ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang

Phật môn bảo huấn (Trở về đạo Phật)

Phật môn bảo huấn (Trở về đạo Phật)

Phật môn bảo huấn (Trở về đạo Phật)

PHẬT MÔN BẢO HUẤN (TRỞ VỀ ĐẠO PHẬT) – PHẦN 1

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Năm: 1994

Thời lượng: [01:31:24]

 

1- TRỞ VỀ ĐẠO PHẬT

Trưởng lão: Mời quý Phật tử ngồi xuống hết!

Trước khi nghe chúng tôi kể lại sự tu hành trong ba năm nhập thất, xin quý vị Phật tử cùng chúng tôi niệm hồng danh đức Phật. Trước là để tưởng nhớ công ơn của Người đã chịu bao nhiêu gian khổ và còn phải dày công tu tập trên đường tìm chân lý giải thoát. Người đã chứng nghiệm được sự giải thoát nơi thân tâm của mình rồi đem dạy lại cho chúng ta. Nhờ thế ngày nay chúng ta mới có đường lối tu hành chân chính.

Bây giờ, quý Phật tử cùng chúng tôi chắp tay lên đồng niệm Phật ba lần:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Niệm Phật xong, quý Phật tử cùng chúng tôi hãy chắp tay lên, đem cả lòng thanh tịnh, không còn chút bợn nhơ của thế tục, kính cẩn chào nhau, đó là chúng ta những người con Phật, phải thể hiện đức hạnh trong muôn ngàn đức hạnh của đạo Phật. Bắt đầu, quý Phật tử chắp tay lên mặt hướng về tượng Phật, cúi đầu chào nhau.

Hôm nay là ngày ra thất của chúng tôi sau ba năm nhập thất tu hành.

Kính thưa quý vị Phật tử! Quý vị đã không ngại đường sá xa xôi, dành những thì giờ quý báu, cùng bỏ những công ăn việc làm để huân tập về đây với lòng ngưỡng mộ sự tu hành của chúng tôi và cũng để tìm hiểu pháp môn tu hành của chúng tôi. Sự tu hành của chúng tôi có kết quả hay không? Kết quả ấy có lợi ích thiết thực giải thoát cho đời sống con người hay không? Sự giải thoát có phải của đạo Phật hay không? Để trả lời những câu hỏi thắc mắc trên đây của quý vị, tức là kể lại sự tu hành của chúng tôi và chính là giải được mối nghi trong tâm của quý vị.

Kính thưa quý vị Phật tử! Từ lâu quý vị đã hướng về Phật pháp, từng đi chùa lễ Phật, tụng kinh, bái sám; từng đi nghe thuyết giảng các kinh sách; từng để tâm nghiên cứu học hỏi giáo pháp của Đức Phật với một lòng chân thành. Nhưng quý vị rất đau lòng và còn nghi ngờ Phật pháp vì mắt quý vị đã thấy, tai quý vị đã nghe các bậc chân tu mà quý vị từng gặp trong cuộc đời của mình. Các vị ấy là bậc Thầy của quý vị, đã hướng dẫn quý vị biết Phật pháp, biết tu học Phật pháp, từng chỉ dạy quý vị tu tập: niệm Phật, niệm chú, tụng kinh, ăn chay, làm các điều lành và còn dạy quý vị tu tập thiền quán, xả tâm, tham thiền nhập định…​​ Mỗi vị đều đem hết kiến thức, khả năng tu học của mình chỉ dạy cho quý vị để quý vị đạt được sự giải thoát. Nhưng khi ra đi, các vị ấy lại không giải thoát, phải chịu đau khổ trên giường bệnh, nhức nhối khổ sở trong các cơn đau, mệt ngất người trong khi thở chẳng ra hơi, hay lẫn lộn quên trước, quên sau khi tuổi già yếu.

Suốt cuộc đời quý vị Phật tử đã chứng kiến biết bao nhiêu cảnh trạng đau lòng của Thầy mình, thì làm sao quý vị không nghi ngờ Phật pháp được? Ngược lại, những gì quý vị đã học được trong kinh sử thì các Tổ, các Thiền sư tu như thế nào mà khi chết được tự tại, hay đây chỉ là những huyền thoại để bịp người sau chăng?

2- GIỚI, ĐỊNH, TUỆ

(05:46) Kính thưa quý vị Phật tử! Bây giờ chúng ta dừng chỗ này lại và trở lại vấn đề chánh của buổi nói chuyện hôm nay. Rồi sau này chúng tôi sẽ trả lời những điều thắc mắc của quý vị qua bài pháp này.

Để trả lời câu hỏi thứ nhất, chúng tôi xin lặp lại câu hỏi: “Pháp môn tu hành của chúng tôi là pháp môn nào?”

Kính thưa quý vị Phật tử! Chúng tôi tu hành theo pháp môn GIỚI – ĐỊNH – TUỆ của Đức Phật. Trước khi chưa tu còn là một tăng sinh đang học Phật pháp, chúng tôi đã từng học qua những lời di chúc của Đức Phật. Lời di chúc là lời dạy sau cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết Bàn. Lời di chúc thứ nhất, Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, các ông hãy lấy Giới Luật của ta mà làm Thầy, làm chỗ nương tựa để tu hành vững chắc khi ta nhập Niết Bàn”.

Lời dạy này chúng tôi ghi khắc mãi trong tâm và không bao giờ quên ông Thầy của chúng tôi là Giới Luật, là chỗ nương tựa vững chắc tu hành của chúng tôi.

Lời di chúc thứ hai, Phật dạy: “Giới Luật còn là Phật còn tại thế, Giới Luật mất là Phật mất”.

Lời dạy này, hình ảnh Giới Luật là hình ảnh của Đức Phật, nên chúng tôi quyết tâm nghiêm khắc mình trong Giới Luật, không để vi phạm một lỗi nhỏ. Chúng tôi lấy đó làm giai đoạn tu hành thứ nhất của chúng tôi.

Lời di chúc thứ ba, không lời, trước khi nhập vào Niết bàn, Đức Phật nhập từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền, nhập xuôi nhập ngược đến ba lần rồi mới chịu nhập Niết Bàn.

Kính thưa quý vị! Ở đây ý Phật muốn nhắc nhở người sau phải gắng công tu tập thiền định này, đừng bao giờ tu tập thiền nào khác. Vì trong cuộc sống của chúng ta, trong thời Đức Phật cũng vậy và thời hiện giờ cũng vậy, biết bao nhiêu thứ thiền mà chẳng có thiền nào đưa chúng ta đến giải thoát được thân tâm và chấm dứt tái sanh luân hồi. Cho nên Phật chỉ định, có thứ thiền này mới làm chủ được sanh tử, tự tại bỏ báo thân, chấm dứt được tái sanh luân hồi mà thôi. Vậy xin quý vị Phật tử hãy lưu ý chỗ này.

Khi nhập xuôi nhập ngược ba lần xong thì thì Đức Phật nhập Tứ Thiền xả bỏ báo thân nhập Niết Bàn. Thể theo lời di chúc này, chúng tôi thực hiện tu tập ngày đêm không biết mỏi mệt, dù khi đau ốm quyết không bỏ giờ tu. Suốt ba năm trời trong thất chịu từng đắng cay gian khổ để chiến đấu với tập khí thói quen, tật xấu, với nghiệp lực quá nặng nề, với tâm tham ái, dục vọng dẫy đầy. Nhiều khi chúng tôi tưởng chừng như không thắng nổi, nhưng với sức bền lòng, ý chí kiên cường, gan dạ, lòng dũng cảm quyết liệt, chúng tôi đã chiến thắng được thân tâm của mình và chứng nghiệm được sự giải thoát của đạo Phật.

3- MỤC ĐÍCH GIẢI THOÁT

(10:23) Để trả lời câu hỏi thứ hai, kính thưa quý vị, chúng tôi xin nhắc lại câu hỏi: “Sự tu hành của chúng tôi có kết quả hay không?”

Kính thưa quý vị! Giới luật là một pháp môn tu để giải thoát được đời sống con người. Chúng tôi đã chứng nghiệm được điều này rất thực tế và cụ thể.

Ví dụ, trước kia chúng tôi ăn ngày ba bữa, bây giờ ăn ngày một bữa, không ăn uống lặt vặt gì hết, thân thì rất khỏe mạnh, ít hay bệnh tật, suốt ngày không lo ăn uống gì cả, ít vọng tưởng, ít ngủ. Đó là chúng tôi đã giải thoát được 2 bữa ăn và đầu óc ít nghĩ bậy bạ, tâm không ham muốn và không ham ngủ. Sự giải thoát chân thật cụ thể này, quý vị không thể nào phủ nhận được. Cũng từ trong sự tu giới luật này, chúng tôi đã được giải thoát nhiều điều trong đời sống hàng ngày. Nhưng thì giờ có hạn không cho phép chúng tôi kể dông dài cho quý vị.

Thiền định của đạo Phật từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền là những pháp môn giải thoát tự tại sanh tử, làm chủ đời sống thân của chúng tôi bằng cách chứng nghiệm cũng rất cụ thể.

Ví dụ, chúng tôi nhập Tứ Thiền suốt một tuần lễ, nửa tháng hoặc một tháng, không ăn uống gì hết, không đi đại tiểu tiện, không có mệt nhọc, không có đau khổ và cũng không chết. Xuất định, chúng tôi cảm thấy nhẹ nhàng, an lạc. Đó là một bằng chứng rất cụ thể.

Sự tu hành của chúng tôi đã có giới luật, có thiền định nên chúng tôi phải có sự tỉnh giác cao độ. Vì thế chúng tôi phải có sự hiểu biết vô lậu. Sự hiểu biết vô lậu là trí tuệ của chúng tôi. Đến đây chúng tôi đã có đủ GIỚI – ĐỊNH – TUỆ, theo con đường tu tập của chúng tôi mà Đức Phật đã vạch ra chỉ dạy.

(13:21) Để trả lời câu hỏi thứ ba, kính thưa quý vị, chúng tôi xin lặp lại câu hỏi: “Kết quả ấy có lợi ích thiết thực, giải thoát cho đời người hay không?”

Sau ba năm nhập thất, không phải chỉ riêng có một mình tôi, mà còn có những người đang nhập thất với chúng tôi, ngoài ra còn có những người cư sĩ đang sống tại gia đình, cũng như cô Út, người phục vụ cơm nước nhà bếp ở đây và cháu Đào ở Phước Hải. Họ được nghe băng của chúng tôi, tự nghiêm khắc mình trong giới luật bằng ba hạnh: “Ăn, ngủ và độc cư”. Họ cũng đã chứng nghiệm được sự giải thoát, và đang chủ động diệt Tầm Tứ trong hơi thở tuỳ, để chuẩn bị sự nhập định phá thọ làm chủ thân tâm. Hiện giờ, chúng tôi chưa cho phép họ nhập định vì họ còn phải học xong và sống đúng giới luật, đức hạnh giải thoát của đạo Phật.

Tại sao? Vì giới luật, đức hạnh là pháp môn đầu tiên của đạo Phật, là bước đường đầu tiên đi vào con đường của đạo Phật. Tóm lại, chúng tôi đã có những người chứng nghiệm được sự giải thoát chân thật. Dù bấy giờ đứng trước cuộc sống như thế nào, nghèo đói, bệnh tật, tử vong, chúng tôi chẳng hề nao núng. Chúng tôi không còn bị mọi chướng ngại hoặc bị cám dỗ bằng mọi hình thức nào và chẳng còn biết sợ hãi mọi điều gì. Chúng tôi đã biết rõ ràng.

4- PHẠM HẠNH

(15:32) Để trả lời câu hỏi thứ tư, kính thưa quý vị, chúng tôi xin lặp lại câu hỏi: “Sự giải thoát đó có phải của đạo Phật hay không?”

Xin thưa quý vị, quý vị hãy vui lòng đọc lại các kinh điển của đạo Phật rồi nghiệm xem đời sống của Đức Phật và đời sống của chúng tôi. Đời sống của Đức Phật:

1- Ăn ngày một bữa không ăn uống lặt vặt.

2- Ngủ ít.

3- Không có của cải tài sản ngọc ngà châu báu tiền bạc, và cũng không có chùa to xinh đẹp.

4- Chết dưới gốc cây.

Phần đời sống thứ nhất rất cụ thể, hiện giờ chúng tôi cũng sống như vậy: ngày một bữa không ăn uống lặt vặt, nhà ở bằng cây tầm vông, vách bằng liếp đan và còn tiếp tục đủ duyên chúng tôi sẽ sống trong hang núi và cũng chết dưới gốc cây như Phật. Đó là lối sống của Phật và lối sống của chúng tôi đều giống nhau. Quý vị không thể nào phủ nhận, bảo rằng chúng tôi tu sai pháp Phật được.

Phần làm chủ thân thứ hai cũng rất cụ thể. Đức Phật tuyên bố trước mọi người: “Ba tháng nữa Ta sẽ nhập Niết Bàn”. Điều này Đức Phật đã giữ đúng lời hứa. Chúng tôi đã nhập được Tứ Thiền, phá được thọ, cho nên chúng tôi cũng làm được những điều này khi chúng tôi dứt bỏ báo thân.

(17:44) Kính thưa quý vị! Chúng tôi có làm khác Đức Phật hay không? Ở đây quý vị không thể nào viện một lý do gì bảo rằng chúng tôi tu sai pháp Phật được. Đức Phật đã làm được những gì thì chúng tôi cũng làm được như vậy. Tuy rằng chúng tôi không giảng Kinh, thuyết pháp như các thầy khác nhưng chúng tôi thân giáo bằng hành động Thân, Khẩu, Ý; bằng sự sống của chúng tôi để hướng dẫn người qua kinh nghiệm bản thân của mình hơn là ngôn ngữ. Vì sự hướng dẫn này, theo chúng tôi nghĩ (là) thực tế và cụ thể hơn trên đường tu theo đạo Phật. Chúng tôi tu hành như vậy, không còn sợ sai trái với đạo Phật và không còn sợ bị mọi ảnh hưởng của các tôn giáo khác đang đồng hóa đạo Phật.

Kính thưa quý vị Phật tử! Khi nghe chúng tôi nói đến đây thì quý vị nên nghỉ xả hơi một chút để rồi suy ngẫm những gì chúng tôi đã nói ra, đúng hay là sai. Xin quý vị Phật tử nghiệm xem.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

5- GIỚI LUẬT LÀ MỘT VỊ THẦY ĐƯỢC ĐỨC PHẬT DI CHÚC

(19:34) Bây giờ chúng ta tiếp tục lại câu chuyện. Sau khi được trả lời những câu hỏi mà bấy lâu nay quý vị đã từng ôm ấp trong lòng, hằng mong chờ đợi đến ngày ra thất của chúng tôi. Nay quý vị đã được giải bày thông suốt, nhưng chúng tôi biết chắc quý vị còn một điều muốn thưa hỏi, đó là: Con đường thiền Đông Độ mà Thầy chúng tôi đã ra công triển khai và chấn hưng suốt 24 năm nay, một quá trình thời gian rất dài, nhìn lại trong đó có nhiều sự việc mà quý vị phải có một mối nghi trong tâm nhưng còn e ngại chưa dám hỏi chúng tôi. Chúng tôi hứa sẽ giải nghi cho quý vị nếu có đủ thì giờ, bằng không thì chúng ta phải chờ một dịp khác. Bây giờ chúng tôi xin trở lại vấn đề.

(21:02) Kính thưa quý vị Phật tử! Nãy giờ quý vị đã suy ngẫm những gì chúng tôi đã nói, chúng tôi tin chắc rằng quý vị đã biết ai là Thầy của quý vị, người đó sẽ đưa dắt quý vị trên đường tu theo đạo Phật mà không hề sợ lạc lối. Chúng tôi xin hỏi quý vị một lần nữa: “Thầy của quý vị là ai?”. Quý vị cứ thử trả lời xem.

Kính thưa quý vị! Nãy giờ quý vị không trả lời là vì quý vị còn dè dặt, để chúng tôi sẽ trả lời thay cho quý vị.

Xin thưa quý vị! Thầy của quý vị không phải là chúng tôi. Chúng tôi là những con người bằng xương, bằng thịt cũng giống như quý vị, chúng tôi cũng không được Đức Phật chỉ định làm người thừa kế dẫn dắt quý vị trên đường tu theo đạo Phật. Cho nên quý vị đừng nương tựa theo chúng tôi tu hành. Nương tựa theo chúng tôi tu hành có nhiều điều bất lợi và khó khăn cho quý vị:

1- Chúng tôi không phải là người thừa kế của đạo Phật, vì thế chúng tôi không đủ niềm tin đối với quý vị. Khi quý vị bị một người nói xấu chúng tôi, cho chúng tôi tu hành sai, không đúng đạo Phật; thì chừng đó quý vị còn có đủ niềm tin đối với chúng tôi chăng?

2- Thời điểm hiện giờ Phật giáo suy thoái. Người tu sĩ Phật giáo đắm danh ham lợi, lòng ganh tị nhỏ nhen, ích kỷ hẹp hòi và tinh thần tị hiềm cao độ.

