ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ, SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CHÚNG SANH TÂM BẤT ĐỘNG - THANH THẢN - AN LẠC - VÔ SỰ
Danh mục trang

Đường lối tu hành của Tu viện Chơn Như

Đường lối tu hành của Tu viện Chơn Như

Đường lối tu hành của Tu viện Chơn Như

ĐƯỜNG LỐI TU HÀNH CỦA TU VIỆN CHƠN NHƯ

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Thời gian: 1993

Thời lượng: [43:39]

 

1- NĂM ĐIỀU KIỆN TU TẬP

Hôm nay, nhân dịp Từ Minh làm lễ phát nguyện nhập thất với một tâm đại hùng, đại lực, nguyện thành tựu đạo pháp mới mở cửa thất bước ra. Bằng không thì dù có tan xương nát thịt vẫn không ra khỏi thất. Do nhân duyên này, Thầy nói chuyện cùng các con đang tu tập ở đây. Muốn tu tập với Thầy, quý Thầy và quý Phật tử phải chấp nhận năm điều kiện:

1- Phải tin nơi Thầy sẽ đưa dắt quý Thầy đến nơi đến chốn, giải thoát hoàn toàn đúng con đường của đạo Phật.

2- Quý Thầy phải có một cơ thể khỏe mạnh, nếu không có một cơ thể khỏe mạnh thì đừng có bao giờ theo Thầy tu hành, vì có theo Thầy tu hành cũng vô ích, không có kết quả tốt.

3- Quý Thầy phải thành thật không được dối trá, tu được nói tu được, tu không được nói tu không được, tự dối mình dối Thầy mà chẳng ích lợi gì. Nếu thường bị hôn trầm hoặc phạm tất cả những lỗi nhỏ không được che dấu, phải phát lồ sám hối trước đại chúng và Thầy để xin phép đối trị.

4- Phải siêng năng, tinh tấn giữ gìn giờ giấc nghiêm túc, không được che dấu sự lười biếng, sự bỏ giờ giấc của mình. Mà lỡ có sự sai lầm bỏ giờ giấc hoặc lười biếng thì phải thành tâm phát lồ trước đại chúng những thói hư, tật xấu này để sớm khắc phục và răn chừa, may ra mới có tiến tu trên đường giải thoát.

5- Phải có trí tuệ, ở đây không phải trí tuệ của kẻ xảo trá, không phải trí tuệ tổng hợp do vay mượn trong các kinh sách hoặc kiến giải của người khác. Mà trí tuệ ở đây phải là thứ trí tuệ rất thành thật, chân thật. Cái gì chưa hiểu, chưa tu tập được là phải thưa hỏi lại, không hiểu tưởng là đã hiểu đó là người không có trí tuệ, tu không được mà không chịu thưa hỏi là người thiếu trí tuệ.

(03:37) Với năm điều kiện này, nếu quý vị không chấp nhận thì đừng theo Thầy tu hành, vì có theo Thầy tu hành cũng chẳng ích lợi gì cho quý vị, còn hoài công, mất thì giờ vô ích. Quý vị đã không chấp nhận năm điều này thì quý vị sẽ thường che dấu những lỗi lầm của mình, thì sự che dấu này sẽ khiến cho sự tu tập của quý vị chẳng có kết quả. Nghĩa là về giới đức cũng như về thiền định, tu hành không thành tựu được.

(04:33) Này quý Thầy và quý Phật tử, ở đây không phải chỗ ăn và chỗ ngủ cho quý vị đến đây. Mà là chỗ thực hiện con đường giải thoát của đạo Phật, con đường đưa quý vị đến cứu cánh làm chủ thân tâm và chấm dứt tái sanh luân hồi. Ở đây, có một thiền tăng bảo rằng: “Ở đây không có gì thú vị cả”. Đúng vậy, ở đây không có thú vị gì. Ở đây chỉ phải chấp nhận một sự sống rèn luyện thân tâm của mình để làm chủ nó. Ở đây làm ngược lại tất cả những gì mà thế gian đang sống. Ở đây cuộc sống của quý vị còn chịu khổ gấp trăm, ngàn lần ở thế gian. Ở đây làm ngược lại những gì ham muốn ở thế gian, cho nên không có gì gọi là thú vị cả. Nếu quý vị muốn đi tìm sự thú vị thì ở đây không có chỗ cho quý vị tìm. Ở đây toàn là những thứ cay đắng mà quý vị phải nhận lấy, ở đây toàn là những thứ khắc khổ mà quý vị phải chịu trong lúc quý vị tu tập.

(06:44) Này quý Thầy và quý Phật tử, quý vị đừng nghĩ rằng, ở đây là nơi hướng dẫn cho quý vị tu tập có thần thông, phép tắc, biết chuyện quá khứ, vị lai. Ở đây cũng không phải là nơi quý vị tu tập có bùa linh, có thần chú giỏi, để trị bệnh, trừ tà yếm quỷ v.v… Ở đây cũng không phải chỗ hướng dẫn cho quý vị xuất hồn, nhập xác, đi chu du các cảnh tiên hoặc cõi địa ngục hoặc cõi thiên đàng. Ở đây cũng không phải chỗ dạy cho quý vị làm thơ, văn, thi, phú hoặc soạn kinh, viết sách hoặc dịch thuật các loại kinh sách. Ở đây cũng không phải nơi đào tạo cho quý vị trở thành những nhà hùng biện, những nhà giảng giả, triết giả, luận giả, luật giả v.v…​ Ở đây cũng không dạy cho quý vị lưu xuất những ngôn từ độc đáo của thiền Đông Độ, của Bát Nhã. Ở đây cũng không phải nơi giải ngộ những công án thiền Đông Độ và giảng nghĩa lý kinh Đại Thừa cho quý vị. Ở đây cũng không phải là trường học để cho quý vị học tập, thi cử, cấp bằng này bằng kia của Phật giáo. Ở đây cũng không phải nơi giảng đường để cho quý vị đến đây nghe thuyết pháp các loại kinh điển.

2- PHẢI ĐẦY ĐỦ OAI NGHI ĐỨC HẠNH

(08:47) Này quý Thầy và quý Phật tử, ở đây chỉ có dạy tập luyện cho quý vị sống một đời sống phạm hạnh ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ có giờ giấc, không được ăn uống phi thời, ngủ, nghỉ sai giờ giấc. Ở đây mọi người phải tập sống thường có ý, có tứ trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín phải đầy đủ đức hạnh.

Khi đi, phải nhẹ nhàng, phải thong thả, không được thô tháo, không được vội vàng, hấp tấp, không được chạy nhảy lăng xăng, không được vừa đi vừa chạy.

Khi đứng, phải tránh chỗ đông người, tránh chỗ có đàn bà, con gái, tránh chỗ đánh lộn, chửi lộn, tránh chỗ có trộm cướp, tránh chỗ có đấu tranh làm chính trị, tránh chỗ biểu tình.

Khi nằm, không phải đụng đâu nằm đó, tránh nằm chỗ đàn bà đang nằm, tránh nằm võng đưa tới, đưa lui, tránh nằm chỗ đông người. Nằm cho đúng chỗ, đúng cách, nằm không được nằm ngửa, nằm sấp, phải nằm theo kiểu kiết tường, nằm phải vén khéo không được bày ngực, bụng và đùi vế hở hang một cách thô lỗ, phải dùng y, áo che đậy kín đáo rồi mới nằm.

(11:02) Khi ngồi cũng vậy, phải lựa chọn cho đúng chỗ mới ngồi, ngồi không được ngồi lắc qua, lắc lại, ngồi không được nhịp tay, nhịp chân, ngồi không được kéo chân một cách phách lối, ngồi không được gác chân trên bàn, ngồi phải tề chỉnh, ngay ngắn, y, áo phải thẳng thớm.

Nói không được khoe khoang điều này điều kia, không được khoe tu chứng cái này, cái kia. Nói không được đem thiền đạo hoặc kinh sách ra thuyết giảng cho người khác không đúng lúc, không đúng thời. Nói không được tranh luận cao thấp, hơn thua, thấy ai tranh luận cao thấp, hơn thua thì bỏ đi nơi khác. Trên xe, bên lộ, hè phố, bên giếng nước, giữa đám đông, đám tang, đám cưới, đám giỗ không được nói cười thiếu tư cách đạo đức của người tu hành, phải ít nói khi ở giữa các đám đông người hoặc không nói thì tốt hơn hết. Khi nói không được cười, khi ăn không được nói, phải nghiêm chỉnh, không được nói chuyện tào lao, nói chuyện vô ích. Không được nói về chiến tranh về chính trị, nghe ai nói về chiến tranh, về chính trị, bỏ đi nơi khác. Không được đem giáo hội ra nói thế này, thế khác. Không được bàn quốc sự nước này thua, nước kia thắng.

(12:58) Khi nói không được nói láo, phải nói những lời chân thật, nói những lời chắc chắn, đúng đắn đáng tin cậy, nói những lời hứa với ai phải giữ gìn, đúng đắn, phải danh dự, không bao giờ sai lời hứa, không bao giờ trễ hẹn, lúc nào cũng giữ gìn đúng lời hứa, lời hẹn.

Không được nói lưỡi hai chiều, nghe điều gì ở chỗ này không đi nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, hoặc nói xấu người kia, hoặc nói xấu người này, không đem chuyện chỗ kia nói xấu chỗ này gây những sự chia rẽ chẳng hòa hợp.

Không nói lời độc ác nguyền rủa, thường nói những lời hòa nhã, đẹp tai, dễ thương, thanh tao, nhã nhặn, ôn tồn.

Không bao giờ nói lời phách lối, nói lời khinh khi người, nói lời khinh chê người, nói lời phỉ báng người, thường dùng lời khen tặng người, lúc nào nói cũng đúng thời, lời nói phải đầy đủ ý nghĩ, chân chánh.

Không nói mỉa mai, không nói móc họng, không nói lời chua chát, thường nói những lời khuyên lơn, an ủi, thường nói những lời hợp thời, thuận lý, lời nói có mạch lạc, có hệ thống và có ích lợi cho mọi người.

Không bao giờ nói đùa, nói giỡn, nói giễu cợt, nói xối xả, nói vu khống người, nói oan ức người.

(14:47) Không bao giờ nói lời lừa đảo, xiểm nịnh và a dua.

