới siêu hình, vì chính các người sống trong trí hữu hạn thì các người chỉ còn dùng tưởng để mà hiểu mà thôi.

Bởi vì bàn ghế, nhà cửa này nó là do duyên hợp mà có, thế mà chúng ta thấy cái bàn này là thật, rồi thấy ngay cả cái thân này, chúng ta thấy có người này chết, rồi người kia chết thì chúng ta cho cái thân này nó giả đi, chúng ta lại nghĩ rằng ở trong cái thân này nó có cái biết, cái linh hồn, cái thần thức nó còn, nó thường hằng hay hoặc cái Phật tánh ở trong đó thường hằng, đó là chúng ta tưởng nó ra thôi, cái gì chúng ta không thực tế thì chúng ta lại tưởng nó ra thôi.

Cho nên, cả cái thân này hiện bây giờ, đức Phật nói là nó vô thường, nó là ngũ duyên hợp lại, nó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức hợp lại mà thành cái thân này, nó không có một cái gì thật, thế mà hở một chút là chúng ta có giận có hờn, phiền não. Cái gì của ta đâu mà chúng ta giận, hễ mà ai động chạm đến mình cái gì cứ nghe nó phiền não, cái nó buồn bã, may là theo tu với Thầy, chứ không theo tu với Thầy, thì các con thấy cái sự giận hờn đó như thế nào?

Rồi hở một chút gì, hơi đau cái ngón chân, đi vấp cục gạch, cục đá thôi, mà cũng thiếu điều muốn đi nằm nhà thương nữa. Sợ cái ngã chúng ta nó chết hay sao? Có cái gì là cái ngã của chúng ta đâu. Cho nên ở đây, thật sự ra các con đã lầm tưởng, sống trong cái tưởng, rồi cho đó là cái thân của mình, cái ngã rồi quý nó, mến nó, nhưng sự thật Phật đã nói, nó là cái thân bất tịnh, hôi thối, bẩn thỉu, do tứ đại mà tạo thành, nó không phải là cái gì của mình cả hết.

Thế mà, ngày Thầy bảo các con tu tập, các con quán vô ngã, thí dụ như bây giờ: “Quán vô ngã tôi biết tôi hít vô, quán vô ngã tôi biết tôi thở ra”, vô ngã là cái gì? Là cái thân của chúng ta là các pháp vô ngã, thì các con đã học đạo đã như vậy, mà hở chút gì cái nghe rên, la, ôi nó nhức cái vai này quá trời. Cái gì nhức, có cái gì đâu nhức, cái thọ là nó nhức, chứ ai mà nhức? Vì vậy mà chúng ta hiểu biết, tâm không dao động thì nó sẽ không có đau khổ, mà tâm dao động thì cái đau khổ nó, nó lại thành đau khổ nhiều hơn.

Cho nên, các con thấy, như Thầy ho, Thầy có cần gì đó đâu, mặc nó, nó thọ là nó ho thôi, nó có chết Thầy bao giờ đâu mà sợ, cỡ chết là chết lâu đời rồi, đâu có bây giờ. Cho nên, đối với Thầy không quan trọng vấn đề gì hết, thậm chí như Thầy nói thấy nó không quan trọng tức là nó không có đau, không nhức, chứ cỡ đau nhức thì tức là mình sẽ dùng pháp hướng ra lệnh, nó sẽ tịnh chỉ được tức khắc liền, có cần gì, bởi vì mang cái thân này là mang cái thân nghiệp nhân quả.

(01:17:04) Có một lần, Thầy trả lời với Minh Tâm, Minh Tâm hỏi một người tu hành còn bị nhân, quả hay không? Theo như là Bách Trượng Dã Hồ, câu chuyện như vậy. Thì nó thấy, một lần Thầy bị cây sắt, xốc trong cái tay, thì nó nghĩ rằng một người tu hành, thì biết được những chuyện xảy ra, thì làm gì để cho cây sắt mà chống, mà ấy trong tay mình như vậy, ý nó muốn nói như vậy.