3- Pháp môn tu hành của đạo Phật hiện giờ lẫn lộn nhiều pháp môn của ngoại đạo, khó phân biệt tà chánh.

4- Các bậc Tôn túc đi trước tu hành sai, người sau không dám sửa đổi, Thầy Tổ buồn phiền. Thầy chúng tôi – hoà thượng Thích Thanh Từ tu thiền, hòa thượng Thiện Hoa không vui.

5- Lòng người còn tham danh đắm lợi, ham mê sắc dục, không muốn xa lìa năm thứ dục lạc thế gian.

6- Đời người còn lạc hậu, nặng lòng mê tín, thường cầu khẩn bái lạy, tụng kinh niệm chú, lấy đạo Phật làm chỗ nương tựa tinh thần, không tự cứu mình.

7- Ham mê thần thông, bùa chú linh hiển, tin chuyện quá khứ vị lai.

8- Lòng người hiện giờ thiếu thành thật, thường dối Thầy, dối Tổ, dối mình, dối người.

9- Ham danh học thức cao, đậu cấp bằng này, cấp bằng nọ.

10- Những bậc chân tu không xu hướng chính trị bên này hoặc bên kia đều bị chèn ép, cô lập.

Do 10 điều trên đây, quý vị không nên theo chúng tôi tu hành vì rất khó khăn cho quý vị và cho chúng tôi. Vả lại, quý vị theo chúng tôi tu hành đông đảo, chắc chắn sẽ để lại một trang sử Phật giáo không tốt đẹp. Xưa, Huệ Khả bị giết, Lục Tổ Huệ Năng bị hành thích, gần đây Tổ Sư Minh Đăng Quang bị bắt cóc mất tích, ông Đạo nằm Nguyễn Văn Thế bị bắn chết tại chùa.

Kính thưa quý vị Phật tử! Người Thầy của quý vị chính Giới Luật. Giới Luật là người thừa kế của Đức Phật và đã được Đức Phật chỉ định trước giờ nhập Niết Bàn. Chính chúng tôi tu học cũng từ ông thầy Giới Luật mà có được như ngày hôm nay.

Vậy quý vị hãy trở về với ông thầy Giới Luật của quý vị đi, đừng đi tìm đâu xa, đừng nương tựa vào ai hết. Dù bất cứ ông thầy nào, họ là những con mọt kinh sách, chẳng có một thứ kinh nghiệm gì trên đường tu tập. Họ chỉ nói bằng miệng họ mà cuộc sống tu hành chẳng có ra gì. Họ đâu biết rằng kinh sách hôm nay là do “tam sao thất bổn”, nghĩa là ba lần sao chép làm kinh mất gốc.

6- TĂNG, NI XEM NHẸ GIỚI LUẬT

(27:35) Kính thưa quý vị! Vả lại còn do tưởng giải của người sau thêm bớt quá nhiều theo kiến thức hiểu biết của họ, rồi cho rằng đúng, do đó họ đã làm lệch lạc con đường tu hành của đạo Phật ở đời sau. Họ chẳng dám tu giới luật, lúc nào cũng tìm cách tránh né, viện cớ này cớ kia, hoặc chạy theo con đường tu phá giới, phá oai nghi tế hạnh, đạo đức của đạo Phật.

Tóm lại, chỉ vì chẳng nương ông thầy Giới Luật nên tình trạng Phật giáo mới ra nông nỗi này. Họ dám bẻ cổng Giới Luật, biến Phật giáo thành Thần giáo, ông Phật thành ông Thần. Hiện giờ chùa là nơi để Phật tử cúng bái, cầu siêu, cầu an, cầu tài, cầu lợi, xin xăm bói quẻ, cúng sao giải hạn, coi ngày tốt xấu, dựng vợ gả chồng, v.v… ​Vì thế, chùa là nơi mê tín dị đoan. Họ dám bẻ cổng Giới Luật, biến chùa thành nghĩa địa nhà mồ vì tư lợi nhỏ mọn cá nhân để Phật tử tới lui cúng bái, giỗ chạp, làm tuần, làm tự, cúng vong, tiễn linh… lúc nào cũng ồn náo biến thành nơi phục vụ mê tín cho những người Phật tử còn lạc hậu.

(29:39) Họ dám bẻ cổng Giới Luật, biến chùa thành khu du lịch để làm nơi ăn chơi của Phật tử, của khách tham quan du ngoạn. Bắt Tăng, Ni phục vụ cơm nước để được lòng, được sự cúng dường.

Họ dám bẻ cổng Giới Luật, biến chùa thành chỗ tổ hợp buôn bán làm tương, làm chao, làm đủ mọi thứ nghề nghiệp, biến Tu sĩ thành công nhân sản xuất gia dụng…​​ Còn đâu những thì giờ để tu hành, thật là phí uổng một đời người.

Họ dám bẻ cổng Giới Luật, biến chùa thành cửa hàng ăn uống, bắt Ni chúng phục vụ chạy bàn, đi bán bánh theo bến xe, còn gì thể thống đạo đức của người tu. Họ chỉ biết có tiền, có lợi mà không thấy việc làm của họ đúng hay sai.

Họ dám bẻ cổng Giới Luật, biến chùa thành nông trại, tu sĩ thành nông dân để có miếng cơm manh áo hằng ngày không đúng cách người tu sĩ.

Họ dám bẻ cổng Giới Luật, biến nhà chùa thanh tịnh tu hành thành cơ quan làm việc từ thiện xã hội. Nay kêu đoàn Phật tử này quyên góp tiền bạc và gia vật gia dụng đi cứu tế chỗ này, mai kêu đoàn Phật tử khác quyên góp tiền bạc và gia vật gia dụng đi cứu tế chỗ kia. Họ đâu biết rằng bổn phận của họ là phải giải quyết sanh tử trước mắt thì Phật giáo mới còn, chứ đâu phải làm việc này.

Họ dám bẻ cổng Giới Luật, biến chùa thành Tuệ tĩnh đường, trạm y tế, bệnh viện, bệnh xá, trường học; biến tu sĩ thành thầy thuốc, bác sĩ, y sĩ, dược sĩ, y tá, và giáo viên,…​​ khiến nơi tu hành mất hết vẻ tôn nghiêm thanh tịnh.

Họ dám bẻ cổng Giới Luật, chuyên lo đào đất xây dựng chùa to tháp lớn, biến Tăng Ni trở thành lao công quanh năm suốt tháng lao động quần quật, còn sức đâu mà tu hành.

Họ dám bẻ cổng Giới Luật, đi quyên góp tiền Phật tử xây chùa to tháp lớn như đền đài, lầu các của các vua chúa và tạo cây cảnh vườn tược đẹp đẽ để quyến rũ Phật tử và khách tham quan. Những việc làm này ngược lại đạo giải thoát của Phật, không đúng cách.

Họ dám bẻ cổng Giới Luật, đi khất thực không đúng oai nghi tế hạnh, xin tiền, xin đô-la, làm những việc tồi bại như bọn ăn mày.

Những điều mà quý vị đã làm ở trên đều phạm vào Giới Luật của Đức Phật, vì danh, vì lợi, vì sang đẹp mà quý vị đã bắt chước các tôn giáo khác và người thế tục. Việc làm này không phải của người tu sĩ Phật giáo. Nếu trong kinh sách của Phật có dạy làm những điều này là do những người sau chịu ảnh hưởng của các tôn giáo khác mà thêm vào.

Kính thưa quý vị Phật tử! Những điều quý vị đã làm mà chúng tôi đã nói ở trên không phải là những điều làm sai. Chỉ sai đối với đạo Phật, nhưng đúng đối với các tôn giáo khác, cho nên chúng tôi bảo Phật giáo bị ảnh hưởng của các tôn giáo khác.

Phật giáo chủ trương đường lối tu tập buông xả. Mục đích của đạo Phật là giải quyết mọi cá nhân ra khỏi sự đau khổ – sanh, lão, bệnh, tử – của cuộc đời người. Cá nhân được thoát khổ thì xã hội mới được an vui. Cá nhân còn đau khổ thì dù quý vị có giải quyết xã hội bằng cách từ thiện nào thì xã hội vẫn đau khổ và còn hơn thế nữa. Tuy rằng trước mắt tạm thời quý vị an ủi họ một chút mà thôi, vì bản chất dục vọng, tham lam ham muốn, ganh tị hơn thua, gian dối xảo trá, trộm cướp giết người của con người ngàn đời không bao giờ từ bỏ được. Do nguyên nhân này mà con người bóc lột lẫn nhau bằng mọi thủ đoạn mánh khóe gian xảo. Ngoài mặt làm ra vẻ thương yêu bác ái, nhưng bên trong toàn là gươm đao, súng đạn. Giai cấp bị bóc lột đứng lên đấu tranh để bảo tồn quyền lợi sống của mình, do đó thế giới mới có chiến tranh liên miên không nước này thì cũng nước khác.

(35:37) Vì thế, đạo Phật nhắm vào giải quyết cá nhân; giải quyết cá nhân là giải quyết xã hội. Cá nhân tốt thì xã hội mới tốt, cá nhân xấu thì xã hội xấu. Cá nhân hay tập thể làm từ thiện mà trong đó còn có tâm cầu danh từ thiện thì không phải làm từ thiện.

Kính thưa quý vị Phật tử! Quý vị việc làm việc từ thiện xã hội mà cá nhân và gia đình quý vị toàn là đau khổ, không thiện chút nào.

Kính thưa quý vị Phật tử! Những điều chúng tôi đã nói ở trên… Tăng, Ni là những người từng học Giới Luật của Phật, họ biết rất rõ những điều ngăn cấm này. Nhưng có điều hiện giờ, sự tu hành của họ không có chất lượng giải thoát. Họ chỉ học lý thuyết suông nên họ phải chuyển qua làm những việc này, không còn cách nào khác để tiêu thụ được món nợ đàn na thí chủ.

Giới Luật của Phật còn đó, là bậc Thầy của quý vị, thường ngăn cấm quý vị làm những điều sai, cớ sao quý vị không nương tựa vào ông Thầy của mình, để sửa những điều sai, mà lại còn nương tựa vào những bậc vạn năng, vào những đấng sáng tạo, và vào những đấng, những Thần, Thánh, Tiên để cho Phật giáo bây giờ mới ra nông nỗi này.

Nếu quý vị tu hành đúng Giới Luật, nghiêm khắc mình trong Giới Luật thì đó chính là con đường của đạo Phật, con đường giải thoát thật sự. Hình ảnh và hành động giới luật đức hạnh giải thoát của quý vị là quý vị đã chấn hưng Phật pháp, chứ đâu phải cất chùa to tháp lớn. Hình ảnh và hành động giới luật đức hạnh giải thoát của quý vị là quý vị làm sáng tỏ Phật pháp, chứ đâu phải cần có Tăng Ni cho nhiều mà giới luật chẳng ra gì. Hình ảnh và hành động giới luật đức hạnh giải thoát của quý vị là quý vị đã xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn một ngàn lần quý vị làm công tác từ thiện xã hội.

Kính thưa quý vị! Đến đây chúng tôi xin quý vị nghỉ xả hơi một chút để suy ngẫm lại những lời chúng tôi đã nói.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

7- VẤN ĐÁP VỀ LINH HỒN VÀ LUÂN HỒI TRONG ĐẠO PHẬT

(38:52)Phật tử: “Trong khi nghỉ xả hơi, chúng con xin phép cho chúng con được hỏi thầy”.

Trưởng lão: Được, quý vị cứ hỏi.

Phật tử: “Kính bạch Thầy, theo lời dạy của Thầy thì không có cầu siêu, cầu an, cúng vong, tiễn linh. Vậy người chết có linh hồn hay không? Nếu không có linh hồn sao lại có tái sinh luân hồi. Xin Thầy trả lời cho chúng con hai câu hỏi này”.

Trưởng lão: Để trả lời câu hỏi thứ nhất của quý Phật tử: “Người chết có linh hồn hay không?”

Kính thưa quý vị Phật tử! Hiện giờ chúng tôi không đủ niềm tin đối với quý vị, vậy Đức Phật sẽ đủ niềm tin với quý vị trả lời thay chúng tôi.

Trong kinh phật có dạy: Ví dụ như một ngọn đèn với ánh sáng, khi mà ngọn đèn tắt, ánh sáng có còn không? Quý vị cứ trả lời xem, khi mà đèn tắt thì ánh sáng đâu còn, cho nên chúng ta chết đi, thì thân này đã hoại diệt, đã tắt thở thì tâm của chúng ta cũng chẳng còn. Đức Phật lại còn cho một ví dụ khác nữa, ví dụ như một cái cây to thì phải có cái bóng mát của nó. Khi chặt đốn cái cây đi thì bóng mát của cây kia không còn nữa. Quý vị thấy Đức Phật ví dụ rất rõ ràng và cụ thể để chứng minh cho chúng ta, con người của chúng ta không có linh hồn, mà quý vị đã lầm tưởng và đã hiểu Phật giáo qua một góc độ của các tôn giáo khác.

Để trả lời câu hỏi thứ hai: “Nếu không có linh hồn làm sao có tái sanh luân hồi?”.

Kính thưa quý vị! Người ta không bảo linh hồn luân hồi, tâm luân hồi, tánh luân hồi, thần thức luân hồi mà chỉ nói nhân quả luân hồi. Trong kinh sách của đạo Phật cũng dạy nhân quả luân hồi. Nhân quả luân hồi nghĩa là như thế nào? Nghĩa là sự luân hồi đó do hành động thiện ác của quý vị, chứ không phải linh hồn đi luân hồi. Đến đây quý vị chắc có lẽ đã hiểu rồi chứ gì? Ở đây quý vị phải nên hiểu ở đạo Phật, đừng nên hiểu ở tôn giáo khác.

Phật tử: “Kính bạch thầy, cho phép chúng con được hỏi thêm”.

Trưởng lão: Quý vị cứ tự nhiên hỏi.

Phật tử: “Theo lời Phật và Thầy đã chỉ dạy thì không có linh hồn, vậy sao chúng con thường hay thấy ma, đồng cốt nhập là gì? Gần đây có một số kinh sách nói về thế giới siêu hình, nói về sự tu hành có những ma quỷ, gặp ma quỷ, vậy có hay không?”

Trưởng lão: Kính thưa Phật tử! Ma ở đây là trong tâm của quý vị lưu xuất chứ không phải có hồn ma bên ngoài. Đứng trên góc độ của đạo Phật không bị ảnh hưởng của các tôn giáo khác thì thế giới siêu hình của đạo Phật là thế giới tâm chủ quan của quý vị lưu xuất. Đồng cốt nhập tự xưng ông này bà kia cậu nọ, v.v…​ cũng đều do chính tâm của họ lưu xuất. Và kinh sách nói về thế giới siêu hình cũng vậy.

Kính thưa quý vị Phật tử! Quý vị là đệ tử của Phật mà tâm hồn của quý vị chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của các tôn giáo khác, nên mới có xây dựng linh hồn đi đầu thai và có ma quỷ. Tóm lại, đạo Phật không có linh hồn luân hồi, chỉ có nhân quả luân hồi mà thôi. Các tôn giáo khác có linh hồn luân hồi nên phải có thế giới siêu hình khách quan bên ngoài.

(43:55) Kính thưa quý vị Phật tử! Quý vị là đệ tử của Phật, không nên hiểu Phật giáo qua ống kính tôn giáo khác, để rồi tự quý vị đánh mất sự tự chủ của mình, để rồi mãi mãi muôn đời không thoát ra khỏi mọi sự đau khổ của cuộc đời. Vì thế mà hiện giờ quý vị phải chịu suốt cuộc đời tha lực, cầu khẩn, van xin, bái lạy, cúng tế…​

Phải nói rằng thế giới siêu hình mà quý vị đã xây dựng để biến quý vị trở thành những con người lạc hậu, mê tín dị đoan. đạo Phật là đạo tự cứu lấy mình, không nhờ ai hết, không cầu khẩn van xin ai hết, tự thoát ra khỏi sinh tử luân hồi và đau khổ do chính hành động tự mình vươn lên, tự mình biết sửa lỗi mình, tự mình biết khắc phục tâm mình. Vì thế cầu an, cầu siêu, cúng vong, tiễn linh, cúng sao, giải hạn, v.v… đều không phải là của Phật giáo.

Bây giờ trả lời xong với quý vị, những câu hỏi mà quý vị đã nêu lên.