Nín khi không nói, chúng ta làm thinh phải đúng cách, không khéo người khác nghĩ rằng mình khinh chê họ. Người tu hành không nói là điều tốt nhất, không nói gì cả, chỉ cười vui vẻ, ai nói gì chỉ gật đầu hoặc bỏ đi chỗ khác là tốt. Người tu hành phải tập sự nín lặng, phải giữ gìn sự nín lặng, ít nói, chẳng nói lời nào là tốt hơn hết.

Nín là vàng là ngọc, nói là đất là cát, nói là tạo ra khẩu nghiệp khiến không được yên thân tu hành. Nói là động, làm bất an khó yên thân tu hành, gây đau khổ, phiền toái trong lòng mình và người khác. Vậy cuộc đời tu hành của chúng ta phải thấy sự ích lợi của nín lặng, nếu không thấy là tại hại sẽ đến cho quý vị. Ở đây, chúng ta sống là chúng ta tu, sống và tu gắn liền với nhau.

(16:18) Này quý Thầy và quý Phật tử, ở đây quý vị tu tức là quý vị tập sống, quý vị sống tức là quý vị tu, sự tu tập không lìa sự sống, sự sống không lìa sự tu tập. Ở đây không có học tập, không có tích lũy kiến thức của người khác. Ở đây không có huân tập một số kiến giải, tưởng giải, kiền chấp, tưởng chấp của người khác dù là của Thầy, chỉ tự tâm của quý vị lưu xuất mà sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của quý vị. Ở đây, không giúp cho quý vị có một trí tuệ tổng hợp, vay mượn bằng cách nhai lại bã mía của người khác. Ở đây, chỉ giúp đỡ cho quý vị một cách sống thực của đạo Phật, sống giải thoát khỏi triền phược dục lạc thế gian, chân thật như đức Phật còn tại thế lúc thời xưa. Sáng đi khất thực, trưa ăn cơm, chiều tọa thiền, tối đi kinh hành, khuya tọa thiền, đời sống ngày ngày trôi qua đều như vậy. Nghĩa là cuộc sống dính liền với cuộc tu, không bao giờ có sự sai khác. Ngày nào cũng như ngày nào tu và sống như vậy.

(17:45) Này quý vị, như Thầy đã dạy ở trên, quý vị thường sống phải có ý tứ, đừng nghe người ta dạy vô phân biệt, vô sai biệt rồi dẹp ý tứ của chúng ta để trở thành một con người ngu ngơ, phá giới luật của Phật. Không sống đúng trong giới hạnh đạo đức của đạo Phật, đó là điều làm cho đạo Phật suy đồi. Ở đây, quý vị phải giữ mình đầy đủ oai nghi, đức hạnh, phải có ý, có tứ từng trong mỗi hành động thân, khẩu và ý của quý vị, để quý vị sống đúng con người phạm hạnh của đạo Phật. Vì thế, thân hành của quý vị không phạm những hành động ác. Khẩu hành của quý vị không đem chuyện người này nói chuyện người kia, không đem chuyện người kia nói cho người này biết. Quý vị phải hoàn toàn giữ gìn khẩu nghiệp thanh tịnh, ít nói, lời nói của quý vị ở đây khi phát ngôn phải là lời nói có ích lợi, là vàng, là ngọc. Vì vậy khi nói phải đúng thời, đúng lúc, không được bạ đâu nói đó, phải tập sống một đời sống đức hạnh của người tu thiền định mà Thầy đã dạy trong bài: “Thực hành thiền hơi thở”.

3- HAI GIAI ĐOẠN TU TẬP

(19:28) Này quý Thầy và quý Phật tử, ở đây quý vị muốn tu hành thiền định của đạo Phật, thì trước tiên quý vị phải tập sống phòng hộ, bảo vệ các căn và tâm của quý vị. Muốn phòng hộ, bảo vệ các căn và tâm của quý vị thì ở đây có hai cách phải sống:

1- Cách thứ nhất: Phải an trú trong giới luật của Phật đã dạy, nghĩa là, quý vị phải sống và tu là một không hai như Thầy đã dạy ở trên: “Sống tức là tu, tu tức là sống”.

2- Cách thứ hai: Phải sống độc cư, sống cô đơn, nghĩa là, sống không tiếp duyên với ngoại cảnh, không nói chuyện với một ai, hoàn toàn phải cắt đứt các duyên bên ngoài.

Ở đây, Thầy đang tìm mọi cách và cố tạo cho quý vị một môi trường sống, sống đúng phạm hạnh, sống đúng giới luật, đó là giai đoạn phòng hộ, hộ trì và bảo vệ tâm của quý vị thứ nhất. Ở đây, Thầy cũng đang tìm mọi cách để tạo cho quý Thầy sống độc cư, sống cô đơn, sống ít nói chuyện và cắt dứt các duyên bên ngoài, đó là giai đoạn phòng hộ, hộ trì, bảo vệ tâm của quý vị thứ hai. Hai điều kiện sống này bắt buộc quý vị phải thực hiện cho bằng được.

(21:22) Nếu quý vị thấy mình không sống được, tu tập được theo hai điều kiện trên đây thì quý vị xin xuất viện, đừng ở đây mà mang nợ của đàn na thí chủ, đời đời, kiếp kiếp quý vị không trả được, rồi đây phải làm thân trâu ngựa mà trả nợ này và còn đọa địa ngục. Nếu quý vị thấy mình sống được, tu tập được, chấp nhận hai điều kiện trên. Nghĩa là, quý vị giữ gìn giới hạnh và phòng hộ tâm mà không sợ gian lao, khổ nhọc thì quý vị cố gắng sống đúng lời dạy của Thầy, đừng hành sai, đừng làm sai, những gì không hiểu phải thưa hỏi lại cho kỹ lưỡng.

4- SỐNG ĐỜI SỐNG GIỚI LUẬT ĐỨC HẠNH ĐỂ LY DỤC

(22:19) Nếu quý vị quyết tâm tu hành theo đạo Phật thì đừng sợ những gian lao khổ nhọc trong cuộc sống hàng ngày ở đây, chắc chắn quý vị sẽ ly được dục lạc thế gian. Chừng đó chưa tu thiền định mà quý vị đã có thiền định như Phật đã dạy “Giới sanh Định”, điều này chắc chắn. Ở đây, Thầy đang cố gắng khéo tạo môi trường sống đúng giới luật, để quý vị thực hiện một đời sống phạm hạnh của người tu sĩ Phật giáo. Nhờ sống đúng giới luật, quý vị sẽ ly được dục lạc thế gian, ly được dục lạc thế gian thì quý vị sẽ có hỷ lạc, giải thoát tâm của quý vị. Đó là quý vị chưa ngồi thiền, nhập định một ngày, một khắc, một giây mà quý vị đã nhập Sơ thiền. Đó là một thứ thiền định đầu tiên trong đạo Phật, mà chỉ có đạo Phật mới có mà thôi, nghĩa là, không tu thiền định mà có thiền định.

(23:36) Bây giờ, quý vị cứ suy nghĩ kỹ lại lời dạy của Thầy mới thấy kỷ luật ở đây và cách khép quý vị vào khuôn khổ tu tập thiền định là đúng con đường của đạo Phật, không sai chút nào cả. Nếu quý vị đã từng chịu khó nghiên cứu kinh điển Nguyên Thủy của đạo Phật, thì quý vị sẽ thấy đường lối tu tập ở đây rất đúng với đường lối tu tập của đức Phật ngày xưa, không bị lai căng các pháp môn khác. Bởi vậy, quý vị đừng bảo rằng Thầy khó, chỉ vì Thầy khó là vì muốn cho quý vị được giải thoát như Phật, được làm chủ sinh tử, chấm dứt tái sanh luân hồi. Đó là điều Thầy khó, để làm lợi ích cho quý vị.

(24:35) Ở đây trước kia có một thiền tăng bảo rằng: “Thầy cứ nói về ăn uống mãi”. Đúng vậy, trong ngũ dục lạc ở thế gian có thực, thùy mà thực, thùy là ăn và ngủ. Ăn và ngủ là một điều quan trọng của đời sống con người, cho nên con người thế gian thường ham ăn, thích ngủ. Vì ăn và ngủ là hai thứ dục lạc tối cần thiết của đời người. Dục lạc ăn ngủ là thứ dục lạc sống của đời người nên khiến cho người ta càng ham thích ăn và ngủ. Vì vậy tu sĩ Phật giáo hiện đời nay, tu theo kiểu này, kiểu nọ, chỉ chuyên môn tụng niệm và học tập giáo lý, ngồi thiền thì lấy lệ cho có chừng, nên khó mà lìa được dục lạc ăn và ngủ.

(25:44) Vậy quý vị nghĩ sao khi đến Tu viện này, trước tiên được khép mình trong khuôn khổ ly dục lạc ăn và ngủ. Điều này đã khiến cho nhiều người trước kia đã từng ở đây bỏ đi nơi khác để tìm cái ăn, cái ngủ thỏa thích. Kỷ luật ở đây không thể chấp nhận ăn và ngủ như các chùa khác, bắt buộc quý vị phải thực hành đúng kỷ luật ở đây khi mới bước chân vào Tu viện. Nếu quý vị thấy tu được thì theo tu, còn nếu thấy tu không được thì xin Thầy về, Thầy rất hoan hỷ.

(26:19) Đạo Phật không quyến rũ một ai và cũng không dụ dỗ, mua chuộc một ai. Một người quyết tâm tu theo đạo Phật không vì lợi dưỡng hoặc vì buồn khổ gia đình mà vào đây tu hành, không vì tù tội, trốn tránh hoặc thất vọng trên đường danh nẻo lợi, hoặc tiền tài, vật chất không thỏa mãn, hoặc vì tình duyên lỡ dở, hoặc thi cử không thành mà vào đây tu hành, hoặc vì thất nghiệp, nghèo khổ, không đủ cơm ăn, áo mặc mà vào đây tu hành, hoặc vì sự cúng bái, lễ lộc, ăn trên, ngồi trước mà vào đây tu hành.