Thì Thầy mới nói như thế này, đã mang thân nhân quả, thì cái sự việc xảy ra trong nhân quả, thì chúng ta đều phải chấp nhận nhân quả, chứ không thể nào mà gọi là tránh né nhân quả, trốn tránh né nhân quả, nhưng có làm chủ được cái tai họa, cái tai nạn xảy ra ở trong cái vết thương đó không? Có sợ hãi không?

Nếu mà chúng ta sợ hãi, chúng ta biết rằng, một lát nữa là mình chặt cái cây sắt đó, nó sẽ chống trong tay mình, nó sẽ thành vết thương, thì mình không chặt thì nó đâu có, chứ gì? Thì đó là tránh né, tức là mình sợ cái vết thương, mình sợ cái quả thì nó không phải. Người tu sĩ Đạo Phật mang thân này là thân nhân quả, thì phải có trường hợp mà phải xảy ra những cái vết thương hoặc là những bệnh đau ở trong cơ thể này, đó là một hẳn nhiên của thân nhân quả.

Nhưng chúng ta có làm chủ được nó không? Nếu làm chủ được nó, thì chúng ta chẳng có dao động tâm chẳng có hề sợ hãi, chẳng có đi nhà thương, chẳng có sợ gì cả, chết thì bỏ, nó có gì của mình đâu mình tiếc, tứ đại nó chết thì trả nó về đất, nước, gió, lửa có gì đâu của mình mà mình giữ.

Các con thấy, đó là cái thấm nhuần được cái lý của đạo, làm cho tâm hồn chúng ta giải thoát, thì cái nhân quả mà chúng ta mà chết, bây giờ cỡ đau sơ sơ nó chết cũng dễ dàng lắm, cái thân của chúng ta rất giòn bở, còn nếu mà không chết bây giờ chúng ta đau cái gì nó cũng không chết hết.

Như cô Diệu Thành, nếu mà con đã chết, bao nhiêu lần bệnh đau nó đã chết lâu rồi, nó không chết thì bây giờ nó có chết gì đâu. Nhưng mà hồi nào tới giờ, hễ hơi nhức xương, rêm xương là lo chạy bay đi xuống thành phố để mà đi bác sĩ, thì thử hỏi cái đó là cái mình sợ hãi, chấp cái thân của mình chứ gì? Cái hành động đó là hành động chấp ngã, cho nên vì vậy, mà từng đó cái tâm bị dao động, dao động trước các đối tượng, dao động trước các pháp.

Do cái chỗ mà trí hữu hạn của chúng ta, cái ý thức của chúng ta đang sống và hiểu biết đó, nó đều là tưởng tri chứ không phải là liễu tri, do cái tưởng tri đó mà chúng ta lầm chấp các pháp. Như Thầy đã nói, sống với tưởng tri, cho thế giới hữu hình và vô hình là có thật, vì thế mới đắm đuối chạy theo cái bóng giả tạo này, cho là đúng, sai, phải, trái, tốt, xấu sanh ra ham thích, dính mắc, rồi giận, hờn, thương, ghét, đau khổ, phiền não.

Cũng chỉ vì tưởng tri, cái thế giới này có thật, con người này có cái vĩnh hằng, linh hồn, Phật tánh, sinh ra chấp ngã vĩ đại, làm cái gì cũng tích lũy cho nó, thậm chí tu hành cũng cho nó. Nghĩa là bây giờ các con tu hành cũng cho cái ngã của các con, chứ đâu phải là cho người khác, các con hiểu điều đó.

(01:20:22) Cho nên, nếu mà cho người khác thì người ta chửi mình đừng có giận, tại vì mình tu hành, người ta chửi mình, mà mình giận, mình nói người ta, thì làm người ta khổ, thì tức là mình đâu phải tu cho người ta, mình tu cho mình. Cho nên ở đây Thầy nói, thậm chí tu hành cũng chỉ tu cho cái ngã của mình, do mình tu cho cái ngã của mình cho nên mình không giải thoát, vì vậy mà mình tự mình đã làm khổ lấy mình, mà làm khổ lấy người, làm sao gọi là tu giải thoát?