8- XẢ BỎ DANH LỢI

(45:38) Kính thưa quý vị! Chúng ta nên trở lại vấn đề. Sau khi được nghe chúng tôi kể chuyện về sự tu hành và chỉ định ông Thầy của quý vị. Do sự cẩn thận suy xét chúng tôi tin chắc rằng quý vị sẽ hướng về chúng tôi. Nhưng thưa quý vị, chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo, chúng tôi đâu có chùa, đâu có chỗ ăn, chỗ ở cho quý vị, chúng tôi là những người ăn xin, ở trọ của người khác. Khi nghe chúng tôi nói đến đây, quý vị rất lấy làm ngạc nhiên phải không? Tuy quý vị chưa dám nói ra, nhưng tự nghi vấn trong lòng mình: Tu Viện Chơn Như trước mắt đây mà Thầy nói rằng Thầy không có chùa, bảo sao chúng tôi tin được? Xin thưa với quý vị Phật tử, từ khu đất chùa này được rộng rãi này đến những ngôi nhà chư Tăng, Ni ở, cùng trai đường, nhà bếp, điện thờ Phật, Thiền đường, Tổ đường, phòng vệ sinh, phòng tắm, hồ nước và tất cả tài sản trong chùa đều của các cư sĩ như: Cô Út Diệu Quang ở đây, vợ chồng Chơn Tâm, Tâm Như, Tâm Giác, Như Trì, Như Lý, vợ chồng Minh Tâm, Diệu Tâm, Diệu Mỹ, ông Mười, Diệu Hương, vợ chồng Thiện Hiển, Ngộ Ngọc và Cháu Phùng…

Còn những cái ăn cái mặc hàng ngày cũng đều do các cư sĩ này và nhiều cư sĩ khác nữa. Từng thùng gạo, từng ổ bánh mì, từng chai nước tương, hạt muối, đường, sữa, trái cây, xà bông, bột ngọt, vải xồ, và thuốc thang trị bệnh, v.v…​ Cho nên chúng tôi đâu có gì để nuôi quý vị. Xưa đức Thế Tôn không có nuôi một vị Tỳ kheo nào hết. Các vị muốn tu theo đạo Phật thì phải tự đi xin mà ăn. Chúng tôi bây giờ cũng vậy. Là người xin ăn ở trọ, chúng tôi đâu dám làm phiền những vị cư sĩ này, vì kinh tế gia đình của họ có mức độ.

Kính thưa quý vị! Chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo, không bao giờ dám mở miệng xin tiền cất chùa hoặc xin tiền làm những việc gì khác vì Đức Phật và Giới Luật không có dạy chúng tôi làm điều đó. Nếu quý vị Phật tử có nghĩ đến chúng tôi là những kẻ tu hành chơn chánh thì cúng dường (cho) chúng tôi được no lòng và y áo được lành lặn. Còn không cúng dường thì chúng tôi chịu đói lòng và y áo rách nát. Dù sống trong cảnh như vậy, chúng tôi cũng chẳng hề mở miệng than thở, xin xỏ cùng ai. Còn ngược lại, quý vị cúng dường mà không có tâm thành thì chúng tôi thà chịu đói chứ không thọ dụng. Cúng dường những vật dụng không đúng cách, chúng tôi cũng chẳng dùng.

Chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo nghiêm khắc mình trong Giới Luật, không thể dùng những lời hoa mỹ đẹp đẽ, giả dối đạo đức để gạt người, làm danh, làm lợi cho mình. Chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo không dám dùng những điều mê tín dị đoan, bùa linh chú giỏi, nói chuyện quá khứ vị lai, coi bói, xem tướng, coi sao giải hạn để gạt người, làm tiền bằng cách vô lương tâm.

Chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo không thể tổ chức hành hương đi chỗ này chỗ kia hoặc đi mười chùa, hai mươi chùa để khéo léo móc túi tiền Phật tử ham vui, thích đi.

(50:48) Kính thưa quý vị Phật tử! Vì thế chúng tôi không có chùa, không có cơm để nuôi quý vị ăn, không có áo để ban cho quý vị mặc. Chúng tôi là những người giải thoát hoàn toàn, không có gì cả ngoài cái bát sành bằng đất để ăn cơm hàng ngày và vài bộ y áo để mặc kín thân. Nếu quý vị muốn tu theo chúng tôi thì chỉ khi nào có những vị cư sĩ tự phát tâm cúng dường, chứ quý vị không được kêu gọi họ. Chỗ ăn chỗ ở thì quý vị thỉnh mời chúng tôi về đó, chúng tôi sẽ cho người hướng dẫn quý vị tu hành. Khi quý vị tu xong, chúng tôi liền rời nơi đó và ẩn mình trong hang đá gốc cây.

Chúng tôi là những người đã buông xả hết, vì thế chúng tôi được tự tại giải thoát, không còn vướng bận việc trần ai và chuyện Phật pháp nữa. Đủ duyên chúng tôi hướng dẫn quý vị, thiếu duyên chúng tôi ẩn trong non trong núi, quý vị khó mà tìm. Sau ngày ra thất quý vị có về Chơn Như cũng khó mà tìm gặp chúng tôi.

Kính thưa quý vị Phật tử! Quý vị muốn tu theo chúng tôi, nếu quý vị là Tăng và Ni thì quý vị hãy đến tu viện Huệ Quang và chùa Ẩn Quang xin gặp thầy Minh Cảnh và thầy Minh Hành. Hai người này đã nhận di chúc của Hòa Thượng Huệ Hưng, xây dựng tu viện chuyên tu cho Tăng và Ni. Quý vị hãy về đó đòi hỏi hai Thầy này phải thực hiện lời di chúc để tăng ni có chỗ tu tập Giới Đức và Thiền Định. Nếu hai thầy này đứng ra làm công việc cho quý vị thì quý vị phải góp tay, góp sức, góp công, góp của với hai thầy này để công việc được sớm viên mãn, thì nơi tu hành quý vị mới được yên ổn, Nhà nước và Giáo hội sẽ giúp đỡ hai vị này. Khi công việc hoàn thành quý vị sẽ đến thỉnh chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng cho người về đó hướng dẫn quý vị tu hành, bằng không thì chúng tôi ẩn bóng.

(53:22) Kính thưa quý vị!

Nếu quý vị muốn học kinh thì quý vị đến Hoà thượng Minh Châu ở Thiền Viện Vạn Hạnh, thành phố HCM.

Nếu quý vị muốn tu Thiền Đông Độ thì quý vị hãy đến Hoà Thượng Thanh Từ ở Thiền Viện Trúc Lâm, Đà Lạt.

Nếu quý vị muốn tu Tịnh Độ thì quý vị hãy đến Hoà Thượng Trí Tịnh ở chùa Vạn Đức, Thủ Đức.

Nếu quý vị muốn tu Mật Tông thì hãy đến Hòa Thượng Tịch Chiếu ở Bình Dương.

Nếu quý vị muốn tu Thiền Đốn Ngộ thì hãy đến Hòa Thượng Bửu Thắng ở Gò Công.

Nếu quý vị muốn tu Thiền Công Án thì quý vị hãy đến Hòa Thượng Duy Luật ở chùa Từ Ân, Chợ Lớn thành phố HCM.

Tất cả những vị này sẽ chỉ dạy cho quý vị đúng với sở nguyện của mình.

Kính thưa quý vị Phật tử! Tại sao Tu Viện Chơn Như không đề là Thiền Viện Chơn Như? Chúng tôi ở đây tu theo ba Pháp môn: Giới, Định, Tuệ nên không thể nào đề “Thiền viện” được vì thế chúng tôi dùng chữ “Tu viện” mới đúng nghĩa của ba Pháp môn này. Ngày xưa Đức Phật không tự xưng mình là Thiền sư mà chỉ xưng mình là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

Xin thưa quý vị! Một sự vô ý hay hữu ý mà người ta xu hướng chạy theo phong trào Thiền Tông rầm rộ, rồi tự đặt tên chùa là Thiền viện này Thiền viện khác để thu hút lòng hiếu tu thiền của Phật tử. Chúng tôi tu theo đạo Phật, không bị mọi xu hướng thời đại và không chạy theo mọi phong trào của quần chúng. Chúng tôi luôn luôn tự xét mình làm cái gì đúng, làm cái gì sai để không lầm lỗi, để không bị đồng hoá, ảnh hưởng mọi phong tục tập quán của con người. Vì vậy tên Tu Viện Chơn Như vẫn đứng vững vàng, không bị ảnh hưởng Thầy Tổ. Tuy chùa xây bằng tầm vông vách bằng liếp đan, nhưng mãi mãi muôn đời chắc chắn người ta còn ghi nhớ không quên.

9- CHÚNG TÔI KHÔNG PHẢI PHẬT, BỒ TÁT, A LA HÁN

(56:10) Kính thưa quý vị Phật tử! Hôm nay đã được nghe chúng tôi kể lại sự tu hành, xin quý vị đừng nghĩ rằng chúng tôi là Phật, là Bồ Tát, là A La Hán.

Chúng tôi tu hành chẳng có chứng đắc gì cả. Chỉ hằng ngày tu tập làm chủ thân tâm của mình. Lâu ngày chúng tôi làm chủ được nó nên không thể nào gọi là Phật, là Bồ Tát, là A La Hán, vì chúng tôi cũng tự thấy mình bằng xương, bằng thịt, cũng ăn uống như quý vị vậy, cũng cười nói, vui vẻ như quý vị. Vì thế chúng tôi chẳng phải Phật, Bồ Tát, A La Hán.

Nhờ tu tập làm chủ thân tâm, chúng tôi trở thành những con người biết cách làm chủ mình nên tâm không buông lung phóng dật, thân không hành động thô ác, miệng không nói lời hung dữ gian dối, xảo trá, ý không khởi niệm xằng bậy.

Chúng tôi cũng chẳng phải là thánh đức, hiền nhân, siêu nhân.

Chúng tôi là con người tầm thường như bao nhiêu người khác, nhưng có điều chúng tôi biết chắc rằng chúng tôi không bao giờ làm khổ mình, khổ người và cũng biết chắc rằng chúng tôi chẳng có thần thông phép tắc gì cả.

Chúng tôi không thể kêu mây, hóa lửa, làm gió.

Chúng tôi cũng chẳng biết chuyện quá khứ vị lai của ai hết.

Chúng tôi chỉ biết đủ và không cầu mong gì hết, cho nên quý vị đừng đảnh lễ chúng tôi.

Chúng tôi không phải Thầy của quý vị, không phải là Đức Phật, cũng không phải vị Tổ Sư, và cũng không phải Bồ Tát, A La Hán nữa.

Chúng tôi cũng rất bình đẳng như quý vị. Chúng tôi là bạn lành của quý vị.

Chúng tôi xin nhắc lại một lần nữa, lưu ý quý vị, chúng tôi là bạn lành của quý vị.

Vậy từ đây về sau quý vị đừng đảnh lễ chúng tôi. Nếu quý vị đảnh lễ chúng tôi là tự quý vị đã làm cách xa chúng tôi với quý vị. Quý vị đã biến chúng tôi thành ông Phật, ông Thánh, ông Vua để quý vị lạy chứ không phải để quý vị theo chúng tôi tu hành qua kinh nghiệm của chúng tôi.

đạo Phật không có giai cấp, thế mà quý vị biến chúng tôi thành giai cấp bề trên để cho quý vị không bao giờ dám mở miệng khuyên ngăn khi chúng tôi làm những điều sai với đạo Phật.

Nhiều khi quý vị còn a dua với chúng tôi để bây giờ quý vị chứng kiến sự tệ hại của Phật giáo đến tận cùng.

Kính thưa với quý vị! Chúng tôi xin quý vị mỗi lần gặp nhau, đều chắp tay lên xá nhau là đủ lắm rồi. Vì đôi bàn tay của quý vị chắp lại tượng trưng là búp sen. Sen là một loài thảo mộc mọc dưới nước bùn nhơ hôi thối, thế mà hoa sen vươn lên không hôi thối mùi bùn, còn toả hương thơm ngát. Cũng giống như chúng ta vậy, sống trong cõi đời đầy ô trược mà luôn luôn lúc nào cũng giữ thân tâm trong sạch như hoa sen kia. Vậy chúng ta chắp tay lại là tượng trưng cho hoa sen, nghĩa là nói lên được lòng trong sạch thanh khiết của chúng ta kính cẩn chân thành chào nhau, thì trên đời này không có gì quý bằng.

Kính thưa quý vị! Quý vị đừng hồi sinh lại thời phong kiến, các bậc tôn túc của chúng ta đã bị ảnh hưởng vua chúa quá nặng, nên từ cách thức sống của các ngài đều tỏa mùi phong kiến, khiến cho nhân phẩm của con người mất đi và tình cảm của chúng ta cách xa vì giai cấp quân thần.

Thưa quý vị Phật tử! Những gì chúng ta làm, chúng ta phải có ý thức đầy đủ, đừng để phong tục tập quán của con người đồng hóa Phật giáo mà người ta coi rẻ và khinh thường đạo Phật.

Đến đây chúng tôi xin tạm dừng nghỉ một chút để xả hơi.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

10- TỔNG HỢP CÁC PHÁP THEO KIẾN GIẢI

(1:01:50) Kính thưa quý vị Phật tử! Bây giờ chúng ta dừng câu chuyện tại đây để trả lời bức thư của một người Phật tử gửi đến hỏi chúng tôi cách thức tu hành của vị này có đúng hay không. Chúng tôi xin trả lời và xin mời người chủ của bức thơ chú ý nghe.

Trong thư Phật tử đã nêu năm Pháp môn:

1- Quán tâm theo kiểu Đại thừa

2- Mật Tông thần chú

3- Tịnh Độ

4- Giới Luật

5- Hơi thở

Phật tử đã tổng hợp 5 pháp môn này làm một pháp môn để tu hành. Tuy nhiên trước mắt Phật tử cảm thấy có một lợi nhỏ, tu sâu về sau không nhập được các chánh định của Phật, phần nhiều nhập vào định tưởng. Cách thức tu tập của Phật tử đã trình trong thơ, chúng tôi nghiệm xét thấy:

1- Quán tâm chẳng ra quán tâm

2- Mật Tông chẳng ra Mật Tông

3- Tịnh Độ chẳng ra Tịnh Độ

4- Giới Luật chẳng ra Giới Luật

5- Hơi thở chẳng ra hơi thở

Trong thư Phật tử còn cho chúng tôi biết kết quả ưu điểm của sự tu tập này:

“1- Lúc nào con cũng cảm thấy thấy tâm con vui an lạc, tối nằm xuống là ngủ liền, không trằn trọc, không chiêm bao mộng mị, không cảm thấy nhớ nhung gia đình, lòng dạ rỗng rang vô tư lự như trẻ con.

2- Trạng thái thiền định của con cũng tốt, không bao giờ bị tán loạn hôn trầm. Con định tâm cũng dễ, đôi khi hơi thở và câu niệm Phật của con chỉ còn mong manh, nhỏ nhuyễn như một sợi chỉ. Con chìm đắm trong một trạng thái tĩnh lặng rất là dễ chịu, nhưng con vẫn tỉnh chứ không mê. Lúc đó con hoàn toàn không còn một chút dụng công nào. Con cứ để mặc cho hơi thở ra vào một cách tự nhiên và nó tự nhẹ lần, nhẹ lần, chứ con không tác ý.”

Chúng tôi xin trả lời gọn và dễ hiểu để không mất thì giờ.

Kính thưa quý vị Phật tử! Theo lối tu tập của vị Phật tử này, không có kinh nghiệm chuyên môn, chỉ chạy theo an lạc do xúc tưởng hỷ lạc sinh ra. Lối tu này là của Phật giáo cổ truyền trong các chùa Tịnh Độ thuộc Phật giáo cổ Sơn Môn, Lục Hòa Tăng theo nghi thức tụng niệm của họ.

Xin thưa quý Phật tử, người Phật tử này đang đi tìm dục lạc mới hay đi tìm thế giới siêu hình trong các pháp môn. Chúng tôi xin nhắc lại một lần nữa, người Phật tử này đang đi tìm dục lạc mới hay đi tìm thần thông phép lạ trong thế giới siêu hình ở trong các pháp môn tu hành, không phải là người tìm tu giải thoát của đạo Phật. Đây cũng là một thứ bệnh tu hành thời đại, cầu mong tìm hỷ lạc, dễ chịu, trốn khổ của cuộc đời, hay đi tìm những thứ cao siêu vượt bậc hơn con người.

Kính thưa quý vị Phật tử, trong những ngày nhập thất chúng tôi đã được biết có một số Tăng Ni và Phật tử đều thuộc giới có học thức, thế mà lại mê tín tu theo pháp môn của ngoại đạo. Những pháp môn này mạo danh là pháp môn của đạo Phật. Họ thường sống ẩn dật trong núi non tu tập bùa chú, thiền định xuất hồn, thiền định luyện tinh khí thần, thiền định luân xa, thiền định điển linh vô vi tạo những điều linh hiển kỳ lạ, biến thế giới tâm tưởng thành thế giới siêu hình đầy dẫy linh hồn người chết, ma quái quỷ thần, Thánh, Tiên, Phật, Trời, v.v…​

Đối với những người Phật tử, họ thường phô trương tiên đoán chuyện quá khứ vị lai của mọi người, thường làm thuốc, hoặc bùa chú, hoặc chuyển điển linh luân xa để trị bệnh một cách linh diệu khiến cho mọi người mê tín lại càng thêm mê tín hơn. Họ nói chuyện toàn khoe khoang sự xuất hồn đi chu du trong các cõi Tiên, cõi Phật và làm những điều thần thông quái lạ khiến cho mọi người say mê thích thú và phục lăn họ, xem họ như Phật sống, như Thần, Thánh, Tiên đang sống tại thế vậy.