Này quý Thầy và quý Phật tử, ở đây chúng ta tu hành theo đạo Phật là vì muốn vượt thoát ra khỏi biển khổ trầm luân của sanh, lão, bệnh, tử của cuộc đời, chứ không phải vì danh vì lợi mà vào đây. Chỉ vì giải thoát những điều lớn lao và quan trọng cho đời sống của chúng ta, vì thế mà chúng ta mới quyết tâm chịu những gian lao, những thử thách, khổ nhọc để chiến thắng lại những cái ăn, cái ngủ, cái nói chuyện, để chúng ta ly khỏi những dục lạc hèn hạ thế gian. Tại sao Thầy bảo dục lạc thế gian là hèn hạ? Vì nó có lạc là có khổ, vì nó có lạc là có ác, cho nên Thầy gọi nó là hèn hạ, cần phải lìa nó đi, cái dục lạc này mà ngàn đời, muôn đời người ta khó thoát khỏi vòng tay của nó. Vậy ở đây, quý vị có liệu sức mình đủ khả năng lìa nó hay không, nếu đủ sức thì theo Thầy mới nổi, nếu thấy không đủ sức thì đừng theo Thầy tu hành vô ích, mất thì giờ quý báu, hãy trở về đi. Bây giờ chưa có muộn màng còn có thể chọn các pháp môn khác dễ dàng hơn và sự lợi dưỡng cũng đầy đủ hơn, còn ở đây, quý vị muốn tu thiền thì thiền ở đây không có để quý vị tu.

(28:59) Quý vị hãy tu tập sống, ăn, ngủ, nói chuyện cho đúng cách, cho đúng phạm hạnh, giới luật thì ở đây đang dạy cho quý vị, đang tập luyện cho quý vị sống đúng giới luật, phạm hạnh của đạo Phật.

Nếu quý vị cần cầu mong tu thiền, mà không cầu mong tu giới luật thì ở đây không có dạy điều đó. Nếu ở đây, quý vị không thực hành được đời sống giới luật, phạm hạnh thì quý vị đừng mong tu thiền định. Đức hạnh giới luật mà không tu hành được thì thiền định là mộng ảo, là mộng tưởng, thì con đường giải thoát của quý vị là ảo tưởng, ảo mộng, ngàn đời, muôn đời quý vị chẳng thực hiện được gì hết. Thầy bảo thực với quý vị, chừng nào quý vị sống đúng giới hạnh của Phật thì Thầy mới dạy thiền định. Còn bằng không thực hiện được giới luật thì ngàn đời Thầy vẫn mang theo cái kinh nghiệm thiền định này xuống tận đáy mồ mà thôi, chẳng truyền cho ai hết. Tại sao vậy? Tại vì thiền định của đạo Phật phải lấy giới luật, phải lấy đức hạnh làm nền tảng. Nếu không đức hạnh, đó là thiền của ngoại đạo, không phải của đạo Phật, đó là sự xác quyết của Thầy mà không một ai chối cãi được, chống báng được, tranh luận được.

(30:35) Thầy ở đây, chẳng cầu danh, chẳng cầu lợi, chẳng cầu Phật tử đông đảo để cúng dường nhiều. Ở đây, Thầy cũng chẳng cầu đệ tử có hàng trăm, hàng vạn người, mà thực chất những người đệ tử này đức hạnh, thiền định chẳng có ra gì. Ở đây, Thầy chẳng cầu mong cất chùa to, miễu rộng, tháp lớn. Ở đây, Thầy chỉ cần một người đệ tử dạy đâu thực hành đó, đúng đó, không làm sai lời dạy của Thầy, người như thế mới giữ gìn trọn giới luật của Phật, mới thực hiện được thiền định của Phật, mới thể hiện được trí tuệ giải thoát của Phật. Ở đây, Thầy không cần nhiều đệ tử mà chẳng nghe lời dạy của Thầy, lúc nào cũng ồn náo, tranh luận, tuyên truyền, xuyên tạc pháp môn này, pháp môn khác, lúc nào cũng làm động trong chùa, dạy Đông tu Tây, dạy Nam tu Bắc thì thử hỏi những người học trò đó ở đây có lợi ích gì. Chẳng lợi ích cho bản thân họ, chẳng lợi ích cho Thầy và cũng chẳng lợi ích cho Phật pháp.

(31:55) Cho nên, muốn ở đây tu hành thì quý vị phải tự giác cao độ, phải rèn mình trong gian khổ, phải thử lửa như vàng thiệt, phải chiến đấu ngũ dục lạc thế gian mà ngàn đời, muôn đời quý vị đã bị nhiễm ô. Ở đây, quý vị phải gan dạ, phải trui mình trong lửa đỏ, nghĩa là quý vị phải sống trong hạnh nhẫn nhục tối đa. Nếu chấp nhận vào đạo Phật mà quý vị không thực hiện hạnh nhẫn nhục thì đừng nên theo đạo Phật, vì có theo nhưng chẳng ích lợi gì cho quý vị, thà quý vị sống ngoài đời, ăn ở có đạo đức thì còn hơn tu hành. Ở chùa mà còn sân ầm ầm dữ tợn như vậy thì không phải là người đệ tử của Phật. Người đệ tử của Phật phải thực hành hạnh từ bi, biết thương mình, thương người, biết chị ngã em nâng, biết lá lành đùm lá rách mà không cầu mong một điều ân nghĩa gì. Thiền định của đạo Phật không thể để cho kẻ thiếu đức hạnh, giới luật mà thực hiện được, bởi con đường tu chân chánh của đạo Phật thì phải lấy giới luật làm đầu.

(33:23) Tại sao ở đây, Thầy còn gọi là con đường tu chân chánh của đạo Phật? Vì đạo hiện nay có nhiều con đường tu hành mà những con đường này không đưa hành giả đến nơi, đến chốn giải thoát hoàn toàn, mà đưa hành giả đến chỗ phá giới luật, làm mất phạm hạnh của người tu theo đạo Phật. Vì thế, quý Thầy và quý Phật tử cần phải sáng suốt nhận định để không lạc lầm những pháp môn tệ hại này làm mất uy tín đạo Phật. Ở đây, con đường tu chân chánh của đạo Phật, lấy giới luật làm đức, lấy nhẫn nhục làm hạnh.

(34:13) Này quý Thầy và quý Phật tử, nếu máu trong thân của quý vị chưa khô, xương trong thân của quý vị chưa nát thì dục lạc thế gian của quý vị chưa lìa được. Đời sống của đức Phật ngày xưa khi khổ hạnh vì ăn quá ít, nên sờ da bụng đụng xương sống, sờ xương sống, đụng da bụng, đó là máu phải khô, xương phải nát. Thầy mười năm trong thất, ngày một bữa cơm rau lang luộc với nước muối, hoàn toàn chẳng có thứ gì khác hơn. Người thời nay, tu hành ăn uống đầy đủ các thứ món ngon vật lạ, cao lương mỹ vị lại còn thêm bánh, trái, sữa, bơ đầy đủ, thế mà còn muốn ăn ba, bốn bữa lại còn ăn uống lặt vặt phi thời, ăn đêm là khác nữa. Như vậy, con đường giới đức của đạo Phật có còn hay là mất, quý vị nghĩ sao? Thân này quý vị còn lo bồi dưỡng cho đầy đủ dưỡng chất, thừa thãi sự sống thì thử hỏi dục lạc thế gian đối với quý vị, quý vị có hàng phục được nó chăng? Nếu thân này đầy đủ sung mãn dưỡng chất thì sự đòi hỏi dục lạc rất mạnh mẽ. Chúng ta khó chiến thắng được nó. Bởi vậy, nếu thân quý vị máu chưa khô, xương chưa nát thì làm sao quý vị thắng được dục lạc thế gian?

(36:00) Này quý vị, Phật giáo hiện giờ chỉ có lý thuyết suông mà thôi, chẳng bao giờ tìm cách tu thực tế để ly được dục lạc. Thầy nói như vậy ở đây quý vị còn sẽ thấy và còn chứng kiến một cách thực tế những lời dạy trên đây của Thầy không sai chút nào cả. Bởi tu hành như đạo Phật hiện giờ chỉ là một hình thức không thể nào nhập định được. Còn thích ăn ngon, mặc đẹp, còn thích trang điểm cho thân đẹp đẽ, bệ vệ tăng tướng, bệ vệ trang hoàng trong hàng giáo phẩm như con vua, cháu chúa thì thử hỏi phạm hạnh giới luật còn ở đâu?

(37:07) Tóm lại, trong buổi nói chuyện hôm nay, Thầy khuyên quý vị hãy tu hành những giới đức ăn, ngủ, nói, nín và nhẫn nhục. Nếu quý vị thực hiện được những điều dạy này thì Thầy mới tiếp tục dạy quý vị thiền định, còn bằng không thì thôi. Ngày xưa đức Phật đuổi năm trăm vị tỳ kheo làm ồn náo không giữ hạnh khẩu nghiệp thanh tịnh, thì hôm nay, quý vị phải cố gắng giữ gìn thân, khẩu nghiệp thanh tịnh thì mới sống đúng con đường tu của đạo Phật. Phật không cấm tịnh khẩu, nhưng quý vị phải biết cắt các duyên, tức là tịnh khẩu thì sự tu hành của quý vị mới có kết quả. Nếu không cắt các duyên thì sự tu hành của quý vị hoài công vô ích. Trước kia Thầy từng dạy sống cô đơn, sống độc cư, ngày ăn một bữa, tịnh khẩu nhưng không nói là giới luật, chỉ nói là bí quyết của thiền định.

(38:29) Vậy hôm nay, quý vị đã rõ, Thầy đã dạy con đường tu học của đạo Phật như thế nào rồi, đúng hay sai thì hiện giờ quý vị đã thấy rõ ràng. Xưa không đủ duyên nên Thầy tùy duyên hòa hợp để chấn hưng Phật pháp, để mong thắp lại ngọn đuốc của đạo Phật. Nhưng chúng sanh thiếu phước không có duyên với Phật pháp nên Thầy muốn ra đi. Thầy muốn ra đi từ lúc Thấy mới ra thất chứ không phải mới bây giờ, nhưng vì thương xót vài người đệ tử còn bám theo Thầy, vì thế Thầy thẳng thắn chỉ rõ mà chẳng sợ mất lòng một ai. Nếu quý vị muốn tu hành thì phải theo kỷ luật của Thầy, còn không muốn tu hành thì thôi, đừng phá giới luật ở đây mà tạo tội đọa địa ngục. Nếu muốn tu giải thoát thì phải vâng lời dạy của Thầy, phải giữ gìn khẩu nghiệp thanh tịnh, suốt ngày, suốt tháng, nhiều năm không một lời nói. Suốt ngày, suốt tháng, suốt năm sống một mình không chơi với ai, không trò chuyện với ai. Suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, ngày ăn một bữa, không ăn uống lặt vặt phi thời. Suốt ngày, suốt tháng, suốt năm luôn giữ gìn giờ giấc nghiêm túc, không bao giờ biếng trễ thì mới theo Thầy tu hành. Còn bằng không giữ được như vậy, quý vị hãy xin về để Thầy được yên ổn nhập diệt bỏ thân này. Đừng ở đây mà không giữ được giới luật thanh tịnh thì uổng ngày, tháng của Thầy và cũng uổng ngày tháng của quý vị, chẳng ích gì.