Các con hiểu được cái câu này thì chắc chắn là các con biết rằng cái câu mà Thầy nói, không làm khổ mình, khổ người, nó mang đầy đủ tính chất giải thoát của con người, trong đó có sự làm chủ sanh, già, bệnh, chết. Nếu các con hiểu được câu đó, thì các con sẽ thấy, xả bỏ được tâm mình thì các con sẽ thấy giải thoát rất là cụ thể. Làm chủ được lúc nào, muốn sống chết lúc nào, các con không cần tập ngồi thiền, mà chỉ cần ra lệnh muốn nó mấy ngày, thì nó sẽ làm y như mấy ngày.

Thầy nhớ năm 1991, sau cái mùa an cư kiết hạ đó, mồng một tháng tám, Thầy vào thất với một số quý thầy còn ở lại đây, quyết sống giới luật ngày một bữa và đồng thời trong thời gian ấy, được rảnh rang nhiều hơn.

Thầy nhập thất bắt đầu từ bảy ngày, không ăn, không uống suốt bảy ngày. Nhập thất như thế nào mà biết bảy ngày ra mà bảy ngày vào? Chỉ có ra lệnh hướng tâm nhắc, khi mà ngồi thiền hướng tâm nhắc: “Bây giờ đó, tâm phải tịnh chỉ hơi thở, bảy ngày đêm nhập Tứ Thiền, bảy ngày đêm đúng giờ này ngày thứ bảy, phải xuất định”, thì trong khi đó, cái tâm từ từ lặn mất dần, không còn biết gì nữa hết.

Cuối cùng ở trong trạng thái của Tứ Thiền thì lúc bấy giờ đúng tới bảy ngày, chúng ta không có thấy cái thời gian ở trong đó là bảy ngày, mà tới chừng đó, tự động thì chúng ta lại thấy nó bung ra, tức là hơi thở bắt đầu thở trở lại. Nghĩa là, cái thức tới đó nó sẽ biết được cái hơi thở của nó và đồng thời nó hướng tâm lần lượt xả lần ra, thì đứng dậy đi như bình thường, không có tê, không nhức, không đau gì hết, chứ không phải.

Và đồng thời trong thời gian đó, Thầy sẽ ngồi suốt chỉ có được mười lăm ngày, còn hoàn toàn dự định trong ba tháng trong cái mùa hạ đó, trong ba năm đó, thì Thầy định Thầy ngồi ba tháng, chứ chưa dám ngồi một năm. Là tại sao vậy? Tại vì không có thời gian hướng dẫn chúng, nếu mà không có ai thì tức là Thầy sẽ ngồi nhiều, nhưng vì có mọi thầy tu hành, sợ người ta tu sai, mình nhập định, thì có những cái gì thì làm sao giải quyết được cho họ.

(01:22:59) Rồi sau đó, Thầy kèm cho Mật Hạnh tu tập, cho nên không còn thời gian nữa. Do vì vậy, mà những năm đó Thầy chỉ nhập được khoảng thời gian bảy ngày cho đến mười lăm ngày, thay vì một tháng, nhưng mà không dám ở lâu trong một tháng. Khi mà tăng lên một tháng, thì nhìn trước, nhìn sau không có ai chăm sóc cho chúng, cho nên đành phải mười lăm ngày rồi tiếp tục hướng dẫn chúng đi theo con đường của mình.

Khi Thầy tu tập, cái thời gian mà nhập định thì Thầy nhập suốt hai tháng, hai tháng định, mà người ta đồn thì Thầy nhập ba tháng, chứ thật ra Thầy nhập có hai tháng, trong khi Thầy cũng vào định, rồi cũng nhắc tâm của mình, rồi vào định trong khi mà tu tập về pháp môn của Phật.

Thì các con thấy rằng, trong cái sự tu tập, cái sự làm chủ rất là rõ ràng, cụ thể, chứ không phải tập ngồi từng giờ, từng phút tăng lên rồi bỏ cái ngồi lại không được. Còn đằng này đâu có gì đâu, rất dễ. Khi nào muốn ngồi là bảo nó tịnh chỉ ngưng, thì còn thấy đau, thấy nhức cái gì?