Đó là những hành động dối gạt, bịp người, làm những điều sai trái phạm Giới Luật của đạo Phật. Xưa Đức Phật thường cấm các đệ tử không được thị hiện thần thông, không được làm những điều kỳ lạ. Những tu sĩ này đã biến Phật giáo thành một tôn giáo mê tín dị đoan, xa lìa mục đích tu hành giải thoát chân chánh của đạo Phật, khiến cho hàng Phật tử hoang mang chẳng biết Phật pháp như thế nào, giống như người đứng trước ngã ba đường.

Hình ảnh Tế Công Phật sống và Phật sống Cựu Kim Sơn, đó là những tu sĩ ma quái mượn danh nghĩa Phật pháp thị hiện thần thông trị bệnh làm những điều mê tín, dị đoan, “Cứu thế độ dân”. Đó là những hành động phá hoại giới luật đức hạnh giải thoát và những oai nghi tế hạnh của đạo Phật. Xưa Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, Các Thầy hãy giữ gìn Giới Luật của ta thì hàng Phật tử kính mộ các Thầy, thường quỳ xuống trải tóc dài trên đường cho quý Thầy đi”.

Vậy mà hiện giờ mọi người vẫn còn tin đó là “Phật sống” và còn phổ biến bằng kinh sách ca ngợi những hạng người này. Họ đâu biết rằng sự sống chết, sự đau khổ bệnh tật của con người là do nhân quả, không thể có một “Tế Công Phật sống” mà cứu họ được, dù một ngàn “Tế Công Phật sống” cũng chẳng cứu họ được.

(01:10:14) Kính thưa quý vị Phật tử! đạo Phật là đạo làm chủ thân tâm, chứ không phải đạo đi tìm an lạc và tiêu cực với cuộc sống, hoặc đi tìm thần thông phép lạ. Hầu hết quý Phật tử đến chùa tu, tập tu theo đạo Phật là đi tìm dục lạc mới trong tôn giáo hoặc đi tìm sự an ủi tinh thần trong kinh điển vì cuộc sống ở thế gian quá khổ sở, quá cay nghiệt, quá phiền toái, hoặc đi tìm thế giới siêu hình để thoả mãn lòng mơ tưởng của mình.

Cũng vì thế vô tình quý Phật tử đã dùng tiền bạc sai quý Thầy phục vụ tinh thần đời sống mê tín của quý vị. Quý vị cúng dường bố thí trai tăng là luôn luôn lúc nào cũng đòi hỏi quý Thầy phải thuyết pháp giảng kinh hoặc cúng bái, cầu siêu, cầu an, coi bói, xem tướng, v.v…​​ chứ không bao giờ quý vị đến cúng dường cho Chư Tăng với một tấm lòng cầu mong quý Thầy giữ gìn giới luật thanh tịnh để Tam Bảo được trường tồn. Quý vị đến chùa là đến với sự trao đổi, chứ không phải đến với tâm niệm giữ gìn Phật pháp.

Còn riêng quý Thầy, chư Tăng, chư Ni cũng vì vật chất tiền bạc tình cảm cuộc sống, nên quý Thầy, quý Cô đã để Phật giáo bị đồng hóa theo phong tục tập quán của con người. Từ đó quý Thầy, quý Cô sản xuất ra những loại kinh sách cúng bái, kệ hát, giọng cao, giọng thấp để cúng vong, tiễn linh theo tiếng trống, tiếng kèn, tiếng mõ, tiếng nhạc dập dình du dương áo não để ru lòng người đam mê say thích, làm những điều mê tín phá giới luật của Phật.

Rồi cũng từ đó, quý Thầy sản xuất ra những loại kinh sách để an ủi người Phật tử khi đau ốm bệnh tật, khi sân hận thù oán, khi phiền não tái tê, khi ganh tỵ hơn thua và khi tử biệt phân ly. Những kinh sách này không phải để tu hành làm chủ thân tâm giải thoát sanh tử, mà chỉ để làm dịu bớt cơn đau, cơn buồn khổ. Nhờ đó mà quý Thầy, quý Cô mới tiêu thụ được món nợ trai tăng cúng dường của quý Phật tử.

Phải nói vì vật chất tiền bạc tình cảm và cuộc sống, quý Thầy, quý Cô đã trở thành những người phục dịch cho quý Phật tử, từ cái ăn cho đến cái đi chơi và sự cũng bái của quý Phật tử, quý Thầy và quý Cô đều phải lo toan hết. Do đó quý Thầy, quý Cô phải thức thâu đêm dịch kinh viết sách cho quý Phật tử đọc. Quý Thầy, quý Cô phải nặng đầu bóp trán suy nghĩ tìm mọi cách tạo ra cây cảnh đẹp đẽ để cho Phật tử du ngoạn thưởng thức. Như vậy còn thì giờ đâu mà quý Thầy, quý Cô tu hành? Tu không phải là một việc dễ làm, phải thường hằng tập sửa những sự sai lầm của chính mình, phải thường hằng gìn giữ Giới Luật nghiêm túc cho nên không thể một sớm một chiều mà thành tựu được. Vì thế quý Thầy đã trở thành những công nhân viên chức của quý Phật tử mà không hề hay biết.

Kinh sách Phật được bày bán la liệt, không còn có vẻ tôn nghiêm ngoài hè phố, ngoài lề đường và cũng vì thế mà người tu theo Phật giáo thời nay rất là hời hợt. Đó là những điều làm sai của thời đại Phật giáo ngày nay. Quý Thầy, quý Cô đã quên hết, chỉ còn biết làm danh làm lợi trên những đống kinh sách này. Đem hết cuộc đời và công sức của mình, bỏ hết thì giờ quý báu, thay vì để tu tập giải thoát khỏi ra cảnh đời đầy ô trược thì quý Thầy, quý Cô lại chôn mình trong bùn lầy danh lợi hôi tanh, làm mất giá trị Pháp Bảo của Phật.

Quý Thầy, quý Cô hãy nghiêm khắc mình trong Giới Luật, thực hiện thiền định sâu màu là quý Thầy, quý Cô đã phổ biến Pháp Bảo quý báu của Phật đến tận hang cùng ngõ hẻm của con người, chứ không phải việc in kinh viết kinh sách bày bán khắp chợ là phổ biến Pháp Bảo. Đó là quý Thầy, quý Cô đã ném Pháp Bảo xuống bùn nhơ hôi thối.

11- CHÙA LÀ NƠI TU HÀNH

(01:17:00) Kính thưa quý vị! Khi nghe chúng tôi nói đến đây quý vị hãy suy ngẫm lại, đừng vội lên án chúng tôi là hồ đồ. Kính thưa quý vị Phật tử! Kinh sách bày bán la liệt mà người tu bây giờ chẳng ra làm sao. Ngay chính bản thân của quý vị tu hành thì quý vị cũng tự biết lấy rất rõ ràng. Kinh sách Phật là để cho người tu tập giải thoát, chứ không phải để an ủi người đời. Bởi vậy, Phật giáo ngày nay không có người tu chứng là vậy.

Nếu muốn tu giải thoát thì quý vị phải đến chùa tu hành hẳn hòi, chứ không phải đi lang thang chùa này đến chùa khác để nghe thuyết pháp chơi. Vả lại chùa không phải là chỗ để quý vị đi chơi, ngắm cảnh giải trí an ủi tinh thần. Nếu quý vị muốn tu thì phải nghiêm chỉnh thực hành đúng lời dạy của Phật và nghiêm khắc mình trong kỷ luật của nhà chùa, chứ không phải dùng tiền bạc bố thí cúng dường trai tăng, rồi muốn sai sử quý Thầy, quý Cô bằng cách nào cũng được. Từ lâu quý vị đã dùng tiền bạc của mình để an ủi tinh thần của mình mà biến Phật giáo thành Thần giáo, ông Phật thành ông Thần, quý Thầy thành nhân viên chức của quý vị.

Một lần nữa chúng tôi xin nhắc lại, chùa là nơi để cho người tu hành giải thoát chứ không phải chỗ để quý vị nghỉ mát, nghỉ hè, làm việc mê tín, dị đoan. Chùa là nơi thanh tịnh, nghiêm trang để cho Tăng, Ni và cư sĩ tu tập giải thoát khỏi sự khổ đau của cuộc đời và chấm dứt tái sanh luân hồi, chứ không phải trường học, bệnh viện, trạm y tế, tuệ tĩnh đường, phòng từ thiện xã hội, khu du lịch, v.v…​

Kính thưa quý vị Phật tử! Quý vị đi đến chùa cốt là để học những lời vàng ngọc của Phật, để tu tập giải thoát thân tâm, để được ra khỏi cảnh đời đầy ô trược, chứ không phải đi đến chùa để đi tìm cái ăn của chùa, để đi tìm cái được mạnh giỏi của Phật, để được đi tìm cái phù hộ, cái gia bị của Đức Phật. Điều đó là những điều mê tín, điều đó là những điều làm sai, không đúng của đạo Phật.

(01:20:36) Khi đi đến chùa, quý vị đừng làm bận tâm những người tu hành ở đây vì cái ăn cái ngủ của quý vị.

Khi đi đến chùa, quý vị phải sẵn sàng, đừng để người tu hành phục vụ cho quý vị mà quý vị mất phước.

Khi đi đến chùa, quý vị đừng ăn mặc hở hang bày da bày thịt, hoặc ăn mặc quần áo màu sắc rực rỡ bông hoa đủ loại, đủ kiểu lòe loẹt.

Khi đi đến chùa, quý vị đừng thoa son đánh phấn, làm dáng làm đẹp như đi dự dạ hội, tiệc tùng đám hỏi, đám cưới, lễ tết nguyên đán, v.v…​​

Khi đi đến chùa, quý vị đừng cười nói ồn náo mà phải nghiêm chỉnh, thanh tịnh, đi đứng có trật tự, giữ mình có nết hạnh.

Khi đi đến chùa, đừng ỷ mình giàu sang, có xe hơi, xe gắn máy chạy đậu sát thềm chùa. Đó là tư cách thiếu đạo đức, quý vị cần phải sửa lại.

Khi đi đến chùa, quý vị phải dừng xe ở ngoài cổng hoặc chỗ đậu xe, cởi bỏ giày dép, dắt xe, đi chân trần vào chùa và hết lòng cầu pháp thì may ra quý vị mới hưởng được pháp vị của Đức Phật.

Khi đi đến chùa, quý vị đừng biến chùa thành cái chợ. Xưa vua A Xà Thế đến thăm Đức Phật phải bỏ xe ngoài đầu rừng rồi đi bộ đến gặp Phật.

Khi đi đến chùa, đừng ỷ có tiền là có tất cả, chỉ cần quăng tiền ra là có đủ loại kinh sách và còn được ưu tiên nghe thuyết giảng các bài kinh của Phật. Quý vị có biết đâu đó là những bài pháp đầu môi chót lưỡi, chính người thuyết pháp đó cũng chưa thực hành được. Những bài pháp này thường đem bán rẻ mạt ở các chợ. Những pháp này quý vị có tu ngàn đời cũng chẳng ra gì. Pháp không cầu mà được là pháp giả, pháp không cầu mà bày bán khắp nơi là pháp chẳng có giá trị. Pháp ấy tu hành chẳng diệt được gì cả, pháp ấy là pháp danh, pháp lợi, chứ không phải chân pháp của đạo Phật.

(01:23:50) Kính thưa quý vị Phật tử! Khi đi đến chùa Tăng, quý vị là nữ cư sĩ hay là Ni cô thì quý vị phải đi từ hai người trở lên, không nên đi một mình vào Tu viện nam. Ngược lại là người cư sĩ nam cũng như chư Tăng, khi đến chùa Ni hay tịnh thất của cư sĩ nữ thì phải đi hai người trở lên chứ không thể đi một người vào chỗ đó được. Khi vào chỗ tu hành quý vị không nên đi xông pha, mà phải theo người hướng dẫn và đi không được nói chuyện, nhẹ nhàng để giữ sự thanh tịnh cho những người tu hành tại đó.

Khi cần gặp người quen thì nhờ người tiếp khách gọi hộ chứ không được quyền tự động đi đến chỗ người thân ở trong tu viện. Người thân đang tu hành tại tu viện, cũng không được đưa dắt bạn bè thân thuộc đi tham quan làm động chúng tu hành. Đó là một điều làm sai, xin quý vị lưu ý.

Một cư sĩ nữ hay một Ni cô khi đi đến chùa tăng mà tự do đi lại, thì phải biết đó là người thiếu đức hạnh, cần phải sửa lại. Ngược lại, một cư sĩ nam hoặc một tu sĩ nam cũng vậy, không được ngang nhiên đi vào nơi tu hành của những người tu sĩ nữ.

Vậy xin lưu ý quý vị khi đến nơi tu hành thì quý vị phải cẩn trọng, không thể xem thường chỗ tu hành như chỗ du lịch, tham quan, như chỗ ăn chơi, hẹn hò. Một việc làm vô ý tứ, vô trách nhiệm, là một tai hại cho mình, cho người. Ở trên đời người ta vẫn xem thường những hạng người thiếu tác phong đạo đức này. Ở trong nhà chúng ta sống như thế nào cũng được, nhưng chúng ta phải biết đó là những người thiếu đạo đức nhân cách. Ngược lại ra ngoài phải tuỳ nơi, tuỳ chỗ thì quý vị mới xứng đáng là đệ tử của Phật, đầy đủ tác phong đạo đức giải thoát của Đức Phật.

(01:26:51) Tám năm trời chúng tôi mở Tu Viện Chơn Như, chẳng tìm thấy một người cầu pháp chân thật, toàn là thứ ăn hại của đàn na thí chủ, phá hoại Phật pháp, làm những điều tồi tệ phá Giới Luật, cống cao ngã mạn, hiêu hiêu tự đắc coi mình là bậc thầy tổ của thiên hạ. Xét lại, họ chỉ toàn là những con mọt kinh sách. Tăng, Ni và Phật tử đối với Phật pháp còn biết bao nhiêu điều sai trái, nhưng không đủ thì giờ cho phép chúng tôi nêu ra đây hết được. Khi nào đủ duyên Diệu Quang mở khóa tu “Đạo đức giải thoát” thì chúng tôi sẽ giảng dạy cho quý vị.

Kính thưa quý vị Phật tử! Chúng tôi biết rằng lời thật mích lòng, nhưng chúng tôi phải nói. Nói vì sự tồn vong của Phật giáo, dù biết rằng chúng tôi đã nói… không có chùa để ở, không có y áo để mặc, không có cơm để ăn thì chúng tôi vẫn phải nói. Nói để cảnh tỉnh Tăng Ni và quý vị, nói để quý vị sửa sai, nói để quý vị không bị đọa địa ngục, và nói để cho quý vị hiểu Phật pháp đúng cách, không có hiểu như thế này nữa.

Kính thưa quý vị Phật tử! Ở đây quý vị phải hiểu chúng tôi không có ý chỉ trích phê phán ai hết. Ai muốn tu pháp môn nào cũng được. Chúng tôi chỉ biết nêu lên những ý này để quý vị đừng hiểu sai đạo Phật, đừng lầm đường lạc lối tu hành của đạo Phật, và biết rõ mục đích của đạo Phật để không phí uổng thì giờ quý báu của quý vị.

Kính thưa quý vị! Chúng ta tu hành theo đạo Phật mà không tu hành pháp môn của Đức Phật, lại tu theo pháp môn của các tôn giáo khác mà cứ tự nhận mình tu theo đạo Phật. Sự lầm lạc này khiến cho Phật giáo không có người tu chứng, không có người giải thoát thật sự. Hiện giờ được xem như Phật giáo đã mất gốc chỉ còn cành lá mà thôi. Vì thế chúng tôi phải gióng lên tiếng chuông để cảnh tỉnh quý vị, để nhắc nhở quý vị. Còn nghe hay không là quyền của quý vị, chúng tôi chẳng có ý gì khác hơn. Tu đúng tu sai là quý vị nhờ, chứ chúng tôi chẳng có ích lợi gì trong đó cả. Chúng tôi kính mong quý vị tỉnh ngộ quay về với con đường tu hành chân chính của đạo Phật để có sự ích lợi thiết thực cụ thể hơn. Những điều quý vị đã tu hành và những việc làm của quý vị đều tốt đều thiện. Nhưng tốt và thiện đối với Tôn giáo khác, còn đối với Phật giáo thì quý vị đã lầm lạc. Bởi quý vị đã không tu Giới Luật mà còn phá Giới Luật, làm những điều sai trái phạm Giới Luật của đạo Phật, trong khi Giới Luật là ông Thầy của quý vị mà quý vị đã từ bỏ không chịu tu theo. Chúng tôi chẳng biết nói với quý vị thế nào nữa cho đúng. Nếu đi tu mà không nghe lời dạy, không nương tựa vào ông Thầy của mình thì quý vị sống với ai, tu tập cái gì?