(40:57) Đến đây, Thầy xin chấm dứt buổi nói chuyện hôm nay. Riêng phần Từ Minh, con đã phát nguyện xong, phải cố gắng giữ gìn giới đức để tạo mọi điều kiện ly dục thế gian thì mới thành tựu được giới hạnh.

Đến đây, các con cũng đã hiểu rõ đường lối tu tập của Thầy. Ở đây, trước phải dùng giới luật để sống, sống ly dục. Sau dùng thiền định ức chế tâm mình, nhiếp phục tầm và ý tứ để đoạn ái dục thế gian. Đó là đường lối để thành tựu cứu cánh của đạo Phật.

(42:14) Một lần nữa, Thầy xin nhắc lại: “Muốn theo tu hành ở đây, trước tiên phải dùng giới luật để sống, sống một đời sống ly dục. Sau đó chúng ta dùng thiền định để ức chế toàn tâm, nhiếp phục sự suy tầm và ý tứ để đoạn được ái dục thế gian”. Quý Thầy phải biết, đó là đường lối thực của đạo Phật để thành tựu cứu cánh để giúp cho quý vị chấm dứt tái sanh luân hồi. Vậy quý vị hãy cố gắng thực hiện hết bổn phận của mình và để làm tròn trọng trách, trách nhiệm mà chúng ta là những người tu sĩ của đạo Phật. Đến đây, quý Thầy và quý Phật tử cùng Thầy niệm.

HẾT BĂNG

MỤC ĐÍCH TU HÀNH CỦA TU VIỆN CHƠN NHƯ

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Người nghe: Tu sinh

Thời gian: 1993

Thời lượng: [43:59]

 

PHẢI XÁC ĐỊNH RÕ MỤC ĐÍCH TU HÀNH CỦA MÌNH

Hôm nay có một nhân duyên, do hai bức thơ hỏi Thầy về sự tu chứng, và chứng đạt Lục thông. Vậy trước khi nói chuyện với quý Thầy về hai bức thơ này, Thầy cùng quý Thầy niệm hồng danh đức Phật: “Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

(01:02) Do duyên này, Thầy sẽ nói rõ mục đích tu hành của Tu Viện Chơn Như để quý Thầy hiểu rõ hơn. Này quý Thầy! Bây giờ, quý Thầy hãy lắng nghe cho kỹ, Để nhận rõ mục đích tu hành của chúng ta. Và cũng nhân dịp này, Thầy khuyên quý Thầy cần nên suy ngẫm lại mục đích tu hành ở đây có phù hợp với nguyện vọng, thiết tha, ao ước và điều mong cầu của quý Thầy hay không? Nếu mục đích tu hành ở đây không đúng, và không phù hợp với sự mong cầu và nguyện vọng của quý Thầy, thì quý Thầy đừng nên theo tu hành, mà hãy chọn những pháp môn nào đúng nguyện vọng của mình thì thực hiện. Không phí thì giờ vô ích, không uổng cuộc đời tu hành của mình. Và lại, quý Thầy đã bỏ cuộc đời để đi tìm đường giải thoát, đi tìm chân lý cứu cánh cho mình. Mà lại tu sai nguyện vọng thì làm sao tu hành được?

(02:45) Nếu có một người hỏi quý Thầy, thưa quý Thầy! Quý Thầy tu hành để làm gì? Nếu quý Thầy không rõ mục đích tu hành, thì không thể nào trả lời được câu hỏi này. Và nếu quý Thầy có trả lời, chăng cũng chỉ trả lời loanh quanh, mơ hồ, không đúng mục đích tu hành và nguyện vọng của mình.

Thường con người, hay chịu ảnh hưởng của các xu hướng khi nghe đồn đại, huyền thoại, thần thánh hóa một bậc minh sư nào đó. Rồi tin bừa, tin đại, không chịu suy xét cho kỹ trước sau. Chỉ nông nổi, vội vàng, chấp nhận, rồi nhắm mắt đưa cuộc đời vào tu hành. Để đến khi vỡ lẽ, không đúng với nguyện vọng thiết tha của mình, và không thực hành được những gì mình mơ ước thì lúc bấy giờ mất hết niềm tin, bỏ cuộc tu hành, thối chuyển đạo tâm, rồi đâm ra vô vọng như người mất phao.

Hôm nay, đã đúng lúc để được nghe Thầy trả lời chung cho tất cả mọi người muốn hướng về đây tu hành với Thầy. Vậy trước khi nghe Thầy trả lời riêng cho hai người cư sĩ này đã có thư hỏi, nhưng Thầy cũng sẽ trả lời chung cho tất cả quý Thầy, quý Phật tử đang hướng về đạo Phật. Trước tiên, quý Thầy được nghe hai bức thư của hai người cư sĩ đã gửi đến hỏi Thầy.

NỘI DUNG BỨC THƯ THỨ NHẤT

(06:13) Đây là bức thư thứ nhất Thầy sẽ đọc lại cho quý Thầy nghe.

Quy Nhơn, ngày 23 tháng 11 năm 1992

Kính gửi: Thiền sư Thông Lạc

Được nghe biết về Thầy con rất mừng, con rất muốn đích thân về đến đất Tây Ninh để trực tiếp bái kiến Ngài. Song vì những lý do thuộc về tài chánh, điều kiện thời gian không khắc phục được con đành viết thư thôi. Song vẫn hi vọng có ngày nào đó, con sẽ được ở cạnh Thầy. Thưa Thầy, quả rằng Thầy đã đáo đạt chân lý rồi chăng? Thầy cũng có luôn cả Lục thông nữa? Con muốn được biết rõ sự thật này của Thầy để biết chắc được rằng có giải thoát không như Phật Thích Ca giới thiệu. Mọi lý thuyết đều có thể có được và đạt được, song thực hiện lý thuyết đó lại là một việc khác hẳn. Con đang là một cái thư viện đầy sách và đóng cửa, chả ích lợi chi hết cho chính con và người khác, con chỉ mong gặp minh sư chân thật. Con cứ nghe rằng: có thật xưa nay là có minh sư, kể cả Phật Thích Ca. Con nghĩ Ngài chỉ là nhân vật của huyền sử, được mọi người thần thoại hóa, thân hóa thêm. Bạch Thầy! Thầy nghĩ biết gì về Chúa Giê-su? Chúa Giê-su có phải là Thánh không? Là hiện hữu nhiệm mầu, là Chơn Như, là chơn lý giải thoát?

(08:58) Kính mong Thầy bỏ ít thì giờ hồi đáp thư cho con. Hay nếu có dịp, Thầy có dịp tiện và là con có nhân duyên với Thầy, gặp minh sư để đạt đích cuộc đời thì ghé về Quy Nhơn để con được cần hỏi và hưởng từ phước của Thầy phát tác bao trùm lấy con.

Kính chào Thầy

Con Nhân

NỘI DUNG BỨC THƯ THỨ HAI

(09:54) Và đây là bức thơ thứ hai, Thầy sẽ đọc để quý Thầy nghe bức thư này.

Quy Nhơn, ngày 1 tháng 1 năm 1993

Ôi Thầy Thông Lạc ơi! Thầy đã gần 70 tuổi rồi phải không? Con xin phép được xưng con là phải. Thầy là thiền sư chơn chánh và đã đạt đạo rồi ư? Có thể có một người như thế thật sao? Có thể có chân lý thật để đạt ư, hở Thầy?

Thầy ơi! Chân lý của Thầy nhận ra là gì đó? Có thể chia sẻ cùng con chăng? Liệu Thầy có phải cũng mơ theo một cách riêng của Thầy, như con đã từng biết, từng thấy hàng trăm giấc mơ độc đáo đủ dạng, loại.

Thầy ơi! Thầy có Lục thông đúng nghĩa thật sự, chứ không phải nghĩa bóng theo kiểu phải hiểu bằng trí tuệ Ba-La-Mật chứ? Hay lại là chỉ những lời đan dệt của một số đệ tử hâm mộ Người?

(11:49) Con cứ bơi mãi mệt nhoài, trong cả đống các kết luận, mà mỗi kết luận là một chơn lý của một Giáo phái. Các chân lý đều bất toàn và phi lý ở một góc độ nhất định. Con có những chứng minh cụ thể không thể chối cãi nổi. Con đã từng tự thuyết phục và an ủi mình chịu du di cho một chơn lý khả dĩ, dễ ưa nhất, lợi lạc, thông minh cho người và cho mình nhất. Song lại không thể chịu được. Chúa Giê-su con cũng đã từng kinh nghiệm, Ngài thú vị hay lắm. Song con lại có những chứng minh khác cụ thể, rõ ràng để phủ nhận Ngài. Còn kinh Lăng Nghiêm, Viên Giác của Thích Ca Mâu Ni con cũng có kinh nghiệm của khoảng hai phần ba các cung bậc trong đó. Kể cả cảnh ma và từng lớp chứng đạt, và với sách tâm thần hiện đại con cũng là bệnh nhân chính cống. Ngài ơi! Thầy Lê Ngọc An ơi! Hiện giờ có một vị minh sư mà con cũng chưa đủ điều kiện để có thể nhận ra minh sư, hay tiên tri giả, giáo sư giả, ma vương nữa. Đó là Vô Thượng Sư Thanh Hải bên trời Tây kia. Thuyết pháp hay tuyệt vời, lại rất hợp với hầu hết các kiến giải của con về đạo. Song còn một ít chỉ kiện khác khiến con băng khoăn và nghi ngại nên chưa quyết định nên theo để được truyền Tâm Ấn hay không? Vì Tâm Ấn theo kiểu Phật truyền cho Ca Diếp hay Huệ Năng truyền cho Châu đệ tử ngày xưa, về bản chất khác 180 độ. Hay bây giờ, là lúc gần tận diệt nên mở rộng cửa và thu hồi đại trà.