Đã hơi thở, Phật đã nói, hơi thở là thân, là thọ, là tâm, là pháp mà hơi thở ngưng thì thọ ngưng, thân ngưng, tâm ngưng, pháp ngưng thì còn gì là đau? Còn gì là nhức? Còn gì là mỏi mệt ở đâu? Cho nên, mình ngồi như gộc cây, chỉ có ra lệnh dặn nó thời gian bao lâu thì nó sẽ xuất định mà thôi. Đó là cách thức làm chủ sự sống chết theo ý muốn của mình điều khiển, chứ không phải nó muốn một giờ, hai giờ, ba giờ rồi lại bung ra, không phải kiểu đó đâu, kiểu làm chủ nó không phải như kiểu Thiền Đông Độ.

Cái lời Thầy dạy, thì các con chỉ tu đúng được phân nửa, còn một nửa thì tu chưa đúng, nghĩa là các con xét lại cái lời Thầy dạy, mà các con nếu mà các con tu đúng, thì giờ này các con không còn lận đận ở trên sự tu tập nữa. Tại vì các con không giữ đúng theo lời Thầy dạy, cho nên các con sẽ còn lận đận trên cái bước đường tu tập.

Nếu mà các con nghe lời Thầy dạy, mà giữ gìn cho đúng, thì thời gian rất ngắn Thầy nói rằng, đức Phật nói ở trong kinh, cũng như Thầy nói sáu tháng thì các con sẽ làm xong, còn đức Phật nói, sáng chúng ta nghe chiều đã giải thoát rồi, đó là cái tối thiểu ở trong đức Phật.

(01:25:38) Đức Phật nói, từ khi mà nghe pháp mà tu tập thì cái người mà lâu nhất là bảy năm, rồi bảy tháng, rồi bảy ngày, rồi sáng nghe chiều giải thoát. Đó thì cái người mà nhanh nhất sáng nghe chiều giải thoát, rồi bảy tháng, rồi bảy ngày cái người mà chậm hơn cái người sáng nghe chiều giải thoát thì bảy ngày, mà người chậm hơn nữa, chậm hơn bảy ngày là bảy tháng, mà cái người mà bảy tháng chậm hơn nữa thì nó là bảy năm. Thì cái số bảy năm là cái số tối đa, mà cái số mà sáng nghe chiều giải thoát đó là cái số tối thiểu, cái thời gian tối thiểu.

Mà khi nghe Thầy nói rồi, mà các con cứ mãi cố chấp ở trong lòng, ôm cái tham, sân, si làm gì? Nó có cái gì đâu là của mình đâu mà tham, mà giận, mà hờn, mà đau khổ, nhắc đi, nhắc lại mãi để mà xả cái tâm mà các con cũng xả chưa sạch. Thì Thầy cũng không biết làm sao cho nó hết được?

Bởi vì mỗi người đều đi cho mình chứ không thể nào mà đi cho các con được, nếu mà cỡ đi được Thầy đi giùm cho các con. Cho nên các con không còn giận hờn gì hết. Trái lại, là Thầy đi không có được, mà thấy mỗi lần mà cô Út la hét, thấy tụi nó sao nó đi không có nổi vậy? Phải chi mình đi được mình đi giùm, này đi không có được giùm.

Cho nên cái tu sao tu giùm không có được, chứ phải tu được thì Thầy tu giùm cho các con, Thầy ráng Thầy tu. Bây giờ ở đây là mấy đứa nè? Chín người nè, Thầy tu giùm cho, mỗi người Thầy tu một ngày cho thử coi nó hết không? Chắc chắn là nếu mà Thầy tu giùm được thì trong vòng chừng ba bữa, là mấy con sẽ hết sạch, không còn tham, sân, si gì hết. Ngặt tu không được, cho nên Thầy chỉ được giải thoát cho mình mà không có được cho mấy con.