Nếu chúng tôi tu giới luật, thiền định, trí tuệ của Đức Phật mà chẳng có kết quả như ngày hôm nay thì chúng tôi cũng chẳng nói lên những điều này. Vì có kết quả quá rõ ràng cho nên chúng tôi cho nổ lên tiếng sấm sét để quý vị tỉnh cơn mơ mộng trong các kinh sách thời nay, trong các pháp tu thời nay.

Kính thưa quý vị Phật tử! Quý vị hãy cùng với chúng tôi sửa sai những điều mà quý vị đã không biết làm sai từ lâu. Hãy chấm dứt, đừng vì lợi ích, ích kỷ, nhỏ mọn, ích kỷ cá nhân của quý vị mà đưa Phật giáo lạc đường. Vì thế bây giờ quý vị đi tìm khắp nơi trên thế giới làm sao có một bậc chân tu giải thoát như Đức Phật. Trong khi Phật giáo hiện giờ có hàng vạn triệu người theo tu hành, từ Đông sang Tây mà không có một bậc tu chứng. Vì sao? Vì hiểu sai Phật pháp nên tu sai, do đó phá hoại Phật pháp mà tưởng là bồi đắp, xây dựng, chấn hưng Phật pháp. Đến đây chúng tôi xin tạm dừng nghỉ, ăn cơm, buổi chiều lúc 1h chúng ta sẽ tiếp tục lại câu chuyện.

Bây giờ quý vị chắp tay lên cùng chúng tôi hướng về Đức Phật, cúi đầu chào nhau tạm biệt.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

HẾT BĂNG 1

PHẬT MÔN BẢO HUẤN (TRỞ VỀ ĐẠO PHẬT) – PHẦN 2

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Năm: 1994

Thời lượng: [01:32:02]

 

1- THẦY CHÚNG TÔI

Mời quý Phật tử ngồi xuống hết. Trước khi chúng ta tiếp tục câu chuyện, xin quý vị Phật tử cùng chúng tôi niệm hồng danh đức Phật ba lần.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Niệm Phật xong xin quý vị Phật tử chắp tay lên hướng mặt về tượng Phật chào nhau buổi chiều.

Bây giờ là 1h, chúng ta phải tranh thủ thời gian để quý vị còn trở về nhà cho sớm.

Kính thưa quý vị Phật tử! Như chúng tôi đã hứa hồi sáng, nếu còn thì giờ chúng tôi sẽ giải nghi cho quý vị về con đường tu Thiền Đông Độ. Chúng tôi biết rằng khi nói đến Thiền Đông Độ là chạm đến Thầy chúng tôi. Nhưng chúng tôi tin rằng, Thầy chúng tôi không phải là người tầm thường. Thầy chúng tôi luôn luôn sáng suốt và thường để tâm theo dõi chúng tôi, sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi trên đường tu tập cũng để như khai thác những kinh nghiệm gì mà chúng tôi đã gặt hái được kết quả lợi ích thiết thực và cụ thể giải thoát của đạo Phật, để lấy đó phục hồi chấn hưng làm sáng tỏ Thiền Tông Việt Nam.

(02:45) Kính thưa quý vị Phật tử! Cách đây 14 năm khi chúng tôi tu hành có được kết quả, về trình lại cho Thầy và có ý xin Thầy cho phép chúng tôi nhập diệt, bỏ báo thân này. Thầy chúng tôi không bằng lòng và khuyên bảo chúng tôi ở lại giúp Thầy chấn hưng Thiền Tông Việt Nam. Chúng tôi nhận lời và ở lại giúp Thầy. Cho nên suốt 14 năm nay dù gặp bao nhiêu cay đắng phũ phàng và chịu nhiều gian khổ, chúng tôi cũng chẳng sờn lòng. Dù cho vật đổi sao dời, sông kia có thể cạn, núi kia có thể mòn, nhưng lòng dạ chúng tôi chẳng bao giờ thay đổi, nguyện đem đời tu hành của mình làm viên đá để Thầy chúng tôi xây dựng tòa nhà Phật giáo Thiền Tông Việt Nam như ước vọng của Thầy.

Chúng tôi biết rằng Thầy chúng tôi không bao giờ cố chấp, chịu khô cằn trong giáo điều Thiền Đông Độ và cũng không bao giờ chịu chết cứng trong giáo điều Thiền Trúc Lâm. Vì Thầy chúng tôi đã từng nói với chúng tôi: “Thầy trò hiểu nhau là hơn hết”. Mặc dù Thầy chúng tôi có nói với quý vị, chúng tôi tu là Thiền ngoại đạo, bị ngũ ấm ma, và còn nói với quý vị chúng tôi chẳng hiểu Phật Pháp; hoặc nói chúng tôi tu theo Tiểu Thừa tiêu nha, bại chủng; hoặc nói chúng tôi khai trừ Thầy… Những lời nói này quý vị không thể hiểu được Thầy chúng tôi đâu. Quý vị nên nhớ, nhờ có Thầy chúng tôi mà quý vị mới biết được chúng tôi ngày nay. Một lát nữa chúng tôi sẽ giải thích cho quý vị nghe.

(05:40) Thầy chúng tôi đã tận tụy hy sinh cả đời mình vì Phật pháp. Tìm thấy cái gì hay trong kinh sách vội đem ra kêu chúng tôi về cho tu tập. Cho nên cuộc đời của Thầy chúng tôi nguyện đem hết sức mình lo cho Tăng, Ni và Phật tử quá nhiều, luôn luôn lúc nào Thầy của chúng tôi cũng chịu cực khổ lo giảng kinh, dạy đạo và còn dịch viết kinh sách Thiền để cho quý vị không lầm đường tu hành. Bởi vậy, chúng tôi tin Thầy chúng tôi hơn ai hết. Thầy chúng tôi nói điều gì về chúng tôi là nhắc nhở chúng tôi tránh những điều sai lầm. Như nói chúng tôi tu lạc thiền ngoại đạo là nhắc nhở chúng tôi kiểm tra lại đường lối tu hành của mình. Nói chúng tôi không hiểu kinh điển là bảo chúng tôi ôn cố lại kinh điển. Nói chúng tôi bị ngũ ấm ma là bảo chúng tôi ý tứ từng lời nói và việc làm. Nói chúng tôi tiêu nha, bại chủng là bảo chúng tôi tận lực tu hành để trợ giúp Thầy chấn hưng Phật pháp, làm Bồ Tát hạnh. Nói chúng tôi khai trừ Thầy là bảo chúng tôi gắn bó cùng Thầy để Thầy trò cùng nhau làm lợi ích chúng sanh.

(07:35) Kính thưa quý vị Phật tử! Những lời dạy bảo này là vì nguyên nhân Phật pháp hôm nay đã bị pha trộn đủ loại pháp môn tu hành. Người tu hành thường rơi vào ngũ ấm ma mà không hề hay biết, nên Thầy chúng tôi ngăn ngừa cảnh giác, nói thẳng về sự tu hành của chúng tôi để chúng tôi coi chừng lầm lạc.

Kính thưa quý vị Phật tử! Những lời nói này là những lời khuyên vàng ngọc của Thầy đối với chúng tôi. Những lời nói này làm cho chúng tôi luôn luôn vẫn thấy Thầy ở một bên mình, dìu dắt chúng tôi từng bước đi không để cho chúng tôi bị ngã té trên đường tu tập. Lòng thương yêu của Thầy chúng tôi không thể lấy trời biển núi non mà sánh được.

Kính thưa quý vị Phật tử! Tâm nguyện lớn lao hy sinh cả cuộc đời mình cho Phật pháp, nên Thầy chúng tôi thường dạy bảo: “Một người tu chứng là Phật pháp thường còn”. Vì thế, ngày nay đã biết bao nhiêu người thấm nhuần công đức của Thầy chúng tôi. Vì có hiểu Thầy như vậy nên chúng tôi không ngần ngại nói lên những điều mà chúng tôi đã thấy biết được để giúp Thầy chấn hưng Phật pháp và để giúp quý vị tu hành không hoài công phí cuộc đời.

2- SO SÁNH CÁC LOẠI THIỀN

(10:04) Kính thưa quý vị Phật tử! Con đường tu theo đạo Phật hiện giờ có muôn vạn nẻo, nếu chọn sai pháp môn tu hành thì uổng phí một đời không có kết quả. Theo sử, 33 vị Tổ Sư Thiền Ấn Độ và Trung Hoa thì con đường thiền này do từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ dạy. Qua câu chuyện niêm phong trên núi Linh Thứu, Ngài Ca Diếp mỉm cười thì chắc quý vị ai cũng biết rõ. Chúng tôi chẳng cần thuật lại làm gì cho mất thì giờ. Ca Diếp, Tổ thứ nhất bên Ấn Độ truyền xuống đến Tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma. Bồ Đề Đạt Ma truyền sang qua Trung Hoa và làm Tổ thứ nhất tại đất nước này. Người Trung Hoa đắc thiền này đầu tiên là Thần Quang, sau này gọi là Nhị Tổ Huệ Khả. Bồ Đề Đạt Ma truyền đạo thiền này cho Huệ Khả qua câu chuyện an tâm. Chúng tôi xin nhắc lại câu chuyện để quý vị thưởng thức.

“Thần Quang đến tìm Bồ Đề Đạt Ma để mong cầu pháp tu hành. Lúc bấy giờ Bồ Đề Đạt Ma đang ngồi nhìn vách đá, nên Thần Quang đứng đợi chẳng dám động. Mãi đến hôm sau tuyết phủ lấp gối, Bồ Đề Đạt Ma mới quay ra hỏi:

– Ngươi đến cầu gì mà phải vất vả khổ sở quá vậy?

Thần Quang đáp: – Con đến cầu pháp.

– Ta có pháp gì để ngươi cầu?

– Bạch Hòa Thượng, tâm con bất an.

– Ngươi lấy tâm ta an cho.

Thần Quang đứng lặng, nhìn quanh quất chẳng tìm thấy tâm đâu, liền bạch: – Bạch Hòa Thượng, tâm ở đâu, làm sao con lấy được?

– Ta đã an tâm ngươi rồi đó!

Thần Quang bèn quỳ xuống đảnh lễ Tổ, nhận pháp an tâm”.

Ngay câu nói mà liền hiểu gọi là đốn ngộ. Như vậy Thần Quang đã ngộ pháp An Tâm tức là ngộ Phật tánh, còn gọi là kiến tánh. Qua câu chuyện này quý vị có hiểu pháp An Tâm không? Để chúng tôi so sánh chỗ pháp An Tâm và kinh Nguyên Thủy thì quý vị thấy rõ ràng. Theo kinh Tứ Niệm Xứ Phật đã dạy: “vô thường, khổ, không, vô ngã”. Chỗ pháp an tâm của Bồ Đề Đạt Ma tương ưng chỗ Phật dạy tâm vốn không. Khi Thần Quang nhìn lại để tìm kiếm tâm thì tâm không thấy đâu, nhưng khi khởi niệm thì liền có tâm, không niệm thì không tâm. Vậy khi không niệm, tâm quý vị có an không? Vì không niệm thì còn chỗ nào gọi là phiền não, bồ đề; thì còn chỗ nào gọi là tham, sân, si, ái; thì còn chỗ nào gọi là đau, khổ, sanh, tử. Cho nên Bồ Đề Đạt Ma gọi là An Tâm. Vậy pháp môn An Tâm của Bồ Đề Đạt Ma có giống pháp môn “Chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, Bản Lai Diện Mục hiện tiền” của Lục tổ Huệ Năng không?

Kính thưa quý vị Phật tử, khi tâm chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, thì tâm ở trong trạng thái không niệm. Tâm ở trong trạng thái không niệm là tâm không. Tâm không là tâm không phiền não. Không phiền não là tâm an ổn. Tâm an ổn là an tâm. Như vậy bây giờ quý vị đã hiểu rõ hai pháp giống nhau, không khác nhau phải không?

(15:12) Chúng tôi xin kể lại câu chuyện “Bản Lai Diện Mục” để quý vị thưởng thức.

“Khi Huệ Minh đuổi theo Huệ Năng để giành y bát lại, Lục tổ Huệ Năng biết chạy không thoát khỏi nên bỏ y bát bên vệ đường, đứng đợi. Khi Huệ Minh đuổi kịp, Huệ Năng bình tĩnh bảo:

– Người đến đây cầu pháp hay cầu y bát? Nếu cầu y bát, thì y bát đây ngươi cứ lấy đi đi!

Huệ Minh cúi đầu đảnh lễ tác bạch: – Con đến cầu pháp, chẳng cầu y.

– Chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, cái gì là Bản Lai Diện Mục của Thượng tọa Huệ Minh?

Huệ Minh đảnh lễ Tổ, nhận lãnh pháp Bản Lai Diện Mục rồi trở về.”

Kính thưa quý vị Phật tử! Bây giờ chúng ta đem hai pháp này so sánh với kinh Đại Thừa, vì lúc nãy chúng ta đã đem so sánh với kinh Nguyên Thủy rồi. Kinh Kim Cang Bát Nhã có câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, do câu kinh này mà Lục tổ Huệ Năng đã kiến tánh. Nghĩa của câu kinh này dạy: “Đừng nên trụ chỗ nào thì tâm kia hiện tiền”.

Xin thưa với quý vị Phật tử! Tâm của chúng ta thường trụ ở ba chỗ: niệm thiện, niệm ác và không niệm. Kinh này dạy chúng ta ở chỗ không trụ, không trụ tức là không niệm, không niệm tức là tâm vốn không, tâm vốn không tức là an tâm, an tâm tức là chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, chẳng nghĩ thiện nghĩ ác tức là Bản Lai Diện Mục, Bản Lai Diện Mục tức là Phật tánh. Chỗ vô trụ này còn nhiều tên khác nhau mà chúng ta từng gặp trong các kinh sách Đại Thừa và kinh sách Thiền Đông Độ. Bây giờ quý vị đã hiểu kinh và lời của Tổ đều khế hợp nhau, nên người đời sau gọi là “Thiền Giáo đồng hành”.

(17:26) Thiền Đông Độ chia làm ba giai đoạn:

1- Giai đoạn thứ nhất gọi là giai đoạn đầu thiền.

2- Giai đoạn thứ hai gọi là giai đoạn giữa thiền.

3- Giai đoạn thứ ba gọi là giai đoạn cuối thiền.

1- Từ pháp môn An Tâm đến pháp môn Bản Lai Diện Mục là giai đoạn đầu của Thiền Đông Độ.

2- Từ số đệ tử của Lục tổ Huệ Năng đến Lâm Tế là giai đoạn giữa thiền.

3- Từ số đệ tử của Lâm Tế đến Hư Vân Hòa Thượng và La Hỏa Thiền Sư là giai đoạn cuối thiền.

Giai đoạn đầu, Thiền sư khai ngộ cho đệ tử dễ hiểu, dễ ngộ, cho nên lúc bấy giờ người theo tu rất đông, nhất là thời kỳ Lục tổ Huệ Năng, người nghe qua liền ngộ, không cần phải moi đầu nặn óc tìm kiếm. Chúng ta phải nói, thiền Đông Độ cực thịnh nhất ở thời điểm này như hoa thiền đến thời kỳ rộ nở. Khi nhận ra pháp này, Thiền Đông Độ gọi là “đốn ngộ”, ngộ xong rồi phải bảo nhậm còn gọi là “tiệm tu”, “giữ tâm” hay “chúng sanh độ Phật”. Vì vậy mà có từ ngữ “đốn ngộ rồi tiệm tu”. Tiệm tu có nghĩa là tu lần lần. Mục đích của thiền này là nhắm vào Phật tánh. Vì có ngộ được Phật tánh mới thành Phật nên gọi là “kiến tánh thành Phật”. Ngộ Phật tánh tức là nhận ra pháp môn tu hành. Nhận ra pháp môn tu hành tức là nhận ra chỗ “chẳng nghĩ thiện nghĩ ác”. Chỗ “chẳng nghĩ thiện nghĩ ác” là chỗ không có pháp môn, nên thiền này còn gọi là “chẳng có pháp môn nào”. Chỗ không có pháp môn nào biết lấy cái gì tu hành?

Do đó, Kinh Kim Cang dạy cách tu: “Bồ Tát độ chúng sanh mà không thấy mình độ, độ hết chúng sanh (là) thành Phật”.

Bát Nhã Tâm kinh dạy: “Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không”.

Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Phản văn, văn tự tánh”.

Kinh Viên Giác dạy: “Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác”.