(15:03) Con cũng chưa biết rõ Thầy. Song, Thầy có vẻ kính nhiệm, chẳng chịu xưng là Phật, giống kinh Lăng Nghiêm Phật Thích Ca có dặn là đấng A La Hán, Bồ Tát chỉ khi tịch diệt mới tạm để lộ tông tích. Với lại, con được biết Thầy qua một người mà đối với con không phải xoàng về độ phát triển tinh thần tâm linh. Song anh ta hãy còn mơ. Con cứ tin đại Thầy trước. Hỏi Thầy những điều này. Ôi thật tội nghiệp cho con. Thầy là ai? Đã đến đâu? Người thứ thiệt hay cũng thông thường như lắm kẻ mà con cũng đã từng nghe ca tụng, đơm đặt về. Rồi con cũng đã từng tìm cách tiếp xúc để rồi thất vọng. Ôi, Phật khi xưa nói rõ ràng: “Ta là Phật đã thành, là đấng không đến, không đi, là người giác ngộ hoàn toàn, đã giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, đã luôn được thường, lạc, ngã, tịnh”.

Hiện Phật cũng có phải là người đang mơ còn mơ không? Và nếu vậy thì không cần nói Thầy cũng là một đệ tử mơ của Phật, một đệ tử xuất sắc. Xin Thầy cũng cứ vài dòng cho con, cọng rơm đang bị trôi trong nước lụt. Rất mong thư Thầy.

Thôi thì Thầy cứ giải lao là trò chuyện với cô phụ nữ tâm thần này vậy.

Kính chào Thầy

Con Nguyên Trí

NỘI DUNG BỨC THƯ THẦY TRẢ LỜI CHO HAI CƯ SĨ

(17:23) Đến đây, quý Thầy đã nghe xong hai bức thư, quý Thầy sẽ được tiếp tục nghe bức thư trả lời của Thầy. Nội dung bức thư trả lời quý Thầy phải lắng nghe cho kĩ từng ý, từng lời văn. Nếu không sẽ không hiểu gì hết, hay chỉ hiểu chung chung thì chẳng ích lợi gì cho quý Thầy. Đây là bức thư Thầy gửi cho hai vị cư sĩ đó.

Ngày 14 tháng 2 năm 1993

Kính gửi hai cư sĩ Nguyên Trí và Nhân

Hai cư sĩ đã thành thật kể lại nội tâm bi quan của mình, trên đường tìm chân lý vô vọng. Hiện giờ, phải nói mọi người đã và đang tìm chân lý trong Phật giáo cũng như trong các Tôn giáo khác. Đều mang một tâm niệm như hai cư sĩ nếu họ không tìm danh lợi trong đó. Này hai cư sĩ khi hai cư sĩ chưa gặp một người có kinh nghiệm sống thật trong đạo Phật hướng dẫn, mà vội vàng đánh giá đức Phật thì chúng tôi e rằng quý vị quá nông nổi. Quý vị dựa vào một đống kinh sách khổng lồ của Phật giáo hiện nay, mà cho đó là con đường đưa đến cứu cánh chân lý của đạo Phật. Rồi ra công tìm kiếm ở trong đó không được, quý vị đâm ra hoang mang, dao động, mất hướng rồi sanh tâm nghi ngờ, phỉ báng Phật Pháp. Điều này rất là tội lỗi.

(19:42) Này quý vị, đống kinh sách đó, toàn những thứ ô hợp. Chỉ được gạt những kẻ mù mắt, những kẻ đầy tham vọng khát chân lý mà thôi.

Này hai cư sĩ: “Đạo Phật thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy”. Thật vậy, ai sống đúng đời sống của đức Phật, người ấy sẽ thấy giải thoát ngay trong hiện tại bây giờ, chẳng cần phải đi tìm đâu xa, chẳng cần phải bỏ nhiều thì giờ nghiên cứu học hỏi. Xưa Phật không để lại một cuốn kinh nào, chỉ nói những gì Ngài sống, Ngài biết, không có quảng cáo, không có viết lách kinh sách như thời đại chúng ta. Không có nghĩa thời đại đức Phật chưa có chữ viết, bằng chứng đã có các bộ kinh Vệ Đà, chỉ vì Ngài không hiếu danh.

TÌNH TRẠNG ĐẠO PHẬT NGÀY NAY

(20:50) Này hai cư sĩ, đạo Phật hôm nay không còn nữa. đạo Phật ngày nay chỉ là một thứ Tôn giáo do các thời đại và hai giai cấp của con người đẻ ra.

1- Giai cấp tri thức: đã biến Phật giáo thành một thứ triết lý cao siêu màu nhiệm tuyệt đỉnh, để thỏa mãn nhu cầu ảo tưởng của họ. Và họ cũng biến Phật giáo thành một khoa tâm lý học tinh vi.

2- Giai cấp bình dân: biến Phật giáo thành Thần giáo để phục vụ đời sống của họ. Gần đây, khắp trên thế giới con người đã biến Phật giáo thành một cơ quan từ thiện để phục vụ xã hội, gọi là Bồ Tát hạnh.

Vì thế hai cư sĩ tìm chơn lý trong đống kinh sách ảo tưởng, nên bảo sao chẳng thành mộng tưởng. Tìm Phật giáo trong đống kinh sách của hai giai cấp này nên bảo sao chẳng vô vọng. Những điều đã dạy tu hành trong kinh sách từ nhiều thế kỷ nay cho đến hôm nay vẫn chưa có ai thực hiện được chứng quả A La Hán. Chỉ chứng những định tưởng thuộc về tà giáo ngoại đạo, không làm chủ được thân tâm, không làm chủ được tâm tham, sân, si và chấm dứt tái sinh luân hồi. Chỉ thể hiện những điều kỳ quặc, những thần thông gạt người, mê hoặc người để cầu danh, cầu lợi. Bởi họ viết ra bằng những tưởng giải do tâm háo danh của họ, họ viết ra chính họ thực hành cũng chẳng được, họ viết ra có rất nhiều điều phi lý, nhưng khéo lý luận che đậy, khiến con người không thể hiểu được, họ viết ra tưởng chừng con người là cây đá, thế mà mọi người đều tin đó là của Phật, họ viết ra như những nhà giải phẫu, phân tích tâm con người manh mún từng mảnh nhỏ. Để làm gì? Để làm một trò chơi cút bắt tâm, để lý luận cho vui tai chứ không ít lợi gì cho con người cả. họ viết ra những điều úp úp mở mở để khiến cho con người tò mò tưởng chừng như trong đó có những điều kỳ đặt, mầu nhiệm, để rồi toàn là một thứ lý giải suông.

(23:56) Đã trải qua bao nhiêu thế kỷ, người ta đã tu theo những kinh sách này, đều dở sống dở chết. Thế mà cho đến hôm nay mọi người vẫn đều tin theo, chạy theo, một cách mù quáng. Không chịu nhìn lại cha đẻ của những pháp môn này, họ đã làm được những gì chưa? Nếu chỉ nhắm mắt tu đùa, tu đại, chừng thực hành không được thì lỡ vỡ cả đời người. Rồi đây, bổ ngửa ra cả đám thất vọng, vô vọng, đâm ra mất hết niềm tin, cũng giống như hai cư sĩ bây giờ vậy.

TÌNH TRẠNG TU HÀNH CỦA CON NGƯỜI THỜI NAY

(24:38) Con người thời nay cũng quyết tâm tu hành cầu giải thoát rất đông đảo. Nhưng họ đang nuốt không vô, nhả không ra, nhầm những triết lý cao siêu mầu nhiệm, còn đi tìm người có kinh nghiệm thì chẳng biết tìm đâu ra, chỉ toàn những bậc minh sư lên đồng, nhập xác, tự xưng Ông này, Bà kia thì nhiều hoặc gặp những thiền sư miệng, đạo sĩ bùa chú thì không thiếu gì trong thời đại này. Trong thời đại này, quý vị có tìm được một minh sư chân thật, chắc quý vị cũng chẳng đủ lòng tin. Vì quý vị đang thần thánh hóa một vị minh sư siêu việt, có đầy đủ thần thông, Tam minh, Lục thông. Vì thế, mà quý vị chẳng bao giờ gặp được minh sư chân thật của quý vị.

Xưa, Vua Louis đến thăm một vị hiền nhân trong thất hiền của nước Pháp thời bấy giờ. Nhà Vua thấy ông ta đang xay bột giúp vợ làm bánh bán trong cảnh nghèo túng khổ khốn khổ. Nhà Vua liền ban cho vàng bạc, châu báu nhưng ông khéo từ chối. Thế mới biết trong cái tầm thường có cái phi thường. Cái phi thường không phải ở thần thông phép tắc, mà cũng không phải ở chỗ mầu nhiệm kỳ đặt ngoài sức con người làm được, mà ở chỗ con người làm được thoát ra khỏi sự cám dỗ danh lợi, sắc tài, ăn và ngủ của đời người. Và còn làm được của con người là thoát ra khỏi những thú tính mà con người đang mang trong người.

(26:52) Này hai cư sĩ, hai cư sĩ đã từng nghe trên báo chí hoặc đài phát thanh đăng tin những đạo sĩ Ấn Độ chìm trong nước, chôn trong đất không chết. Đi trên lửa, mặc áo mỏng bên trời Liên Xô dưới không độ không run rẩy. Đó là những trò gian xảo, lừa bịp, quảng cáo gạt người bằng những khổ công tu hành của những Pháp môn Yoga, hoặc những Pháp môn khác để được người ta thần thánh mình, và để làm gì? Làm gì nữa? Để tìm danh lợi trong đó. Nếu được sự chứng kiến này chắc quý vị sẽ xem họ là minh sư của mình.

Này hai cư sĩ, chúng tôi tu theo đạo Phật không như lời người ta giới thiệu, đã đạt đạo, chứng đạo, có Lục thông. Chúng tôi theo đạo Phật rất thực tế hơn nhiều, không mơ mộng những điều như vậy. Tu tập để làm chủ thân và tâm của mình, để giải thoát bốn sự khổ đang ràng buộc chúng tôi sanh lão bệnh và tử.

MỤC ĐÍCH TU HÀNH CỦA ĐẠO PHẬT

(28:11) Này hai cư sĩ, mục đích của đạo Phật là giải quyết Bốn sự khổ này của loài người, để thoát ra sự trói buộc của nó chứ không phải đi tìm Lục thông, Tam minh, Phật tánh, Chơn như, Bản thể, v.v…​ Mà cũng vẫn không phải đi tìm nghĩa lý trong các kinh sách, ngữ luật, công án, v.v…​ Hoặc tu thế này, thế kia để có thần thông, phép tắc hoặc để triệt ngộ, thông suốt những điều bí mật trong các kinh sách.