Các con cũng biết rằng, sống gần bên Thầy, các con cũng biết rằng có những phong ba bão táp chứ, chứ đâu phải không, nhưng mà Thầy có hề hấn gì đối với Thầy đâu? Các con thấy đó, tại sao các con không bắt chước Thầy? Thế mà các con lại âm thầm đau khổ, rồi có khi buồn giận, rồi có khi nói ra lời nói trách móc rồi đủ thứ hết, tại sao vậy?

Đó là những cái sai, cho nên ở đây Thầy muốn nhắc để cho các con biết rằng, con đường tu thì không thể ai đi cho ai được, chứ cỡ mà đi được chắc Phật đi giùm cho chúng sanh để giải thoát hết rồi, chứ không cần tới Thầy nữa. Cho nên các con nghe những cái nỗi mà đau đớn, nỗi khắc khoải trong lòng khi mà tu không được, thì Thầy biết các con cũng vậy, tâm trạng của các con cũng vậy, nhiều khi dở khóc, dở cười trong cuộc đời tu hành chứ đâu phải thường đâu.

Đã lỡ tu rồi, thà là mình ở ngoài đời mình không biết gì Phật Pháp hết. Ba cái Phật Pháp này nhiều khi nó ghẹo gan mình cũng tức thật. Ham tu mà vô tu rồi tu không được, rồi đi ra, ra cũng không được, nó dính đó, nó kẹt, nó khổ sở, đi ra thì sợ người ta cười, người ta chê, rồi nói này, nói khác, mà tu thì không biết pháp nào mà tu cho được, trời ơi! nó khổ sở.

(01:28:30) Mà trong lúc các con còn được Thầy chỉ dẫn như vậy, chứ còn Thầy thì bơ vơ, nghĩa là dở chết, dở sống, chứ không phải, mà may là được hồi đó được nghe những cái lời Hòa thượng Minh Châu dạy ở trong kinh Nguyên Thủy, rồi được đọc ở trong kinh sách Nguyên Thủy, mới chực nhớ như vậy, chứ còn nếu không thì…​

Như quý thầy bây giờ, chưa có được mà học về kinh Nguyên Thủy, chưa có được mà nghiên cứu kinh sách. Kinh Nguyên Thủy đó chứ mà thật sự ra các con kỳ lắm, các con lại đọc cái cuốn kinh Nguyên Thủy, nghe cái bài kinh nó nhạo đi, nhạo lại, lát các con thôi quăng cuốn sách này rồi, đọc nghe không khoái chút nào hết, có không? Các con cứ nghĩ có không? Thầy nói có không?

Nhưng mà sự thật ra, cái ý thâm sâu ở trong đó ghê gớm lắm, mà đọc rồi các con sẽ chán lắm, chứ không phải là không. Cho nên được nghe, được đọc rồi mới may mắn cho cái đời tu hành của mình, mới thấy được cái đường lối của Phật, chứ còn không khéo chắc là dễ chết lắm.

Nghĩa là nói chung nếu mà, Thầy chỉ thêm chừng vài tháng nữa, thì mẹ Thầy qua phần thì chắc chắn là Thầy cũng bỏ, Thầy tìm cái chết cho nó yên cái thân chứ còn…​ May là tìm được cái pháp, rồi tu được làm chủ được cái sự sống chết của mình, rồi ra thất, mẹ Thầy mất, chứ cỡ mà kéo dài thêm chừng một năm nữa, thì mẹ Thầy mất trước khi Thầy xong, thì chắc chắn mà tu chưa có được gì.

Thì Thầy là con người gan dạ nhất các con, Thầy lên trên Hòn Sơn ở một mình, Thầy không sợ mà, Thầy là con người có thể nói rằng sống, chết Thầy coi thường lắm, Thầy có thể là hủy hoại cái đời sống của mình rất dễ. Cho nên, trong cái lúc mà nó khắc khoải nó đường cùng rồi nó không muốn sống nữa, nó không có muốn ham thích gì nữa hết.

Đó là những cái mà Thầy đã viết cái tâm trạng của mình ở trong cái lời nói đầu của cái cuốn Đường Về Xứ Phật tập 5. Sau này các con sẽ nghe những cái câu trả lời của Thầy ở trong tập này đó..

HẾT BĂNG

Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 3)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.