Các tổ sư thiền dạy: “chăn trâu”, “gọi ông chủ”, “biết vọng liền buông”, “tham thoại đầu”, “tham công án”, “khởi nghi tình”, v.v…​

Thầy chúng tôi giải thích cách tu của kinh Kim Cang: “Dừng hết vọng tưởng là thành Phật”. Thiền sư Huệ Hải cũng dạy như vậy. Thiền sư Dược Sơn dạy: “Ngàn Thánh cũng chẳng làm” nghĩa là cái biết không cho mất, nhờ cái biết trong cái không niệm thiện niệm ác, lâu ngày thuần thục nên gọi là “da mỏng da dày đều rớt sạch”. Giữ tâm chẳng niệm thiện niệm ác còn gọi là “chăn trâu”. Vọng tưởng hết thì gọi là hết chăn trâu. Hết chăn trâu là thành tựu, cũng như kinh Kim Cang dạy “Độ hết chúng sanh là thành Phật”.

Kính thưa quý vị! Việc làm này không phải dễ cho nên tổ sư Hoàng Bá đã dạy:

“Thoát khỏi trần lao việc chẳng thường”

hoặc:

“Chẳng phải một phen sương lạnh buốt

Hoa mai đâu há dễ ngửi mùi hương”

Cho nên chăn trâu và độ chúng sanh mãi không hết. Thiền sư mới nghĩ ra cách “biết vọng liền buông”. Thầy chúng tôi triển khai diệu pháp này để hồi phục Thiền Đông Độ và chấn hưng Thiền Tông Việt Nam. Trong thời gian chúng tôi theo Thầy tu học tại Thiền viện Chân Không, Thầy chúng tôi dùng phép An Tâm khai ngộ chúng tôi và dạy chúng tôi cách tu “biết vọng liền buông”.

(23:51) Kính thưa quý vị! Kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ dạy cách tu quá đơn giản, nhưng kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ không ngờ khi tâm hết vọng tưởng thì tâm không bao giờ chịu đứng yên một chỗ chẳng niệm thiện niệm ác mà lại lặng xuống rơi vào trạng thái mất tiêu nên trong “Thập Mục Ngưu Đồ” tranh thứ 8 – “Người trâu đều mất”, nhưng ở trạng thái hôn trầm, thùy miên, vô ký, ngoan không đều cũng có trạng thái mất tiêu – người trâu đều mất. Ở chỗ trạng thái hôn trầm, thuỳ miên thì các Thiền sư điều biết mặt nó, do đó các Ngài lại một phen khổ sở không biết làm cách nào phá được nó. Qua những trang tự thuật của các Ngài tu hành, chúng tôi biết các Ngài không có cách phá. Cho đến vô ký, ngoan không thì trong phần tự thuật các Ngài không có kể đến. Qua kinh nghiệm bản thân của chúng tôi thì các pháp tu, từ pháp “Độ chúng sanh”, “Chăn trâu”, “Gọi ông chủ”“Biết vọng liền buông” đều không đủ lực dừng niệm thiện, niệm ác thì làm sao phá được hôn trầm, thùy miên, vô ký, ngoan không, nên các Ngài phải lấy dùi đóng vào chân, trèo lên cây ngồi thiền, lấy gốc cây tròn làm gối kê đầu. Những việc làm này chỉ là một trò đùa với hôn trầm, thùy miên, không thể hàng phục được nó.

(26:07) Kính thưa quý vị! Chúng tôi xin lưu ý quý vị ở chỗ này khi “Chăn trâu”, “Độ chúng sanh”, “Biết vọng liền buông”, các pháp này chỉ dừng được niệm thiện niệm ác thô, còn niệm thiện niệm ác vi tế thì không thể diệt được nó. Nên chúng tôi bảo rằng các pháp môn này không đủ lực. Vì thế quý vị tu hành suốt một thời gian dài 24 năm nay mà chưa hết niệm vi tế.

Khi gặp nghịch cảnh quý vị nén được tâm nhưng không nén được loạn tưởng. Do nó mà chúng tôi bảo rằng quý vị không phá được hôn trầm, thùy miên, vô ký. Khi bị hôn trầm nặng, loạn tưởng, thì các Thiền sư thường gọi “Ông chủ”. Ông chủ là pháp môn Tác ý, pháp môn Tác ý có nhiều pháp như: Gọi Ông Chủ, Sổ Tức, Niệm Phật, Đề Khởi Thoại Đầu, Đề Khởi Nghi Tình, v.v…​​

Kính thưa quý vị Phật tử! Muốn chiến thắng được loạn tưởng, hôn trầm, thùy miên thì chỉ có Giới Luật của Phật mới hàng phục được nó. Do vậy Phật mới dạy: “Giới sanh Định”. Không thể giữ tâm, ức chế tâm mà có được định. Người ta đi tìm định ngoài Giới Luật thì không bao giờ có định chân chính, chỉ có những Định Tưởng mà thôi. Định tiếng động 500 cỗ xe bò đi ngang qua của ngoại đạo, định của ông Nhan Hồi tọa vong câu thân, định của Thiền sư Dược Sơn như trồng hoa trên đá, định của tổ Hám Sơn rung chuông gọi dậy, định của một vị Thiền sư nhập 1000 năm dùng đồng loa đánh xuất định, định Không Vô Biên Xứ Tưởng, định Thức Vô Biên Xứ Tưởng, định Vô Sở Hữu Xứ Tưởng, định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đều không giải quyết được sanh, lão, bệnh, tử và cũng không chấm dứt tái sanh luân hồi, nên đức Phật đã ném bỏ như ném chiếc giày rách, chỉ có người sau không dám bỏ nên đem xếp loại trong các kinh điển của Phật.

(29:20) Những lời này chúng tôi đã nói thẳng, quý vị đừng tin chúng tôi mà cứ về suy ngẫm kỹ. Sau này còn có thì giờ, chúng tôi sẽ đem so sánh Bốn Thiền của Phật với thiền của kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ. Nếu quý vị muốn tu theo đạo Phật mà quý vị sợ tu Giới Luật thì quý vị tu cái gì? Chúng tôi xin nêu lên một ví dụ để quý vị rõ.

Bây giờ quý vị hãy nhìn cây bồ đề trước cửa chùa cành lá đang xanh tươi tốt vì hằng ngày Chư Tăng bón phân, tưới nước chăm sóc rất kỹ, lúc nào cũng không cho cỏ mọc dưới gốc cây. Bắt đầu quý vị hái lá bỏ, khi hái sạch lá quý vị tưởng không còn lá nữa, nào ngờ trong một thời gian ngắn lá bắt đầu đâm ra rất mạnh. Như vậy, biết bao giờ quý vị hái cho hết lá? Lá vì tự nơi gốc cây mà ra.

Chúng tôi tu Giới Luật đâu cần dừng vọng, giữ tâm? Chỉ giữ gìn Giới Luật đừng cho sai phạm dù một lỗi nhỏ. Giữ gìn Giới Luật đừng cho sai phạm tức là chúng tôi đã xa lìa dục lạc thế gian, cũng giống như cây kia không bón phân tưới nước nữa thì cây phải cằn cỗi trơ cành trụi lá.

Còn quý vị cố dừng tâm, giữ tâm không cho niệm thiện niệm ác khởi, mà cứ luôn chạy theo dục lạc thế gian thì cũng giống như cây kia cứ bón phân tưới nước được đầy đủ, thì làm sao quý vị hết vọng tưởng, hết hôn trầm được? Cho nên người ta thường bảo “ham ăn ham ngủ”, nghĩa là ăn nhiều phải ngủ nhiều.

Qua kinh nghiệm bản thân của chúng tôi ăn ngày một bữa, ăn vừa đủ no không ăn ráng ăn thêm, thì hôn trầm vọng tưởng chẳng dừng thì tự nó cũng dừng. Ở đây chỉ ăn một bữa, không ăn uống lặt vặt. Vậy mà có người sợ mất sức khỏe, ăn ngày một bữa mà ăn hơi nhiều hơn một chút còn bị hôn trầm, thùy miên tấn công, huống là quý vị ăn ngày hai ba bữa còn ăn uống thêm lặt vặt thì thử hỏi làm sao quý vị phá hôn trầm, thùy miên, vô ký được! Nên đức Phật đã dạy: “Ăn ít ăn vừa đủ không nên ăn ráng”.

Kính thưa quý vị! Nếu quý vị tu hành mà không dừng được vọng tưởng cũng không phá được hôn trầm, thùy miên, vô ký thì lâu ngày quý vị sẽ rơi vào các định vong thân như định của Ngài Nhan Hồi, định trong Thập Mục Ngưu Đồ, tranh số 8 – “Người trâu đều quên”. Kinh Đại Thừa không có cách xuất nhập định, nên chỉ “Dừng hết vọng tưởng là thành Phật”. Ở trạng thái này kinh Đại Thừa gọi là thường định, đại định, định không xuất không nhập. Thiền Đông Độ cũng vậy, không có định xuất nhập. Còn Thập Mục Ngưu Đồ thì có nhập vào định vong thân “Người trâu đều quên”. Theo kinh nghiệm bản thân của chúng tôi, nhìn cách thức buông vọng, dừng vọng thì biết cách thức nhập định của họ.

(35:24) Bây giờ chúng tôi so sánh hai thứ Thiền Định của Phật và Tổ để quý vị suy ngẫm. Theo thiền của đạo Phật, muốn hàng phục vọng tâm của mình để nhập Sơ Thiền thì chúng tôi cần giữ gìn Giới Luật nghiêm túc. Sống lập ba hạnh: “Ăn, ngủ và độc cư”. Do ba hạnh này chúng tôi nghiêm trì được Giới Luật, bảo vệ được sáu căn tức là bảo vệ được tâm của chúng tôi. Bảo vệ được tâm tức là không cho tâm tiếp duyên bên ngoài, nhờ đó tâm chúng tôi thanh tịnh, không còn bị loạn tưởng, hôn trầm nhiều. Chúng tôi rất tỉnh giác, thường thấy cái tâm ham muốn, tham dục của mình; nhờ thấy được nó chúng tôi ly được dục; nhờ ly được dục chúng tôi thấy cuộc sống thoải mái, không bị ràng buộc bởi dục lạc. Tâm thường lặng lẽ, rỗng rang nhưng rất sáng suốt, mọi vật không qua được ý tứ của chúng tôi, từ đó chúng tôi cảm thấy mình làm chủ được tâm trong cuộc sống hằng ngày. Chúng tôi không làm khổ mình và cũng không làm khổ người. Điều này chúng tôi hiểu rõ lời Phật dạy “ly dục sanh hỷ lạc” là đúng. Chúng tôi nhập được Sơ Thiền không có tốn công phu chút nào, chỉ cần sống đúng Giới Luật là đủ.

Kính thưa quý vị Phật tử! Chúng tôi xin lưu ý quý vị chỗ này, một người muốn nhập Sơ Thiền không phải là một việc dễ làm. Phải biết xả bỏ tâm ác, phải biết từ bỏ tánh xấu, phải biết từ bỏ bép xép nhiều chuyện, phải biết thương yêu mọi người, phải biết tha thứ mọi lỗi lầm của người khác, phải biết nhẫn nhục, phải biết tùy thuận, phải biết bằng lòng trong mọi hoàn cảnh, phải biết xa lánh sắc dục, phải biết ăn ngày một bữa, phải biết ngủ ít, phải biết sống độc cư, phải biết tu tập đức hạnh giải thoát. Tóm lại, quý vị phải xa lìa tâm danh lợi và ly tất cả dục lạc thế gian, có như vậy thì mới nhập được Sơ Thiền.

(39:13) Kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ dạy phải dụng công tu tập hết sức mới độ hết chúng sanh, mới giữ được tâm chẳng nghĩ thiện nghĩ ác. Khi độ hết chúng sanh và chẳng nghĩ thiện nghĩ ác thì mới tương ưng bằng chúng tôi tu Giới Luật nhập Sơ Thiền. Cùng một kết quả tu hành, Giới Luật thì gọi “Giới sanh Định”, Kinh Nguyên Thuỷ gọi là “ly dục sanh hỷ lạc” nhập Sơ Thiền, Kinh Đại Thừa gọi là “thành Phật”, Thiền Đông Độ gọi là “Bản Lai Diện Mục”.

Kinh Nguyên Thủy và Giới Luật được giải thoát do ly dục. Ly dục là lìa tâm ham muốn nên giải thoát được cái ăn, cái ngủ và tất cả lòng ham muốn, nên cuộc sống không còn bon chen khổ sở, phiền não, sân hận, tham lam, si mê, ganh tỵ, v.v…​​ Còn kinh Đại Thừa và Thiền Tông thì khi dừng hết vọng tưởng thì tâm được “tự tại vô ngại, đói ăn, khát uống, mệt ngủ”, thậm chí ăn ngày 4, 5 bữa cũng chẳng sao, vui chơi ca hát đàn địch thỏa thích, sát sanh hại mạng cũng không tội. Những kết quả này của hai bên, xin quý vị suy xét, chúng tôi chẳng có ý kiến gì về nó cả.

Kính thưa quý vị! Ở đây tu tập Giới Luật mới có diệt được “Tầm”, chưa diệt được “Tứ”, nên chúng tôi tiếp tục nương vào hơi thở tuỳ tức để “diệt Tứ” nhập Nhị Thiền. Đến đây chúng tôi cũng xin lưu ý nhắc quý vị, khi nào quý vị hết vọng tưởng mới tu pháp tùy tức, còn nếu vọng tưởng chưa hết mà vội tu pháp tùy tức thì quý vị tu hành hoài công vô ích; mà còn làm điểm tựa cho hôn trầm, thùy miên, vô ký tấn công chứ chẳng ích lợi gì cho con đường tu hành của quý vị; mà về sau còn tai hại rất lớn cho quý vị.

(42:33) Khi chúng tôi tu Giới Luật, ly dục diệt tầm tương ưng với tranh thứ 7 trong Thập Mục Ngưu Đồ của Thiền Tông – “Trâu quên còn người”. Chỗ này tương ưng với kinh Đại Thừa, “Độ hết chúng sanh thành Phật”. Khi chúng tôi diệt tầm tứ nhập Nhị Thiền, chỗ này tương ưng với bức tranh thứ 8 trong Thập Mục Ngưu Đồ – “Người trâu đều quên”. Chúng tôi biết rất rõ ràng diệt tầm là tâm không, diệt tứ là thân không. Xin lưu ý quý vị khi chúng tôi diệt tầm tứ thì chúng tôi không mất. Chúng tôi đang ở trong một trạng thái hỷ lạc do sức định của Nhị Thiền sinh ra. Trong Thập Mục Ngưu Đồ tranh 8 – “Người trâu đều quên” không có hỷ lạc nên mất tiêu, đó là trạng thái vong thân còn gọi là định tưởng vô sắc định. Người nhập định tưởng còn mộng mị chiêm bao như Thiền sư Hoàng Bá, Hám Sơn, Trí Khải Đại sư, như Hư Vân Hòa Thượng, v.v…​​ Hầu hết phải nói rằng các Thiền sư Đông Độ đều còn nằm chiêm bao tức là còn tưởng dục. Xưa đức Thế Tôn đã nhập được các định tưởng và nhập đến định cao nhất của tưởng là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định. Khi nhập xong đức Phật xem xét lại thấy không có lợi ích thiết thực giải quyết cái khổ của đời người, nên đức Phật ném bỏ mặc dù ông Thầy dạy đức Phật tu pháp môn này rất tha thiết yêu cầu Phật ở lại chia nửa tòa, nhưng đức Phật từ khước ra đi tìm chân lý.

(45:15) Chỗ này thiền Đông Độ và Nhị Thiền của Phật không thể tương ưng nhau được, cũng như kinh Đại Thừa không thể tương ưng với Sơ Thiền được. Vì Sơ Thiền nhờ tu Giới Luật ly dục, tâm được an ổn thanh tịnh thường trống không lặng lẽ. Còn kinh Đại Thừa khi độ hết chúng sanh thì “tâm như như bất động”. Giống như một vị Thiền sư nào đó cứ ôm ấp chữ “như” trên đầu nên qua sông quên mặc quần áo. Cũng như trong cuốn “Góp Nhặt Cát Đá” có thuật lại một vị thiền sinh khi sư phụ sai lấy cái thùng thì mang cái rổ, Thiền sư cả cười cho là đệ tử của mình đắc đạo vô phân biệt.

Kính thưa quý vị! Chỗ vô phân biệt này không phải là chỗ vô tâm vì cái biết vẫn còn nhưng không có phân biệt. Ở đây kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ chấp nhận chỗ này là tu xong, còn Thập Mục Ngưu Đồ cho tu đến chỗ này chưa xong nên còn tiến tu đến tranh 8, tranh 9 và tranh 10. Kính thưa quý vị! Đến đây quý vị tự suy ngẫm sự chứng đạt này, chúng tôi không có ý kiến gì.

Kính thưa quý vị Phật tử! Người trâu đều quên mà trong Thập Mục Ngưu Đồ Thiền Tông không xác định tu ở mức độ nào mới đúng là tranh số 8. Mọi trạng thái lặng, hôn trầm, thùy miên, vô ký, ngoan không đều có trạng thái “người trâu đều quên”. Chỗ này khi quý vị về suy ngẫm lại khi nào bí quá thì quý vị về hỏi các vị Thiền sư Đông độ.