Chúng tôi tu theo đạo Phật cũng không xây dựng một thế giới Cực Lạc tưởng, một cõi trời tưởng, để đến khi chết được sinh về đó. Chúng tôi tu theo đạo Phật với một vị trí tuệ sẵn có của mình, biết chọn lựa cách sống của đạo Phật, sống ly dục.

Khi sống ly dục, chúng tôi từng chiến thắng lại tâm mình bằng những trí tuệ và kinh nghiệm từ bản thân, không dựa vào kinh sách nào cả. Sau khi tạo hoàn cảnh sống ly dục được, chúng tôi tiếp tục sống đúng đời sống của đức Phật, sống đoạn dục.

Khi sống đoạn dục, chúng tôi từng ức chế vọng tưởng, nhưng không diệt và không đè nén nó, biết dẫn dắt nó tưới mát tâm chúng tôi, khiến cho đời sống chúng tôi tâm được an vui và giải thoát mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng.

(29:55) Chúng tôi không phải là thiền sư và cũng không đạt đạo. Chúng tôi cũng không thấy có chân lý gì để đạt. Chúng tôi chỉ sống như mọi người khác, nhưng sống thật giải thoát khỏi tâm ham muốn của mình. Chúng tôi không có Lục thông, không có bùa chú linh thiêng và cũng không có gì kỳ đặc, độc đáo cả. Chúng tôi là một người thường, không phải A La Hán, Bồ Tát và Phật. Chúng tôi chỉ là những người biết sống, khéo sống. Chúng tôi sống không mơ mộng, không ước ao và không cầu mong một điều gì khác hơn là chúng tôi sống với ý thức sẵn có của chúng tôi. Chúng tôi từng biết rõ việc làm của mình, từng ý niệm của mình, từng hành động và lời nói của mình. Chúng tôi đã tự điều khiển và quản lý được tâm của chúng tôi. Do đó, chúng tôi đã làm chủ được thân tâm hoàn toàn. Chúng tôi không còn bị nô lệ bất cứ một vọng tưởng nào của chúng tôi. Bệnh tật, tử vong, đau khổ không làm chúng tôi sợ hãi. Chúng tôi lại cũng biết rõ, chúng tôi không còn bị danh, lợi, sắc, ăn và ngủ lôi cuốn chúng tôi được nữa. Vả lại, chúng tôi cũng còn biết rất rõ ràng sanh, lão, bệnh, tử không còn trói buộc chúng tôi.

(31:39) Này hai cư sĩ, điều tôi nói trên đây là sự thật, tin hay không tin là ở quý vị. Riêng chúng tôi, chúng tôi chẳng cần ai tin mình. Tôi giải thoát cho tôi, không thể giải thoát cho quý vị được. Cũng như quý vị giải thoát cho quý vị, không thể giải thoát cho tôi được. Tôi không có mộng làm Bồ Tát độ chúng sanh. Danh lợi đối với chúng tôi, chúng tôi đã chấm dứt nó từ lâu. Cho nên Bồ Tát đối với chúng tôi vẫn còn danh lợi. Chúng tôi hiểu rất rõ điều này.

Đến đây tôi xin thành thật bảo quý vị, thực hiện được sự thật này là một công trình vĩ đại khó hơn việc “Dời non lấp biển”.

Một người có đầy đủ ý chí, bền lòng, chặt dạ, kiên trì “mài sắt thành kim” mới thực hiện được.

Những người đứng núi này trông núi khác, thì chẳng đời nào thực hiện được.

Những người đi tìm thần thông, phép tắc, Tam minh, Lục thông thì cũng chẳng đời nào thực hiện được.

Những người ban ngày thắp đuốc đi tìm chân lý như hai cư sĩ cũng chẳng thực hiện được.

(33:06) Một lần nữa, chúng tôi xin thành thật khuyên hai cư sĩ, nên sống một đời sống của người cư sĩ giữ trọn đức hạnh làm người. Biết tha thứ, biết san sẽ, biết nhận những lỗi nhỏ của mình và biết khắc phục tâm tham muốn của mình. Thế đủ lắm rồi, đừng mơ gì nữa!

Chúng tôi thăm và chúc hai cư sĩ thân tâm an lạc và thường vui vẻ.

Tu Viện Chơn Như kính thư.

Sau khi nghe bức thư của Thầy trả lời, Quý Thầy đã rõ mục đích tu hành của Tu Viện Chơn Như. Vậy quý Thầy hãy xét lại mình. Nếu họa chăng mục đích tu tập của quý Thầy sẽ đúng vào mục đích này, thì quý Thầy sẽ ở lại đây cùng Thầy tu tập với sự hướng dẫn tận tâm của Thầy. Bằng thấy mục đích tu hành này không phù hợp với nguyện vọng của mình, thì Thầy rất hoan hỷ để quý Thầy rời khỏi Tu Viện, để đi tìm đúng mục đích mà quý Thầy từng ôm ấp trong lòng.

TÌNH TRẠNG ĐẠO PHẬT QUA BA THỜI KỲ

(34:36) Quý Thầy đừng nghĩ rằng, thời kỳ mạt Pháp không thể nào thực hiện được mục đích tu hành tại Tu Viện này được. Điều nghĩ này sai. Tại sao? Tại vì trong mọi thời kỳ, trong mỗi thời kỳ đều có người tu chứng. Tuy rằng, người ta đã phân chia 3 thời kỳ như trong kinh đã dạy:

1- Thời kỳ chánh Pháp

2- Thời kỳ tượng Pháp

3- Thời kỳ mạt Pháp

Hòa Thượng Thiền Tâm đã nói rõ trong cuốn Phật Học Tinh Yếu. Sao gọi là chánh, tượng và mạt Pháp?

Sở dĩ, nói chánh Pháp, vì chánh có nghĩa là chứng. Trong thời kỳ này, đức Thế Tôn tuy đã nhập diệt. Những Pháp nghi của Ngài chưa sửa đổi, có giáo lý, có kẻ hành trì, có nhiều người chứng quả. Như trong kinh đã dạy: “Sau Phật diệt, nhập Niết Bàn 500 năm gọi là thời kỳ chánh Pháp”, người tu có chứng quả A La Hán.

Sau thời kỳ chánh Pháp là thời kỳ tượng Pháp. Nói tượng Pháp, vì tượng có nghĩa là tương tợ, tức là mường tượng. Trong thời kỳ này, đạo hóa chỉ còn mường tượng, Pháp nghi lệch lạc, kinh điển giáo lý có nhiều sự sửa đổi, tuy giáo lý có, cũng có nhiều người hành trì nhưng rất ít kẻ chứng đạo. Thời kỳ tượng Pháp cách Phật 1.000 năm.

(36:56) Sau thời kỳ này là thời kỳ mạt Pháp. Nói mạt Pháp, vì mạt là làm, “Làm ý di mạt” nghĩa là mang manh, nhỏ nhiệm, như chóp đầu lông, chia nhỏ như hạt bụi, điểm sương. Trong thời kỳ này, đạo hóa suy vi, tuy có giáo lý, kinh sách rất nhiều, song ít kẻ hành trì đúng Pháp, huống chi là chứng đạo.

Theo kinh Nhân Vương nói:

– Có giáo lý, có hành trì, có quả chứng, gọi là chánh Pháp.

– Có giáo lý, có hành trì, không chứng quả, gọi là tượng Pháp.

– Có giáo lý, không hành trì, không quả chứng, gọi là mạt Pháp.

Thật ra, thời tượng Pháp chẳng phải là không có quả chứng. Song bậc chứng quả như sao buổi sáng trên nền trời, khó tìm, khó gặp. Thời mạt Pháp chẳng phải là không có người hành trì, song kẻ hành trì đúng theo giáo lý rất ít, hầu như không có, nên mới gọi là không hành trì.

(38:34) Để kết luận buổi nói chuyện hôm nay, theo lời dạy của Hòa Thượng Thiền Tâm dẫn chứng trong các kinh sách thì chúng ta nhận thấy cũng khá rõ ràng. Nhưng đó là kinh, còn theo Thầy nghĩ trong ba thời kỳ này, thời kỳ nào cũng có người tu chứng quả A La Hán. Bằng chứng hiển nhiên rất cụ thể, do sức Thiền Định mà các vị tu hành để lại nhục thân cho đến ngày nay. Gần đây 300 năm, tại quê hương chúng ta, đất nước Việt Nam có Ngài Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường đã để lại nhục thân ở chùa Đậu miền Bắc nước ta. Đó là vì họ tu đúng. Tu đúng như thế nào?

– Thứ nhất là phải thực hiện giới luật nghiêm túc.

– Thứ hai là tập luyện Thiền Định phải đúng cách và phải do những kinh nghiệm của những bậc Độc Giác Phật.

Còn những ai dựa vào kinh sách mà tu hành trong thời kỳ mạt Pháp thì khó thành tựu. Bằng chứng hiển nhiên chúng ta thấy hiện giờ, người ta dựa vào kinh sách tu hành đã nhiều thế kỷ nay, không thấy có ai chứng quả A La Hán, chỉ toàn học giáo lý mà thôi! Tại sao vậy?

(40:56) Tại vì kinh điển đã bị người sau thêm thắt quá nhiều, làm lệch lạc tất cả kinh nghiệm tu hành của đạo Phật. Cho nên xét về quá trình thời gian, thì thời nào cũng có những bậc Độc Giác ra đời. Đó là để giữ gìn giềng mối của đạo Phật. Nếu không có các bậc này, thì đạo Phật ngày nay sẽ đi về đâu? Chắc chắn, sẽ trở thành một môn học cho người sau mà thôi. Chúng ta cũng nên xét kỷ, vì mục đích của đạo Phật hiện giờ đã bị lệch lạc, cho nên khiến người sau chẳng biết đường lối nào tu hành.

(41:57) Sau khi quý Thầy đã hiểu rõ mục đích tu hành tại đây và trong ba thời kỳ mà là kinh sách đã chia cắt ra. Nhưng kết luận chúng ta nhận xét kỹ trong mỗi quá trình thời gian, thời kỳ thì thời kỳ nào cũng có bậc Độc Giác Phật xuất hiện ra đời. Nhưng có điều họ không phát triển kinh nghiệm tu hành sâu rộng trong mỗi tầng lớp con người, mà chỉ giữ mãi chiều sâu của đạo Phật còn trụ thế mà thôi. Bởi vì, họ gặp một thế lực Phật giáo kinh điển chèn ép mạnh mẽ. Đây cũng là duyên của chúng sanh. Vậy một lần nữa Thầy khuyên quý Thầy, sự tu hành là sự ích lợi cho bản thân cá nhân của quý Thầy hơn hết, hơn tất cả. Quý Thầy cứ tư duy cho chính chắn rồi mới thực hiện, đừng vội vàng, nông nổi mà hãy cẩn thận và cẩn thận hơn.

Đến đây, Thầy xin chấm dứt buổi nói chuyện hôm nay quý Thầy cùng Thầy niệm hồi hướng:

Nguyện đem công đức này

Hồi hướng cho tất cả

Pháp giới và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

HẾT BĂNG

THAM VẤN

ĐƯỜNG LỐI TU HÀNH CỦA TU VIỆN CHƠN NHƯ

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Thời lượng: [18:10]

 

1- TU VIỆN CHƠN NHƯ TU TẬP PHÁP MÔN GIỚI, ĐỊNH, TUỆ

(00:00) Trưởng lão: Hôm nay, có một nhân duyên do một vị Thượng tọa ở Chùa Phi Lai – Châu Đốc, đến viếng thăm Tu viện Chơn Như với mục đích bài bác giới luật tu hành của chúng ta ở đây.

Ông cho rằng: Ăn ngày một bữa và ngủ có bốn tiếng đồng hồ như vậy là không đủ sức khỏe để tu hành, đó là cách ép xác, khổ hạnh, vô lý.

Ông ta xin đến gặp Thầy Phương Trượng và hỏi:

– Bạch Thượng tọa, Tu viện ở đây tu pháp môn gì?

Trưởng lão: Chúng tôi ở đây tu pháp môn Giới, Định, Tuệ.

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, chúng tôi nghe ở đây Tu viện chấp giới luật rất khắt khe, có phải vậy không?

Trưởng lão: Đúng vậy.

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, xin phép Thượng tọa cho chúng tôi được hầu chuyện với Thượng tọa.

Trưởng lão: Được. Có vấn đề gì Thầy cứ thưa hỏi.

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Xin phép Thượng tọa, Thượng tọa có phải là Viện chủ của Tu viện này không?

Trưởng lão: Phải.

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Xin phép Thượng tọa, Thượng tọa có phải là Thầy Thích Thông Lạc không?

Trưởng lão: Phải.

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, trong khi hầu chuyện, con có những sơ sót, lỗi lầm, xin Thượng tọa tha thứ cho.

Trưởng lão: Không có chi cả, Thầy cứ tự nhiên mà thưa hỏi.

2- TỰ TẠI, VÔ NGẠI, GIẢI THOÁT

(01:31) Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, nếu một người tu Thiền Định mà còn chấp giới luật thì con e rằng còn kẹt trong giới luật chăng?

Trưởng lão: Kẹt như thế nào?

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Thưa Thượng tọa, trong “Sáu cửa vào động Thiếu Thất” có dạy: “Còn tụng kinh, còn niệm Phật, còn giữ giới luật là còn bị trói buộc”. Mà còn bị trói buộc thì làm sao gọi là tự tại, vô ngại, giải thoát?

Trưởng lão: Vậy, tự tại, vô ngại, giải thoát như thế nào?

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, đói ăn, khát uống, mệt đi ngủ. Đó là sự tự tại, vô ngại, giải thoát.

Như xưa kia, thượng sĩ Tuệ Trung ăn thịt cá, uống rượu với các quan trong triều rất tự nhiên.

Người chị của Thượng sĩ Tuệ Trung thấy thế mới hỏi:

“Tại sao em tu theo đạo Phật mà còn ăn thịt cá, uống rượu như vậy?”

Thượng sĩ Tuệ Trung trả lời:

“Em là em, em không phải là Phật, Phật không phải là em. Giới luật là giới luật, giới luật không phải là em, và em cũng không phải là giới luật”.

Bạch Thượng tọa, lời nói rất là giải thoát. Không có một hạt bụi nào ở thế gian làm vấy bẩn được Ngài. Dù là pháp môn xuất thế gian như của Phật, giới luật cũng không trói buộc Ngài được. Bạch Thượng tọa, theo con nghĩ, qua lời dạy này chứng tỏ ai còn kẹt trong giới luật là chưa giải thoát.

(3:08) Trưởng lão: Thầy nói đúng đấy. Nhưng đúng ở góc độ của Thiền Đông Độ, không phải thiền của đạo Phật. Sự tự tại, vô ngại, giải thoát này của Thiền Đông Độ, chứ không phải là sự tự tại, vô ngại, giải thoát của đạo Phật. Cho nên hầu hết các Thiền sư Đông Độ không có phạm hạnh, phá giới luật, như Lâm Tế chém rắn, Nam Tuyền sát miêu, Phần Dương làm cỗ thịt cá đãi chư Tăng, thượng sĩ Tuệ Trung ăn thịt cá, uống rượu.

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, nếu Thượng tọa bảo rằng: “Thiền Đông Độ là không phải của Phật giáo”, vậy chứ trên Hội Linh Sơn, ai niêm hoa, và ai mỉm cười?

Trưởng lão: Đó là một câu chuyện bịa đặt sau này. Trong kinh tạng Nguyên Thủy, đức Phật không có người thừa kế. Lời di chúc cuối cùng của Người dạy con người: “Lấy giới luật làm Thầy”. Giới luật là người thừa kế của đức Phật mà thôi.

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, vậy kinh điển Đại thừa không phải Phật thuyết sao?

Trưởng lão: Vấn đề này chúng tôi xin miễn bàn. Ai muốn hiểu sao cũng được. Đây cũng là duyên nghiệp của chúng sanh chưa gặp được chơn pháp.

3- TU TẬP GIỚI LUẬT LÀM TÂM THANH TỊNH, GIẢI THOÁT

Thầy Phương Trượng lái câu chuyện vào chủ đề.

(04:33) Trưởng lão: Thầy biết “Tam vô lậu học” là gì không?

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, là Giới, Định, Tuệ.

Trưởng lão: Vậy Giới, Định, Tuệ là ba pháp môn tu tập làm cho hết lậu hoặc, cho nên gọi là vô lậu. Vậy Giới là một pháp môn trong ba pháp môn của “Tam vô lậu học”.

Giới là một pháp môn để tu tập chứ không phải là giáo điều. Nó cũng không phải như pháp luật thế gian, bắt buộc mọi người phải tuân theo, phải giữ gìn, không được vi phạm.

Giới luật của đạo Phật không có trói buộc ai hết, vì nó là một pháp môn để tu, giải thoát tâm con người ra khỏi tam độc tham, sân, si. Vì thế, giới luật ghép liền với các pháp môn khác như Thiền Định và Trí Tuệ.

Ở đây, chúng tôi dùng pháp môn giới luật để tu tập tâm mình, làm cho tâm được thanh tịnh, giải thoát khỏi lậu hoặc. Nói một cách khác, là làm cho tâm khỏi ô nhiễm ngũ dục lạc thế gian. Đó mới thực tế giải thoát của đạo Phật.

Vậy bảo chúng tôi chấp Giới, mà chấp Giới để làm gì? Để được người ta khen mình giữ gìn giới luật nghiêm túc? Như vậy, chúng tôi tu để được khen chứ không phải để giải thoát. Lấy giới luật trói buộc mình có lợi ích gì? Hay để khỏi bị tù tội? Hay là để khỏi bị tẩn xuất, lột áo ra khỏi Tăng đoàn? Nếu đi tu mà còn sợ hãi như vậy thì đi tu mà làm gì?

Bây giờ tôi xin hỏi Thầy, Thầy cứ thật mà trả lời. Ví dụ: Thầy lấy một cục phèn chua để lóng nước trong, khi nước đã lóng trong rồi, Thầy còn dùng cục phèn đó nữa hay không?

(06:38) Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, không.

Trưởng lão: Như vậy, chúng tôi dùng giới luật tu tập khiến cho tâm chúng tôi được thanh tịnh. Khi tâm được thanh tịnh, thì chúng tôi còn dùng giới luật để tu hành nữa hay không?

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, không.

Trưởng lão: Như vậy lúc nãy sao Thầy bảo rằng chúng tôi chấp giới? Bây giờ tôi hỏi Thầy lại nữa, Thầy cứ thật mà trả lời. Lúc bấy giờ nước đã trong, Thầy có dùng đất, bụi dơ để làm nước đục, dơ trở lại không?

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, không.

Trưởng lão: Như vậy chúng tôi ở đây tụ tập giới luật, ăn ngày một bữa, ngủ hai, ba tiếng đồng hồ. Còn trước kia khi chưa tu tập, chúng tôi ăn ngày ba bữa, và còn ăn uống lặt vặt, bánh, trái cây và nước ngọt nữa. Ngủ thì suốt bảy, tám tiếng đồng hồ mà còn ham ngủ nữa. Nhờ tu giới luật mà chúng tôi đã thoát ly ngũ dục lạc thế gian. Hiện giờ, chúng tôi thảnh thơi, giải thoát hoàn toàn, không thấy đói, không thấy khát, không còn bận bịu lo ăn, lo uống, không còn bận lo nấu, lo nướng và cũng không còn thèm ăn uống lặt vặt như trước kia nữa. Còn ngủ thì chúng tôi chỉ ngủ hai, ba tiếng đồng hồ mà thôi. Ăn và ngủ như vậy mà sức khỏe chúng tôi vẫn mạnh khỏe, lao động tốt không thua kém ai.

Được sống như vậy, bây giờ chúng tôi ăn uống ngủ nghỉ trở lại như lúc chưa tu thì chúng tôi có thể làm được hay không? Khi chúng tôi đã tự biết rõ đây là một sự giải thoát chơn thật của chúng tôi.

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, không.

Trưởng lão: Như vậy chúng tôi có chấp Giới không?

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, không.

4- LÀM CHỦ ĂN NGỦ CHỨ KHÔNG CHẠY THEO NGŨ DỤC LẠC

(08:19) Trưởng lão: Tự tại, vô ngại, giải thoát mà còn chạy theo ngũ dục lạc, ăn, ngủ, nghỉ như Thầy đã nói lúc nãy: “Đói ăn, khát uống, mệt đi ngủ”. Như vậy, khi nửa đêm nghe bụng đói thức dậy lấy nồi nấu cơm đến gần sáng mới được ăn. Và như vậy đó là tự tại, vô ngại, giải thoát sao?