3- CHUYỂN ĐỔI NHÂN QUẢ

(47:55) Kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ chấp nhận độ hết chúng sanh và chẳng nghĩ thiện nghĩ ác thì thành Phật. Vậy thành Phật rồi còn phải tu nữa hay không? Khi độ hết chúng sanh, có làm chủ được thân tâm và có chấm dứt tái sanh luân hồi chưa? Và cách thức làm chủ bằng cách nào?

Đây! Chúng tôi xin nhường lời lại cho Tổ Bách Trượng trả lời quý vị. Tổ Bách Trượng dạy: “Chẳng muội nhân quả”. Ở đây quý vị phải hiểu câu nói này, đau là phải chịu đau, chết là phải chịu chết, chứ không thể nào làm chủ được nó. Chỉ chẳng mê muội trước nó là đủ. Chúng tôi xin lập lại câu nói này để cho quý vị dễ hiểu hơn. Nghĩa là quý vị chẳng sợ hãi trước cơn đau, trước cái chết, trước cái tai nạn khổ sở là đủ, nghĩa là đừng sợ hãi. Vì quý vị thấy nó là huyễn giả, không thật, là không. Mọi vật, mọi hoàn cảnh, mọi sự việc xảy ra đều là không thật, đều là huyễn giả. Thì do cái sự hiểu biết như vậy thì quý vị sẽ không sợ hãi, không có khổ tâm, không có đau khổ nữa. Vì thế Nhị Tổ Pháp Loa bệnh đau rên hừ hừ. Tổ Bách Trượng mượn thuyết định mệnh để chứng minh Thiền Tông không làm chủ nhân quả. Câu chuyện Bách Trượng giả hồ, chúng tôi xin lưu ý quý vị, Tổ Bách Trượng mượn thuyết định mệnh chứ không phải là thuyết nhân quả. Thuyết nhân quả không có phải như vậy, nghĩa là không có hiểu như vậy được. Đây là thuyết định mệnh.

Còn đạo Phật thì chuyển nhân quả và làm chủ nhân quả. Ví dụ: Cùng hai đứa bé đau nhức răng ôm khóc, một đứa con nhà giàu, một đứa con nhà nghèo. Đứa bé con nhà giàu được cha mẹ đưa đến nha sĩ chữa trị hoặc nhổ chiếc răng hư, đứa trẻ này không còn đau nhức chạy chơi vui cười. Còn đứa bé cha mẹ nghèo, không có tiền đi nha sĩ nên phải chịu đau nhức khóc mãi suốt ngày này sang ngày khác.

(50:52) Kính thưa quý vị! Người giàu có là do phước báo hữu lậu, biết bố thí, cúng dường mà còn chuyển nghiệp nhân quả được, huống là chúng ta tu pháp môn giải thoát vô lậu thì phước báo vô lậu không thể nghĩ lường, như muốn chết hồi nào thì chết, muốn sống hồi nào thì sống, không có luật định mệnh hay luật nhân quả nào cấm cản được chúng ta.

Kính thưa quý vị! Xin quý vị lưu ý chỗ này, lúc nãy Tổ Bách Trượng dùng thuyết định mệnh, còn qua câu chuyện chúng tôi vừa kể hai đứa bé là thuyết nhân quả, mà thuyết nhân quả thì làm chủ được và di chuyển được nó, còn thuyết định mệnh thì không thay đổi được. Cho nên dù có làm Phật thì cũng không làm chủ được cái nhân quả. Đó thì quý vị, ở đây phải hiểu như vậy để phân biệt được luật nhân quả và luật định mệnh. Hai cái thuyết định mệnh và thuyết nhân quả khác nhau chứ không giống nhau. Nhưng nó chỉ giống nhau ở hành động nhân – quả mà thôi. Còn cái sự cố định đó, đó là thuyết định mệnh; mà cái sự thay đổi là thuyết nhân quả. Có khác nhau một chút chỗ này. Bây giờ quý vị đã hiểu.

Ví dụ: Đức Phật, ông Xá Lợi Phất, ông La Hầu La tự tại nhập Niết Bàn, v.v…​ Bởi vậy người tu theo đạo Phật nhập đến Tứ Thiền – “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh” thì không còn nghiệp đau, nghiệp chết, tác dụng được vì thọ đã bị triệt tiêu trong định Tứ Thiền, như vậy mới gọi là làm chủ sanh tử. Làm chủ sanh tử là làm chủ nghiệp, làm chủ nghiệp là “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh”. Xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh là xả thọ, xả thọ tức là đoạn ái, đoạn ái tức là chấm dứt tái sanh luân hồi. “Vì có thọ mới có ái”, cho nên khi hết thọ thì ái phải đoạn. Ở đây quý vị đã hiểu rõ.

(53:31) Kính thưa quý vị! Đến đây quý vị đã biết Tứ Thiền là một pháp môn rất quan trọng của đạo Phật. Phật dạy 37 phẩm trợ đạo đều trợ giúp cho pháp môn này để cho quý vị thành tựu sự giải thoát cá nhân của quý vị ra khỏi cuộc đời, ra khỏi thân đau khổ này. Chúng tôi xin quý vị lưu ý chỗ này thêm: Thọ là then chốt của nghiệp, của ái. Chúng ta tự hỏi nghiệp để làm gì? Nghiệp để cho ai? Xin trả lời nghiệp để cho thọ. Ái để làm gì? Ái để cho ai? Xin trả lời ái để cho thọ. Vậy chúng ta tu hành dùng Tứ Thiền xả thọ thì nghiệp và ái còn tác dụng vào đâu, cho nên gọi là diệt nghiệp đoạn ái. Diệt nghiệp là làm chủ thân tâm; đoạn ái là chấm dứt tái sanh luân hồi. Con đường của đạo Phật dạy chúng ta tu hành quá rõ ràng, không giống như Thiền Đông độ và kinh Đại Thừa.

4- TÂM VÔ TÂM

(54:51) Kính thưa quý vị! Chúng tôi xin chép ra đây một đoạn trong Thiền Luận của Đại Đức Suzuki: “Thấy tâm không thật thì tâm dứt, quên trâu, tranh 7 – “Vong ngưu tồn nhân”, thấy người không thật thì người quên nốt, tranh 8 – “Nhân ngưu câu vong”. Biết cái tâm là tâm không tâm, ấy là hiểu suốt đạo Phật” (Thiền Luận tập thượng, trang 616).

Nghe qua những lời dạy này quý vị có biết cách tu hay không? Hay chỉ cần thấy tâm không thật, người không thật là vọng tưởng hết, là chẳng nghĩ thiện nghĩ ác. Nói được, không làm được, tri hành không hợp nhất.

“Người và trâu đều quên thì từ lòng đất dõng mãnh vọt lên mặt trời tuệ, tượng trưng bằng cái vòng tròn viên giác, tranh 8 – đó là Tâm vô tâm” (Thiền Luận tập thượng, trang 616).

Kính thưa quý vị Phật tử! Đến tranh 8 Thập Mục Ngưu Đồ xác định người trâu đều quên mất, mới cho đó là tâm vô tâm. Còn kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ, trâu mất mà thằng chăn còn nên gọi là vô phân biệt, qua sông quên mặc quần áo, sai lấy cái thùng mang cái rổ, chỗ này không phải là vô tâm. Ở chỗ Thập Mục Ngưu Đồ tranh 8 mới là chỗ tâm vô tâm. Chỗ này mới gọi là “năng sở không còn”. Thầy chúng tôi dạy “năng sở không còn” tức là “vô tâm” hay là tranh số 8. Thập Mục Ngưu Đồ cho chỗ vô tâm là chưa kết quả viên mãn nên bảo: “vô tâm còn cách một lớp rào”, vì thế phải tiếp tục tu hành tiến tới tranh 9, tranh 10.

Kính thưa quý vị! Cái vòng tròn tượng trưng cho trí tuệ từ trong lòng đất người trâu đều quên sanh ra, Thập Mục Ngưu Đồ, Thiền Tông không xác định được người trâu đều quên ở mức độ nào mà trí tuệ phát sáng đúng. Hôn trầm, thùy miên, vô ký, ngoan không cũng có trạng thái người trâu đều quên, rồi cũng từ trong đó có trí tuệ phát sáng, cũng ngộ những công án, cũng thông suốt lý luận Thiền Tông và các kinh Đại Thừa. Những trí tuệ phát sáng này chúng tôi thường gọi là Tưởng tuệ. Tưởng tuệ là do từ trong định tưởng phát ra, tùy theo ở mức độ nhập định tưởng lâu mau, sâu cạn và do đó có sự hiểu biết thấp cao. Tưởng tuệ là trí tưởng tượng suy nghĩ nghĩa lý trong các kinh sách Đại Thừa và Thiền Đông Độ chớ không có kinh nghiệm tu hành như kinh Phật, như kinh Nguyên Thủy. Câu “chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, độ hết chúng sanh thành Phật, thấy tâm không thật thì tâm dứt, thấy người không thật thì người quên”, những câu nói này là tưởng tuệ, không tu hành gì được. Bằng chứng kinh sách thì nhiều mà người tu chẳng ra gì, nghe thì hữu lý mà thực hành thì không vô.

Bởi vậy có hàng trăm hàng ngàn người theo tu với Mã Tổ mà người ngộ đạo, ngộ được tâm ngồi đạo tràng tu hành chỉ có 84 người, nhưng đến khi thành tựu chỉ có 2, 3 người, tức là những người nhập được định trong đó có Thiền sư Dược Sơn. Phải nói Thiền Đông Độ có nhiều đạo tràng chỉ có đạo tràng của Mã Tổ là số người tu đông nhất.

Kính thưa quý vị! Giai đoạn đầu thiền, người ngộ thì đông mà tu thành tựu thì quá ít, không giống như câu nói “kiến tánh thành Phật”. Biết bao nhiêu người đã thấy chỗ không nghĩ thiện, nghĩ ác mà có làm Phật được đâu? Mà có thành Phật chỗ nào? Do sự tu không được, các Thiền Sư phải thay đổi cách khai ngộ và cách tu. Bắt đầu họ dùng những công án rắc rối hơn, hoặc đánh hoặc la, hoặc hét để hạn chế người ngộ. Đó là giai đoạn giữa thiền. Bắt đầu từ các đệ tử của Lục tổ Huệ Năng đến Lâm Tế. Về cách tu tập họ cũng còn giữ lại cách tu cũ, nhưng có thêm nhiều thứ thiền như:

Thiền Lục Diệu Pháp Môn: sổ, tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh; Thiền Hơi Thở: phong, khí, suyển, tức; và Pháp môn Tịnh Độ.

Thiền Lục Diệu Pháp Môn do Trí Khải Đại sư sản sanh.

Thiền Hơi Thở: phong, khí, suyển, tức do một vị Thiền sư mà chúng tôi không nhớ tên.

Pháp môn Tịnh Độ do Thiền sư Huệ Viễn lập Liên Trì Thư Xã và sớ giải kinh Tịnh Độ. Thiền sư Diên Thọ Vĩnh Minh tán thán, xương minh pháp môn này.

(1:01:45) Khi con đường thiền Đông Độ tu không có kết quả người ta mới sanh ra nhiều pháp môn như vậy. Nhưng mỗi pháp môn được sanh ra chỉ sống có một thời với người cha đẻ của nó rồi cũng chết vì thiếu kinh nghiệm, do trí tưởng tượng tạo ra nên tu không có kết quả. Pháp môn Tịnh Độ còn sống đến ngày nay là nhờ một nhóm Thiền sư khéo léo biến pháp môn Tịnh Độ làm chỗ nương tựa tinh thần như: cầu an, cầu siêu và niềm hi vọng người chết được sanh về Cực Lạc. Người sống tu chưa đạt được nhất tâm, sau khi chết cũng được sanh về Cực Lạc tiếp tục tu hành. Người ta dựa vào 48 lời nguyện của đức Phật Di Đà mà nuôi hy vọng như trong sám Từ Vân có câu:

“Thiện nam tín nữ các người

Chí thành tưởng Phật niệm mười tiếng ra

Ta không rước ở nước Ta

Thệ không làm Phật chắc đà không sai”

Nhưng đây chỉ là một thứ hy vọng ảo tưởng mà thôi.

Kính thưa quý vị Phật tử! Bây giờ chúng tôi đem so sánh kinh sách Nguyên Thủy, kinh Đại Thừa, Thiền Đông Độ với Thập Mục Ngưu Đồ. Chúng tôi xin nhắc lại kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ chấp nhận khi hết vọng tưởng là thành Phật: “Độ hết chúng sanh thành Phật, chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, Bản Lai Diện Mục hiện tiền hay kiến tánh thành Phật”. Chỗ này kinh Đại Thừa, Thiền Đông Độ chỉ tương ưng với Thập Mục Ngưu Đồ ở tranh số 7 – “Ngưu vong tồn nhân”. Thầy chúng tôi dạy trâu mất người chăn phải còn. Chỗ này Thầy chúng tôi cũng chỉ tương ưng với tranh 7 với kinh Đại Thừa, với Thiền Đông Độ, nhưng không thể tương ưng với Thập Mục Ngưu Đồ tranh 8 được.

(01:02:34) Kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ tu đến chỗ này được xem là thành Phật. Phật là Đại giác, giác là trí tuệ. Ngược lại Thập Mục Ngưu Đồ cho chỗ tu này chưa xong nên phải tiếp tục tiến tới tranh 8 – “Nhân ngưu câu vong” – người trâu đều mất, người trâu đều quên. Kinh Đại Thừa, Thiền Đông Độ không có, nhưng kinh Nguyên Thủy thì tương ưng với Thập Mục Ngưu Đồ ở tranh 8, nhưng lại khác, khi người trâu đều quên thì Thập Mục Ngưu Đồ mất tiêu rồi phát ra trí tuệ, còn Kinh Nguyên Thủy thì ở trong trạng thái hỷ lạc do định Nhị Thiền sanh như chúng tôi đã nói ở trên. Khi trí tuệ hiện ra thì hành giả thấy mình và vạn hữu là một. Nên Thiền sư Thiền Lão dạy:

“Thúy trúc huỳnh hoa phi ngoại vật

Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân”

Dịch:

“Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh ngoại

Trăng trong mây bạc hiện toàn chân”

Thấy mọi vật là mình, mình là mọi vật là tranh số 9 – “Phản bổn hoàn nguyên” trong Thập Mục Ngưu Đồ. Tu đến chỗ này sau một năm nhập thất, Thầy chúng tôi tuyên bố trước Tăng Ni và Phật tử, Thầy đã về đến nhà tranh số 9 – “Phản bổn hoàn nguyên”. Sau khi ra thất Thầy chúng tôi cho xây cất Thiền viện Trúc Lâm, phát huy Thiền Tông Việt Nam để Tăng, Ni và Phật tử có chỗ tu hành chân chính, đó là Thầy chúng tôi đang ở tranh 10 – “Thõng tay vào chợ”.

(01:07:00) Kính thưa quý vị Phật tử! Thầy chúng tôi vừa dẫn dắt Tăng, Ni và Phật tử và còn phải tự tu cho mình. Thế là đến hôm nay Thầy chúng tôi đã đi suốt quãng đường Thập Mục Ngưu Đồ Thiền Tông.

Kính thưa quý vị! Như vậy xét qua cách thức tu hành để đến kết quả thì kinh Đại Thừa, Thiền Đông Độ giống nhau. Còn Thập Mục Ngưu Đồ thì không giống kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ. Kinh Nguyên Thủy không giống kinh Đại Thừa, Thiền Tông và Thập Mục Ngưu Đồ. Cho nên pháp môn của đức Phật hiện giờ, chúng ta đừng hiểu là phương tiện di chuyển mà phải hiểu mỗi pháp môn là một con đường đi. Mỗi con đường đi nó sẽ dẫn chúng ta đến một nơi riêng của nó.

Kính thưa quý vị Phật tử! Đến đây quý vị cần suy ngẫm kỹ, quý vị đừng hiểu trăm sông đều về biển cả. Đem pháp môn tu hành của đức Phật mà ví dụ như vậy là sai. Vì mọi pháp môn tu hành không phải là những môn học được xếp loại thấp cao để nối tiếp nhau theo lớp lang. Mọi pháp môn có thấp cao tự nó. Cho nên chúng ta tu đúng thì đúng ngay từ lúc ban đầu mà đã tu sai thì cũng tu sai từ lúc đầu. Nếu đường đi về thành phố Hồ chí Minh thì phải về thành phố, nếu đường đi về Tây Ninh thì phải về Tây Ninh. Không thể đi Tây Ninh mà về thành phố được, ngược lại cũng vậy.

Kính thưa quý vị Phật tử! Tranh Thập Mục Ngưu Đồ Thiền Tông do các Thiền sư sau này tưởng giải sinh ra qua kinh nghiệm tu hành của mình nên đã đi khá xa hơn kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ. Nhưng các Thiền sư vẫn chấp nhận cho đó là kết quả của Thiền Tông. Vậy chúng tôi xin quý vị suy ngẫm, riêng chúng tôi chẳng có ý kiến gì hết.

(01:09:41) Kính thưa quý vị Phật tử! Bây giờ đến giai đoạn cuối thiền, cách khai ngộ vẫn giữ nguyên như cũ, nhưng đánh, la và hét thì các Thiền sư giảm bớt. Cách tu thì hoàn toàn thay đổi hẳn. Họ không còn tu Chăn Trâu, Gọi Ông Chủ hay Biết Vọng Liền Buông nữa, mà Tham Thoại Đầu hoặc Tham Công Án Khởi Nghi Tình. Các Ngài cố ôm chặt khối nghi dùng sức mạnh của khối nghi để tập trung tư tưởng hầu để ức chế vọng tưởng cho bằng được. Những điều ức chế tâm quá mạnh này khiến cho các Thiền sư càng nén tâm nhiều. Và sự nén tâm nhiều này khiến cho các Ngài nổi lên những cơn sân quá dữ dội. Những hành động và lời nói rất thô lỗ và hung ác, khi các Ngài đối xử với các đệ tử cũng như các Phật tử như Thiền sư Chân Tịnh, La Quả Thiền sư. Mặc dầu các Thiền sư cố dùng khối nghi mong đè bẹp được vọng tưởng để đạt được định, nhưng sự thành tựu này cũng chẳng được gì vì chính họ đã đi xa lần Giới Luật và đức hạnh giải thoát của đạo Phật, nên càng ngày họ tu hành không có kết quả.

Trong cuối thế kỷ thứ 20 này Thiền Tông đã chết tại đất nước Trung Quốc. Thầy chúng tôi đã đi qua đó tham quan để tìm xem có vị Thiền sư nào hay không. Chuyến đi đó Thầy chúng tôi không gặp.

5- THIẾU GIỚI LUẬT SANH TỬ LUÂN HỒI

(01:12:15) Bởi Thiền Đông Độ không tu Giới Luật, nên Thiền sư Bạch Vân Nhật Bổn đã hướng dẫn tu thiền và khai ngộ cho người Tây phương rất đông. Họ đã được Thiền sư khai ngộ và đã tu hành chứng ngộ được đạo thiền, vậy mà họ kết hôn nhau làm thành vợ chồng (trong tập “Ba Trụ Thiền” của Philip Kapleau, do ông Đỗ Đình Đồng dịch). Thiền sư Suzuki vẫn có những tác phẩm thiền danh tiếng trong thế kỷ 20 này, vậy mà Ngài còn có một người vợ Mỹ, thì thử hỏi tu thiền như vậy làm sao thoát khổ, chấm dứt tái sanh luân hồi được? Nhưng có người bào chữa cho Thiền sư, vì Thiền sư có người vợ Mỹ để cùng nhau hợp tác mà viết ra những tác phẩm thiền bằng ngoại ngữ. Lời bào chữa này theo chúng tôi nghĩ không đúng. Vì đối với Thiền sư Suzuki vẫn có những người bạn trai rất tâm đầu ý hợp. Qua việc làm của ông là muốn phổ biến thiền sang Tây phương, thì hầu hết những người bạn trai này cũng sẵn sàng giúp ông. Như vậy đó là một lý luận che đậy những sự phạm giới của đạo Phật. Bởi vậy nguyên nhân đau khổ là do ái dục, cớ sao người ta lại nuôi ái dục mà gọi là chứng ngộ thiền giải thoát. Ái dục còn, làm sao hết khổ. Ái dục còn, làm sao chấm dứt sanh, lão, bệnh, tử được.

(01:14:27) Hiện giờ Thầy chúng tôi phục hồi giai đoạn đầu thiền Đông Độ. Hòa Thượng Dư Luật phục hồi giai đoạn cuối thiền Đông Độ. Hòa Thượng Dư Luật​ luôn luôn kích bác Thầy chúng tôi, đệ tử của họ đem cuốn “Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20”, mổ xẻ chống bác Thầy chúng tôi. Tôi nghĩ cũng buồn cười, một con rắn độc lấy cái đuôi chửi cái đầu.

Kính thưa quý vị Phật tử! Những người đang tu thiền Đông Độ hiện giờ trong cảnh chờ đợi chén rơi, bát đổ, mèo kêu, chó sủa, hoa rơi, lá rụng để chứng ngộ đạo thiền. Chúng tôi không biết nghĩ như thế nào mà các thiền sinh đang ở trong cảnh phải chờ đợi như thế này. Quý vị cứ suy ngẫm.

Kính thưa quý vị! Như chúng tôi đã nói ở trên, Thiền sư Bách Trượng đã xác định Thiền Đông Độ không làm chủ sanh tử được, chỉ dùng những danh từ hoa mỹ và những câu chuyện huyền thoại về sự làm chủ sanh tử để lừa dối, bịp người sau. Thiền sư Thường Chiếu cũng xác định rõ ràng để chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa.

Một hôm Thiền sư Thần Nghi hỏi Thiền sư Thường Chiếu:

– Bạch Hòa Thượng, khi Hòa Thượng trăm tuổi như thế nào?

Thiền sư Thường Chiếu bảo: – Ta chết như người thường.

Thiền sư Thần Nghi ngạc nhiên hỏi: – Như vậy Bồ Đề Đạt Ma là sao?

Thiền sư Thường Chiếu đáp: – Đó là bọn đại bịp. Một con chó sủa, một bầy chó sủa theo.

(01:17:10) Kính thưa quý vị! Bồ Đề Đạt Ma là vị Tổ sư thiền thứ nhất của Thiền Đông Độ, Ngài tượng trưng cho Thiền Đông Độ, cho nên hai thầy trò Thần Nghi ở đây không phải nói về cá nhân của Bồ Đề Đạt Ma mà nói thẳng về Thiền Đông Độ. Như chúng ta đã biết, Thiền sư Bách Trượng là một vị Đại Thiền sư có danh tiếng nhất Trung Quốc, Ngài có bộ Thanh Quy Bách Trượng thì đủ biết Ngài là một người có sự điều khiển chỉ huy một Thiền đường lớn không phải nhỏ của Trung Quốc, mà Ngài còn xác định con đường Thiền tông như vậy thì chuyện cha con ông Bàng Long Uẩn chỉ là một câu chuyện huyền thoại mà thôi.

Ở Việt Nam, Thiền sư Thường Chiếu là một danh tăng có nhiều uy tín trong đường Thiền Đông Độ, thế mà Ngài đã thành thật xác định với chúng ta như vậy. Thiền Trúc Lâm Yên Tử truyền đến Tổ Huyền Quang là mất, mặc dù sau này có nhiều người muốn phục hồi lại nó nhưng không thành tựu chỉ vì họ chết cứng trong giáo điều Thiền Trúc Lâm. Tổ Pháp Loa trước khi tịch đau rên hừ hừ.

Tổ Huyền Quang hỏi: – Sao Hòa Thượng lại rên?

Pháp Loa trả lời: – Gió thổi qua khe trúc và tống cho Huyền Quang một đạp.

Ở đây quý vị tự suy ngẫm, “gió thổi qua khe trúc”“thọ” hay không? Do “có thọ”, Pháp Loa mới rên, nếu không thọ làm gì có rên. Tổ Huyền Quang đã chứng kiến cái chết của tổ Pháp Loa, cũng như chúng ta đã chứng kiến cái chết của Hòa Thượng Thiện Hoa, Hòa Thượng Thiện Hòa, Hòa Thượng Huệ Hưng, Bửu Huệ, Thiền Tâm, và còn biết bao nhiêu vị Tôn túc khác nữa. Từ đó tổ Huyền Quang mới đem Mật Tông vào con đường thiền này, làm thơ vịnh hoa bướm khiến cho nhà vua và ông Mạc Đĩnh Chi phải nghi ngờ, mới dùng nàng Thị Bích thử Tổ.

6- SO SÁNH CHÁNH ĐỊNH VÀ TÀ ĐỊNH

(01:20:27) Kính thưa quý vị Phật tử! Để so sánh hai thứ định: Định của đạo Phật và Định Tưởng của ngoại đạo.

1- Định trời sét không giật mình, định của đức Phật.

2- Định tiếng động 500 cỗ xe bò đi ngang qua, định của ngoại đạo.

Ở đây chúng ta không phải so sánh hai tiếng động lớn nhỏ, mà so sánh ở trạng thái giật mình và ở mục đích giải thoát của định. Trời sét không giật mình dù quý vị có đánh bể đồng loa thì cũng không xuất định. Trời sét không giật mình tức là định đã xả thọ. Xả thọ tức là diệt ái như chúng tôi đã nói ở trên, diệt ái tức là Tứ Thiền. Tứ Thiền là “xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh”. Xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh tức là xả thọ, hay làm chủ thọ nên không còn giật mình.

Thiền Định Tưởng, dù định cao nhất của nó cũng còn giật mình, vì thế tiếng đồng loa, tiếng chuông lắc vẫn đánh thức họ trong khi nhập định. Thiền sư Hám Sơn – lắc chuông tỉnh lại, Thiền sư nhập 1000 năm – dùng đồng loa đánh xuất định… đều là định chưa chưa xả thọ, nên chưa làm chủ thân tâm, chưa chấm dứt tái sanh luân hồi. Phần nhiều các Thiền sư nhập vào định này đều còn tưởng dục. Chúng tôi xin lưu ý quý vị một lần nữa, còn tưởng dục tức là còn mộng mị chiêm bao.

(01:22:44) Kính thưa quý vị Phật tử! Thiền Định nào để lại nhục thân được?

Thiền Định nào cũng để lại nhục thân được, trừ những người chưa nhập định. Để lại nhục thân không phải mục đích của đạo Phật, nên đức Phật và các đệ tử của Ngài không có để lại, vì để lại nhục thân còn có mục đích cầu danh trong đó.

Kính thưa quý vị! Những điều chúng tôi đã phân giải ra đây là những điều mà chúng tôi đã trực tiếp trong cuộc đời tu hành của chúng tôi. Chúng tôi đã thấu suốt rất rõ ràng từ đời sống tu sĩ, cư sĩ và đến các pháp môn, như thế nào đúng, như thế nào sai. Chúng tôi nói ra đây là để Thầy chúng tôi và cũng như quý vị Tăng, Ni, Phật tử hiểu rõ Phật pháp, để trở về đúng với con đường tu hành của đạo Phật. Chúng tôi không có ý xấu xa bài bác mọi con đường, mọi pháp môn tu hành của quý Thầy, của Thầy chúng tôi. Chúng tôi nói ra những điều này là vì chúng tôi rất hiểu rõ ràng mọi pháp môn, mọi con đường tu hành từ Thiền Đông Độ đến kinh Đại Thừa . Mà chúng tôi cứ ngồi nhìn quý vị tu hành ngày tháng qua mau, sanh tử gần kề, chúng tôi cũng không thể chịu được nữa. Phải nói! Nói dù có tan xương nát thịt; nói dù chúng tôi có như thế nào, chúng tôi cũng đành cam chịu. Nói để Thầy chúng tôi chấn hưng Thiền Tông Việt Nam, làm sáng tỏ Thiền Tông Việt Nam, và Thiền Tông Việt Nam sẽ có ích lợi thiết thực cho loài người nói chung, cho dân tộc Việt Nam nói riêng, và thiền sẽ sống mãi muôn đời với con người trên thế gian này.

(01:25:51) Kính thưa quý vị Phật tử! Khi chúng tôi nói ra điều này thì quý vị khó mà còn gặp được chúng tôi nữa. Tại sao? Chúng tôi nói ra vì Phật Pháp, vì sự tồn vong của Phật Pháp chứ không phải nói ra vì danh, vì lợi, vì tranh hơn thua cao thấp với quý Thầy, với Thầy chúng tôi. Chúng tôi đã xả bỏ hết danh lợi của cuộc đời, cho nên chúng tôi chẳng màng quý vị biết đến chúng tôi làm gì. Chúng tôi sẽ ẩn bóng, để Thầy chúng tôi và huynh đệ của chúng tôi hướng dẫn quý vị trên đường tu hành của đạo Phật. Tu Viện Chơn Như chúng tôi sẽ trao lại cho Cô Út Diệu Quang, khi cô nhập xong Tứ Thiền, cô sẽ đứng ra điều khiển và hướng dẫn các cháu con của những người cư sĩ quyết tâm theo cô tu hành. Tu Viện này sẽ trở thành Tu Viện Nữ cư sĩ thì lúc bấy giờ chúng tôi sẽ không còn ở lại đây nữa.

Kính thưa quý vị Phật tử! Tại sao chúng tôi lại phải ẩn bóng bỏ các vị mà đi? Xin thưa cùng quý vị, có hai điều kiện:

1- Quý vị sẽ hiểu lầm chúng tôi đem kinh nghiệm tu hành của mình đã đạt được ra tranh hơn thua với quý Thầy, với Thầy chúng tôi.

2- Chúng tôi không muốn manh mún Phật Pháp thành nhiều đoàn thể, nhiều tông phái khác nhau để làm tan nát ngôi nhà Phật giáo.

(01:28:08) Kính thưa quý vị! Chúng tôi chỉ muốn những kinh nghiệm của chúng tôi được trao lại cho một vị Thầy có đức độ, có uy tín với quý vị, để vị Thầy ấy xây dựng lại ngôi nhà chánh pháp của đạo Phật. Những kinh nghiệm tu hành của chúng tôi chỉ là những viên gạch để chúng ta là những người con Phật xây dựng lại tòa nhà Phật giáo mà từ lâu đã vô tình chúng ta đã bị ảnh hưởng mọi chiều hướng, đã khiến tòa nhà Phật giáo sụp đổ tan tành.

Đến đây, chúng tôi xin chấm dứt buổi nói chuyện hôm nay, gửi lời thăm và chúc cả gia đình của quý vị thân tâm thường vui vẻ.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Thầy! Hôm nay chúng con đã đủ duyên lành phước báu nhiều đời mới được nghe giảng dạy quý báu của Thầy. Chúng con nguyện xin ghi khắc mãi những lời dạy này suốt đời và cố gắng sửa sai những gì mà Thầy đã nhắc nhở chúng con.

Kính bạch Thầy! Chúng con thành tâm cúi xin đảnh lễ và ngưỡng mong thầy cho phép chúng con được in bài giảng này để tất cả Tăng, Ni và Phật tử chúng con được tu học theo đó, và lấy đó răn nhắc chúng con trên đường tu tập. Cúi xin Thầy mở rộng lòng từ bi lân mẫn, thương xót chúng con, hứa khả nhận lời, để cho chúng con được lợi ích trên đường tu hành. Và kính xin Thầy cho biết bài giảng hôm nay lấy tên gì? Cuối cùng chúng con không biết lấy gì hơn để tỏ lòng tri ân dạy bảo của Thầy. Xin Thầy nhận ba lạy.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Trưởng lão: Kính thưa quý vị Phật tử! Bài nói chuyện hôm nay được lấy tên là “Phật Môn Bảo Huấn” hay “Trở Về Đạo Phật”, tùy ý Phật tử muốn chọn tên nào cũng được. Còn việc in bài giảng này hay thu vào băng thì quý vị phải chờ đợi chúng tôi sẽ gửi bài này về cho Thầy chúng tôi, khi nào Thầy chúng tôi đồng ý thì chúng tôi chấp nhận cho quý vị in hoặc thu băng.

Bây giờ xin quý vị cùng chúng tôi đứng lên chắp tay, mặt hướng về tượng Phật, kính cẩn chào nhau tạm biệt.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

HẾT BĂNG 2

“Trở Về Đạo Phật” là một tập sách mỏng do Bác sĩ Trí và Tâm Đức ghi lại trong một cuộn băng cassette đã được ghi âm buổi tọa đàm của Trưởng Lão Thích Thông Lạc với quý tu sĩ Tăng, Ni Đại Thừa, Thiền Tông và Phật tử Thành phố Hồ Chí Minh tại Tu Viện Chơn Như.

“Trở Về Đạo Phật” là một lời khuyên chân thành với tâm tha thiết đầy lòng yêu thương của Trưởng Lão Thích Thích Thông Lạc với những tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử đang tu hành theo Phật giáo.

Thấy những lời khuyên quá thành thật này đối với mọi người có lợi ích rất lớn, nhất là cho những hàng tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử có quyết tâm hành trì để tìm cầu sự giải thoát ngay liền.

“Trở Về Đạo Phật” lời nói nhẹ nhàng, so sánh cụ thể, làm sáng tỏ thiền định của Phật giáo nguyên thủy và thiền định của kinh sách phát triển, khiến cho những ai có kinh nghiệm tu hành thì biết ngay mình đang tu tập những pháp môn của ngoại đạo mà từ lâu cứ ngỡ rằng mình tu hành theo chánh Phật giáo. Sự đau lòng nhất của chúng ta là bị kinh sách phát triển lừa đảo mà không biết. Cho nên khi nghe được những lời khuyên dạy này chúng ta như người mù được sáng mắt, như người đang nằm mộng choàng tỉnh dậy.

TẢI BẢN IN SÁCH: Trở về đạo Phật.pdf


Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 147)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.