Cũng như nói mệt ngủ, ví dụ lúc năm giờ sáng, hoặc bảy giờ chiều, có khi tám giờ tối, cũng có lúc mười giờ đêm hoặc hai giờ khuya, hoặc ba giờ sáng. Lúc đó cảm thấy mệt liền đi ngủ, ngày hôm sau lại ngủ khác giờ giấc, vì lẽ mệt mới đi ngủ, và sự ngủ, nghỉ không chừng đổi như vậy. Và một vị Thiền sư ăn, ngủ không điều độ, tức là con người sống không có chừng mực, hứng hồi nào thì ăn ngủ hồi đấy. Cái lối sống như vậy mà gọi là tự tại, vô ngại, giải thoát sao? Thầy nghĩ gì về cái nếp sống như vậy? Người thế gian còn cũng không thể sống như vậy được. Câu nói thoáng nghe qua thì rất hay, nhưng xét kỹ thì đó là những lời dối gạt thiên hạ. Chúng tôi tu hành, ăn uống phải điều độ, ngủ nghỉ phải có giờ giấc nghiêm túc. Không phải muốn ăn hồi nào là ăn, muốn uống hồi nào là uống hoặc muốn ngủ hồi nào là ngủ. Phải đúng giờ, đúng giấc đã định của chúng tôi.

Nghĩa là chúng tôi làm chủ được cái ăn, cái ngủ của mình. Chứ không phải: “Đói ăn, khát uống, mệt đi ngủ” như Thiền Đông Độ. Nếu không làm chủ được cái ăn, cái uống của mình thì mong gì làm chủ được cái tâm? Trong thiền sử Trung Hoa có nhắc lại một vị Thiền sư đi đến một ngôi chùa xin ở tu hành. Vị Trụ trì chấp nhận, nhưng ông ta cứ ăn rồi ngủ li bì. Một hôm, vị Trụ trì đến hỏi:

“Sao ông đến đây tu hành mà không thấy tụng kinh, Niệm Phật, ngồi thiền gì hết?”

(10:16) Ông ta đáp:

“Đó là để kẻ còn đói, chưa no mà ăn thôi.”

Đây là sự tự tại, vô ngại, giải thoát của Thiền Đông Độ. Cái mà Thiền Đông Độ gọi là giải thoát thì chúng tôi không dám bàn đến. Vì hai con đường đi về hai mục đích khác nhau. Cho nên chúng tôi tu theo Phật giáo không thể gặp họ ở một điểm cố định được.

Nếu xét cho kỹ, người thế gian đang quay cuồng trong ngũ dục lạc, chạy theo tâm tham muốn của mình thì cũng gọi là tự tại, vô ngại, giải thoát. Họ cũng đang chạy theo tâm tham muốn dục lạc. Nên bảo: “Đói ăn, khát uống, mệt ngủ”. Nghĩa là tâm mình ham ngủ là đi ngủ, ham ăn là đi ăn, ham uống là đi uống. Còn cái đói, cái khát, cái mệt là cái để chúng ta tu tập làm chủ lại nó. Chứ không phải chạy theo sự sai bảo của nó. Vì chính chỗ giải thoát này, mà chúng tôi lấy pháp môn giới luật tu tập cho hết đói, cho hết khát, cho hết mệt.

Vậy ăn ngày một bữa có đói không? Nếu một người chưa tu giới luật thì họ phải thấy đói, còn một người đã tu giới luật rồi thì họ vẫn cảm thấy không đói. Nếu bảo rằng đói, thì chúng tôi đâu có sống được như thế này. Con người ăn uống và ngủ nghỉ không điều độ, không đúng giờ giấc thì cái đó không phải giải thoát của đạo Phật.

Cho nên, câu nói: “Đói ăn, khát uống, mệt đi ngủ” đó là lời bào chữa cái tâm chạy theo ngũ dục lạc thế gian, để che đậy cái không làm chủ của mình.

(12:12) Về ngủ, đối với một vị Thiền sư khi mệt không cần ngủ, chỉ cần tọa thiền, nhập định trong giây lát là hết mệt. Vậy mệt có cần ngủ không? Hay mệt đi ngủ theo kiểu thế gian? Thì đó là ham ăn, ham ngủ của dục lạc.

Để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, chúng tôi đã nhận rõ được sự giải thoát tâm mình bằng pháp môn giới luật rõ ràng và cụ thể trong cuộc sống của chúng tôi hiện giờ. Cho nên dù bất cứ một luận thuyết nào cũng không bài bác chúng tôi được. Vì sự tu hành chúng tôi thực tế và rất khoa học.

Bởi con đường của đạo Phật: “Thiết thực, không có thời gian, đến để mà thấy”. Nếu ai chưa đến với đạo Phật thì không thấy, còn những ai đã đến với đạo Phật chỉ trong một ngày, một đêm cũng vẫn thấy được sự giải thoát ngay liền trong tức khắc. Đó là con đường đúng của đạo Phật. Còn tu lạc pháp môn khác không phải là của đạo Phật thì không được như vậy. Còn pháp môn Thiền Định mà Thầy vừa nói đó là chạy theo ngũ dục lạc bằng cách lấy vải thưa che mắt mọi người: “Đói ăn, khát uống, mệt đi ngủ”. Còn nếu bấy giờ, chúng tôi ăn ngủ trở lại, hoặc giết hại chúng sanh, hoặc tà dâm, vọng ngữ, uống rượu để bảo rằng “không chấp Giới” như Lâm Tế, Nam Tuyền, Phần Dương, thượng sĩ Tuệ Trung thì gọi là vô ngại, giải thoát – không phải là sự giải thoát của đạo Phật – thì là sự giải thoát của Thiền Đông Độ của Nhật Bổn. Thì chúng tôi không có ý kiến gì về vấn đề này.

5- PHÁP MÔN CỦA ĐẠO PHẬT LÀ TAM VÔ LẬU HỌC

(14:06) Theo chúng tôi nghĩ, tất cả chúng sanh trong cõi thế gian này đều có tạo duyên với các pháp môn. Ai có duyên với Pháp môn nào thì tu theo pháp môn nấy. Đừng lý luận tranh cãi hơn thua mà sanh ra không tốt cho Phật pháp. Chúng ta hãy tùy duyên của mỗi chúng sanh mà đến với Phật pháp. Nếu chúng ta đến với đạo Phật là phải đến với “Tam vô lậu học”. Và phải tu ba pháp môn này. Không thể ngoài ba pháp môn này mà còn có cái gọi là đạo Phật khác nữa. Bởi chúng tôi đã từng sống bằng ba pháp môn này, nên thấy sự lợi ích giải thoát của nó thiết thực cho đời sống của chúng tôi. Rất thực tế, hơn là những lời nói suông mà Thầy đã nói: “Đói ăn, khát uống, mệt đi ngủ”.

Bởi con đường của đạo Phật dạy chúng tôi: “Dùng giới mà ly dục, dùng thiền mà đoạn dục, dùng trí tuệ mà giải thoát”.

Mùa hạ năm ấy, đức Phật cùng 500 vị Tỳ kheo đang an cư kiết hạ. Có một người đến hỏi đức Phật:

“Bạch Đức Thế Tôn, trong số Tỳ kheo đang theo tu tập dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, tất cả 500 vị này có thành tựu đạo giải thoát hết hay không?”

(15:24) Đức Phật trả lời:

“Ở đây, chúng tôi tu hành đều thành tựu cả. Hiện giờ, có 90 vị đã chứng trí tuệ, 90 vị đã chứng Thiền Định, và còn lại bao nhiêu đều chứng giới luật”.

Như vậy, Thầy thấy rõ ràng người đến với đạo Phật đều có sự chứng đắc giải thoát trong cuộc đời đầy đau khổ này. Ở đây chúng tôi cũng vậy, tuy số Tăng rất ít nhưng chúng tôi cũng có sự thành tựu như thời đức Phật. Không có người nào không chứng đắc.

Con đường của đạo Phật đã vạch rõ cho chúng tôi một lối đi rất rõ ràng và cụ thể. Không còn mơ hồ, hư ảo. Chúng tôi chỉ cần cứ theo đó đặt trọn niềm tin với một nghị lực, một ý chí sắt đá, một tấm lòng kiên trì, dũng mãnh của mình để tiến bước. Chúng tôi tin chắc rằng, sớm muộn gì chúng tôi cũng đạt được mục đích này mà thôi.

(16:34) Trưởng lão: Vậy, hôm nay Thầy còn ý kiến gì về giới luật của chúng tôi tu ở đây nữa hay không?

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, nếu Thượng tọa không chê con lớn tuổi, và con còn có thể tu được, xin Thượng tọa nhận con về đây tu hành.

Trưởng lão: Xưa, Hiếp Tôn giả đã 80 tuổi mà còn theo đạo Phật tu hành đắc quả A La Hán. Huống hồ, Thầy năm nay mới 74 tuổi và sức khỏe cũng còn khá lắm. Nhưng có điều vì tuổi đã lớn, từng sống quen trong các chùa, cho nên bây giờ ăn ngủ trở lại như chúng tôi là một điều rất khó đối với Thầy. Vả lại, hiện giờ chúng tôi đang nhập thấp, nên không có ai hướng dẫn tu hành và kỷ luật Tu viện không nhận những người đến trong khi Tu viện chưa mở khóa tu.

Vậy, Thầy hãy chờ đợi khóa sau. Và bây giờ, Thầy về tu tập giới luật trở lại, ăn và ngủ cho quen dần. Sau khi được nhập Tu viện, thì Thầy sẽ theo kịp chúng tu hành mà không còn gặp khó khăn nữa.

Thượng tọa Chùa Phi Lai: Bạch Thượng tọa, con xin ghi nhớ và cố gắng thực hiện. Cho đến khi Tu viện mở khóa con sẽ trở lại, xin Thượng tọa nhận con.

Đến đây buổi nói chuyện đã chấm dứt. Được nghe thuật lại buổi nói chuyện của Thầy với một vị Thượng tọa ở Chùa Phi Lai, Châu Đốc. Thì quý thầy cần suy ngẫm và suy ngẫm con đường tu hành của chúng ta. Xin chấm dứt.

HẾT BĂNG


Chia sẻ trang này
(Số lượt xem bài: 1292)

THÔNG TIN

CHÁNH PHẬT PHÁP NGUYÊN THỦY

[ Trang bảo tồn sách và các bài pháp của Trưởng lão Thích Thông Lạc ]

Website: chanhphatphap.com/net/org

Email: chanhphatphapnguyenthuy@gmail.com

___

* Nguồn tư liệu trong trang này được tổng hợp từ các trang liên kết chánh pháp trên cơ sở bảo tồn nguyên gốc lời dạy của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc.